1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tỉ lệ sa sút trí tuệ ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc tại khoa lão bệnh viện đa khoa khu vực cai lậy

114 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỉ lệ sa sút trí tuệ ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc tại khoa lão bệnh viện đa khoa khu vực cai lậy
Tác giả Trần Văn Huyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Văn Trí
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lão khoa
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp II
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTRẦN VĂN HUYỀN TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TẠI KHOA LÃO BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC CAI LẬY LUẬN VĂN

Trang 1

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN HUYỀN

TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI

VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TẠI KHOA LÃO BỆNH VIỆN ĐA KHOA

KHU VỰC CAI LẬY

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II

Trang 2

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN HUYỀN

TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI

VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TẠI KHOA LÃO BỆNH VIỆN ĐA KHOA

KHU VỰC CAI LẬY

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II CHUYÊN NGÀNH: LÃO KHOA

MÃ SỐ: CK 62 72 20 30 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN VĂN TRÍ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây tất cả các số liệu trong luận văn này hoàn toàn trung thực,khách quan và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Xác nhận của học viên

BS TRẦN VĂN HUYỀN

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANG MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Già hóa dân số và SSTT 5

1.2 Một số yếu tố nguy cơ của SSTT 12

1.3 Chẩn đoán SSTT 16

1.4 Kiến thức về SSTT, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân SSTT 22

1.5 Tổng quan về những nghiên cứu trong và thế giới có liên quan đến đề tài nghiên cứu 26

1.6 Tổng quan về khoa Lão BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Thiết kế nghiên cứu 31

2.2 Thời gian nghiên cứu 31

2.3 Địa điểm nghiên cứu 31

2.4 Đối tượng nghiên cứu 31

2.5 Phương pháp chọn mẫu 32

2.6 Định nghĩa biến số nghiên cứu 33

2.7 Kiểm soát sai lệch 41

2.8 Quản lý và xử lý số liệu 41

Trang 5

2.9 Đạo đức nghiên cứu 42

2.10 Sơ đồ nghiên cứu 42

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44

3.1 Đặc điểm dân số xã hội của dân số nghiên cứu 44

3.2 Tỉ lệ SSTT của những bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 47

3.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng SSTT ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 52

3.4 Kiến thức về SSTT và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân có SSTT tại khoa Lão BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 55

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 60

4.1 Đặc điểm về dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 60

4.2 Tỉ lệ SSTT và suy giảm nhận thức của những bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 67

4.3 Các yếu tố liên quan đến tình trạng SSTT ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 72

4.4 Kiến thức về SSTT, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân SSTT tại khoa Lão BV Đa khoa khu vực Cai Lậy 77

4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 83

KẾT LUẬN 85

KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: BỘ CÂU HỎI THU THẬP THÔNG TIN NGHIÊN CỨU PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU

Trang 6

TIẾNG ANH

ADL Basic Activities of Daily Living

Hoạt động sống cơ bản hàng ngàyIADL Intrumental Activities of Daily Living

Hoạt động sống sinh hoạt hàng ngàyDSM Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders

Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thầnMMSE Mini Mental State Examination

Đánh giá tâm thần tối thiểu

Tỉ số số chênh

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Những thay đổi về cấu trú của não theo quá trình lão hoa 7

Bảng 1.2: Các nguyên nhân SSTT 9

Bảng 1.3: Tỉ lệ SSTT theo nhóm tuổi và giới ở Anh 10

Bảng 1.4: Liệt kê thuật ngữ tương đương chẩn đoán theo DSM IV và DSM 5 21

Bảng 1.5: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh nặng theo DSM 5 21

Bảng 1.6: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn chức năng thần kinh nhẹ theo DSM 5 22

Bảng 1.7: Bảng câu hỏi đánh giá kiến thức người chăm sóc bệnh nhân SSTT 23

Bảng 1.8: Tổng hợp những nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài 27

Bảng 1.9: Tổng quan về những nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài 29

Bảng 2.1: Liệt kê biến số nền của nghiên cứu 33

Bảng 2.2: Liệt kê biến số bệnh đông mắc của đối tượng nghiên cứu 34

Bảng 2.3: Hoạt động chức năng IADL 35

Bảng 2.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ - rối loạn chức năng thần kinh theo DSM 5 37

Bảng 2.5: Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT – rối loạn nhận thức thần kinh nặng theo DSM 5 38

Bảng 2.6: Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức người chăm sóc bệnh nhân SSTT 39

Bảng 2.7: Nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân SSTT 40

Bảng 3.1: Phân bố về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu (n=355) 44

Bảng 3.2: Phân bố trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu theo giới tính (n=355) 45

Bảng 3.3: Phân bố nơi sinh sống của đối tượng nghiên cứu theo giới tính (n=355) 45 Bảng 3.4: Tỉ lệ một số bệnh lý thường gặp của đối tượng nghiên cứu theo giới tính (n=355) 46

Bảng 3.5: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo tuổi và nhóm tuổi (n=355) 47

Bảng 3.6: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo giới tính (n=355) 48

Bảng 3.7: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo từng mức học vấn (n=355) 48

Trang 8

Bảng 3.8: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn (n=355) 49

Bảng 3.9: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo nơi sinh sống (n=355) 49

Bảng 3.10: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo bệnh THA (n=355) 50

Bảng 3.11: Tỉ lệ SSTT của đối tượng nghiên cứu theo bệnh tim mạch (n=355) 50

Bảng 3.12: Mô hình hồi quy logistic đơn biến các yếu tố liên quan đến tình trạng SSTT của đối tượng nghiên cứu (n=355) 52

Bảng 3.13: Mô hình hồi quy logistic đa biến các yếu tố liên quan đến tình trạng SSTT của đối tượng nghiên cứu (n=355) 53

Bảng 3.14: Tổng hợp trả lời về kiến thức của người chăm sóc bệnh nhân có SSTT (n=87) 55

Bảng 4.1: So sánh tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú với một số nghiên cứu trong nước 68

Bảng 4.2: So sánh tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú với một số nghiên cứu trên thế giới 69

Bảng 4.3: So sánh tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ ở đối tượng NCT điều trị một số nghiên cứu trong nước và thế giới 71

Bảng 4.4: So sánh tỉ lệ có kiến thức đúng ở từng câu hỏi 77

Bảng 4.5: So sánh mức kiến thức về SSTT của người chăm sóc 79

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Phân bố dân số cao tuổi năm 2009 và 2019 ở Việt Nam 6Biểu đồ 1.2: Dự báo số lượng người SSTT ở quốc gia có thu thập cao và trung thấp,thấp trên toàn thế giới 11Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ SSTT ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại BV Đa khoakhu vực Cai Lậy (n=355) 47Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ các kiến thức đúng của người chăm sóc bệnh nhân SSTT (n=87) 56Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ mức kiến thức của người chăm sóc bệnh nhân SSTT (n=87) 56Biểu đồ 3.4: Mức độ căng thẳng của người chăm sóc bệnh nhân SSTT (n=87) 57Biểu đồ 3.5: Mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe của những người chăm sóc bệnh nhânSSTT (n=87) 57Biểu đồ 3.6: Tỉ lệ có nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân có SSTT (n=87) 58Biểu đồ 3.7: Phương tiện học tập về SSTT của người chăm sóc bệnh nhân SSTT(n=87) 58Biểu đồ 3.8: Đối tượng người chăm sóc bệnh nhân SSTT cần hỗ trợ (n=87) 59Biểu đồ 3.9: Dịch vụ hỗ trợ bệnh nhân SSTT mà người chăm sóc cần (n=87) 59

Trang 10

MỞ ĐẦU

Già hóa dân số là hiện tượng mang tính chất tòa cầu, số lượng người cao tuổi(NCT) trên thế giới gia tăng nhanh ở hầu hết các quốc gia và khu vực trên thế giới

Từ năm 2000 đến năm 2050, theo dự báo số lượng người ≥ 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi

từ 11% lên 22% Số NCT sẽ tăng từ 900 triệu vào năm 2015 lên 1400 triệu ngườivào năm 2030 và 2100 triệu người vào năm 2050 Vào năm 2050, số lượng NCT ởchâu Âu sẽ chiếm 34% dân số, trong khi đó Châu Mỹ La Tinh và Châu Á thì sốlượng NCT chiếm 25% dân số [109] Việt Nam cũng không ngoại lệ, theo kết quảđiều tra về biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình, số lượng người ≥ 60 tuổi ởViệt Nam vào năm 2011 là 8,65 triệu người, chiếm 10% dân số Với số liệu này,Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số [15]

Già hóa dân số làm thay đổi mô hình bệnh tật ở NCT, chuyển sang các bệnh lýmạn tính không lây trong đó có bệnh lý sa sút trí tuệ (SSTT) SSTT là bệnh lý đặctrưng cho sự thoái hóa thần kinh ở NCT SSTT có nhiều nguyên nhân, trong đó một

số nguyên nhân chính là bệnh Alzheimer, SSTT mạch máu, bệnh thoái hóa thùytrước trán và SSTT thể Lewy (LBD) [56] SSTT là một gánh nặng ở trong công tácchăm sóc và điều trị sức khỏe NCT bởi vì tỉ lệ mắc SSTT tăng gấp đôi mỗi năm 5năm sau 60 tuổi [90] Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới, năm 2015 có khoảng

47 triệu người mắc SSTT trên toàn thế giới, con số này dự đoán sẽ tăng lên 75 triệungười vào năm 2030 và sẽ đạt 132 triệu vào năm 2050 Ước tính rằng cứ mỗi năm

có 9,9 triệu người mắc SSTT và cứ 3 giây thì có một người mắc SSTT trên thế giới[110] Năm 2010, 58% tất cả những người SSTT sống ở các nước có thu nhập thấphoặc trung bình, với tỉ lệ này dự kiến sẽ tăng lên 63% vào năm 2030 và 71% vàonăm 2050 [90] Đây thật sự là một thách thức cho nền y tế của các quốc gia đangphát triển, trong đó có Việt Nam

Tại Việt Nam, cùng với sự già hóa dân số thì bệnh lý SSTT cũng gia tăng trongthời gian gần đây Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Tuấn tại cộng đồng cho thấy, tỉ lệ

Trang 11

SSTT ở NCT tại cộng đồng chiếm 4,24% dân số [28] Nghiên cứu của tác giả TrịnhThị Bích Hà và cộng sự tại phòng khám lão khoa thì tỉ lệ SSTT ở những NCT điềutrị ngoại trú là 22,2% [4] Đồng thời, tỉ lệ SSTT ở những NCT điều trị nội trú caohơn các đối tượng khác, trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thanh Thảo và cộng

sự thực hiện tại NCT điều trị tại khoa Lão – BV Nhân Dân Gia Định thì tỉ lệ SSTT

là 36,3% [22] Trong các tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT thì tiêu chuẩn DSM 5 của Hộitâm thần học Hoa Kỳ đưa ra đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới và Việt Namtrong thời gian gần đây

SSTT là một bệnh lý mạn tính không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, hạn chế hoạtđộng chức năng, tử vong đối với bệnh nhân NCT mà nó còn ảnh hưởng đến sứckhỏe và tinh thần của người chăm sóc bệnh nhân SSTT Đặc biệt ở NCT với đặcđiểm đa bệnh, đa thuốc và sự hiện diện của hội chứng lão hóa nên nếu có thêm bệnh

lý SSTT thì gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân NCT mắc SSTT sẽ tăng lên

Theo báo cáo của Alzheimer’s Disease International năm 2019, khi khảo sát trên

đối tượng người chăm sóc bệnh nhân SSTT thì 52% cảm thấy ảnh hưởng đến sứckhỏe, 49% bị ảnh hưởng đến công việc và 62% bị ảnh hưởng đến các hoạt động xãhội [32] Trong nghiên cứu của tác giả Chiêm Thị Ngọc Minh và cộng sự trên đốitượng là người chăm sóc bệnh nhân SSTT tại BV ĐHYD TP HCM thì có đến67,7% người chăm sóc cảm thấy căng thẳng và 74,2% ảnh hưởng đến sức khỏe[11]

Tại Việt Nam, trong thời gian qua bệnh lý SSTT đã được nghiên cứu khảo sát tỉ

lệ, các yếu tố liên quan và kiến thức, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chămsóc bệnh nhân cao tuổi mắc SSTT, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này tập trung ởcác thành phố (TP) lớn như Hà Nội, TP HCM, các nghiên cứu tại các BV ở tỉnh,tuyến dưới còn hạn chế Bệnh viện (BV) Đa khoa khu vực Cai Lậy là bệnh hạng IIthuộc miền Tây Nam Bộ, được giao nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho người dânkhu vực phía tây của tỉnh Tiền Giang, ngoài ra BV thăm khám và điều trị cho ngườidân một số huyện lân cận của các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Long An và ĐồngTháp Tại BV đã có khoa Lão tuy nhiên chưa có nghiên nào về SSTT ở bệnh nhân

Trang 12

cao tuổi Từ những thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Tỉ lệ sa sút trí

tuệ ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc tại khoa Lão bệnh viện Đa khoa khu vực Cai Lậy” với 3 câu hỏi:

1 Tỉ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ ở bệnh nhân cao tuổi theo tiêu chuẩnDSM 5 tại BV Đa khoa khu vực Cai Lậy là bao nhiêu?

2 Những yếu tố nào liên quan đến SSTT ở bệnh nhân cao tuổi?

3 Sự hiểu biết của người chăm sóc bệnh nhân SSTT về SSTT như thế nào?Mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của SSTT đến họ là bao nhiêu?

Và người chăm sóc bệnh nhân SSTT có hay không nhu cầu được hỗ trợ?

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Xác định tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ của người chăm sócbệnh nhân tại khoa Lão BV Đa khoa Khu Vực Cai Lậy từ tháng 10 năm 2020 đếntháng 05 năm 2021

Mục tiêu cụ thể

1 Xác định tỉ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ ở bệnh nhân cao tuổi theotiêu chuẩn DSM 5

2 Xác định các yếu tố liên quan đến SSTT ở bệnh nhân cao tuổi

3 Xác định kiến thức về bệnh SSTT, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của ngườichăm sóc bệnh nhân cao tuổi có SSTT

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Già hóa dân số và SSTT

1.1.1 Già hóa dân số

Ở các quốc gia phát triển và Hoa Kỳ thì NCT là những người ≥ 65 tuổi, còn theoLiên Hiệp Quốc thì NCT là những người ≥ 60 tuổi Tại Việt Nam, Pháp lệnh ngườicao tuổi số 39/2009/QH12 được ban hành của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam thì NCT được quy định là công dân Việt Nam đủ 60 tuổi trở lên[13]

Vào những năm 1950, không có quốc gia nào trên thế giới có tỉ lệ người ≥ 65 tuổichiếm quá 11% dân số, tuy nhiên đến năm 2000, tỉ lệ người 65 tuổi chiếm cao nhất là18% dân số và con số này dự báo đến năm 2050 là 38% Đến năm 2050, số lượngngười từ 60 tuổi trở lên sẽ nhiều hơn số lượng thanh thiếu niên từ 10 – 24 tuổi [92].Theo tổng điều tra dân số năm 2019, Việt Nam là một trong những quốc gia già hóanhanh nhất thế giới Tổng dân số Việt Nam tại thời điểm 01/04/2009 là 85,85 triệungười, tại thời điểm 01/04/2019 là 96,21 triệu người Trong đó, số lượng NCT năm

2009 và 2019 tương ứng là 7,45 triệu người (chiếm 8,68% dân số) và 11,41 triệu(chiếm 11,86% dân số) Từ 2009 - 2019, tổng dân số tăng 1,14%/năm thì NCT tăng tới4,35%/năm

Trang 15

Biểu đồ 1.1: Phân bố dân số cao tuổi năm 2009 và 2019 ở Việt Nam.

Nguồn: Tổng cục thống kê (2021) [26]

Theo dự báo, chỉ số già hóa của Việt Nam vào các năm 2029, 2049 và 2069 sẽtương ứng là 79,0; 131,3; 154,5 Dự báo cho thấy, chỉ số già hóa đạt xấp xỉ 100 vàonăm 2036 và tăng nhanh ở những năm sau đó Nói cách khác, từ năm 2036 cho tớihết thời kỳ dự báo, dân số cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) sẽ cao hơn dân số trẻ em (0 -

14 tuổi) [26]

1.1.2 Lão hóa não và hệ thống thần kinh

Lão hóa là một quá trình sinh bệnh học phức tạp, đặc trưng bởi sự tích tụ các tổnthương về mặt phân tử và tế bào Tuổi được xem là một yếu tố nguy cơ lớn củabệnh ung thư, tim mạch và nhóm bệnh về thần kinh, trí nhớ [112]

Hình 1.1: Thay đổi về não theo quá trình lão hóa

Nguồn: Halter Jeffrey B (2016) [63]

Trang 16

Hình A: Hình ảnh MRI não của 1 nữ giới khỏe mạnh 24 tuổi Hình B: MRI não của

1 nữ giới lúc 80 tuổi (không SSTT, MMSE=30, APOE ε3/ε3) Não ở NCT bị teo nhiều hơn, rãnh não nhiều hơn, não thất dãn lớn và thay đổi hình dạng do mất mô

não Teo tiểu não cũng là điều đáng chú ý.

Lão hóa não đặc trưng bởi tình trạng thay đổi đáng kể về phân tử, tế bào, hệthống nội tiết tố và mạch máu Các tế bào não đều trải qua quá trình lão hóa baogồm: sự chết theo chương trình của các tế bào, mất và suy giảm tiếp hợp của cácsynap thần kinh và tế bào thần kinh đệm Quá trình thay đổi này là do sự thay đổicủa các protein, sự lắng đọng của các chất như tau and α-synuclein bên trong tế bàothần kinh và amyloid bên ngoài tế bào [63]

Bảng 1.1: Những thay đổi về cấu trú của não theo quá trình lão hoa

Các mảng amyloid Tích tụ β amyloid trong nhu mô não

Tế bào hình sao Gia tăng số lượng tế bào hình sao được kích hoạt

Tế bào tiểu thần kinh đêm

(Microglia)

Gia tăng số lượng tế bào tiểu thần kinh đệm đượckích hoạt

Đám rối thần kinh Tích tụ phospho-tau bên trong tế bào thần kinhGiảm các noron thần kinh

Hình thái noron thần kinh Giảm tế bào tua và tế bào gai, thân tế bào không

thay đổiSynapses Giảm số lượng và thay đổi về hình thái học

Mạch máu Gia tăng quá trình xơ cứng và xơ vữa

Nguồn: Halter Jeffrey B (2016) [63]

Trang 17

1.1.3 Khái niệm SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ

1.1.3.1 SSTT

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, "SSTT là sự phối hợp rối loạn tiến

triển về trí nhớ và quá trình ý niệm hóa, ở mức độ gây tổn hại tới hoạt động sống hàng ngày, xuất hiện tối thiểu từ sáu tháng qua với rối loạn ít nhất một trong những chức năng như ngôn ngữ, tính toán, phán đoán, rối loạn tư duy trừu tượng, điều phối động tác, nhận biết hoặc biến đổi nhân cách"[107].

SSTT không phải là bệnh lý riêng biệt nhưng có thể do nhiều rối loạn khác nhautác động lên não Nói cách khác, đây là trạng thái suy giảm nhận thức nặng xảy ra ởnhững người tình trạng ý thức vẫn bình thường và không mắc những bệnh có thểgây ra suy giảm nhận thức như mê sảng, trầm cảm SSTT khác với quên lành tínhcủa tuổi già là tình trạng giảm trí nhớ sinh lý của NCT, hệ quả của sự lão hóa trong

đó các quá trình hoạt động thần kinh – tâm lý bị chậm đi

1.1.3.2 Suy giảm nhận thức nhẹ

Suy giảm nhận thức nhẹ hay rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ (theo DSM 5) làtình trạng suy giảm một hay nhiều lĩnh vực nhận thức nhưng không hoặc rất ít ảnhhưởng hoạt động sử dụng công cụ hàng ngày, không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán

SSTT Thuật ngữ suy giảm nhận thức nhẹ thể quên (amnestic MCI) là một hội

chứng trong đó khiếm khuyết trí nhớ là nổi trội; trong suy giảm nhận thức thể

không quên (nonamnestic MCI), các khiếm khuyết chức năng nhận thức khác (ngôn

ngữ, thị giác không gian, điều hành) nổi trội [8]

Người suy giảm nhận thức nhẹ có nguy cơ tiến triển thành SSTT Sau 2 – 5 năm,nguy cơ tương đối (RR) của SSTT là 3,3, nguy cơ tương đối của bệnh Alzheimer là3,064 Có bằng chứng cho thấy những thay đổi bệnh học bắt đầu xuất hiện nhiềunăm trước khi SSTT Tuy nhiên, 14,4% - 38% trường hợp suy giảm nhận thức nhẹdiễn tiến ổn định hoặc trở về bình thường [8]

Trang 18

1.1.4 Nguyên nhân SSTT

SSTT được đặc trưng nhất là một hội chứng chứ không phải là một bệnh cụ thể.Hội chứng SSTT được chia làm nhiều nhóm bệnh khác nhau tùy thuộc vào nguyênnhân, bệnh học, đặc điểm hóa thần kinh và điều trị [58]

Não úng thủy áp lực bình thường (NPH)SSTT liên quan với AIDS

Vỏ - dưới vỏ SSTT do căn nguyên mạch máu

SSTT thể Lewy (DLB)Thoái hóa vỏ não hạch nền

Lan tỏa Bệnh Prion bao gồm bệnh Creutzfeldt-jacob (CJD)

Nguyên nhân khác Nguyên nhân chuyển hóa – nhiễm độc:

Suy giáp Thiếu vitamin B12 Thuốc/kim loại

Nhiễm trùng, bao gồm Giang mai thần kinh, nhiễm HIVChấn thương sọ não U não, u màng não

Trong các nguyên nhân kể trên, bệnh Alzheimer là nguyên nhân thường gặp nhất,chiếm hầu hết các trường hợp, dao động từ 50% - 75% các trường hợp, tiếp theo làSSTT mạch máu chiếm 20%, SSTT thể Lewy chiếm 5% và SSTT thùy trái – thái

Trang 19

dương chiếm 5% Các các nguyên nhân gây SSTT khác như: bệnh Huntington's,Creutzfeldt-Jakob, HIV/AIDS chiếm tỉ lệ thấp [52], [71] Bệnh Alzheimer là mộtbệnh thoái hóa dần các tế bào thần kinh; cơ chế bệnh sinh có liên quan đến các độctính chọn lọc protein amyloid trên tế bào thần kinh trong vùng hippocampus và vỏentorhinal, mà lan đến vỏ não [69].

Tuy nhiên, không giống như bệnh Alzheimer, không có phương pháp điều trịSSTT mạch máu Những tiến bộ trong chuyên ngành là khó khăn vì không chắcchắn về phân loại bệnh và tiêu chuẩn chẩn đoán, tranh cãi về bản chất chính xác củamối quan hệ giữa bệnh lý mạch máu não và suy giảm nhận thức, và sự hạn chế củaviệc xác định các mục tiêu điều trị [83] Các dạng khác còn lại của SSTT chiếm tỉ lệnhỏ hơn Trong trường hợp cùng xuất hiện bệnh Alzheimer và SSTT do nguyênnhân mạch máu thì thuật ngữ SSTT hỗn hợp (mixed dementia) thường được sửdụng SSTT do thần kinh, như bệnh Alzheimer và SSTT thể Lewy phổ biến nhất ởNCT, trong khi chấn thương sọ não và khối u não là nguyên nhân phổ biến ở ngườitrẻ tuổi [58]

1.1.5 Dịch tễ học SSTT ở NCT

SSTT được xem là khởi phát sớm nếu khởi phát ở tuổi<65 và khởi phát muộnnếu khởi phát lúc ≥ 65 tuổi và ≥ 97% các trường hợp SSTT khởi phát muộn Tỉ lệSSTT tăng theo tuổi và quá trình lão hóa, tuổi càng cao tỉ lệ SSTT càng gia tăng[52]

Bảng 1.3: Tỉ lệ SSTT theo nhóm tuổi và giới ở Anh

Trang 20

90 – 94 33,0 22,6 29,9

Nguồn: Cunningham E L và cộng sự (2015) [52]

Mặc dù tỉ lệ SSTT ở khu vực các nước đã phát triển cao hơn nhưng đa số người

bị SSTT đang sống ở các nước đang phát triển Dựa vào biểu đồ 1.2 cho thấy, theo

dự báo số người SSTT ở các quốc gia đang phát triển sẽ tăng nhanh hơn số ngườiSSTT ở quốc gia đã phát triển [74] Điều này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội chonhiều nền y tế của các quốc gia, trong đó có Việt Nam

Biểu đồ 1.2: Dự báo số lượng người SSTT ở quốc gia có thu thập cao và trung thấp,

thấp trên toàn thế giới

Nguồn: Livingston G và cộng sự [74]

Tại Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học tỉ lệ SSTT tăng theo tuổi.Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hòa trên đối tượng NCT huyện Ba Vì tỉnh HàTây: tỉ lệ SSTT ở NCT ngoài cộng đồng là 4,6% dân số, nhóm tuổi 60 – 64 tuổi là0,8%, 65 – 69 tuổi là 1,4%, 70 – 74 tuổi là 3,8%, 75 – 79 tuổi là 5,9%, 80 – 84 tuổi

là 8,5% và trên 85 tuổi là 16,4%, đồng thời cứ sau mỗi 5 năm tỉ lệ SSTT tăng từ 1,5– 2,8 lần [6] Nghiên cứu của tác giả Lê Văn Tuấn năm 2014 tại Hà Nội: tỉ lệ SSTT

Quốc gia đã phát triểnQuốc gia đang phát triển

Trang 21

ở NCT là 4,24% Tỉ lệ mắc SSTT có xu hướng tăng dần theo độ tuổi của NCT: ở độtuổi 60 - 64 tuổi là 0,6%, 65-69 tuổi: 1,8%, 70-74 tuổi: 3,5%, 75-79 tuổi: 5,7%, 80 -

84 tuổi: 11,2%, 85-89 tuổi: 8,6% và từ 90 tuổi trở lên là 25,0% [28] Năm 2015 tácgiả Doan Vuong Diem Khanh và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên NCT tại cộngđồng tỉnh Thừa Thiên Huế, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán theo MMSE và ICD-10thì tỉ lệ SSTT là 9,4% [54]

1.2 Một số yếu tố nguy cơ của SSTT

1.2.1 Tuổi

Tuổi là yếu tố nguy cơ được khẳng định trong hầu hết các nghiên cứu dịch tễ họccủa SSTT SSTT có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào nhưng hiếm gặp ở tuổi dưới 60.Tuổi càng cao thì khả năng mắc SSTT càng nhiều Tỉ lệ mắc SSTT tăng gấp đôi saumỗi 5 năm ở lứa tuổi trên 60 tuổi Điều này cho thấy sự tích luỹ các tổn thươngbệnh lý, các tổn thương nhỏ đối với não như vi chấn thương, các tổn thương tế bào,các phản ứng viêm, các bệnh lý chất trắng do tắc các mạch máu nhỏ tích luỹ dầntheo thời gian và sẽ bộc lộ bệnh cảnh lâm sàng khi đạt đến một ngưỡng nhất định[40], [44]

1.2.2 Giới tính

Các nghiên cứu cũng chỉ rằng tỉ lệ mắc SSTT ở nữ giới cao hơn nam giới [33],[50] Phụ nữ thường có nguy cơ bị SSTT do bệnh Alzheimer cao hơn nam giới,trong khi nam giới có nguy cơ mắc SSTT do nguyên nhân mạch máu nhiều hơn[39] Tuy nhiên, sự khác biệt có phải do di truyền, do khác biệt về hóc môn giớitính, hoặc các yếu tố tác động của môi trường kinh tế xã hội và tuổi thọ thì cần phải

có nhiều nghiên cứu hơn để chứng minh

1.2.3 Di truyền

Người ta nhận thấy tỉ lệ mắc bệnh cao hơn ở những người có họ hàng gần vớingười mắc SSTT Do sự khác biệt về gen, gen APOEε4 có liên quan với nguy cơphát triển bệnh Một số nghiên cứu tìm ra một số liên quan trên nhiễm sắc thể 1, 14,

Trang 22

21 Con có bố hoặc mẹ mang gien đột biến có khoàng 50% nguy cơ mắc SSTT sớm[17].

1.2.4 Trình độ học vấn

Tỉ lệ mắc SSTT ở những người có trình độ học vấn thấp thì cao hơn những người

có trình độ học vấn cao, học vấn có thể đóng góp những vai trò khác nhau trongSSTT và có thể có nhiều vai trò cùng phố hợp, học vấn không chỉ là một yếu tố chỉđiểm của kích thích nhận thức mà còn phản ánh chỉ số thông minh, tình trạng kinhtế

1.2.5 Lối sống

1.2.5.1 Hút thuốc lá

NCT có hút thuốc lá làm tăng nguy cơ SSTT hơn với nhóm không hút thuốc lá[74] Bỏ thuốc lá, mặc dù đã ≥ 60 tuổi đều có tác dụng làm giảm nguy cơ SSTT.Nghiên cứu của tác giả Choi D và cộng sự thực hiện trên 46140 nam giới ≥ 60 tuổitại Hàn Quốc, kết quả nghiên cứu cho thấy so với nhóm đang hút thuốc lá thì nhữngnam giới không bao giờ hút thuốc hoặc đã bỏ thuốc lá đều có tỉ lệ SSTT thấp hơn,

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Những NCT không hút thuốc lá thì giảm nguy cơmắc bệnh Alzeheimer’s hơn so với nhóm đang hút thuốc lá [49] Một nghiên cứukhác cũng cho thấy rằng những người phụ nữ hút thuốc lá thụ động cũng làm tăngnguy cơ suy giảm trí nhớ [87]

1.2.5.2 Tập thể dục

Phân tích gộp cho thấy rằng việc duy trì thói quen tập thể dục làm giảm nguy cơSSTT [74] Nghiên cứu của Zotcheva E và cộng sự trên 28916 người từ 30 – 60tuổi, theo dõi trong vòng 25 năm, kết quả nghiên cứu cho thấy việc duy trì hoạtđộng thể dục từ mức trung bình đến nặng (hoạt động thể lực gây đổ mồ hôi) hàngtuần làm giảm nguy cơ SSTT [116]

Trang 23

1.2.5.3 Hoạt động xã hội

Những NCT tích cực tham gia các hoạt động xã hội thì giảm nguy cơ SSTT.Nghiên cứu của Sommerlad A và cộng sự trên 10308 NCT (≥60 tuổi) cho thấy việcduy trì các hoạt động xã hội thì làm giảm nguy cơ SSTT sau 15 năm theo dõi [99].Một nghiên cứu khác của tác giả Saito T và cộng sự thực hiện trên 13984 tại NhậtBản cho thấy NCT lập gia đình, sống cùng gia đình và có sự trao đổi hỗ trợ giữa cácthành viên trong gia đình, kết nối với bạn bè, tham gia các công tác xã hội và thamgia các công việc được trả lương thì làm giảm nguy cơ mắc SSTT [93]

1.2.6.2 Đái tháo đường

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một rối loạn chuyển hóa glucose máu mạn tính do tìnhtrạng thiếu hụt insulin hoặc giảm tiếp nhận insulin tại mô đích Sự gia tăng nồng độglucose máu kéo dài đã ảnh hưởng lên quá trình sống của tế bào trong cơ thể Hệ

Trang 24

quả làm gia tăng các biến chứng trên hệ thống mạch máu và thần kinh Nghiên cứuACCORD- MIND trên 3000 đối tượng mắc bệnh ĐTĐ típ 2 cùng độ tuổi, cho thấyvai trò kiểm soát glucose máu ở nhóm điều trị tích cực (thấp hơn mục tiêu khuyếncáo điều trị) có chức năng nhận thức tốt hơn so với nhóm điều trị chuẩn Nồng độHbA1C nền là yếu tố nguy cơ độc lập của suy giảm chức năng nhận thức, cứ tăngHbA1C lên 1% làm giảm 0,14 điểm MMSE và suy giảm các chức năng nhận thứcnhư tốc độ thần kinh vận động, trí nhớ và chức năng điều hành.

Tuy nhiên, nếu đưa xuống mức thấp quá gây hạ glucose máu nặng thì làm giatăng suy giảm nhận thức [81], [115] Phân tích Cochrane so sánh giữa việc điều trịtích cực và điều trị chuẩn ĐTĐ típ 2 thì không có sự khác biệt về hình thành SSTT[36] Một phân tích hậu kiểm trên 2,3 triệu bệnh nhân ĐTĐ típ 2 ở 14 nghiên cứu,cho thấy ĐTĐ làm gia tăng nguy cơ hình thành SSTT gấp 1,6 lần [48] Nguy cơhình thành SSTT ở bệnh nhân ĐTĐ tỉ lệ thuận với thời gian mắc và mức độ nặngcủa bệnh [73] Ở những bệnh nhân ĐTĐ mà có suy giảm nhận thức thì việc kiểmsoát, điều trị ĐTĐ trở nên khó khăn hơn, từ đó SSTT ở những bệnh nhân ĐTĐ típ 2cao tuổi là mối quan hệ 2 chiều, ảnh hưởng trực tiếp với nhau [98]

Trang 25

1.3 Chẩn đoán SSTT

Các dấu hiệu và triệu chứng của SSTT bao gồm:

- Các thay đổi nhận thức: Quên (mới xuất hiện), khó hiểu trong giao tiếp bằnglời nói và chữ viết, khó khăn trong việc tìm từ để dùng, rối loạn định hướng,không biết các sự kiện phổ biến

- Các triệu chứng tâm thần: Chứng tự kỷ hoặc lãnh đạm, trầm cảm, nghi ngờ, lo

âu, mất ngủ, chứng sợ, hoang tưởng, ảo giác hoặc kích động

- Thay đổi nhân cách: Các mối quan hệ không thích hợp, bàng quan, thờ ơ, tránhcác sinh hoạt xã hội, bởn cợt tán tỉnh quá mức, dễ thất vọng, có các cơn giậndữ

- Có vấn đề về hành vi: Đi lang thang, kích động, làm ồn, đứng ngồi khôngyên

- Thay đổi các hoạt động hàng ngày: Khó khăn trong chạy xe, bị lạc đường,quên công thức nấu ăn, thờ ơ chăm sóc bản thân, gia đình, khó khăn trongquản lý tiền bạc, sai lầm trong công việc

1.3.1 Tầm soát suy giảm nhận thức

Việc phát hiện sự suy giảm nhận thức và trí nhớ có thể sớm hơn nếu chúng tadùng những phương tiện đánh giá đơn giản, dễ thực hiện Có nhiều phương tiện đểtầm soát nhưng test đánh giá nhận thức ngắn gọn (Mini Mental State Examination:MMSE) là thang điểm được sử dụng nhiều nhất, có độ chính xác cao [51], [78].MMSE ra đời năm 1975 bởi tác giả Folstein M F và cộng sự [57] Năm 2015,phân tích gộp của tác giả Tsoi K K và cộng sự cho thấy MMSE có độ nhạy là 81%

và độ đặc hiệu là 89% trong chẩn đoán SSTT [105] Năm 2005, tác giả NguyễnKinh Quốc và Vũ Anh Nhị đã Việt hóa chuyển ngữ MMSE sang tiếng Việt và đãđược ứng dụng trong thực hành lâm sàng [14]

Thang đó này bao gồm 30 điểm đánh giá các chức năng định hướng về thời gian

và không gia (10 điểm), trí nhớ tức thời (3 điểm), trí nhớ ngắn hạn (3 điểm), sự tập

Trang 26

trung/tính toán (5 điểm), ngôn ngữ và chức năng định hình (9 điểm) Điểm từ 24 trởlên là bình thường và dưới 24 cho thấy có tình trạng suy giảm nhận thức Việc lựachọn điểm cắt ngưỡng bình thường của MMSE trong trường hợp NCT mù chữ thì

vô cùng quan trọng bởi có sự ảnh hưởng của học vấn lên tình trạng nhận thức Năm

2011, nghiên cứu của tác giả Anthony J C và cộng sự xác định điểm cắt là 18 điểmcho đối tượng NCT mù chữ có độ nhạy là 95% và độ đặc hiệu 72,7% cho chẩn đoánSSTT [35] MMSE phù hợp để đánh giá nhanh và nhiều chức năng thần kinh quantrọng, phù hợp trong việc tầm soát SSTT, chính vì điều này trong nghiên cứu nàychúng tôi sử dụng MMSE để đánh giá suy giảm nhận thức

Montreal Cognitive Assessment (MoCA) là một trắc nghiệm sàng lọc, được

thiết kế để phát hiện suy giảm nhận thức ở người già MoCA được cung cấp onlinemiễn phí và được dịch ra nhiều thứ tiếng tại trang web www.mocatest.org MoCA

có tổng điểm là 30 và thời gian để hoàn thành trắc nghiệm này khoảng 10 phút Sovới MMSE, MoCA nhạy hơn trong việc phát hiện suy giảm nhận thức nhẹ MoCAcũng đánh giá nhiều chức năng nhận thức khác nhau, bao gồm trí nhớ, ngôn ngữ, sựchú ý, nhận biết hình ảnh trong không gian và chức năng điều hành Các nghiên cứuchuẩn hóa trắc nghiệm này chủ yếu được thực hiện trên những người suy giảm nhậnthức nhẹ hoặc SSTT, nếu lấy điểm cắt là 26 (tổng điểm ≤ 25 được coi là bất thường)thì MoCA có độ nhạy cao (≥ 94%) nhưng độ đặc hiệu thấp (≤ 60%) Điểm cắt phảiđược điều chỉnh theo mức độ học vấn và các yếu tố khác [8]

Mini-Cog là một trắc nghiệm sang lọc rất đơn giản, bao gồm hai nội dung: nhắc

lại ba từ không gợi ý và vẽ đồng hồ Vẽ đồng hồ được xem là bình thường khi các

số theo đúng thứ tự, kim đồng hồ chỉ đúng giờ theo yêu cầu Cách cho điểm nhưsau:

• Nếu không nhắc lại được từ nào, coi như SSTT

• Nhắc lại đúng cả ba từ, coi như không SSTT

• Nhắc đúng 1-2 từ, thì dựa vào vẽ đồng hồ (vẽ đồng hồ bất thường thi coi nhưSSTT, bình thường coi như không SSTT)

Trang 27

Ưu điểm của Mini-Cog là có độ nhạy cao trong dự đoán SSTT, thời gian tươngđối ngắn hơn so với MMSE, dễ thực hiện và ít bị ảnh hưởng bởi mức độ học vấn vàngôn ngữ của bệnh nhân [8].

Trong nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn thang điểm MMSE để tầm soát suygiảm nhận thức bởi vì thang điểm này đã được nghiên cứu chuyển ngữ Việt hóa trênđối tượng người Việt Nam, đồng thời cho giá trị tốt trong việc tầm soát SSTT.MMSE là thang điểm đã được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực SSTT, kể cảnhững bệnh nhân nội trú Trong nghiên cứu của tác giả Anthony J C và cộng sự trênnhững bệnh nhân nội trú, cho thấy MMSE có độ nhạy 87% và độ đặc hiệu 82%trong chẩn đoán SSTT [34] Tại Việt Nam, thang điểm MMSE đã được nghiên cứutrong lĩnh vực SSTT [11], [20], [22], [103]

1.3.2 Đánh giá suy giảm hoạt động chức năng

Điểm trọng tâm trong đánh giá bệnh nhân lão khoa là đánh giá hoạt động chứcnăng Quan trọng của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ toàn diện NCT là đảm bảo cáchoạt động chức năng trong giai đoạn ổn định Đánh giá chức năng ở NCT là nhân tốcốt lõi giữ vai trò đặc biệt, là kết quả cuối cùng của nhiều nỗ lực trong tiếp cận vàchăm sóc NCT Cần kết hợp nhiều hỗ trợ để đạt được một chức năng tối ưu [27].Trạng thái chức năng có thể đánh giá theo ba mức độ:

Hoạt động sống cơ bản hàng ngày (BADLs: Basic Activities of Daily Living)

là nói đến những công việc tự chăm sóc bản thân như tắm, mặc quần áo, đi vệ sinh,tiểu tiện, chải tóc, ăn uống và di chuyển

Hoạt động sống sinh hoạt hàng ngày (IADLs: Intrumental Activities of Daily

Living) liên quan đến đo lường sự độc lập của bản thân như mua tự mua sắm hànghoá, sử dụng phương tiện giao thông công cộng, sử dụng điện thoại, dọn dẹp nhàcửa, chuẩn bị thức ăn, quản lý tài khoản, quản lý thuốc men, giặt giũ quần áo

Hoạt động sống nâng cao (AADLs: Advance Activities of Daily Living) liên

quan đến khả năng hoàn thành vai trò xã hội

Trang 28

Để đánh giá chức năng, có nhiều công cụ được sử dụng, các công cụ đã đượcchuẩn hoá ở các dạng bảng kiểm [72] Theo DSM 5 mất độc lập trong hoạt độngsống sinh hoạt hàng ngày (IADLs) là một trong các tiêu chuẩn để chẩn đoán SSTT[30] Lawton IADL là một công cụ hiệu quả để chẩn đoán SSTT [41], [53], [97].Ngoài ra, thang đánh giá IADL tốt hơn thang đánh giá ADL trong việc phát hiệnsuy giảm nhận thức nhẹ và nhiều bệnh nhân trong số các bệnh nhân suy giảm nhậnthức nhẹ vẫn độc lập trong ADL [67] Vì thế trong nghiên cứu này chúng tôi dùngthang hoạt động hàng ngày Lawton gồm có 8 mục (Lawton Instrumental Activities

of Daily Living Scale – LADL) để đánh giá tình trạng suy giảm chức năng của bệnhnhân Các mục này bao gồm: sử dụng điện thoại, đi mua sắm, chuẩn bị thức ăn, dọndẹp nhà cửa, giặt giũ, sử dụng phương tiện giao thông, quản lý thuốc, quản lý tàichính [61]

1.3.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT

SSTT được chẩn đoán trên lâm sàng dựa trên các tiêu chuẩn của phân loại bệnhtật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) hoặc DSM 5

1.3.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT theo ICD-10

Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT theo ICD-10 bao gồm [107]:

A Suy giảm trí nhớ ngắn hạn (gần) và trí nhớ dài hạn (xa)

B Có ít nhất trong một các bất thường sau: suy giảm tư duy trừu tượng, suygiảm phán đoán, nhận xét, các rối loạn khác của chức năng thần kinh cao cấp,biến đổi nhân cách

C Suy giảm quan hệ xã hội và nghề nghiệp do các rối loạn về trí nhớ và trí tuệ ởtrên gây ra

D Không xuất hiện trong bối cảnh đang bị mê sảng

E Có sự hiện diện của các yếu tố sau đây:

 Có bằng chứng về bất thường thực thể đã gây ra những suy giảm về trítuệ và suy giảm về chức năng trí tuệ

Trang 29

 Các suy giảm về trí nhớ và chức năng trí tuệ không là hệ quả của mộtbệnh tâm thần khác.

1.3.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT theo DSM 5

Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM- Diagnostic andStatistical Manual of Mental Disorders) được Hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) đưa

ra đầu tiên vào năm 1952 Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công tác chẩn đoán,các cẩm nang tiếp theo DSM II (1968), DSM III (1980), DSM IV (1994), DSM IV-

R (2000) được ra đời Tiêu chuẩn DSM IV đã hỗ trợ rất nhiều cho công tác chẩnđoán các rối loạn tâm thần nói chung và bệnh lý SSTT nói riêng Chẩn đoán SSTTdùng trong các nghiên cứu và thực hành lâm sàng đã dựa chủ yếu vào tiêu chuẩnDSM IV Từ năm 2000, nhận thấy nhiều hạn chế của DSM IV, một nhóm nghiêncứu của APA đã được thành lập để xây dựng tiêu chuẩn DSM mới và đến năm

2013, DSM 5 đã ra đời với nhiều điểm tiến bộ Trong DSM 5, các tiêu chuẩn trắcnghiệm thần kinh tâm lý dùng để đánh giá suy giảm nhận thức hành vi và các tiêuchuẩn chẩn đoán bệnh được xây dựng một cách cụ thể để ứng dụng vào thực tế lâmsàng Nên DSM 5 sẽ là một tiêu chuẩn vàng vững chắc cho các nghiên cứu và thựchành lâm [37]

Sự thay đổi đầu tiên trong phiên bản mới nhất là chữ số La Mã V đã được thaythế bằng chữ số 5 của Ả Rập Sự thay đổi thứ hai là APA không dùng thuật ngữSSTT, thay vào đó bổ sung định nghĩa "các rối loạn nhận thức thần kinh"

(Neurocognitive Disorders) Rối loạn nhận thức thần kinh là tình trạng giảm nhận

thức không xuất hiện khi sinh hoặc trong giai đoạn sớm của cuộc đời và vì vậy đặctrưng bởi sự giảm chức năng so với thời gian trước đây Rối loạn nhận thức thần

kinh nặng (Major Neurocognitive Disorders) trong DSM 5 tương ứng với SSTT

trong DSM IV, vì vậy trong nghiên cứu chúng tôi vẫn dùng thuật ngữ “SSTT” đểthuận tiện khi so sánh với các nghiên cứu khác Trong DSM 5, rối loạn chức năng

thần kinh nhẹ (Mild Neurocognitive Disorders) tương ứng với “Suy giảm nhận thức

Trang 30

nhẹ”, vì vậy chúng tôi vẫn dùng thuật ngữ này để thuận tiện khi so sánh với các

Rối loạn nhận thức thần kinh nặng

(Major Neurocognitive Disorders)

Suy giảm nhận thức nhẹ

(Mild Cognitive Impairment)

Rối loạn chức năng thần kinh nhẹ

(Mild Neurocognitive Disorders)

Bảng 1.5: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh nặng theo DSM 5

a Có bằng chứng về sự suy giảm nhận đáng kể so với trước đó dựa trên:

- Sự suy giảm nhận thức mà bản thân người bệnh hoặc một người có kiến thứcthông tin nhận thấy hoặc được phát hiện bởi bác sỹ lâm sàng

- Và sự suy giảm hiệu suất nhận thức thần kinh, liên quan hiệu suất xét nghiệmtrong phạm vi hai độ lệch chuẩn trở lên dưới các chỉ tiêu thích hợp (nghĩa là dưới3%) trong thử nghiệm chính thức hoặc đánh giá lâm sàng tương đương

b Sự suy giảm nhận thức cản trở hoạt động độc lập (nghĩa là cần có sự trợ giúptối thiểu với các hoạt động công cụ của cuộc sống hàng ngày)

c Thiếu hụt nhận thức không chỉ xảy ra trong bệnh cảnh mê sảng

d Thiếu hụt nhận thức không phải do một rối loạn tâm thần khác (ví dụ, rốiloạn trầm cảm nặng, tâm thần phân liệt)

Trang 31

Nguồn: Cordell C B (2013) [37] Bản tiếng Việt: Hội Bệnh Alzheimer và Rối Loạn

Thần Kinh Nhận thức Việt Nam [8].

Bảng 1.6: Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn chức năng thần kinh nhẹ theo DSM 5

a Có bằng chứng về sự suy giảm nhận thức không nhiều so với trước đó dựa trên:

- Sự suy giảm nhận thức mà bản thân người bệnh hoặc một người có kiến thứcthông tin nhận thấy hoặc được phát hiện bởi bác sỹ lâm sàng

- Và sự suy giảm nhận thức đáng kể được phát hiện qua các test tâm thần kinhđược chuẩn hoá hoặc đánh giá lâm sàng tương đương

b Sự suy giảm nhận thức không đủ cản trở hoạt động độc lập (ví dụ, các hoạtđộng sinh hoạt cơ bản của cuộc sống hàng ngày, các nhiệm vụ phức tạp hơn nhưthanh toán hóa đơn hoặc quản lý thuốc), nhưng người bệnh có thể cần nỗ lựcnhiều hơn, chiến lược tương trợ hoặc nơi để duy trì tính độc lập

c Thiếu hụt nhận thức không xảy ra trong bệnh cảnh mê sảng

d Thiếu hụt nhận thức không phải do một rối loạn tâm thần khác (ví dụ, rối loạntrầm cảm nặng, tâm thần phân liệt)

Nguồn: Cordell C B (2013) [37] Bản tiếng Việt: Hội Bệnh Alzheimer và Rối Loạn

Thần Kinh Nhận thức Việt Nam [8].

1.4 Kiến thức về SSTT, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân SSTT

1.4.1 Kiến thức về SSTT của người chăm sóc bệnh nhân SSTT

Theo tác giả Patricia McParland và cộng sự, kiến thức về SSTT là một yếu tố ảnhhưởng đến gánh nặng của người chăm sóc Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụngbảng câu hỏi trong nghiên cứu về kiến thức và thái độ về SSTT của bắc Ireland(2010) để đánh giá kiến thức của người chăm sóc Có 7 mục với hai lựa chọn trongmỗi mục là đúng hoặc sai Nếu trả lời đúng từ 4 câu trở xuống thì xếp mức kiếnthức thấp, từ 5 câu thì xếp kiến thức trung bình và từ 6 câu trở lên thì xếp kiến thứccao [77] Tại Việt Nam, đã có tác giả Chiêm Thị Ngọc Minh, Phạm Huỳnh Quế

Trang 32

Thanh và Nguyễn Trần Tố Trân sử dụng bộ câu hỏi này để đánh giá kiến thức củangười chăm sóc Bộ câu hỏi đã được chuyển ngữ theo đúng quy trình.

Bảng 1.7: Bảng câu hỏi đánh giá kiến thức người chăm sóc bệnh nhân SSTT

Có thuốc có thể giúp ích trong điều trị SSTT Đúng

SSTT là một phần của tuổi già bình thường Sai

Những người có chế độ ăn tốt và tập thể dục ít bị SSTT hơn Đúng

Nguồn: McParland P và cộng sự (2012) [77]

1.4.2 Gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân SSTT

Bệnh nhân SSTT có nhu cầu chăm sóc cao hơn từ người thân trong gia đình, nhucầu hỗ trợ từ xã hội Chất lượng cuộc sống của người SSTT chịu ảnh hưởng rất lớn

từ sự hỗ trợ tốt nhất của gia đình và xã hội Tuy nhiên, người chăm sóc bệnh nhânSSTT thường gặp nhiều khó khăn trong việc cân bằng giữa chăm sóc người bệnhvới nhu cầu của họ như chăm sóc con cái, nghề nghiệp, các mối quan hệ Họ cónguy cơ cao bị stress, trầm cảm và các vấn đề về sức khoẻ [47]

Phần lớn người chăm sóc cho biết có các vấn đề về sức khoẻ thể lực và giảm sútsức khoẻ chung so với nhóm không phải chăm sóc bệnh nhân Những người cónhững vấn đề tâm lý và căng thẳng nhiều hơn sẽ có sức khoẻ và thể lực kém vànguy cơ tử vong cao Người chăm sóc thường thiếu sự giao tiếp và trợ giúp từ xãhội và có cảm giác bị cách ly xã hội, phải hy sinh các đam mê và sở thích giải trí,giảm bớt thời gian dành cho bạn bè và gia đình, từ bỏ hoặc giảm việc làm Người

Trang 33

chăm sóc do phải hy sinh nhiều hơn các mối tương tác xã hội nên sẽ có dấu hiệutâm lý tiêu cực hơn [85].

Bảng phỏng vấn gánh nặng chăm sóc của Zarit (Zarit Burden Interview/ZBI) là

bộ công cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đo lường gánh nặng củangười chăm sóc Bộ công cụ ZBI được phát triển bởi Zarit và cộng sự năm 1980được chứng minh có độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứuđánh giá gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân SSTT [85], [113]

Bảng phỏng vấn gánh nặng ZBI được sử dụng nhiều trong đánh giá mức độ căngthẳng của người chăm sóc bao gồm:

Người bệnh đòi hỏi phục vụ nhiều hơn nhu cầu

Không có thời gian dành cho bản thận

Căng thẳng giữa chăm sóc người bệnh và thực hiện các nghĩa vụ với gia đình Rắc rối vì hành vi của người bệnh

Bực bội khi ở cạnh người bệnh

Người bệnh làm ảnh hưởng xấu hổ tới mối quan hệ với các thành viên khác

Lo lắng vì những nguy cơ sẽ xảy ra với người bệnh

Cảm thấy người bệnh bị phụ thuộc vào mình

Căng thẳng khi ở bệnh người bệnh

Sức khoẻ bị giảm sút

Cuộc sống riêng tư bị giảm bớt

Cuộc sống xã hội bị giảm bớt

Cảm thấy bất tiện khi bạn bè đến thăm bệnh nhân

Người bệnh trông đợi chăm sóc nếu chỉ có thể nhờ một người chăm sóc duy nhất Không đủ tiền để chăm sóc người bệnh

Không thể chăm sóc người bệnh lâu hơn nữa

Mất kiểm soát cuộc sống bản thân do phải chăm sóc bệnh nhân

Mong muốn người khác chăm sóc hộ

Không chắc chắn về những gì đã làm cho bệnh nhân

Trang 34

Cần làm nhiều hơn nữa cho người bệnh

Có thể chăm sóc bệnh nhân tốt hơn nữa

Cảm thấy gánh nặng chăm sóc bệnh nhân thế nào

Khi tiến hành phỏng vấn người chăm sóc, nghiên cứu viên hỏi lần lượt 22 câu.Người chăm sóc trả lời từng câu hỏi bằng cách cho điểm dựa trên thang điểm Likert

5 mức độ (0= không bao giờ, 1 = hiếm khi, 2 = thỉnh thoảng, 3 = khá thường xuyên,

4 = luôn luôn Tổng điểm nằm từ 0 – 88 điểm với các mức như sau: 0 – 20 điểm:không có hoặc có gánh nặng nhẹ; 21 – 40 điểm: gánh nặng mức độ rung bình; 41 –

60 điểm: gánh nặng nghiêm trọng; 61 – 88 điểm: gánh nặng nghiêm trọng

Tuy nhiên, bộ phỏng vấn Zarit có nhiều câu hỏi riêng tư vì thế khiến người chămsóc không muốn trả lời Do đó chúng tôi chỉ chọn 2 câu trong số 22 câu để khảo sátmức độ căng thẳng và ảnh hưởng đến sức khoẻ của người chăm sóc

1.4.3 Nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc bệnh nhân SSTT

Các dịch vụ hỗ trợ sẽ giúp giảm bớt căng thẳng và gánh nặng cho người chămsóc Trong phần về nhu cầu hỗ trợ có 4 câu hỏi

Câu đầu tiên hỏi người chăm sóc “Bạn có nhu cầu hỗ trợ không?” trả lời có 2 lựachọn “có” và “không” Để tìm hiểu về nhu cầu thông tin của người chăm sóc chúngtôi có đưa ra câu hỏi “Ban muốn học về SSTT/Alzheimer thông qua phương tiệnnào?” với gợi ý là các câu trả lời “giáo dục cộng đồng”, “khoá huấn luyện”, “tivi”,

“báo chí”, “tờ rơi” Theo tác giả Lê văn Tuấn, các đối tượng người thân, người thuê,người làm công tác xã hội là những đối tượng được xem là thường xuyên, trực tiếptiếp xúc và chăm sóc NCT tại hộ gia đình [28] Do đó, trong câu thứ 3 sẽ hỏi ngườichăm sóc muốn đối tượng nào hỗ trợ cho họ và câu trả lời có 4 sự lựa chọn là ngườithân, hàng xóm, người thuê, người làm công tác xã hội Câu cuối cùng hỏi về dịch vụ

hỗ trợ với 3 lựa chọn nhà dưỡng lão, chăm sóc ban ngày, thuê người chăm sóc tạinhà

Trang 35

1.5 Tổng quan về những nghiên cứu trong và thế giới có liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.5.1 Tổng quan về những nghiên cứu trên thế giới

Năm 2009, tác giả Sampson E L và cộng sự nghiên cứu 617 bệnh nhân cao tuổi(≥70 tuổi) nhập viện điều trị nội trú tại Anh, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán SSTTtheo DSM IV thì kết quả cho thấy tỉ lệ SSTT của đối tƣợng nghiên cứu là 42,4%[94]

Năm 2013, tác giả Travers C và cộng sự nghiên cứu trên 493 bệnh nhân cao tuổi(≥70 tuổi) nhập viện điều trị nội trú tại Anh, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán SSTTtheo DSM IV Kết quả nghiên cứu, tỉ lệ SSTT là 20,7%, tuổi trung bình ở nhómbệnh nhân SSTT lớn hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không SSTT, không có

Năm 2016, tác giả Maia E và cộng sự nghiên cứu trên 224 bệnh nhân cao tuổi (≥60tuổi) nhập viện điều trị nội trú tại Brazil Kết quả nghiên cứu, tuổi trung bình của dân

số là 71,5 tuổi Tỷ lê SSTT theo tiêu chuẩn DSM IV là 17,2%, các yếu tố liên quan đếntình trạng SSTT ở NCT điều trị nội trú bao gồm: tuổi cao, sảng, đột quỵ và viêm phổi[76]

Năm 2017, tác giả Briggs R và cộng sự nghiên cứu trên 190 bệnh nhân cao tuổi(≥65 tuổi) nhập viện cấp cứu tại Ireland Sử dụng tiêu chuẩn SSTT là bộ câu hỏiAD8, kết quả tỉ lệ SSTT theo AD8 là (73/190=38,42%) [45]

Trang 36

Năm 2019, tác giả Kamalzadeh L và cộng sự nghiên cứu trên 205 bệnh nhân caotuổi (≥60 tuổi) nhập viện điều trị nội trú tại Iran Sử dụng tiêu chuẩn SSTT là DSM

5, kết quả cho thấy tỉ lệ SSTT của dân số nghiên cứu là 21,95% [68]

Bảng 1.8: Tổng hợp những nghiên cứu trên thế giới có liên quan đến đề tài

(2015) [102] NCT, nội trú tại Ireland

sự (2019) [68] NCT, nội trú tại Iran DSM 5 21,95%

Đã có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ SSTT và các yếu tố liên quan ở NCT điều trị nộitrú tại các quốc gia trên thế giới, nhìn chung tỉ lệ SSTT phổ biến Tỉ lệ thay đổi tùythuộc vào đối tượng nghiên cứu, cũng như tuổi trung bình của dân số nghiên cứu

1.5.2 Tổng quan về những nghiên cứu trong nước

Năm 2017, tác giả Trần Thị Thanh Thảo và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên

433 bệnh nhân cao tuổi (≥60 tuổi), điều trị nội trú tại khoa Lão –BV Nhân Dân GiaĐịnh, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT theo DSM 5 thì kết quả tỉ lệ SSTT ở đốitượng nghiên cứu chiếm 36,3%, tuổi càng cao thì nguy cơ SSTT tăng lên, tiền cănđột quỵ cũ có liên quan tới SSTT p<0,001) [22]

Trang 37

Năm 2017, tác giả Chiêm Thị Ngọc Minh và cộng sự nghiên cứu trên 230 bệnhnhân cao tuổi (≥60 tuổi), điều trị tại khoa Lão – BV ĐHYD TP HCM, tiêu chuẩnchẩn đoán SSTT theo DSM 5 thì tỉ lệ SSTT là 27%, tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ là20,4% Các yếu tố liên quan đến tình trạng SSTT bao gồm: tuổi, giới tính, học vấn,tai biến mạch máu não, ĐTĐ, bệnh tim mạch và ung thư Đa số người chăm sóc cókiến thức thấp về SSTT (96,8%) Phần lớn người chăm sóc cảm thấy căng thẳng(67,7%) và ảnh hưởng đến sức khỏe (74,2%) khi chăm sóc bệnh nhân SSTT Có82,3% người chăm sóc muốn hỗ trợ trong việc chăm sóc bệnh nhân SSTT Tỉ lệngười chăm sóc muốn học về SSTT qua tivi chiếm cao nhất (35,5%), đối tượng hỗtrợ được chọn cao nhất là người thân (83,9%), loại hình hỗ trợ đượ chọn cao nhất làchăm sóc ban ngày (35,5%), 41,9% người chăm sóc muốn tự chăm sóc người thân tạinhà [11].

Năm 2017, tác giả Phạm Huỳnh Quế Thanh và cộng sự khảo sát trên 330 bệnhnhân cao tuổi tại khoa Lão – BV Nguyễn Trãi, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán SSTTtheo DSM 5, kết quả cho thấy tỉ lệ SSTT theo DSM 5 là 23%, tỉ lệ suy giảm nhậnthức nhẹ là 17% Có mối liên quan giữa SSTT và các yếu tố: tuổi, nơi cư trú và tiềncăn đột quỵ Có 70,8% người chăm sóc muốn nhận sự hỗ trợ từ người thân, 16,7%

từ người thuê, 12,5% từ người làm công tác xã hội [20]

Năm 2019, tác giả Nguyễn Trần Tố Trân và cộng sự khảo sát 367 bệnh nhân caotuổi điều trị nội trú tại khoa lão 3 BV tại TP HCM, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoánSSTT theo DSM 5, kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SSTT theo DSM 5 là 24,3%, tỉ

lệ suy giảm nhận thức nhẹ là 14,4% Tỉ lệ người chăm sóc bệnh nhân SSTT có kiếnthức thấp về bệnh SSTT là 92,1%, có kiến thức trung bình là 7,9% Có 70,9% ngườichăm sóc mong muốn nhận được sự hỗ trợ [103]

Năm 2019, tác giả Lê Văn Sơn và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 464 bệnhnhân cao tuổi tại BV Đa khoa Phước Long, sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán SSTTtheo DSM IV, kết quả nghiên cứu tỉ lệ SSTT ở NCT là 20,5%[16]

Trang 38

Nhìn chung tỉ lệ SSTT ở những bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại các BV trongnước tương đối phổ biến, dao động từ 20,5% - 36,3% Phần lớn các nghiên cứu đã sửdụng tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT là DSM 5 Hầu hết các nghiên cứu đều được thựchiện tại các BV lớn tại TP HCM, chỉ có 01 nghiên cứu được thực hiện tại BV ở TâyNam Bộ.

Bảng 1.9: Tổng quan về những nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài

chuẩn

Tỉ lệ SSTT

Phạm Huỳnh Quế Thanh

và cộng sự (2017) [20] NCT nội trú BV Nguyễn Trãi DSM 5 23%

Lê Văn Sơn và cộng sự

1.6 Tổng quan về khoa Lão BV Đa khoa khu vực Cai Lậy

Khoa Lão BV Đa khoa khu vực Cai Lậy được thành lập theo QĐ số SYT của Sở Y Tế Tiền Giang ngày 12/8/2010, tiền thân từ khoa Nội Tổng hợp của

829/QĐ-BV Ban đầu với đội ngũ nhân sự hạn chế, chỉ có 02 bác sỹ và 05 điều dưỡng, điềutrị nội trú với 15 giường bệnh Qua 11 năm đi vào hoạt động và phát triển, đến nay

số lượng bệnh nhân nội trú của khoa đã tăng lên 60, với 5 bác sĩ 11 điều dưỡng.Hàng ngày tiếp nhận và điều trị nội trú bệnh nhân cao tuổi trên địa bàn thị xã CaiLậy và trong khu vực Các nhóm bệnh chủ yếu của khoa Lão BV Đa khoa khu vựcCai Lậy là THA, ĐTĐ, bệnh tim thiếu máu cục bộ, nhóm bệnh cơ xương khớp, thần

Trang 39

kinh.

Trang 40

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 01 tháng 10 năm 2020 đến ngày 31 tháng 05 năm 2021

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Khoa Lão BV Đa khoa khu vực Cai Lậy

2.4 Đối tượng nghiên cứu

2.4.1 Dân số mục tiêu

Tất cả bệnh nhân NCT (≥60 tuổi) điều trị nội trú và những người chăm sóc bệnhnhân SSTT điều trị nội trú

2.4.2 Dân số chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân NCT (≥60 tuổi) là nhập viện điều trị nội trú tại khoa Lão BV

Đa khoa khu vực Cai Lậy trong khoảng thời gian nghiên cứu Những người chămsóc của những bệnh nhân NCT được chẩn đoán SSTT tại khoa Lão BV Đa khoakhu vực Cai Lậy trong thời gian nghiên cứu

Ngày đăng: 04/04/2023, 21:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu Ấn (2020), Giá trị của phương pháp Time-up-and-go và bộ câu hỏi PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu tại phòng khám lão khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Luận văn bác sĩ nội trú, Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị của phương pháp Time-up-and-go và bộ câu hỏi PRISMA-7 trong chẩn đoán suy yếu tại phòng khám lão khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Tác giả: Nguyễn Hữu Ấn
Nhà XB: Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2020
2. Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung Ƣơng (2019), "Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 04 năm 2019". Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 04 năm 2019
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
Năm: 2019
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2015),"Báo cáo quốc gia giáo dục cho mọi người 2015 của Việt Nam&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quốc gia giáo dục cho mọi người 2015 của Việt Nam
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2015
4. Trịnh Thị Bích Hà, Thân Hà Ngọc Thể, Phạm Ngọc Thùy Trang (2021), "Tỷ lệ sa sút trí tuệ theo thang điểm MMSE ở bệnh nhân cao tuổi tại phòng khám lão khoa bệnh viện Đại học Y dƣợc TP. Hồ Chí Minh", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 25 (2), tr. 212 - 217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ sa sút trí tuệ theo thang điểm MMSE ở bệnh nhân cao tuổi tại phòng khám lão khoa bệnh viện Đại học Y dƣợc TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trịnh Thị Bích Hà, Thân Hà Ngọc Thể, Phạm Ngọc Thùy Trang
Nhà XB: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2021
6. Nguyễn Ngọc Hòa (2006), Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc và một số yếu tố liên quan đến sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ hiện mắc và một số yếu tố liên quan đến sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2006
7. Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam (2018), Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo về chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường
Tác giả: Hội Nội tiết - Đái tháo đường Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2018
8. Hội Bệnh Alzheimer và Rối Loạn Thần Kinh Nhận thứcViệt Nam (2018), "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sa sút trí tuệ&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị sa sút trí tuệ
Tác giả: Hội Bệnh Alzheimer và Rối Loạn Thần Kinh Nhận thức Việt Nam
Nhà XB: Hội Bệnh Alzheimer và Rối Loạn Thần Kinh Nhận thức Việt Nam
Năm: 2018
9. Nguyễn Thị Thanh Hương (2018), Nghiên cứu giá trị của thang điểm Mini-Cog trong tầm soát sa sút trí tuệ tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương, Luận văn bác sĩ chuyên khoa cấp II, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị của thang điểm Mini-Cog trong tầm soát sa sút trí tuệ tại bệnh viện Lão khoa Trung Ương
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2018
10. Lê Văn Ích (2017), Nghiên cứu giá trị của trắc nghiệm đánh giá nhận thức MOCA trong tầm soát sa sút trí tuệ, Luận văn bác sĩ chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị của trắc nghiệm đánh giá nhận thức MOCA trong tầm soát sa sút trí tuệ
Tác giả: Lê Văn Ích
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2017
11. Chiêm Thị Ngọc Minh, Nguyễn Trần Tố Trân, Thân Hà Ngọc Thể (2017), "Tỉ suất sa sút trí tuệ của bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc tại khoa Lão bệnh viện Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 21 (2), tr. 199 - 203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ suất sa sút trí tuệ của bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc tại khoa Lão bệnh viện Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Chiêm Thị Ngọc Minh, Nguyễn Trần Tố Trân, Thân Hà Ngọc Thể
Nhà XB: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
12. Đào Thị Bích Ngọc (2018), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của chức năng nhận thức sau nhồi máu não và một số yếu tố liên quan, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của chức năng nhận thức sau nhồi máu não và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Đào Thị Bích Ngọc
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2018
13. Võ Thành Nhân, Nguyễn Văn Trí, Thân Hà Ngọc Thể (2021), Bệnh tim mạch ở người cao tuổi - Dịch tễ học bệnh tim mạch ở người cao tuổi, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh tim mạch ở người cao tuổi
Tác giả: Võ Thành Nhân, Nguyễn Văn Trí, Thân Hà Ngọc Thể
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2021
14. Nguyễn Kinh Quốc, Vũ Anh Nhị (2005), "Khảo sát thang điểm Mini Mental State Examination (MMSE) trên người Việt Nam bình thường", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 9 (1), tr. 121 - 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thang điểm Mini Mental State Examination (MMSE) trên người Việt Nam bình thường
Tác giả: Nguyễn Kinh Quốc, Vũ Anh Nhị
Nhà XB: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
15. Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2011), "Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách
Tác giả: Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
Năm: 2011
16. Lê Văn Sơn, Nguyễn Duy Linh, Lê Thành Tài (2019), "Tình trạng sa sút trí tuệ trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Đa khoa Phước Long, năm 2016", Tạp chí Y dược học Cần Thơ, 19, tr. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng sa sút trí tuệ trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Đa khoa Phước Long, năm 2016
Tác giả: Lê Văn Sơn, Nguyễn Duy Linh, Lê Thành Tài
Nhà XB: Tạp chí Y dược học Cần Thơ
Năm: 2019
17. Phạm Thắng (2010), Bệnh Alzheimer Và Các Thể Sa Sút Trí Tuệ Khác, Nhà Xuất Bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Alzheimer Và Các Thể Sa Sút Trí Tuệ Khác
Tác giả: Phạm Thắng
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Y học Hà Nội
Năm: 2010
18. Trần Đình Thắng (2013), Nghiên cứu giá trị của trắc nghiệm đánh giá nhận thức GPCOG trong chẩn đoán sàng lọc sa sút trí tuệ, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giá trị của trắc nghiệm đánh giá nhận thức GPCOG trong chẩn đoán sàng lọc sa sút trí tuệ
Tác giả: Trần Đình Thắng
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2013
19. Nguyễn Thị Lan Thanh (2015), Khảo sát tình trạng hạn chế chức năng và mối liên quan với các bệnh lý đi kèm ở người cao tuổi trong cộng đồng xã Vĩnh Thành huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình trạng hạn chế chức năng và mối liên quan với các bệnh lý đi kèm ở người cao tuổi trong cộng đồng xã Vĩnh Thành huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre
Tác giả: Nguyễn Thị Lan Thanh
Nhà XB: Đại học Y Dƣợc TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2015
22. Trần Thị Thanh Thảo, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí và cộng sự (2017), "Tỷ lệ sa sút trí tuệ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi tại khoa lão bệnh viện Nhân Dân Gia Định", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 21 (2), tr. 184 - 188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ sa sút trí tuệ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi tại khoa lão bệnh viện Nhân Dân Gia Định
Tác giả: Trần Thị Thanh Thảo, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
23. Thân Hà Ngọc Thể, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí và cộng sự (2016), "Tần suất sa sút trí tuệ và kiến thức người chăm sóc tại các khoa Lão", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 20 (1), tr. 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tần suất sa sút trí tuệ và kiến thức người chăm sóc tại các khoa Lão
Tác giả: Thân Hà Ngọc Thể, Nguyễn Trần Tố Trân, Nguyễn Văn Trí
Nhà XB: Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm