1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nồng độ procalcitonin máu ở trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại bệnh viện đa khoa bình phước

140 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nồng độ procalcitonin máu ở trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại bệnh viện đa khoa đồng tháp
Tác giả Trần Quốc Lợi
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thu Tịnh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nhi – Sơ Sinh
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp ii
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1. Tổng quan về nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm (16)
    • 1.2. Tổng quan về procalcitonin (36)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về procalcitonin trong nhiễm trùng huyết sơ sinh và nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm (47)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (51)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (51)
    • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu (51)
    • 2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (52)
    • 2.4. Cỡ mẫu và cách lấy mẫu nghiên cứu (52)
    • 2.5. Liệt kê và định nghĩa các biến số (52)
    • 2.6. Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu (58)
    • 2.7. Quy trình nghiên cứu (66)
    • 2.8. Phương pháp phân tích dữ liệu (67)
    • 2.9. Đạo đức trong nghiên cứu (67)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ------------------------------------------------------------------------------- 53 3.1. Đặc điểm nhân trắc, yếu tố nguy cơ, lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm (68)
    • 3.2. Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại thời điểm nhập viện theo các đặc điểm nhân trắc (79)
    • 3.3. So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các nhóm nghiên cứu tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện (80)
    • 3.4. So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các thời điểm nghiên cứu (lúc nhập viện, 48 giờ và ngày 7 sau nhập viện) ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm (81)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (83)
    • 4.1. Đặc điểm nhân trắc, yếu tố nguy cơ, lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm dân số nghiên cứu (83)
    • 4.2. Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại thời điểm nhập viện theo các đặc điểm nhân trắc (98)
    • 4.3. So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các nhóm nghiên cứu tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện (99)
    • 4.4. So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các thời điểm nghiên cứu (lúc nhập viện, 48 giờ và ngày 7 sau nhập viện) ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm (102)
  • KẾT LUẬN (104)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (108)
  • PHỤ LỤC (124)

Nội dung

Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớmtại thời điểm nhập viện theo các đặc điểm nhân trắc --- 623.3.. So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các thời điểm ngh

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, theo dõi dọc.

Đối tƣợng nghiên cứu

Trẻ sơ sinh ≥ 34 tuần tuổi thai và ≤ 48 giờ tuổi đƣợc chẩn đoán nghi ngờ NTHSS sớm.

Trẻ sơ sinh từ 34 tuần tuổi trở lên và dưới 48 giờ tuổi được chẩn đoán nghi ngờ nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương sớm Các bé này được nhập viện tại Khoa Hồi sức Nhi – Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp trong khoảng thời gian từ ngày 01/08/2020 đến ngày 31/08/2021, nhằm chẩn đoán và điều trị kịp thời NTHSS sớm để giảm thiểu biến chứng và tử vong.

Tất cả trẻ sơ sinh nhập viện vào Khoa Hồi sức Nhi – Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp từ 01/08/2020 đến 31/08/2021 thỏa các tiêu chí sau:

(3) Đƣợc chẩn đoán nghi ngờ NTHSS sớm.

Chẩn đoán nghi ngờ NTHSS sớm có thể dựa trên các yếu tố nguy cơ quan trọng như mẹ sốt khi chuyển dạ ở mức ≥ 38°C, viêm màng ối, hoặc thời gian vỡ ối kéo dài trên 18 giờ Ngoài ra, sinh non dưới 37 tuần hoặc trẻ có ít nhất một trong các triệu chứng lâm sàng của NTHSS sớm cũng là dấu hiệu cần chú ý Việc nhận diện sớm các yếu tố này giúp nâng cao khả năng chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời.

Trẻ bị tổn thương gan nặng với mức ALT hoặc AST trên 1000 UI/l do khi cơ thể nhiễm trùng, gan chịu trách nhiệm tổng hợp PCT Tuy nhiên, nếu gan bị tổn thương nghiêm trọng, quá trình tổng hợp PCT ở gan sẽ bị ảnh hưởng, gây ảnh hưởng đến khả năng phản ứng của cơ thể với nhiễm trùng.

+ Trẻ đã sử dụng KS trước đó: vì sẻ ảnh hưởng đến kết quả cấy máu, cũng như ảnh hưởng đến kết quả PCT.

+ Thân nhân bệnh nhi không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian lấy mẫu nghiên cứu từ 01/08/2020 đến 31/08/2021.

Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại Khoa Hồi sức Nhi – Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.

Cỡ mẫu và cách lấy mẫu nghiên cứu

Lấy trọn tất cả trẻ sơ sinh thỏa tiêu chí chọn mẫu với phương pháp chọn mẫu kế tiếp (consecutive sampling).

Liệt kê và định nghĩa các biến số

2.5.1 Các biến số cần thu thập

Bảng 2.1 Danh sách các biến số cần thu thập

Tên biến Loại biến Giá trị Thống kê

Các biến số nhân trắc

Giới tính Định tính 1 Nam

Tuổi thai Định tính 1 Non tháng

Cân nặng lúc sinh Định tính 1 < 2500 gram

Tuổi lúc nhập viện Định tính 1 < 24 giờ

Phương pháp sinh Định tính 1 Sinh ngã âm đạo

Các biến số yếu tố nguy cơ

Mẹ sốt lúc chuyển dạ ≥

Viêm màng ối Định tính 1 Có

Thời gian ối vỡ kéo dài

Sinh non < 37 tuần chuyển dạ tự nhiên Định tính 1 Có

Các biến số lâm sàng

Hạ thân nhiệt Định tính 1 Có

Thân nhiệt không ổn định Định tính 1 Có

Nhịp tim nhanh Định tính 1 Có

Nhịp tim chậm Định tính 1 Có

Rối loạn nhịp tim Định tính 1 Có

Thể tích nước tiểu giảm Định tính 1 Có

Hạ huyết áp Định tính 1 Có

Da nổi bông Định tính 1 Có

Giảm tưới máu ngoại biên Định tính 1 Có

Cơn ngƣng thở Định tính 1 Có

Nhịp thở nhanh Định tính 1 Có

Tăng nhu cầu oxy Định tính 1 Có

Cần hỗ trợ thông khí Định tính 1 Có

Không dung nạp sữa Định tính 1 Có

Bú kém Định tính 1 Có

Bụng chướng Định tính 1 Có

Kích thích Định tính 1 Có

Lừ đừ Định tính 1 Có

Giảm trương lực Định tính 1 Có

Ban xuất huyết Định tính 1 Có

Cứng bì Định tính 1 Có

Vàng da trước 24 giờ tuổi Định tính 1 Có

Các biến số cận lâm sàng

Phân nhóm PCT Định tính 1 ≥ 0,5 ng/ml

PCT Định lƣợng Tính bằng ng/ml Trung bình /

Phân nhóm CRP Định tính 1 ≥ 10 mg/l Tỷ lệ %

2 < 10 mg/l Phân nhóm BC máu Định tính 1 > 20000/mm 3

Phân nhóm TC Định tính 1 < 150000/mm 3

Cấy máu Định tính 1 Âm tính

2 Dương tính (tên vi trùng)

Chẩn đoán Định tính 1 NTHSS sớm

2.5.2 Định nghĩa các biến số

Giới tính được xác định dựa trên đặc điểm của bộ phận sinh dục ngoài, với nam giới có cơ quan sinh dục ngoài là dương vật và tinh hoàn, còn nữ giới có cơ quan sinh dục ngoài là âm hộ Việc phân biệt giới tính dựa trên các đặc điểm này giúp xác định chính xác giới tính của một người ngay từ khi hình thành các đặc điểm ngoại hình Xác định giới tính chính xác đóng vai trò quan trọng trong các lĩnh vực y tế, giáo dục và xã hội.

 Tuổi thai: đƣợc xác định theo kinh chót và / hoặc siêu âm 3 tháng đầu thai kỳ và

Tuổi thai được đánh giá theo thang điểm Ballard mới (phụ lục 5) và tính theo tuần tuổi Trẻ non tháng khi có tuổi thai dưới 37 tuần, đủ tháng khi tuổi thai từ 37 đến 42 tuần, và già tháng khi tuổi thai trên 42 tuần Việc xác định chính xác thời điểm sinh giúp hỗ trợ đánh giá sức khỏe sơ sinh và lập kế hoạch chăm sóc phù hợp.

 Cân nặng lúc sinh: là trọng lƣợng của trẻ ngay sau sinh, đơn vị tính bằng gram.

 Tuổi lúc nhập viện: là thời gian từ lúc sinh đến khi trẻ nhập viện, đơn vị tính là giờ.

 Phương pháp sinh: là cách thức mà trẻ đƣợc sinh ra, bao gồm sinh ngã âm đạo và sinh mổ

 Mẹ sốt lúc chuyển dạ ≥ 38 0 C: trong thời gian chuyển dạ, thân nhiệt của bà mẹ có thời điểm ghi nhận ≥ 38 0 C.

 Viêm màng ối: tiêu chuẩn lâm sàng chẩn đoán viêm màng ối [132]:

+ Mẹ có 1 lần sốt lúc chuyển dạ ≥ 39,0 0 C (102,2 0 F) mà không có nguyên nhân rõ ràng khác.

Mẹ có ít nhất hai lần sốt trong quá trình chuyển dạ, với các lần đo cách nhau trên 30 phút, nhiệt độ từ 38°C đến 38,9°C mà không có nguyên nhân rõ ràng khác Ngoài ra, cần có ít nhất một trong các dấu hiệu sau để xác định tình trạng sốt trong chuyển dạ.

 BC máu mẹ > 15000/mm 3 (khi không dùng Corticosteroid).

 Nhịp tim mẹ ≥ 100 lần/phút.

 Nhịp tim thai > 160 lần/phút, kéo dài ≥ 10 phút.

 Tiết dịch mủ ở cổ tử cung.

 Ối vỡ kéo dài > 18 giờ: là thời gian từ lúc ối vỡ đến khi trẻ sinh ra kéo dài > 18 giờ.

Sinh non (tuổi thai dưới 37 tuần) là hiện tượng vỡ tự nhiên của màng đệm và màng ối trước khi bắt đầu chuyển dạ, xảy ra bất kỳ thời điểm nào trong thai kỳ Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra sinh non, ảnh hưởng đến sức khỏe của cả mẹ và bé Việc nhận biết sớm các dấu hiệu sinh non giúp các bác sĩ có phương án xử lý kịp thời, giảm thiểu các rủi ro liên quan đến sinh non.

 Sốt: là nhiệt độ trung tâm > 38,5 0 C (nhiệt độ đo ở hậu môn) [49].

 Hạ thân nhiệt: là nhiệt độ trung tâm < 36 0 C (nhiệt độ đo ở hậu môn) [49].

 Thân nhiệt không ổn định: là tình trạng tăng hoặc giảm nhiệt độ ở trực tràng >

1,5 0 C trong vòng 3 giờ bất kể có vượt qua giới hạn nhiệt độ trên và dưới hay không [49].

 Nhịp tim nhanh: là nhịp tim > 180 lần/phút (nghe nhịp tim trong vóng 1 phút) khi không có các kích thích bên ngoài, thuốc hay kích thích đau [49].

 Nhịp tim chậm: là nhịp tim < 100 lần/phút (nghe nhịp tim trong vòng 1 phút) khi không có kích thích phó giao cảm, thuốc ức chế β, bệnh tim bẩm sinh [49].

 Rối loạn nhịp tim: là nhịp tim đập bất thường, quá nhanh hoặc quá chậm, không đều hoặc lúc nhanh lúc chậm [49].

 Thể tích nước tiểu giảm: là thể tích nước tiểu < 1ml/kg/giờ [49].

 Hạ huyết áp: là huyết áp trung bình < 40 mmHg (ở trẻ đủ tháng), huyết áp trung bình < 30 mmHg hay < tuổi thai tính bằng tuần (ở trẻ non tháng) [19].

 Da nổi bông: là tình trạng màu da loang lổ do giảm lưu lượng máu đến da và độ bão hòa oxy mô thấp [131].

Giảm tưới máu ngoại biên là tình trạng mà lượng máu đến các mô ngoại biên giảm, gây ra các triệu chứng như da lạnh, ẩm ướt và thời gian phục hồi màu da kéo dài Đây là dấu hiệu quan trọng phản ánh tình trạng tuần hoàn máu bị suy giảm, cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời để tránh các biến chứng nghiêm trọng.

 Cơn ngưng thở: là sự ngừng thở dài hơn 20 giây hoặc ngắn hơn 20 giây nhƣng có kèm theo chậm nhịp tim hoặc tím [18].

 Nhịp thở nhanh: là nhịp thở > 60 lần/phút (đếm nhịp thở trong 1 phút, đếm 2 lần) [18].

 Tăng nhu cầu oxy: là tình trạng trẻ bị giảm oxy máu, biểu hiện bằng khó thở, tím tái => cần phải cung cấp oxy.

 Cần hỗ trợ thông khí: là tình trạng trẻ giảm thông khí cần phải thở thông khí áp lực dương hay thở máy.

 Không dung nạp sữa: là tình trạng trẻ không tiêu hóa đƣợc sữa mẹ hoặc sữa công thức, dẫn đến tăng dịch dạ dày, chướng bụng, nôn trớ [131].

 Bỳ kộm: là lƣợng sữa bỳ < ẵ lƣợng sữa nhu cầu hằng ngày [131].

 Bụng chướng: là hiện tượng bụng bị phình to, căng chướng [131].

 Kích thích: thích là tình trạng trẻ dễ cáu bẳn, quấy khóc nhiều [131].

 Lừ đừ: là tình trạng trẻ đáp ứng chậm với kích thích, kém linh hoạt [131].

 Giảm trương lực cơ: là tình trạng rối loạn trương lực cơ do sức cơ giảm [131].

Ban xuất huyết là các ban màu đỏ không mất đi khi căng da, do hiện tượng thoát mạch của hồng cầu vào tổ chức dưới da hoặc dưới niêm mạc.

 Cứng bì: là tình trạng xơ cứng lan tỏa mô dưới da [131].

 Vàng da trước 24 giờ tuổi: là hiện tượng vàng da sơ sinh xuất hiện trước 24 giờ tuổi.

 PCT: là nồng độ procalcitonin trong máu trẻ, được đo bằng phương pháp miễn dịch, đơn vị tính là ng/ml.

 CRP: là nồng độ C-reactive protein trong máu trẻ, được đo bằng phương pháp miễn dịch, đơn vị tính mg/l.

BC Môu là số lượng tế bào bạch cầu đếm được trong 1 lẫm máu ngoại vi của trẻ, được xác định bằng máy huyết học tự động Chỉ số này thể hiện khả năng đáp ứng miễn dịch của trẻ và thường được đo bằng đơn vị tế bào trên mỗi mm³ máu BC Môu là chỉ số quan trọng giúp đánh giá tình trạng sức khỏe, khả năng chống lại nhiễm trùng và các bệnh lý liên quan đến hệ miễn dịch của trẻ.

TC màu là số lượng tế bào TC đếm được trong một đơn vị mẫu máu ngoại vi của trẻ, được xác định bằng máy huyết học tự động Thông số này thể hiện số tế bào trong mỗi mm³ máu, giúp đánh giá tình trạng sức khỏe và chức năng của hệ miễn dịch của trẻ Việc theo dõi TC màu định kỳ là cần thiết để phát hiện sớm các bất thường về máu và hướng điều trị phù hợp.

 Cấy máu: bằng phương pháp thông thường, định danh tên vi trùng, thể tích máu tối thiểu 1 ml.

 NTHSS sớm: dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của EMA [113], bao gồm NTHSS sớm chắc chắn và NTHSS sớm có thể ( phụ lục 4 ).

Không NTHSS sớm đề cập đến những trẻ nhập viện vì có yếu tố nguy cơ của NTHSS sớm hoặc chuyển từ tuyến trước với triệu chứng nghi ngờ, nhưng từ khi nhập viện đến 48 giờ sau không ghi nhận bất kỳ triệu chứng lâm sàng nào của NTHSS, cũng không có bất thường về xét nghiệm cận lâm sàng hoặc cấy máu âm tính.

Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu

Từ ngày 01/08/2020 đến 31/08/2021, tất cả trẻ sơ sinh có tuổi thai từ 34 tuần trở lên và nhập viện trong vòng 48 giờ sau sinh sẽ được tiếp nhận tại Khoa Hồi sức Nhi – Sơ sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp Các trẻ này sẽ được bác sĩ tiến hành hỏi kỹ tiền sử, bệnh sử và khám lâm sàng để xác định những trẻ đủ tiêu chuẩn tham gia vào nhóm nghiên cứu Quy trình này đảm bảo lựa chọn chính xác các trẻ sơ sinh phù hợp nhằm phục vụ các mục tiêu nghiên cứu y học hiệu quả.

Cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của trẻ cần được cung cấp đầy đủ thông tin về nội dung nghiên cứu thông qua phiếu thông tin dành cho thân nhân bệnh nhi (phụ lục 2) Nếu đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu, họ cần ký vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu (phụ lục 2) để thể hiện sự đồng thuận.

Điều dưỡng lấy máu trẻ để thực hiện các xét nghiệm quan trọng như cấy máu, CTM, sinh hóa (CRP, AST, ALT, glucose, lactate) và PCT, với mỗi xét nghiệm sử dụng 1ml máu khi trẻ nhập viện trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh Những trường hợp có kết quả xét nghiệm ALT/AST > 1000 UI/l sẽ bị loại khỏi nghiên cứu để đảm bảo độ chính xác của phân tích.

+ Theo dõi các triệu chứng lâm sàng của NTHSS ở trẻ trong suốt 48 giờ đầu sau nhập viện.

+ Sau 48 giờ nhập viện, điều dƣỡng lấy máu trẻ làm lại XN (T1): CTM (1ml máu),

CRP và PCT (1 ml máu) Sau đó sẽ phân chia trẻ thành 2 nhóm:

Nhóm trẻ không có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ NTHSS và không có bất thường về xét nghiệm cận lâm sàng sẽ được ngưng kháng sinh và theo dõi thêm ít nhất 48 giờ đến ngày 7, cho đến khi có kết quả cấy máu Nếu kết quả cấy máu âm tính và trẻ không xuất hiện thêm các triệu chứng lâm sàng của NTHSS, trẻ sẽ được phân vào nhóm không NTHSS sớm.

 Nhóm trẻ có triệu chứng lâm sàng và / hoặc XN cận lâm sàng bất thường. Nhóm này tiếp tục điều trị KS.

Trong nhóm trẻ, tiếp tục sử dụng kháng sinh và theo dõi đến ngày thứ 7 sau nhập viện, điều dưỡng lấy mẫu máu để làm lại các xét nghiệm như CTM, CRP và PCT nhằm đánh giá tình trạng nhiễm trùng Dựa vào kết quả cấy máu, trẻ sẽ được phân thành ba nhóm khác nhau để hướng điều trị phù hợp.

 Nhóm NTHSS sớm chắc chắn: dựa theo tiêu chuẩn chẩn đoán của EMA ( phụ lục 4 ) Tiếp tục KS đủ 14 ngày.

Nhóm NTHSS có thể chấm dứt kháng sinh dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán của EMA (phụ lục 4) khi lâm sàng tiến triển tốt và không có bất thường về xét nghiệm cận lâm sàng Sau đó, cần theo dõi bệnh nhân ít nhất 48 giờ sau khi ngưng thuốc để đảm bảo khả năng phục hồi ổn định.

 Nhóm không đủ tiêu chuẩn để phân vào nhóm NTHSS sớm chắc chắn và NTHSS sớm có thể ( phụ lục 4) Nhóm này sẽ loại khỏi nghiên cứu.

+ Nhóm trẻ NTHSS sớm bao gồm nhóm trẻ NTHSS sớm chắc chắn và NTHSS sớm có thể.

+ Tất cả dữ liệu nghiên cứu của từng trẻ sẽ ghi vào phiếu thu thập số liệu riêng ( phụ lục 1 ).

Định lượng nồng độ PCT trong máu được thực hiện bằng máy phân tích miễn dịch tự động Cobas E-411 của hãng Roche (Đức) tại Khoa Hóa sinh, Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, nhằm đảm bảo độ chính xác và hiệu quả trong chẩn đoán.

Hình 2.1 Máy phân tích miễn dịch tự động Cobas E-411

Hình 2.2 Nguyên lý định lƣợng procalcitonin

PCT được định lượng bằng phương pháp miễn dịch sandwich sử dụng công nghệ hóa phát quang hoặc điện hóa phát quang, giúp xác định chính xác nồng độ PCT trong mẫu thử Quá trình này sử dụng kháng thể đơn dòng đặc hiệu kháng PCT đánh dấu biotin và kháng thể đơn dòng đặc hiệu kháng PCT đánh dấu ruthenium, tạo thành phức hợp miễn dịch kiểu sandwich Cường độ phát quang của phương pháp này tỷ lệ thuận với nồng độ PCT trong mẫu, giúp đưa ra kết quả chính xác trong khoảng thời gian chỉ 18 phút Đây là phương pháp nhanh chóng, nhạy bén, phù hợp trong chẩn đoán bệnh nhân cần đo lượng PCT trong huyết thanh.

Kháng thể kháng Katacalcin đơn dòng

Kháng thể kháng Calcitonin đơn dòng

Chất đánh dấu đƣa vào máy để đo phản ứng xảy ra nhƣ sau:

+ Giai đoạn ủ thứ nhất: kháng nguyên trong huyết thanh, một kháng thể đặc hiệu

PCT đơn dòng có gắn biotin và một kháng thể đặc hiệu PCT đơn dòng đƣợc đánh dấu phức hợp ruthenium phản ứng để tạo thành phức hợp sandwich.

Trong giai đoạn ủ thứ hai, các vi hạt phủ streptavidin được thêm vào để hình thành liên kết qua phản ứng trung gian của biotin và streptavidin Hỗn hợp phản ứng sau đó được hút vào buồng đo, nơi các vi hạt sẽ được giữ lại trên bề mặt của điện cực, trong khi các chất không kết hợp sẽ bị loại bỏ bằng hệ thống Procell / ProcellM Khi điện áp được áp dụng lên điện cực, quá trình phát quang hóa học sẽ diễn ra và được đo bằng bộ khuếch đại quang tử, giúp xác định kết quả xét nghiệm Các kết quả cuối cùng được xác định dựa trên đường chuẩn XN, gồm XN 2 điểm chuẩn và thông tin đường chuẩn chính qua mã vạch trên hộp thuốc thử, đảm bảo tính chính xác và tin cậy của kết quả xét nghiệm.

 Thuốc thử - dung dịch tham gia xét nghiệm:

Bộ thuốc thử (M, R1, R2) đƣợc dán nhãn PCT, mẫu chuẩn và mẫu chứng:

+ Bộ thuốc thử (M, R1, R2) được dán nhãn PCT:

 M: vi hạt phủ Streptavidin (nắp trong), 1 chai 6,5 ml (vi hạt phủ Streptavidin 0,72 mg/ml; chất bảo quản).

 R1: anti-PCT-Ab~biotin (nắp xám), 1 chai 9 ml [Kháng thể đơn dòng kháng PCT đỏnh dấu biotin (chuột) 2,0 àg/ml; đệm phosphate 95 mmol/l; pH = 7,5; chất bảo quản].

 R2: anti-PCT-Ab~Ru(bpy) (nắp đen), 1 chai 9 ml [Kháng thể đơn dòng khỏng PCT (chuột) đỏnh dấu ruthenium 5,6 àg/ml; đệm phosphate 95 mmol/l; pH = 7,5; chất bảo quản].

 PCT Cal1: PCT calibrator 1 (nắp trắng), 1 chai (đông khô) pha 4 ml [PCT (tái tổ hợp) khoảng 0,10 ng/ml trong huyết thanh người; chất bảo quản].

 PCT Cal2: PCT calibrator 2 (nắp đen), 1 chai (đông khô) pha 4 ml [PCT (tái tổ hợp) khoảng 54 ng/ml trong huyết thanh người; chất bảo quản].

 PC PCT1: PreciControl PCT1 (nắp be), 2 chai (đông khô) mỗi chai pha 4 ml [PCT (tái tổ hợp) khoảng 0,50 ng/ml trong huyết thanh người; chất bảo quản].

 PC PCT2: PreciControl PCT2 (nắp nâu), 2 chai (đông khô) mỗi chai pha 4 ml [PCT (tái tổ hợp) khoảng 10 ng/ml trong huyết thanh người; chất bảo quản].

 Lấy và chuẩn bị mẫu:

+ Huyết thanh đƣợc lấy bằng cách sử dụng các ống chuẩn lấy mẫu hoặc các ống chứa gel tách.

+ Huyết tương chống đông bằng Li-heparin, K2-EDTA và K3-EDTA.

+ Mẫu ổn định trong 24 giờ ở 2 – 8 0 C, 3 tháng ở -20 0 C, chỉ động lạnh 1 lần các mẫu đông lạnh có thể dẫn đến độ phục hồi thấp hơn đến 8%.

+ Ly tâm các mẫu có kết tủa trước khi thực hiện.

+ Không sử dụng mẫu thử và mẫu chứng đƣợc ổn định bằng azide.

+ Đảm bảo nhiệt độ của các mẫu bệnh phẩm, mẫu chuẩn và mẫu chứng ở 20 –

25 0 C trước khi tiến hành đo.

Các hiện tượng bay hơi có thể xảy ra trong quá trình phân tích mẫu, do đó, tất cả các mẫu bệnh phẩm, mẫu chuẩn và mẫu chứng cần được đo trong vòng 2 giờ để đảm bảo độ chính xác của kết quả phân tích.

+ Thông tin ghi nhận dữ liệu: phương pháp này đã được chuẩn hóa theo XN BRAHMS PCT LISA.

+ Nhãn của từng hộp thuốc thử Elecsys BRAHMS PCT có mã vạch chứa thông tin đặc hiệu để chuẩn cho từng lô thuốc thử riêng biệt.

+ Đường chuẩn chính đã được xác định trước sẽ tái lập tên máy phân tích bằng cách dùng chất chuẩn PCT Cal1 và PCT Cal2.

Trong quy trình kiểm tra, trình tự chuẩn trên tất cả các hệ thống luôn phải bắt đầu bằng việc đo PCT Cal2 trước PCT Cal1 để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả Tần suất chuẩn cần được thực hiện đều đặn cho từng lô thuốc thử, sử dụng hộp thuốc thử mới để đảm bảo tính chính xác của quá trình kiểm tra thuốc Việc tuân thủ quy trình này giúp duy trì tiêu chuẩn chất lượng cao và đảm bảo sự nhất quán trong các phép đo.

+ Để kiểm tra chất lƣợng: sử dụng PC PCT1 và PC PCT2 Các loại mẫu chứng thích hợp khác cũng có thể đƣợc sử dụng.

Chạy các mẫu chứng với nồng độ khác nhau ít nhất một lần mỗi 24 giờ trong quá trình xét nghiệm, đảm bảo mỗi lần sử dụng với từng hộp thuốc thử riêng biệt và sau mỗi lần chuẩn Việc thực hiện đều đặn này giúp đảm bảo độ chính xác và tính nhất quán của kết quả xét nghiệm, đồng thời tuân thủ các quy trình kiểm tra chất lượng trong phòng xét nghiệm.

Theo quy trình thực hành chuẩn của Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp:

+ Mẫu bệnh phẩm đã được ly tâm và tách riêng huyết thanh (hoặc huyết tương) và tế bào máu.

Kiểm tra kỹ thông tin trên phiếu chỉ định và trên ống máu để đảm bảo tính chính xác Mẫu máu cần còn nguyên nắp đậy, không bị bọt khí, và các chi tiết ghi trên ống phải khớp với thông tin trên phiếu xét nghiệm Trên phiếu xét nghiệm, cần kiểm tra các thông tin như họ tên, năm sinh, mã y tế, khoa, buồng bệnh và số giường nhằm đảm bảo chính xác trong quá trình xử lý mẫu bệnh phẩm.

+ Kiểm tra lại thông tin trên tube máu và phiếu XN Mã hóa mã số của tube máu và phiếu XN theo mã số hằng ngày của khoa.

+ Nạp mẫu bệnh phẩm vào máy phân tích.

+ Cài đặt đúng test theo đúng chỉ định của phiếu XN.

+ Nhập dữ liệu về thông tin người bệnh và chỉ định XN vào hệ thống mạng của bệnh viện.

+ Đợi máy phân tích mẫu theo protocol của máy.

+ Khi có kết quả cần xem xét đánh giá kết quả sau đó in báo cáo hoặc ghi kết quả vào phiếu XN để trả cho người bệnh.

Máy Cobas E-411 có thể đo nồng độ PCT từ 0,02 – 100 ng/ml.

Kết quả XN không bị ảnh hưởng khi:

+ Huyết thanh vàng: bilirubin < 25 mg/dl hay 428 àmol/l.

+ Huyết thanh đục: triglyceride < 1500 mg/dl.

+ Biotin < 30 ng/ml Trường hợp người bệnh sử dụng biotin với liều > 5 mg/ngày cần lấy máu XN ít nhất 8 giờ sau khi sử dụng Biotin lần cuối.

+ Không có hiệu ứng “high-dose hook (hiệu ứng mẫu bệnh phẩm có nồng độ cao) khi nồng độ procalcitonin tới 1000 ng/ml.

 Khắc phục: có thể hòa loãng bệnh phẩm và thực hiện lại XN sau đó nhân kết quả với độ hòa loãng.

Bằng máy huyết học tự động Cell-Dyn Ruby (Abbott – Hoa Kỳ) tại Khoa Huyết học và Truyền máu Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.

 Định lƣợng nồng độ CRP, AST, ALT, glucose, lactate máu:

Bằng máy phân tích hóa sinh tự động AU 680 (Olympus – Nhật) tại Khoa Hóa sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.

Bằng phương pháp thông thường tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.

2.6.2 Công cụ thu thập số liệu

Mẫu nghiên cứu đƣợc thu thập số liệu theo phiếu thu thập số liệu ( phụ lục

2.6.3 Các biện pháp kiểm soát sai lệch

2.6.3.1 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

+ Định nghĩa rõ ràng đối tƣợng đƣa vào nghiên cứu.

+ Chọn mẫu theo đúng tiêu chí chọn vào.

2.6.3.2 Kiểm soát sai lệch thông tin

+ Các biến số được định nghĩa rõ ràng và đo lường được.

+ Thu thập thông tin theo một mẫu thống nhất.

+ Chuẩn hóa phương pháp đo: tự động hóa, đo lập lại, kiểm định trước đo.

+ Kiểm tra kỹ số liệu, phân tích thống kê các số liệu phù hợp và khoa học.

+ Số liệu đƣợc nhập và xử lý 2 lần để đối chiếu các kết quả với nhau.

Quy trình nghiên cứu

(Loại khỏi nghiên cứu*: là những trẻ không đủ tiêu chuẩn phân vào nhóm NTH chắc chắn và NTH có thể)

Lưu đồ 2.1 Quy trình nghiên cứu Nhóm không NTHSS sớm

- Trẻ sơ sinh ≥ 34 tuần tuổi thai và ≤ 48 giờ tuổi nhập viện

- Có yếu tố nguy cơ hoặc có triệu chứng lâm sàng nghi ngờ

- Trẻ được sử dụng KS trước nhập viện

- Thân nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

(+) Loại khỏi nghiên cứu ALT/AST > 1000 UI/l

- XN lúc nhập viện (T0): + Cấy máu, CTM, CRP, Glucose,

XN 48 giờ sau nhập viện (T1): + CTM, CRP

- Lâm sàng (+) và / hoặc XN (+)

- XN ngày 7 sau nhập viện (T2): + CTM, CRP

- Theo dõi từ 48 giờ đến ngày 7

≥ 2 lâm sàng (+) + 2 XN (+) và cấy máu (-)

NTH chắc chắn: cấy máu (+) + ≥

Phương pháp phân tích dữ liệu

+ Số liệu được kiểm soát sai lệch trước khi nhập và làm sạch trước phân tích. + Phần mềm EpiData 3.1 đƣợc dùng để nhập dữ liệu.

+ Phần mềm SPSS 20.0 sẽ đƣợc dùng phân tích dữ liệu:

Biến số định tính được trình bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm (%), giúp thể hiện rõ mức độ phân bố của dữ liệu Để so sánh các tỷ lệ này một cách chính xác, sử dụng kiểm định Chi-Squared (χ²) hoặc Fisher’s Exact là phù hợp, đặc biệt trong các trường hợp số ô có giá trị kỳ vọng dưới 5 chiếm từ 20% trở lên hoặc ô có giá trị kỳ vọng nhỏ nhất dưới 1 Các phương pháp kiểm định này đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy trong phân tích thống kê dữ liệu định tính. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình cho SEO và làm cho các đoạn văn mạch lạc hơn? [Blogify](https://pollinations.ai/redirect-nexad/rDXEQS7k) có thể giúp bạn! Với công nghệ AI tiên tiến, Blogify sẽ biến đổi bài viết của bạn, trích xuất những câu quan trọng nhất và tái cấu trúc nội dung theo chuẩn SEO một cách dễ dàng Tối ưu hóa nội dung của bạn chưa bao giờ đơn giản đến thế!

Biến số định lượng thường được trình bày bằng trung bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị cùng với các giá trị tại phân vị thứ 25% và 75%, đặc biệt khi biến số có phân phối không chuẩn Việc sử dụng các thống kê mô tả này giúp cung cấp cái nhìn toàn diện về phân phối dữ liệu, đảm bảo phân tích chính xác hơn trong các nghiên cứu khoa học Áp dụng các phương pháp này theo đúng tiêu chuẩn SEO sẽ giúp nội dung của bạn dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn bởi độc giả và công cụ tìm kiếm.

So sánh hai trung bình mẫu có thể được thực hiện bằng kiểm định T (T-test) hoặc Mann-Whitney U nếu biến số không phân phối chuẩn, giúp xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm Đối với so sánh hai trung bình của các mẫu cặp, phương pháp phù hợp là kiểm định Paired-Sample T-Test hoặc Wilcoxon Signed Ranks Test, đặc biệt khi hiệu của các cặp giá trị không phân phối chuẩn Việc lựa chọn kiểm định phù hợp đảm bảo phân tích dữ liệu chính xác, hỗ trợ đưa ra kết luận khách quan về sự khác biệt giữa các trung bình trong nghiên cứu.

+ Ngƣỡng ý nghĩa của các phép kiểm thống kê là 95% (với mức p < 0,05).

+ Kết quả số liệu được trình bày dưới dạng các bảng và biểu đồ.

Đạo đức trong nghiên cứu

Khi trẻ được chẩn đoán nghi ngờ NTHSS, các xét nghiệm như cấy máu, CTM, sinh hóa (CRP, AST, ALT, glucose, lactate) sẽ được thực hiện theo phác đồ của Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp để hỗ trợ chẩn đoán và theo dõi điều trị Mẫu máu để xét nghiệm PCT được lấy từ phần dư của xét nghiệm sinh hóa (1 ml máu), giúp giảm thiểu ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ Tất cả các xét nghiệm này đều cần có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người bảo hộ hợp pháp của trẻ, và không gây thêm chi phí cho gia đình trong nghiên cứu Việc tham gia hoặc không tham gia nghiên cứu không ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và điều trị của trẻ.

Đề tài nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Hội đồng Khoa học Kỹ thuật của Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp phê duyệt, đảm bảo tuân thủ các quy định về đạo đức và khoa học nghiêm ngặt.

+ Các thông tin thu thập đƣợc của bệnh nhi đƣợc bảo mật và chỉ đƣợc dùng với mục đích nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - 53 3.1 Đặc điểm nhân trắc, yếu tố nguy cơ, lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm

Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại thời điểm nhập viện theo các đặc điểm nhân trắc

Nồng độ PCT máu ở nhóm trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện có phân phối không chuẩn.

Bảng 3.10 Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại thời điểm nhập viện theo các đặc điểm nhân trắc

PCT (ng/ml) p Trung vị 25% – 75%

Sinh mổ (n = 25) 1,72 1,22 – 5,94(Mann-Whitney U Test)

Nồng độ PCT trung bình ở nhóm trẻ sơ sinh mắc NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện là 1,76 ng/ml, với khoảng biến thiên từ 1,17 đến 6,70 ng/ml Không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ PCT máu giữa các nhóm trẻ dựa trên giới tính, tuổi thai, cân nặng lúc sinh, tuổi nhập viện hoặc phương pháp sinh, với p-value lớn hơn 0,05, cho thấy các yếu tố này không ảnh hưởng đến nồng độ PCT trong trường hợp NTHSS sớm.

So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các nhóm nghiên cứu tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện

Nồng độ PCT máu ở nhóm trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện có phân phối không chuẩn.

Trong 61 trẻ ở nhóm NTHSS sớm, đến 48 giờ sau nhập viện còn 59 trẻ (1 trẻ tử vong và 1 trẻ chuyển viện trước 48 giờ sau nhập viện).

Bảng 3.11 So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các nhóm nghiên cứu tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện

PCT (ng/ml) p Trung vị 25% – 75%

Không NTHSS sớm (n = 18) 0,18 0,11 – 0,24 (Mann-Whitney U Test)

 Tại thời điểm nhập viện: nồng độ PCT máu ở nhóm NTHSS sớm có trung vị

1,76 (1,16 – 6,74) ng/ml cao hơn nồng độ PCT máu ở nhóm không NTHSS sớm 0,34 (0,26 – 0,51) ng/ml Sự khác biệt về nồng độ PCT máu tại thời điểm nhập viện giữa nhóm NTHSS sớm và nhóm không NTHSS sớm có ý nghĩa thống kê (p < 0,001).

Tại thời điểm 48 giờ sau nhập viện, nồng độ PCT máu trung vị của nhóm NTHSS sớm là 0,44 ng/ml, cao hơn nhiều so với mức 0,18 ng/ml của nhóm không NTHSS sớm Sự khác biệt về nồng độ PCT máu giữa hai nhóm tại thời điểm này có ý nghĩa thống kê rõ rệt (p < 0,001), cho thấy vai trò của PCT trong dự đoán và theo dõi tình trạng bệnh nhân.

So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các thời điểm nghiên cứu (lúc nhập viện, 48 giờ và ngày 7 sau nhập viện) ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm

Nồng độ PCT máu ở nhóm trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện, 48 giờ và ngày 7 sau nhập viện có phân phối không chuẩn.

Trong 61 trẻ ở nhóm NTHSS sớm, đến 48 giờ sau nhập viện còn 59 trẻ (1 trẻ tử vong và 1 trẻ chuyển viện trước 48 giờ sau nhập viện) và đến ngày 7 sau nhập viện còn 57 trẻ (1 trẻ tử vong, 1 trẻ chuyển viện trước 48 giờ sau nhập viện và 2 trẻ xin về trước ngày 7 sau nhập viện).

Bảng 3.12 So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các thời điểm nghiên cứu

(lúc nhập viện, 48 giờ và ngày 7 sau nhập viện) ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm

PCT (ng/ml) p Trung vị 25% – 75%

 Nhận xét: Ở nhóm trẻ NTHSS sớm:

Nồng độ PCT máu tại thời điểm nhập viện trung vị là 1,76 ng/ml (phạm vi 1,13 – 6,36), cao hơn đáng kể so với nồng độ PCT 48 giờ sau nhập viện là 0,46 ng/ml (phạm vi 0,29 – 0,88), với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), cho thấy sự giảm đáng kể của PCT trong vòng 48 giờ sau nhập viện.

Nồng độ PCT máu tại 48 giờ sau nhập viện trung vị là 0,46 ng/ml (dao động từ 0,29 đến 0,88), cao hơn nhiều so với nồng độ tại ngày 7 sau nhập viện là 0,11 ng/ml (dao động từ 0,09 đến 0,14) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), cho thấy nồng độ PCT giảm rõ rệt theo thời gian sau nhập viện.

Nồng độ PCT máu tại thời điểm nhập viện có trung vị là 1,76 ng/ml (phạm vi 1,13 – 6,36), cao hơn nhiều so với nồng độ PCT vào ngày thứ 7 sau nhập viện là 0,11 ng/ml (phạm vi 0,09 – 0,14), và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê rõ ràng (p < 0,001).

Biểu đồ 3.1 Đường biểu diễn động học của nồng độ PCT máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm

Nồng dộ PCT máu (ng/ml)

BÀN LUẬN

Đặc điểm nhân trắc, yếu tố nguy cơ, lâm sàng và cận lâm sàng ở nhóm dân số nghiên cứu

Các nghiên cứu sớm về NTHSS đều nhận thấy tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở giới nam so với giới nữ Ví dụ, nghiên cứu của Eric Giannoni và cộng sự tại Úc cho thấy tỷ lệ NTHSS sớm ở trẻ trai cao hơn rõ rệt, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nghiên cứu phân tích gộp của Elham Hammad và cộng sự ở Malaysia cũng xác nhận giới nam có liên quan đến NTHSS sớm Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ các yếu tố sinh lý nhạy cảm của ký chủ, liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính X và ảnh hưởng của hormone giới tính đến cân bằng cytokine của tế bào T hỗ trợ loại 1 và loại 2, khiến nam giới dễ mắc các bệnh nhiễm trùng hơn nữ giới.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, giới nam mắc NTHSS sớm nhiều hơn giới nữ, chiếm tỷ lệ 54,1% với tỷ lệ nam/nữ là 1,18/1, tuy nhiên sự khác biệt về giới tính không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Các nghiên cứu tại Việt Nam, như của Phan Hùng Việt và cộng sự tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế, cũng ghi nhận tỷ lệ giới nam là 54,1% và không có ý nghĩa thống kê về giới tính (p > 0,05) Tương tự, Võ Hữu Đức và cộng sự tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang cũng cho kết quả gần tương tự với tỷ lệ nam chiếm 54,2% Trong bối cảnh quốc tế, nghiên cứu của Pakaphan Kiatchoosakun tại Thái Lan trên 160 trẻ NTHSS sớm cho thấy trẻ nam chiếm 59,5%, tỷ lệ nam/nữ là 1,47/1, phản ánh xu hướng giới nam chiếm đa số trong các trường hợp mắc NTHSS sớm nhưng không có sự khác biệt đáng kể về giới tính.

Ai Cập trên trẻ NTHSS sớm chắc chắn, giới nam chiếm 54,3% [90].

Nghiên cứu của Pendo P Masanja và cộng sự tại Tanzania cho thấy, trong số 105 trẻ bị NTHSS sớm, tỷ lệ nữ giới chiếm 53,3%; tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Tương tự, nghiên cứu của Muhammad Matloob Alam và các cộng sự tại Pakistan cũng ghi nhận tỷ lệ nữ giới cao hơn giới nam, chiếm 57,0%, cho thấy xu hướng nữ giới tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nhưng không có sự khác biệt rõ ràng về mặt thống kê.

Mặc dù nhiều nghiên cứu cho thấy giới nam gặp nhiều hơn giới nữ, nhưng đa số các nghiên cứu đều nhận định rằng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê trong các trường hợp NTHSS sớm và không NTHSS sớm.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ sinh đủ tháng có chiều cao cao hơn so với trẻ sinh non tháng Trong số 61 trẻ NTHSS sớm, chỉ có 5 trẻ sinh non tháng (tỷ lệ 8,2%), thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây cho thấy non tháng là yếu tố nguy cơ chính của NTHSS sớm Theo tác giả Shruti Murthy, trẻ sinh non tháng và nhẹ cân có nguy cơ mắc NTHSS gấp 2,05 lần so với trẻ đủ tháng và cân nặng bình thường, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi phát triển của trẻ sinh non để giảm thiểu các rối loạn về chiều cao trong giai đoạn đầu đời.

Trẻ sinh non có lượng kháng thể IgG qua nhau thai thấp hơn, đặc biệt vào quý cuối của thai kỳ, khiến trẻ dễ bị nhiễm trùng hơn [95], [8], [18] Nghiên cứu của Kathryn Braye và cộng sự tại Úc cho thấy tỷ lệ trẻ sinh non và thiếu tháng chiếm tới 66%, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), đặc biệt là ở nhóm trẻ sơ sinh non tháng [37] Trong khi đó, nghiên cứu của Mary Hsin-Ju Ko tại Đài Loan cho thấy khoảng 57% các trường hợp NTHSS sớm là ở trẻ sinh non [76] Các báo cáo từ Barbara J Stoll và Ali H Almudeer cũng đều ghi nhận tỷ lệ tăng cao của NTHSS sớm ở trẻ non tháng.

Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ trẻ đủ tháng mắc NTHSS sớm cao hơn so với trẻ non tháng, như nghiên cứu của Phan Hùng Việt tại Trường Đại học Y Dược Huế, trong đó nhóm trẻ NTHSS sớm, non tháng chỉ chiếm 9,8% Ngoài ra, nghiên cứu của Claudia Turner và cộng sự tại Thái Lan cũng ghi nhận tỷ lệ trẻ non tháng trong tổng số 187 trẻ có biểu hiện lâm sàng là 5,8%, cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ NTHSS giữa các nhóm trẻ.

NTHSS sớm chiếm khoảng 40% ở trẻ non tháng, theo nghiên cứu của Abdel Hakeem Abdel Mohsen và cộng sự tại Ai Cập Trong khi đó, tỷ lệ NTHSS sớm cao hơn ở trẻ đủ tháng được báo cáo trong các nghiên cứu của Sithembiso C Velaphi và Muhammad Matloob Alam, cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ NTHSS sớm giữa nhóm trẻ non tháng và trẻ đủ tháng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn các trường hợp NTHSS xảy ra sớm ở trẻ đủ tháng, nhưng sự khác biệt về tuổi thai không mang ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Điều này phản ánh sự tiến bộ trong chăm sóc tiền sản, giúp hạn chế các yếu tố nguy cơ sinh non và giảm tỷ lệ sinh non Vì chỉ tập trung vào trẻ có tuổi thai từ 34 tuần trở lên, nên tỷ lệ trẻ non tháng trong nghiên cứu của chúng tôi vẫn còn thấp so với thực tế. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách cải thiện bài viết của mình theo chuẩn SEO? Đôi khi, việc viết lại nội dung sao cho vừa hấp dẫn vừa tối ưu hóa có thể tốn rất nhiều thời gian Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/FKFLktPU), bạn có thể tạo ra các bài viết SEO-optimized dài 2,000 từ một cách nhanh chóng, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Nó giống như có một đội ngũ sáng tạo nội dung riêng mà không gặp rắc rối nào Hãy để công cụ này giúp bạn tạo ra những đoạn văn mạch lạc và chuẩn SEO nhé!

Trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ có cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram chiếm tỷ lệ cao hơn so với trẻ có cân nặng dưới 2500 gram, trong đó chỉ có 8,2% trẻ NTHSS sớm có cân nặng dưới 2500 gram, cho thấy sự khác biệt so với các nghiên cứu trước đây, khi trẻ nhẹ cân được xác định là yếu tố nguy cơ của NTHSS sớm Theo tác giả Amare Belachew và cộng sự qua một tổng quan hệ thống tại Ethiopia, trẻ sinh dưới 2500 gram có nguy cơ mắc NTHSS gấp 1,42 lần so với trẻ sinh đủ cân, do trẻ nhẹ cân thường là trẻ non tháng, hệ miễn dịch chưa hoàn thiện, khả năng dung nạp sữa kém, dễ bị hạ thân nhiệt, hạ đường huyết và tăng nguy cơ nhiễm trùng Nghiên cứu của Sithembiso C Velaphi ở Nam Phi cho thấy 55,8% trẻ NTHSS sớm sinh dưới 2500 gram, trong khi nghiên cứu của Barbara J Stoll xác định tỷ lệ này là 54,0% Đồng thời, nhiều nghiên cứu khác như của Pakaphan Kiatchoosakun, Tadesse Yirga Akalu và Heeranad Rathore cũng báo cáo tỷ lệ trẻ sinh dưới 2500 gram chiếm cao trong nhóm trẻ NTHSS sớm, khẳng định vai trò của cân nặng lúc sinh trong nguy cơ NTHSS sớm.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trẻ sơ sinh có cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram thường có tỷ lệ thuận lợi hơn so với những trẻ có cân nặng dưới mức này Trong nhóm NTHSS sớm, tỷ lệ trẻ có cân nặng đủ tiêu chuẩn là cao hơn, cho thấy mối liên hệ tích cực giữa cân nặng khi sinh và sức khỏe của trẻ sau này Các kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và chăm sóc tốt cho trẻ sơ sinh nhằm đảm bảo cân nặng hợp lý để phát triển toàn diện.

Nghiên cứu của Phan Đăng Nghị và cộng sự cho thấy 82,9% trẻ trong nhóm NTSS sớm có cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram Tương tự, nghiên cứu của Pendo P Masanja tại Tanzania cũng ghi nhận tỷ lệ 75,2% trẻ có cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram trong nhóm NTHSS sớm Các nghiên cứu của Stephanie J Schrag, Muhammad Matloob Alam, và Grace J Chan cũng báo cáo tỷ lệ cao trẻ sinh đủ cân nặng này Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số trẻ NTHSS sớm có cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram, tuy nhiên sự khác biệt về cân nặng lúc sinh không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), do hơn 90% trẻ là trẻ đủ tháng, làm tỷ lệ trẻ sinh dưới 2500 gram rất thấp.

Trẻ sơ sinh NTHSS sớm thường có các triệu chứng lâm sàng xuất hiện ngay sau sinh, giúp nhận biết sớm tình trạng bệnh Nghiên cứu của Trijbels-Smeulders tại Hà Lan cho thấy có tới 81,5% trường hợp trẻ NTHSS sớm có chắc chắn liên quan đến vi khuẩn GBS, trong khi 71,4% các trẻ này bắt đầu xuất hiện triệu chứng trong vòng 12 giờ đầu sau sinh, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm để giảm thiểu biến chứng nặng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 63,9% trẻ NTHSS sớm nhập viện trước

24 giờ tuổi Ở nhóm không NTHSS sớm chỉ có 33,3% nhập viện trước 24 giờ tuổi.

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi lúc nhập viện giữa các nhóm (p < 0,05), cho thấy sự phân bổ tuổi khác nhau đáng kể trong các nhóm nghiên cứu Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó của Phạm Lê Lợi tại Bệnh viện Xanh Pôn, trong đó ghi nhận rằng 90,3% trẻ nhập viện trong nhóm trẻ NTHSS sớm đã được đưa nhập viện trước Các phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và xử lý sớm các trường hợp NTHSS để giảm thiểu các biến chứng liên quan.

Theo các nghiên cứu, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng huyết sớm trước 24 giờ tuổi khá cao, với 84,1% trẻ tại Nam Phi nhập viện điều trị trong vòng 24 giờ đầu đời theo nghiên cứu của Sithembiso C Velaphi và cộng sự Tương tự, tại Hoa Kỳ, nghiên cứu của Stephanie J Schrag cho thấy 77,4% trẻ có dấu hiệu nhiễm trùng huyết sớm trên 24 giờ đầu đời Những số liệu này cho thấy việc phát hiện và can thiệp sớm là cần thiết để giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng ở trẻ sơ sinh.

Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm tại thời điểm nhập viện theo các đặc điểm nhân trắc

PCT là chất phản ứng trong giai đoạn viêm cấp tính, với nồng độ bình thường ≤ 0,05 ng/ml Hiện nay, FDA đã chấp nhận sử dụng xét nghiệm PCT để đánh giá nguy cơ tiến triển thành nhiễm trùng huyết nặng và sốc nhiễm trùng Nồng độ PCT ≥ 0,5 ng/ml cho thấy khả năng cao bị nhiễm trùng toàn thân hoặc nhiễm trùng huyết, giúp các bác sĩ đưa ra quyết định đúng đắn trong chẩn đoán và điều trị.

Nghiên cứu của chúng tôi xác định rằng nồng độ PCT ở trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện có phân phối không chuẩn, với trung vị là 1,76 ng/ml (từ 1,17 đến 6,70) Kết quả cho thấy, mức độ PCT trong máu của trẻ NTHSS sớm cao hơn nhiều so với giá trị bình thường của nồng độ PCT máu, phản ánh mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng hoặc viêm trong giai đoạn này.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Phạm

Nồng độ PCT máu là chỉ số quan trọng trong chẩn đoán nhiễm trùng sơ sinh sớm, với trung vị là 1,64 ng/ml theo ghi nhận tại Bệnh viện Xanh Pôn Nghiên cứu của Phan Hùng Việt và cộng sự tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế cũng xác định trung vị nồng độ PCT ở trẻ nhiễm trùng sơ sinh sớm là 0,520 ng/ml Các kết quả này cho thấy nồng độ PCT máu có thể giúp phân biệt mức độ nhiễm trùng sơ sinh sớm, hỗ trợ chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời cho trẻ.

Ai Cập cũng cho thấy ở nhóm nhiều khả năng NTHSS sớm, nồng độ PCT máu có trung vị là 4,2 ng/ml [26]

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ PCT máu ở trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện dựa trên giới tính, tuổi thai, cân nặng lúc sinh, tuổi lúc nhập viện và phương pháp sinh (p > 0,05) Điều này chứng tỏ nồng độ PCT máu không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giới tính, tuổi thai, cân nặng sơ sinh, tuổi sau sinh hay phương pháp sinh.

Nghiên cứu của Phạm Lê Lợi tại Bệnh viện Xanh Pôn cho thấy nồng độ PCT máu ở trẻ nhiễm trùng sơ sinh sớm không khác biệt theo giới tính hoặc tuổi sau sinh Tuy nhiên, tác giả ghi nhận sự khác biệt về nồng độ PCT máu ở trẻ nhiễm trùng sơ sinh sớm liên quan đến tuổi thai và cân nặng lúc sinh, cho thấy các yếu tố này ảnh hưởng đến phản ứng viêm của trẻ.

Nghiên cứu của Claudio Chiesa và cộng sự tại Ý cho thấy nồng độ PCT máu ở trẻ sơ sinh không bị ảnh hưởng bởi phương pháp sinh và giới tính, mà chủ yếu phụ thuộc vào tuổi thai và cân nặng lúc sinh Trong khi đó, nghiên cứu của Jueseong Lee và cộng sự tại Hàn Quốc đã phát hiện rằng nồng độ PCT máu ở trẻ sơ sinh tăng có liên quan đáng kể đến việc trẻ có tuổi thai thấp hơn và gặp phải tình trạng suy hô hấp trong tuần đầu sau sinh.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ PCT máu không bị ảnh hưởng bởi tuổi thai và cân nặng lúc sinh Tuy nhiên, các nghiên cứu của Phạm Lê Lợi, Claudio Chiesa và Jueseong Lee lại chỉ ra rằng nồng độ PCT máu chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố này Điều này có thể do phần lớn các mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi (hơn 90%) là trẻ đủ tháng với cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram, khiến chúng tôi không ghi nhận được mối liên hệ này.

So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các nhóm nghiên cứu tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện

Nồng độ PCT máu ở nhóm trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện và 48 giờ sau nhập viện có phân phối không chuẩn

Trong 61 trẻ ở nhóm NTHSS sớm, đến 48 giờ sau nhập viện còn 59 trẻ (1 trẻ tử vong và 1 trẻ chuyển viện trước 48 giờ sau nhập viện)

 Tại thời điểm nhập viện:

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nồng độ PCT ở nhóm trẻ NTHSS sớm trung vị là 1,76 ng/ml (từ 1,17 đến 6,70), cao hơn đáng kể so với nhóm trẻ không NTHSS sớm với trung vị là 0,34 ng/ml (từ 0,26 đến 0,51), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả này cho thấy, mặc dù theo y văn thì nồng độ PCT có thể tăng sinh lý trong vài ngày đầu sau sinh, nhưng ở trẻ NTHSS sớm, mức độ cao hơn nhiều so với trẻ không nhiễm trùng, làm cho PCT trở thành một chỉ số có giá trị trong chẩn đoán NTHSS sớm Ngoài ra, nghiên cứu của Phan Hùng Việt và cộng sự tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế cũng xác nhận rằng nồng độ PCT máu ở trẻ nhiễm trùng sơ sinh sớm trung vị là 0,520 ng/ml so với 0,072 ng/ml ở nhóm không nhiễm trùng, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Họ còn chỉ ra rằng, với điểm cắt PCT > 0,098 ng/ml, nồng độ PCT có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 83,9% trong chẩn đoán nhiễm trùng sơ sinh sớm, khẳng định giá trị của PCT trong chẩn đoán sớm bệnh nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh.

Nghiên cứu của Phạm Lê Lợi tại Bệnh viện Xanh Pôn cho thấy nồng độ PCT ở trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng sớm cao hơn đáng kể so với nhóm không nhiễm trùng, với trung vị lần lượt là 13,86 ng/ml và 0,27 ng/ml, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Nồng độ PCT trong máu của nhóm trẻ nhiễm trùng sơ sinh sớm cũng cao hơn so với nhóm không nhiễm trùng, trung vị là 1,64 ng/ml so với 0,27 ng/ml, và kết quả này cũng đạt độ ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Ngoài ra, tại điểm cắt PCT là 0,54 ng/ml, xét nghiệm PCT cho độ nhạy 92,3%, độ đặc hiệu 80,2% và AUC là 0,905 trong chẩn đoán nhiễm trùng sơ sinh sớm, cho thấy khả năng chẩn đoán chính xác cao của chỉ số này.

Nghiên cứu của Ali Mahmoud Ahmed và cộng sự tại Ai Cập đã phát hiện rằng, tại thời điểm nhập viện, nồng độ PCT máu ở nhóm có nhiều khả năng NTHSS sớm trung bình là 4,2 ng/ml, cao hơn đáng kể so với nhóm đối chứng chỉ 0,6 ng/ml (p < 0,05) Các kết quả cũng cho thấy, với điểm cắt PCT là 2,3 ng/ml, chỉ số nhạy là 72,2%, độ đặc hiệu là 80,9% và AUC đạt 0,798 trong chẩn đoán NTHSS sớm, cho thấy PCT là một chỉ số hữu ích trong việc phát hiện sớm bệnh.

Tại thời điểm nhập viện, nồng độ PCT máu ở nhóm NTHSS cao hơn so với nhóm không NTHSS, điều này đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Trần Thị Lam, Minoo Adib, H Altunhan và Abdel Hakeem Abdel Mohsen, cho thấy mức độ PCT cao liên quan chặt chẽ đến tình trạng NTHSS.

Các nghiên cứu đều cho thấy nồng độ PCT máu có giá trị trong chẩn đoán NTHSS sớm, nhưng độ nhạy và độ đặc hiệu của từng nghiên cứu lại khác nhau do điểm cắt của nồng độ PCT máu không đồng nhất Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn nhằm xác định chính xác điểm cắt tối ưu của nồng độ PCT máu để chẩn đoán NTHSS sớm hiệu quả hơn.

 Tại thời điểm 48 giở sau nhập viện:

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, nồng độ PCT máu ở trẻ sơ sinh có NTHSS sớm cao hơn đáng kể so với nhóm không NTHSS sớm, với trung vị lần lượt là 0,44 ng/ml và 0,18 ng/ml Sự khác biệt về nồng độ PCT máu tại 48 giờ sau nhập viện giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy nồng độ PCT vẫn còn cao ở trẻ có NTHSS sớm ngay cả sau khi đã điều trị KS Điều này chứng tỏ, mặc dù nồng độ PCT máu giảm nhanh khi đáp ứng điều trị, nhưng vẫn còn giá trị trong chẩn đoán NTHSS sớm ở trẻ sơ sinh đã điều trị KS.

Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Ali Mahmoud Ahmed và cộng sự tại Ai Cập, khi ghi nhận rằng vào ngày thứ 3 sau nhập viện, nồng độ PCT trong máu của nhóm có khả năng mắc NTHSS sớm (trung vị 1,4 ng/ml, khoảng 0,75 – 2,7 ng/ml) cao hơn so với nhóm chứng (trung vị 0,5 ng/ml, khoảng 0,3 – 0,7 ng/ml), và sự khác biệt này đạt ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

So sánh nồng độ procalcitonin máu giữa các thời điểm nghiên cứu (lúc nhập viện, 48 giờ và ngày 7 sau nhập viện) ở nhóm trẻ nhiễm trùng huyết sơ sinh sớm

Trong 61 trẻ ở nhóm NTHSS sớm, đến 48 giờ sau nhập viện còn 59 trẻ (1 trẻ tử vong và 1 trẻ chuyển viện trước 48 giờ sau nhập viện) và đến ngày 7 sau nhập viện còn 57 trẻ (1 trẻ tử vong, 1 trẻ chuyển viện trước 48 giờ sau nhập viện và 2 trẻ xin về trước ngày 7 sau nhập viện)

Nồng độ procalcitonin máu ở nhóm trẻ NTHSS sớm tại thời điểm nhập viện,

48 giờ và ngày 7 sau nhập viện có phân phối không chuẩn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ PCT máu tại thời điểm nhập viện trung bình là 1,76 ng/ml, cao hơn so với mức 0,46 ng/ml tại 48 giờ sau nhập viện và 0,11 ng/ml vào ngày 7 sau nhập viện, với các khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Kết quả cho thấy nồng độ PCT máu giảm dần theo thời gian sau khi nhập viện, đặc biệt là giữa thời điểm nhập viện và ngày 7 sau đó, phản ánh quá trình điều trị hoặc chuyển biến bệnh Sự khác biệt rõ rệt này cho thấy vai trò của PCT trong theo dõi tình trạng nhiễm trùng và tiến triển bệnh nhiễm trùng của trẻ NTHSS sớm.

Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Ali Mahmoud Ahmed và cộng sự tại Ai Cập, cho thấy nhóm trẻ có khả năng mắc NTHSS sớm thường có nồng độ PCT trong máu cao tại thời điểm nhập viện, với trung vị là 4,2 ng/ml Sau 3 ngày điều trị, nồng độ PCT giảm còn trung vị 1,4 ng/ml, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy quá trình điều trị làm giảm nồng độ PCT rõ rệt ở bệnh nhân trẻ bị NTHSS.

Nghiên cứu của chúng tôi đồng bộ với kết quả của Nilgỹn Kửksal và cộng sự tại Thổ Nhĩ Kỳ, cho thấy NTHSS (bao gồm cấy máu dương tính và âm tính) có sự khác biệt rõ rệt về nồng độ PCT máu giữa thời điểm nhập viện, 24-48 giờ sau và ngày thứ 7 sau nhập viện, và những thay đổi này đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).

Nồng độ PCT máu giảm nhanh chóng khi trẻ đáp ứng tốt với điều trị kháng sinh, cho thấy đây là chỉ số hữu ích trong việc theo dõi hiệu quả điều trị Ngoài vai trò chẩn đoán, nồng độ PCT còn có giá trị quan trọng trong việc đánh giá sớm sự đáp ứng điều trị kháng sinh ở trẻ mắc NTHSS Việc theo dõi nồng độ PCT giúp các bác sĩ điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời, nâng cao hiệu quả chữa bệnh.

NHỮNG ƢU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1 Những ƣu điểm của nghiên cứu

Đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát về nồng độ PCT máu ở trẻ bị NTHSS sớm tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp cũng như khu vực miền Nam Việt Nam Nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về chẩn đoán sớm và quản lý hiệu quả bệnh NTHSS ở trẻ nhỏ tại khu vực này Kết quả thu thập từ nghiên cứu cung cấp dữ liệu quý báu, hỗ trợ các bác sĩ trong việc xác định chính xác các trường hợp nhiễm trùng huyết ở trẻ sơ sinh Công trình nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết về mức độ và đặc điểm của PCT máu trong chẩn đoán NTHSS, thúc đẩy ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng tại Việt Nam.

Đo nồng độ PCT máu bằng phương pháp định lượng tự động trên máy Cobas E-411 của Roche (Đức) mang lại kết quả chính xác, nhạy và đặc hiệu cao Phương pháp này có ngưỡng phát hiện thấp và phạm vi đo lường rộng, giúp phát hiện và theo dõi mức PCT trong máu một cách hiệu quả, hỗ trợ chẩn đoán chính xác các tình trạng viêm nhiễm nghiêm trọng.

- Nghiên cứu bước đầu cho cái nhìn khái quát về nồng độ PCT máu ở trẻ NTHSS sớm

2 Những hạn chế của đề tài

- Do hạn chế về thời gian nên cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ

Tỷ lệ cấy máu dương tính trong nghiên cứu của chúng tôi còn thấp, do đó chúng tôi chưa thể phân chia nhóm NTHSS sớm thành hai nhóm riêng biệt, gồm nhóm NTHSS sớm chắc chắn và nhóm NTHSS sớm có thể, như dự kiến ban đầu để bắt đầu nghiên cứu.

- Do là nghiên cứu mô tả loạt ca nên thiết kế nghiên cứu chƣa đủ mạnh.

Ngày đăng: 04/04/2023, 21:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn Tin học (2019), Tài liệu thực hành xử lý số liệu thống kê y học SPSS, KhoaKhoa học Cơ bản – Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh, tr. 1-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu thực hành xử lý số liệu thống kê y học SPSS
Tác giả: Bộ môn Tin học
Nhà XB: Khoa học Cơ bản – Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2019
2. Bộ Y Tế (2014), “Định lƣợng procalcitonin , Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh, Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế, Hà Nội, tr. 365-367 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định lượng procalcitonin , Hướng dẫn quy trình kỹ thuật chuyên ngành Hóa sinh
Tác giả: Bộ Y Tế
Nhà XB: Bộ Y Tế
Năm: 2014
4. Nguyễn Thị Ngọc Diễm (2017), Khảo sát đặc điểm procalcitonin trong nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 02/01/2017 đến 30/06/2017, Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát đặc điểm procalcitonin trong nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 02/01/2017 đến 30/06/2017
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Diễm
Nhà XB: Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Năm: 2017
5. Phạm Diệp Thùy Dương (2011), “Tiếp cận một trường hợp nhiễm khuẩn sơ sinh , Thực hành lâm sàng chuyên khoa Nhi, Nhà xuất bản Y học, tr. 372- 376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành lâm sàng chuyên khoa Nhi
Tác giả: Phạm Diệp Thùy Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2011
8. Huỳnh Thị Duy Hương (2006), “Nhiễm trùng sơ sinh , Nhi khoa, Chương trình đại học tập II, Nhà xuất bản Y học, tr. 270-290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm trùng sơ sinh , Nhi khoa, Chương trình đại học tập II
Tác giả: Huỳnh Thị Duy Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
9. Trần Thị Lam, Lâm Thị Mỹ (2014), “Đặc điểm procalcitonin trong chẩn đoán nhiễm trùng huyết sơ sinh , Y học TP. Hồ Chí Minh, 18 (1), tr.234-239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm procalcitonin trong chẩn đoán nhiễm trùng huyết sơ sinh
Tác giả: Trần Thị Lam, Lâm Thị Mỹ
Nhà XB: Y học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2014
11. Phạm Lê Lợi (2015), Nghiên cứu giá trị của procalcitonin trong nhiễm trùng sơ sinh sớm, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị của procalcitonin trong nhiễm trùng sơ sinh sớm
Tác giả: Phạm Lê Lợi
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2015
13. Phùng Nguyễn Thế Nguyên (2013), “Xét nghiệm trong chẩn đoán và điều trị ở trẻ sốc nhiễm khuẩn , Sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em, Nhà xuất bản Y học, tr.21-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em
Tác giả: Phùng Nguyễn Thế Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
14. Nguyễn Phan Minh Nhật, Nguyễn Thu Tịnh (2020), “Đặc điểm sinh lý trẻ sơ sinh , Nhi khoa Tập II, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh, tr.130-168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhi khoa Tập II
Tác giả: Nguyễn Phan Minh Nhật, Nguyễn Thu Tịnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2020
15. Nguyễn Thị Kiều Nhi (2008), Đánh giá hiệu quả việc chăm sóc sơ sinh bằng mô hình kết hợp Sản – Nhi tại Khoa Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Huế, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả việc chăm sóc sơ sinh bằng mô hình kết hợp Sản – Nhi tại Khoa Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Huế
Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Nhi
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Kim Nhi (2010), Khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 2
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Nhi
Nhà XB: Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
17. Nguyễn Hoàng Tâm (2020), Tỷ lệ mắc bệnh, yếu tố liên quan với viêm màng não trên bệnh nhân nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, Luận văn Chuyên khoa Cấp II, Đai học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ mắc bệnh, yếu tố liên quan với viêm màng não trên bệnh nhân nhiễm trùng huyết sơ sinh tại Bệnh viện Nhi Đồng 1
Tác giả: Nguyễn Hoàng Tâm
Năm: 2020
18. Nguyễn Hoàng Tâm, Phạm Diệp Thùy Dương (2020), “Nhiễm khuẩn sơ sinh , Nhi Khoa, Tập II, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.192-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiễm khuẩn sơ sinh
Tác giả: Nguyễn Hoàng Tâm, Phạm Diệp Thùy Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2020
19. Võ Đức Trí (2020), “Chẩn đoán và xử trí rối loạn huyết động ở trẻ sơ sinh , Phác đồ điều trị Nhi khoa 2020 – Bệnh viện Nhi Đồng 1, Nhà xuất bản Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán và xử trí rối loạn huyết động ở trẻ sơ sinh, Phác đồ điều trị Nhi khoa 2020 – Bệnh viện Nhi Đồng 1
Tác giả: Võ Đức Trí
Nhà XB: Nhà xuất bản Y
Năm: 2020
20. Lê Xuân Trường (2013), “Procalcitonin , Những xét nghiệm hóa sinh hiện đại sử dụng trong lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, tr. 1-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Procalcitonin , Những xét nghiệm hóa sinh hiện đại sử dụng trong lâm sàng
Tác giả: Lê Xuân Trường
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
22. Abdalla E. O. E-A., Salih F. A. M., Salih H. F., et al. (2017), “Procalcitonin in the diagnosis of early-onset neonatal infection in resource-limited settings , Cogent Medicine, 4:1283085 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Procalcitonin in the diagnosis of early-onset neonatal infection in resource-limited settings
Tác giả: Abdalla E. O. E-A., Salih F. A. M., Salih H. F., et al
Nhà XB: Cogent Medicine
Năm: 2017
26. Ahmed A. M., Mohammed A. T., Bastawy S., et al. (2019), “Serum Biomarkers for the Early Detection of the Early-Onset Neonatal Sepsis , Advances in Neonatal Care, 19 (5), pp. E26-E32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Advances in Neonatal Care
Tác giả: Ahmed A. M., Mohammed A. T., Bastawy S., et al
Năm: 2019
6. Võ Hữu Đức, Tạ Văn Trầm (2018), “Đặc điểm nhiễm khuẩn sơ sinh sớm tại đơn vị chăm sóc tích cực Sơ sinh, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang từ 01/2015 đến 12/2016, Y học TP. Hồ Chí Minh, 22 (4), tr. 234-238 Khác
7. Trần Thị Bích Huyền (2013), “Tình hình nhiễm trùng sơ sinh sớm tại Bệnh viện Đại học Y Dƣợc Cơ sở 2 , Y học TP. Hồ Chí Minh, 17 (4), tr. 93-97 Khác
10. Trần Diệu Linh (2014) “Một số nhận xét về tình hình nhiễm khuẩn sơ sinh sớm ở trẻ đủ tháng tại Trung tâm Chăm sóc và Điều trị Sơ sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung Ƣơng , Hội nghị Khoa học, Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương 2014, tr.50‐ 51 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm