1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tỉ lệ đoạn chi dưới và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có bệnh động mạch ngoại biên bị loét bàn chân

120 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tỉ lệ đoạn chi dưới và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có bệnh động mạch ngoại biên bị loét bàn chân
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hiếu
Người hướng dẫn TS.BS. Trần Quang Nam
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Nội tiết
Thể loại Luận văn chuyên khoa cấp ii
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 2,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Vết loét bàn chân đái tháo đường (12)
    • 1.2. Bệnh động mạch ngoại biên chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường (20)
    • 1.3. Định nghĩa đoạn chi, chỉ định đoạn chi và các phẫu thuật đoạn chi (38)
    • 1.4. Tổng quan một số nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới về vết loét bàn chân đái tháo đường có bệnh động mạch ngoại biên chi dưới (39)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (43)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (43)
    • 2.3. Kỹ thuật chọn mẫu (44)
    • 2.4. Định nghĩa biến số (45)
    • 2.5. Phương pháp xử lí dữ kiện và phân tích số liệu (50)
    • 2.6. Y đức (51)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (53)
    • 3.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu (53)
    • 3.2. Tỉ lệ đoạn chi dưới (61)
    • 3.4. Phân tích hồi quy đa biến (0)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu (68)
    • 4.2. Tỉ lệ đoạn chi dưới (75)
    • 4.3. Các yếu tố liên quan đoạn chi dưới (77)
    • 4.4. Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ đoạn chi (0)
    • 4.5. Điểm hạn chế của đề tài (91)
  • KẾT LUẬN (93)

Nội dung

Tổng quan một số nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới về vết loét bàn chân đái tháo đường có bệnh động mạch ngoại biên chi dưới .... Sự kết hợp của bệnh động mạch ngoại biên BĐMNB ch

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, hồi cứu.

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có bệnh động mạch ngoại biên chi dưới bị loét bàn chân

Bệnh nhân đái tháo đường típ 2 mắc bệnh động mạch ngoại biên chi dưới thường gặp phải các triệu chứng loét bàn chân Điều trị nội trú tại khoa Nội tổng hợp và khoa Lồng ngực mạch máu của Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM Cơ Sở 1 giúp cải thiện tình trạng bệnh và thúc đẩy quá trình lành vết loét Việc quản lý chặt chẽ các yếu tố nguy cơ và chăm sóc vết thương đúng quy trình đóng vai trò quan trọng trong thành công điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng động mạch ngoại biên.

Bệnh nhân đái tháo đường típ 2 mắc bệnh động mạch ngoại biên chi dưới đã bị loét bàn chân và nhập viện điều trị tại khoa Nội tổng hợp và khoa Lồng ngực mạch máu của bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM Cơ Sở 1 từ tháng 01 năm 2015 đến nay.

2.2.4 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ: n 𝑍1− 𝛼 2

◦ n: Là cỡ mẫu nhỏ nhất cần có cho nghiên cứu

◦ Z: Trị số phân phối chuẩn, với Z lấy từ giá trị phân phối chuẩn, độ tin cậy 95% thì Z(1-α/2) = 1,96

◦ α: Xác suất sai lầm loại 1, α = 0,05

Theo nghiên cứu của Pinar Aysert Yildz và cộng sự, tỷ lệ đoạn chi dưới trong dân số bị vết loét bàn chân đái tháo đường chiếm khoảng 33,7% Đây là tỷ lệ đáng chú ý, phản ánh mức độ phổ biến của các biến chứng liên quan đến loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường Thống kê này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và quản lý hiệu quả các biến chứng để giảm thiểu tỷ lệ cắt bỏ chi dưới trong cộng đồng bệnh nhân đái tháo đường.

◦ p: Ước đoán trong nghiên cứu của chúng tôi là 40% vì tỉ lệ đoạn chi của chúng tôi bao gồm cả những trường hợp đoạn chi khi tái nhập viện

=> Cỡ mẫu tối thiểu n = 93 ca

Dự trù tỷ lệ phiếu thu thập không đạt chất lượng 10%, vậy cỡ mẫu thực tế cần lấy vào nghiên cứu tối thiểu là 104 bệnh nhân.

Kỹ thuật chọn mẫu

Danh sách bệnh nhân được chọn từ hệ thống bệnh án điện tử gồm những bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội Tổng Hợp và khoa Lồng Ngực Mạch Máu của Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM Cơ Sở 1, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 07 năm 2015.

Năm 2019, bệnh nhân được chẩn đoán đái tháo đường típ 2 kèm theo bệnh động mạch ngoại biên chi dưới gây loét bàn chân dựa trên chẩn đoán ra viện Quá trình lựa chọn bệnh nhân bắt đầu từ bệnh án điện tử và hồ sơ bệnh án giấy lưu tại kho, đánh giá theo tiêu chí nghiên cứu để xác định phù hợp hay không phù hợp Các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn sẽ được nhận vào nghiên cứu, còn trường hợp không đủ tiêu chuẩn sẽ bị loại ra để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của nghiên cứu.

Công cụ thu thập dữ kiện: Phiếu thu thập thông tin soạn sẵn (phụ lục 1)

Bệnh nhân thỏa cả 3 điều kiện sau:

- Có bệnh động mạch ngoại biên chi dưới

- Có vết loét bàn chân

Các bệnh nhân đủ tiêu chí tiếp nhận điều trị thường có hồ sơ bệnh án đã ghi nhận đầy đủ các thông tin quan trọng cho nghiên cứu, bao gồm vị trí vết loét, tường trình tái thông mạch máu nếu có, và vị trí phẫu thuật đoạn chi (nếu có) Việc ghi nhận chính xác các dữ liệu này giúp nâng cao chất lượng phân tích và kết quả nghiên cứu về bệnh lý của bệnh nhân.

Định nghĩa biến số

- Đái tháo đường típ 2: khi bệnh nhân được ghi chẩn đoán đái tháo đường típ 2 trong hồ sơ bệnh án

- Vết loét bàn chân: được định nghĩa là bất kì vết thương nào ở vị trí dưới cổ chân [82]

- Động mạch ngoại biên chi dưới: được định nghĩa là những động mạch

(ĐM) dưới mức dây chằng bẹn, bao gồm: ĐM đùi sâu, ĐM đùi nông, ĐM khoeo, ĐM mác, ĐM mu chân, ĐM chày sau [56]

- Bệnh động mạch ngoại biên chi dưới: khi bệnh nhân có ít nhất 1 trong 3 đặc điểm sau:

◦ Chụp DSA có hẹp động mạch chi dưới ≥ 50% [46]

◦ Chụp CTA có hẹp động mạch chi dưới ≥ 50% [117]

- Nơi cư ngụ: biến định tính, nhị giá

- Giới: biến định tính, nhị giá

- Tuổi (năm): lấy năm nhập viện trừ năm sinh của đối tượng nghiên cứu

- Nhóm tuổi (tuổi): biến định tính, nhị giá

- Phân nhóm huyết áp tâm thu (mmHg): biến định tính, nhị giá

- Huyết áp tâm trương (mmHg): biến định tính, nhị giá

- Đường huyết lúc nhập viện (mmol/l): biến định lượng, được ghi nhận dựa vào xét nghiệm đường huyết tĩnh mạch hoặc mao mạch lúc nhập viện

- HbA1c (%): biến định lượng, được ghi nhận dựa vào kết quả xét nghiệm trong hồ sơ bệnh án

- Phân nhóm HbA1c (%): biến định tính, nhị giá

- Phân nhóm LDL-c (mmol/l): biến định tính, nhị giá

- eGFR (ml/phút/1,73m2 da) (MDRD): biến định tính, nhị giá được ghi nhận dựa vào kết quả xét nghiệm trong hồ sơ bệnh án

Công thức tính độ lọc cầu thận MDRD (Modification of Diet in Renal Disease) [72]: eGFR = 175 x Creatinin máu -1,154 x Tuổi -0,203 x 0,742 nếu là nữ

- Tổn thương thận cấp: (KDIGO 2012) biến định tính, nhị giá [69]

(1) Có, khi có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau:

◦ Creatinine máu tăng ≥ 0,3 mg/dl trong vòng 48 giờ

◦ Creatinine ≥ 1,5 lần so với ban đầu trong vòng 7 ngày

- Thời gian phát hiện đái tháo đường (năm): biến định lượng, được ghi nhận dựa vào tiền căn trong hồ sơ bệnh án

- Tiền căn đoạn chi: biến định tính, nhị giá, được ghi nhận dựa vào ghi nhận tiền căn trong hồ sơ bệnh án

Tăng huyết áp được xác định khi bệnh nhân có tiền sử đã được chẩn đoán tăng huyết áp và đang sử dụng thuốc hạ huyết áp, hoặc khi bác sĩ chẩn đoán tăng huyết áp tại thời điểm ra viện Đây là trạng thái huyết áp cao kéo dài gây ảnh hưởng đến sức khỏe và cần theo dõi, điều trị kịp thời để phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm.

Bệnh mạch vành được xác định khi đã có tiền căn chẩn đoán bệnh tim thiếu máu cục bộ, nhồi máu cơ tim cũ, hoặc đã từng đặt stent, phẫu thuật bắt cầu mạch vành trong hồ sơ bệnh án Ngoài ra, bệnh cũng được xem là có tiền sử nếu bác sĩ chẩn đoán bệnh mạch vành tại thời điểm ra viện sau quá trình hội chẩn với bác sĩ tim mạch.

- Tai biến mạch máu não cũ: có tiền căn nhồi máu não cũ hoặc xuất huyết não cũ được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án

- Bệnh thận mạn: được xác định khi độ lọc cầu thận ước tính eGFR < 60 ml/phút/1,73m 2 da (MDRD) ở lần xét nghiệm sau cùng trong thời gian nằm viện

- Thời gian xuất hiện vết loét (ngày): tính từ thời điểm xuất hiện vết loét đến lúc nhập viện BVĐHYD, biến định lượng

- Vị trí vết loét chân: biến danh định, có 4 giá trị

- Nhiễm trùng vết loét: dựa vào tiêu chuẩn Hiệp hội Bệnh nhiễm trùng

Mỹ và Nhóm công tác Quốc tế về bàn chân đái tháo đường năm 2012 khi ghi nhận từ hồ sơ có ít nhất hai trong các dấu hiệu sau [76]:

◦ Sưng tại chỗ hoặc cứng tại chỗ

◦ Vòng đỏ > 0,5 cm xung quanh vết loét

◦ Nhạy đau hoặc đau tại chỗ

◦ Ấm hoặc nóng tại chỗ

◦ Chảy mủ (đặc, trắng đục hoặc dạng máu)

Nhiễm trùng nặng được xác định dựa trên tiêu chuẩn của Hiệp hội Bệnh nhiễm trùng Mỹ và Nhóm công tác Quốc tế về bàn chân đái tháo đường năm 2012 Cụ thể, mức độ nhiễm trùng nặng khi bệnh nhân có sốt trên 38°C bất kỳ thời điểm nào trong quá trình điều trị và số lượng bạch cầu trong máu vượt quá 12.000/mm³ Những tiêu chuẩn này giúp chẩn đoán chính xác và đánh giá mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng để có phương pháp điều trị phù hợp.

Hủy xương trên X-quang bàn chân là một biến định tính dựa vào kết quả đọc của bác sĩ chẩn đoán hình ảnh sau khi chụp X-quang bàn chân lần đầu tiên sau khi nhập viện Phân tích hình ảnh giúp xác định chính xác các tổn thương xương, đảm bảo chẩn đoán chính xác để hướng dẫn điều trị phù hợp Việc dựa vào hình ảnh X-quang là phương pháp quan trọng trong đánh giá tổn thương xương bàn chân, mang lại kết quả khách quan và tin cậy cho quá trình chẩn đoán.

(1) Có viêm xương khi xương mất đậm độ tại ổ nhiễm trùng, vỏ xương không bằng phẳng, mất tính liên tục

(2) Không viêm xương khi vỏ xương bình thường

- Phân nhóm bạch cầu: biến định tính, nhị giá, được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án từ kết quả công thức máu lúc mới nhập viện [76]

- % Neutrophil lúc nhập viện (%): biến định lượng, được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án từ kết quả công thức máu lúc mới nhập viện

- Phân nhóm CRP lúc nhập viện: biến định tính, nhị giá được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án [74]

- Phân nhóm ABI: biến định tính, nhị giá

Dựa trên chẩn đoán hình ảnh, DSA (+) được xác định khi có hẹp ≥ 50% hoặc tắc hoàn toàn ít nhất một trong các động mạch chủ yếu như động mạch đùi sâu, động mạch đùi nông, động mạch khoeo, động mạch mác, động mạch chày sau hoặc động mạch mu chân Điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của các tình trạng tắc nghẽn mạch máu chi dưới, cần thiết lập phương án điều trị phù hợp để giảm thiểu rủi ro về biến chứng Việc xác định chính xác các mạch máu bị ảnh hưởng qua chẩn đoán hình ảnh giúp bác sĩ lên kế hoạch can thiệp kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Khi bác sĩ chẩn đoán hình ảnh xác định có hẹp ≥ 50% hoặc tắc hoàn toàn ít nhất một trong các động mạch quan trọng như động mạch đùi sâu, động mạch đùi nông, động mạch khoeo, động mác, động mạch chày sau hoặc động mạch mu chân, đó là dấu hiệu cần thiết để xem xét các phương pháp điều trị phù hợp Việc phát hiện sớm tình trạng này giúp giảm nguy cơ biến chứng nghiêm trọng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân Nếu bạn nhận thấy các triệu chứng liên quan hoặc đã được chẩn đoán, liên hệ với chuyên gia y tế để được tư vấn và lập kế hoạch điều trị kịp thời.

- Vị trí tắc mạch máu tắc hoặc hẹp: biến danh định, có 3 giá trị [46]

(1) Động mạch đùi (ĐM đùi sâu hoặc ĐM đùi nông)

(2) Động mạch khoeo và động mạch dưới khoeo (ĐM mác hoặc ĐM chày sau hoặc ĐM mu chân)

- Số lượng ĐM khoeo và động mạch dưới khoeo (ĐM mác, ĐM mu chân, ĐM chày sau) bị tắc hoàn toàn: biến thứ tự, có 4 giá trị [46]

Tái thông mạch máu là quá trình điều trị bệnh nhân sau khi thực hiện ít nhất một trong hai phương pháp chính: can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật bắt cầu Đây là các phương pháp biến định tính và nhị giá, nhằm khôi phục lưu lượng máu và cải thiện chức năng của mạch máu đã bị tắc nghẽn hoặc hư hỏng Việc tái thông mạch máu giúp tăng khả năng sống và giảm thiểu biến chứng do thiếu máu cục bộ.

- Phương pháp tái thông mạch máu: biến danh định, có 3 giá trị

(1) Can thiệp nội mạch (2) Phẫu thuật bắt cầu (3) Cả 2

Tái thông mạch máu thành công được xác định dựa trên các tiêu chí kỹ thuật rõ ràng, bao gồm việc ít nhất một động mạch chi dưới bị tắc hoặc hẹp sau quá trình tái thông, dòng chảy động mạch xuống bàn chân được duy trì, và không còn hẹp tồn lưu đáng kể dọc theo toàn bộ động mạch Bác sĩ phẫu thuật sẽ kết luận kết quả là thành công khi đáp ứng các tiêu chí này, đảm bảo sự phục hồi tuần hoàn và chức năng của chân.

Tái thông mạch máu thất bại xảy ra khi bác sĩ không thể vượt qua vị trí động mạch tắc hẹp hoặc thiếu dòng máu chảy xuống bàn chân, dẫn đến kết luận thất bại kỹ thuật Đây là một biến chứng nhị giá, phản ánh sự không thành công trong quá trình phẫu thuật, đòi hỏi đánh giá lại và các phương án điều trị tiếp theo để cải thiện lưu thông máu.

Biến cố tái thông mạch máu là các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra sau quá trình can thiệp, bao gồm tụ máu tại vị trí chọc catheter, bóc tách thành động mạch, xuyên thủng thành động mạch, thuyên tắc xa gây nhồi máu cơ tim cấp, tai biến mạch máu não, biến đổi định tính hoặc nhị giá Việc phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng này rất quan trọng để hạn chế tổn thương và đảm bảo hiệu quả điều trị.

- Đoạn chi: biến định tính, nhị giá

- Vị trí đoạn chi: biến danh định, có 4 giá trị

- Đoạn chi tối thiểu: khi đoạn ngón hoặc đoạn ngang bàn, biến định tính, nhị giá

- Đoạn chi cao: khi đoạn cẳng chân hoặc đoạn trên gối, biến định tính, nhị giá

- Thời gian nằm viện (ngày): là thời gian từ lúc nhập viện đến khi xuất viện, được tính bằng cách lấy ngày xuất viện trừ đi ngày nhập viện.

Phương pháp xử lí dữ kiện và phân tích số liệu

 Kiểm tra đầy đủ các thông tin của bảng số liệu đã thu thập và bổ sung nếu cần

 Mã hoá và nhập vào phần mềm

 Kiểm tra dữ liệu nhập

 Chuyển dữ liệu sang phần mềm phân tích thống kê

 Số liệu được xử lí bằng phần mềm Stata 15.0

 Các biến số định tính: được trình bày dưới dạng tần suất (tỷ lệ %)

 Các biến số định lượng:

 Phân phối chuẩn: được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn + Phân phối không chuẩn: được trình bày dưới dạng trung vị và khoảng tứ phân vị

 Sử dụng phép kiểm  2 hoặc phép kiểm Fisher để kiểm định mối liên quan giữa các biến số định tính (đoạn chi và các biến số định tính)

 Sử dụng phép kiểm t-test để kiểm định đoạn chi với các biến định lượng

Hồi quy Logistics được sử dụng để xác định mối liên quan giữa biến số tỷ lệ đoạn chi và các yếu tố như chỉ số nhân trắc học, bệnh lý đi kèm, các chỉ số sinh hóa cũng như các kết quả cận lâm sàng khác Công cụ này giúp phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến biến số tỷ lệ đoạn chi, từ đó hỗ trợ chẩn đoán chính xác và đề xuất phương pháp điều trị phù hợp Áp dụng phương pháp hồi quy Logistics là bước quan trọng trong nghiên cứu y học nhằm hiểu rõ mối liên hệ phức tạp giữa các yếu tố lâm sàng và kết quả bệnh lý.

Số đo kết hợp OR (Odds Ratio) được sử dụng để đánh giá mức độ mạnh của mối liên quan trong nghiên cứu Mối liên quan được xem là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p < 0,05 và khoảng tin cậy 95% không bao gồm giá trị 1, cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các nhóm.

Y đức

Nghiên cứu của chúng tôi dựa trên phương pháp hồi cứu, thu thập dữ liệu từ các hồ sơ khám lâm sàng, cận lâm sàng, quá trình điều trị và kết quả đoạn chi, bao gồm cả hồ sơ điện tử và hồ sơ giấy lưu trữ tại bệnh viện Quá trình này đảm bảo không gây phiền hà cho bệnh nhân và đã được phê duyệt bởi phòng Kế Hoạch Tổng Hợp của Bệnh Viện Đại Học Y Dược TP HCM Cơ Sở 1, cùng sự chấp thuận của Hội đồng Y Đức của trường.

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

- Tỉ lệ các mức đoạn chi: đoạn chi cao, đoạn chi tối thiểu

Các yếu tố liên quan đoạn chi bao gồm các đặc điểm lâm sàng như vị trí tổn thương, vết loét và tình trạng nhiễm trùng, cùng với các yếu tố cận lâm sàng như đường huyết lúc nhập viện, HbA1c, số lượng bạch cầu, CRP, hình ảnh hủy xương trên X-quang, DSA và CTA Đặc điểm điều trị của đoạn chi gồm các phương pháp như điều trị nội khoa, phẫu thuật bắc cầu mạch và can thiệp nội mạch, giúp lựa chọn phương pháp phù hợp dựa trên tình trạng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân.

Bệnh nhân ĐTĐ có vết loét bàn chân

- DSA có hẹp động mạch chi dưới ≥ 50% hoặc

- CTA có hẹp động mạch chi dưới ≥ 50% Đặc điểm bệnh nhân:

Tuổi, giới, thời gian mắc ĐTĐ, tiền căn cao huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não

Thu thập thông tin từ hồ sơ

Thu thập thông tin từ hồ sơ

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

3.1.1 Một số đặc điểm cơ bản của dân số nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm hành chánh và lâm sàng của dân số nghiên cứu Đặc điểm Kết quả (n = 107)

Nơi cư ngụ ngoài TPHCM (n,%) 82 (76,6)

Phân nhóm huyết áp tâm thu (mmHg) (n,%)

Phân nhóm huyết áp tâm trương (mmHg) (n,%)

TB ± ĐLC: trung bình ± độ lệch chuẩn

Dân số trong nghiên cứu chủ yếu là người cao tuổi, với tỷ lệ nam nữ cân đối Hầu hết các người tham gia đều có huyết áp tâm thu đạt mục tiêu điều trị Ngoài ra, phần lớn người tham gia đến từ các tỉnh phía ngoài TP.HCM, chiếm khoảng một nửa số nghiên cứu.

Bảng 3.2 Đặc điểm tiền căn và bệnh đi kèm của dân số nghiên cứu Đặc điểm Kết quả (n = 107)

Thời gian phát hiện ĐTĐ (năm, TV và KTPV)

Tai biến mạch máu não cũ (n,%) 9 (8,4)

TV và KTPV: trung vị và khoảng tứ phân vị

Tăng huyết áp là bệnh phổ biến nhất, chiếm khoảng 2/3 dân số, đóng vai trò hàng đầu trong các yếu tố nguy cơ tim mạch Bệnh mạch vành và bệnh thận mạn chiếm tỷ lệ khá cao trong các bệnh liên quan đến hệ tiêu hóa và thận, trong khi đó, đột quỵ do biến chứng mạch máu não chiếm tỷ lệ không đáng kể.

Bảng 3.3 Đặc điểm cận lâm sàng của dân số nghiên cứu Đặc điểm Kết quả (n = 107) Đường huyết lúc nhập viện (mmol/l, TB ± ĐLC) 11 ± 6,5

Phân nhóm eGFR (ml/phút/1,73m²) (n,%)

TB ± ĐLC: trung bình ± độ lệch chuẩn

Dân số nghiên cứu có đường huyết lúc nhập viện trung bình là 11 ± 6,5 mmol/l, trong đó phần lớn bệnh nhân có HbA1c ≥ 7%, cho thấy tình trạng kiểm soát đường huyết kém Hầu hết bệnh nhân đều có mức LDL-c ≥ 1,8 mmol/l, tăng nguy cơ các bệnh tim mạch Ngoài ra, khoảng ẳ dân số có độ lọc cầu thận ước tính < 60 ml/phút/1,73m², phản ánh bệnh lý thận trung bình hoặc nặng.

3.1.2 Đặc điểm vết loét bàn chân của dân số nghiên cứu

Bảng 3.4 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng vết loét bàn chân Đặc điểm Kết quả (n = 107)

Thời gian xuất hiện vết loét (ngày, TV và KTV) (n = 83) 20 (7-30)

Vị trí vết loét chân (n,%)

Số lượng bạch cầu trung bình (G/L, TB ± ĐLC) 13,4 ± 5,3 Phân nhóm bạch cầu (G/L) (n,%)

% Neutrophil lúc nhập viện (%,TB ± ĐLC) (n = 104) 72,6 ± 10,3 CRP trung bình (mg/dl, TV và KTPV) (n = 96) 53,2 (20,2 – 138,4) Phân nhóm CRP (mg/dl) (n,%)

TB ± ĐLC: trung bình ± độ lệch chuẩn

TV và KTPV: trung vị và khoảng tứ phân vị

Gần 1/3 dân số nghiên cứu có tiền căn đoạn chi và vết loét chân, trong đó loét ở ngón chân chiếm tỷ lệ cao nhất (80,4%) Hầu hết các vết loét đều bị nhiễm trùng, trong đó nhiễm trùng nặng chiếm khoảng một phần ba số ca Ngoài ra, hình ảnh huỷ xương trên X-Quang xuất hiện ở gần 20% các trường hợp chụp X-Quang bàn chân.

3.1.3 Đặc điểm bệnh động mạch ngoại biên của chân có vết loét

Bảng 3.5 Đặc điểm bệnh động mạch ngoại biên của chân có vết loét Đặc điểm Kết quả (n7)

Vị trí mạch máu tắc hoặc hẹp (n,%) (n = 102) Động mạch đùi 10 (9,8) Động mạch kheo và dưới kheo 53 (52)

Số lượng động mạch khoeo và dưới khoeo bị tắc hoàn toàn (n,%) (n = 102)

Khoảng 1/3 dân số nghiên cứu được đo ABI, cho thấy tỷ lệ cao của các bệnh lý mạch máu chi dưới Khoảng 2/3 dân số được xác định có hẹp hoặc tắc động mạch chi dưới qua chụp DSA, trong khi gần ă dõn số này cũng được chẩn đoán có hẹp hoặc tắc động mạch qua chụp CTA Khi khảo sát vị trí tắc hoặc hẹp của động mạch chi dưới, tắc hoặc hẹp đơn độc ở mạch máu tầng dưới gối chiếm tỷ lệ đáng kể, còn tắc hoặc hẹp đơn độc tầng trên gối có tỷ lệ khá thấp hoặc không đáng kể.

Bảng 3.6 Đặc điểm điều trị bệnh BĐMNB của chân có vết loét Đặc điểm Kết quả (n = 107)

Tái thông mạch máu (n,%) 76 (71) Điều trị nội khoa (n,%) 31 (29)

Thời gian từ lúc nhập viện đến lúc tái thông mạch máu (ngày, TV và KTPV) (n = 76)

Phương pháp tái thông mạch máu (n,%) (n = 76)

Kết quả tái thông mạch máu (n = 76) (n,%)

Biến cố của tái thông mạch máu 0

TV và KTPV: trung vị và khoảng tứ phân vị

Khoảng 2/3 dân số trong nghiên cứu đã được điều trị tái thông mạch máu, chủ yếu bằng phương pháp can thiệp nội mạch Phẫu thuật bypass chiếm tỷ lệ rất thấp, không đáng kể Quá trình tái thông mạch máu được thực hiện thành công về mặt kỹ thuật ở hầu hết các trường hợp và không ghi nhận biến cố nào khi thực hiện quá trình này.

Bảng 3.7 Số lượng động mạch khoeo và dưới khoeo (động mạch mác, động mạch mu chân, động mạch chày sau) tắc hoàn toàn và đoạn chi dưới

Số lượng động mạch tắc hoàn toàn

Số trường hợp Đoạn chi

Nhận xét: Số lượng động mạch khoeo và dưới khoeo tắc hoàn toàn càng nhiều thì tỉ lệ trường hợp đoạn chi chung và đoạn chi cao càng tăng

3.1.4 Đặc điểm vi sinh của vết loét bàn chân của dân số nghiên cứu

Bảng 3.8 Đặc điểm về cấy vi trùng và số loại vi trùng ở mỗi mẫu cấy

Cấy vi trùng Kết quả n (%)

Số trường hợp cấy vi trùng (n = 107) 76 (71)

Số mẫu cấy âm tính (n = 76) 10 (13)

Số mẫu cấy dương tính (n = 76) 66 (87)

Cấy dương 1 loại vi trùng (n = 66) 41 (62,1)

Cấy dương 2 loại vi trùng (n = 66) 25 (37,9)

Nhận xét cho thấy gần ắ dõn số lượng chọn được thực hiện cấy mô làm khống sinh đụ̀ đều cho kết quả dương tính Trong đó, hơn một nửa các trường hợp cấy dương cho thấy sự hiện diện của vi khuẩn hoặc ký sinh trùng gây bệnh Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp cấy mô trong chẩn đoán chính xác các bệnh nhiễm trùng, giúp bác sĩ xác định đúng nguyên nhân và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

1 loại vi trùng, còn lại là cấy dương có 2 loại vi trùng

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ chủng vi trùng

Vi trùng Gram âm chiếm tỷ lệ vượt trội so với vi trùng Gram dương, với tỷ lệ gần gấp ba lần Điều này cho thấy sự hiện diện phổ biến của vi trùng Gram âm trong mẫu phân tích, ảnh hưởng đáng kể đến quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh Hiểu rõ tỷ lệ này giúp nâng cao hiệu quả kiểm tra vi sinh vật và xác định chính xác các loại vi trùng đang gây nhiễm trùng Nhìn chung, tỷ lệ cao của vi trùng Gram âm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp dựa trên đặc điểm vi sinh vật.

Bảng 3.9 Tỉ lệ từng loại vi trùng trong tổng số vi trùng cấy được

Tên vi trùng (n = 91) Kết quả n(%)

Nhận xét: Trong các loại vi trùng cấy được, Escherichia coli chiếm tỉ lệ cao nhất

(26,4%), kế đến là Klebsiella pneumoniae (16,5%), Staphylococcus aureus chiếm vị trí thứ ba (11%).

Tỉ lệ đoạn chi dưới

Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ các loại phẫu thuật đoạn chi

Biểu đồ 3.3 Tỉ lệ các vị trí phẫu thuật đoạn chi

Nhận xét: Gần 50% dân số nghiên cứu bị đoạn chi dưới với các mức độ khác nhau, trong đó đoạn ngón chiếm tỉ lệ cao nhất

60% Đoạn chi chung Đoạn chi tối thiểu Đoạn chi cao

35% Đoạn ngón Đoạn ngang bàn Đoạn cẳng chân Đoạn trên gối

3.3 So sánh đặc điểm giữa 2 nhóm đoạn chi và không đoạn chi, phân tích đơn biến tìm các yếu tố liên quan với đoạn chi dưới

3.3.1 So sánh đặc điểm lâm sàng của nhóm đoạn chi và không đoạn chi

Bảng 3.10 So sánh đặc điểm lâm sàng nhóm đoạn chi và không đoạn chi Đặc điểm Đoạn chi

Tuổi(năm)TB± ĐLC 72 (11,1) 72,8 (9) 0,99 (0,95 - 1,03) 0,657 Nhóm tuổi

Thời gian phát hiện đái tháo đường

Tiền căn đoạn chi 15 (28,8) 13 (23,6) 1,31 (0,55 - 3,11) 0,541 Tăng huyết áp 37 (71,2) 37 (67,3) 1,2 (0,53 - 2,73) 0,664 Bệnh mạch vành 13 (25) 9 (16,4) 1,7 (0,66 - 4,41) 0,272

Tai biến mạch máu não cũ

TB ± ĐLC: trung bình ± độ lệch chuẩn

TV- KTPV: trung vị - khoảng tứ phân vị

Các kết quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về giới tính, tuổi tác, tiền sử đoạn chi, bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành hoặc bệnh tai biến mạch máu não cũ giữa hai nhóm đoạn chi và không đoạn chi Tuy nhiên, nhóm đoạn chi có thời gian phát hiện đái tháo đường lâu hơn so với nhóm không đoạn chi, với mỗi năm sống lâu hơn với bệnh ĐTĐ làm tăng 15% khả năng xảy ra đoạn chi (OR = 1,15; 95% CI: 1,04–1,27; p = 0,008) Ngoài ra, nhóm đoạn chi còn có thời gian nằm viện dài hơn so với nhóm không đoạn chi, với mức độ ý nghĩa thống kê đáng kể (OR = 1,07; 95% CI: 1,03–1,12; p = 0,002).

3.3.2 So sánh đặc điểm cận lâm sàng của nhóm đoạn chi và không đoạn chi

Bảng 3.11 So sánh đặc điểm cận LS nhóm đoạn chi và không đoạn chi Đặc điểm Đoạn chi

Không (nU) Đường huyết lúc nhập viện

HbA1c (%) (TB ± ĐLC) 9,5 (2,4) 8,6 (1,8) 1,21 (1 - 1,47) 0,054 Phân nhóm HbA1c (n,%)

Nhận xét: Đường huyết lúc nhập viện của nhóm đoạn chi cao hơn nhóm không đoạn chi có ý nghĩa thống kê (OR = 1,08; KTC 95% 1,01 – 1,16; p = 0,023)

3.3.3 So sánh đặc điểm vết loét bàn chân nhóm đoạn chi và không đoạn chi

Bảng 3.12 So sánh đặc điểm vết loét nhóm đoạn chi và không đoạn chi Đặc điểm Đoạn chi

Có (nR) Không (nU) Tiền căn đoạn chi (n,%) 15 (28,8) 13 (23,6) 1,31 (0,55 - 3,11) 0,541

Thời gian xuất hiện vết loét

Vị trí vết loét chân (n,%)

Ngón chân 49 (94,2) 37 (67,3) 7,95 (2,18 - 29) 0,002 Gan bàn chân 3 (5,8) 4 (7,3) 0,78 (0,17 - 3,67) 0,754

Mu bàn chân 12 (23,1) 19 (34,5) 0,57 (0,24 - 1,33) 0,194 Gót chân 2 (3,8) 3 (5,5) 0,69 (0,11 - 4,33) 0,695 Nhiễm trùng vết loét (n,%)

Phân nhóm CRP mg/dl

TV và KTPV: trung vị và khoảng tứ phân vị

Bệnh nhân bị loét ở vị trí ngón chân có khả năng đoạn chi cao hơn gấp 7,95 lần (KTC 95%: 2,18 – 29; p = 0,002) so với những bệnh nhân bị loét ở vị trí khác trên chân Nhóm đoạn chi có tỷ lệ Neutrophil lúc nhập viện cao hơn nhóm không đoạn chi với ý nghĩa thống kê (OR = 1,05; KTC 95%: 1,01 – 1,09; p = 0,018) Tình trạng nhiễm trùng nặng trong nhóm đoạn chi (40,4%) cũng cao hơn nhóm không đoạn chi (30,9%), mặc dù không đạt ý nghĩa thống kê Ngoài ra, hủy xương trên X-quang bàn chân và phân nhóm CRP > 50 mg/dL trong nhóm đoạn chi cao hơn nhóm không đoạn chi, nhưng cũng không có ý nghĩa thống kê với các giá trị p lần lượt là 0,051 và 0,695.

3.3.4 So sánh đặc điểm bệnh động mạch ngoại biên của nhóm đoạn chi và không đoạn chi

Bảng 3.13 So sánh đặc điểm BĐMNB nhóm đoạn chi và không đoạn chi Đặc điểm Đoạn chi

Số lượng ĐM khoeo và dưới khoeo tắc hoàn toàn (n,%)

Kết quả tái thông mạch (n,%)

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tắc hoàn toàn của các động mạch khoeo và dưới khoeo giữa các nhóm nghiên cứu Kết quả cho thấy, khả năng tái thông mạch máu chi dưới không phụ thuộc vào vị trí tắc động mạch, giúp định hướng phương pháp điều trị phù hợp Điều này khẳng định rằng, các yếu tố liên quan đến tắc nghẽn động mạch chi dưới cần được xem xét toàn diện để cải thiện hiệu quả điều trị và dự đoán tiên lượng cho bệnh nhân.

2 nhóm đoạn chi và không đoạn chi

3.3.5 So sánh đặc điểm vi sinh của nhóm đoạn chi và nhóm không đoạn chi

Bảng 3.14 So sánh đặc điểm vi sinh nhóm đoạn chi và không đoạn chi Đặc điểm Đoạn chi

Không (nU) Cấy dịch vết thương (n,%)

Dương tính 36 (69,2) 30 (54,5) 1 Âm tính 2 (3,8) 8 (14,5) 0,21 (0,04 - 1,06) 0,058 Không cấy 14 (26,9) 17 (30,9) 0,69 (0,29 - 1,62) 0,389

Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm đoạn chi và không đoạn chi về tỷ lệ xét nghiệm cấy dịch vết thương âm tính hoặc dương tính Ngoài ra, số lượng vi khuẩn trên mỗi mẫu cấy cũng không có sự khác biệt đáng kể giữa hai nhóm.

3.4 Phân tích hồi quy đa biến

Trong phân tích đa biến của các biến số liên quan đến đoạn chi, các yếu tố như đường huyết lúc nhập viện, HbA1c, % Neutrophil lúc nhập viện, loét ngón chân và cấy dịch vết thương đã được đưa vào để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng đoạn chi Phương pháp Stepwise (Backward Selection) được sử dụng để lựa chọn các biến có ý nghĩa thống kê, với ngưỡng p < 0,05, và kết quả cuối cùng được trình bày trong bảng 3.15.

Bảng 3.15 Phân tích đa biến các yếu tố liên quan đến đoạn chi Đặc điểm OR KTC 95% p

Nhận xét: % Neutrophil lúc nhập viện, loét ngón chân có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với đoạn chi với p lần lượt là 0,028 và 0,002 Cụ thể như sau:

Bệnh nhân bị loét ở vị trí ngón chân có nguy cơ đoạn chi cao hơn gấp 11,74 lần so với những người bị loét ở các vị trí khác trên chân (OR = 11,74; KTC 95%: 2,47 - 55,84; p = 0,002).

- Nhóm đoạn chi có % Neutrophil lúc nhập viện cao hơn nhóm không đoạn chi có ý nghĩa thống kê (OR = 1,05; KTC 95% 1,01 - 1,1; p = 0,028).

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

4.1.1 Một số đặc điểm cơ bản của dân số nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của dân số đái tháo đường típ 2 bị loét bàn chân do bệnh động mạch ngoại biên là 72,4 ± 10 tuổi, trong đó nhóm bệnh nhân cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm đến 91,6%, phản ánh rõ mối liên hệ giữa tuổi và nguy cơ mắc bệnh Kết quả phù hợp với y văn, khi tuổi càng lớn thì nguy cơ mắc bệnh động mạch ngoại biên càng cao, đặc biệt là trên 70 tuổi, do tuổi là yếu tố nguy cơ chính [107] Ngoài ra, đái tháo đường cũng là một yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch ngoại biên ở người cao tuổi Tỉ lệ giới nam và nữ trong nhóm bệnh của chúng tôi gần như bằng nhau, với nam chiếm 49,5% và nữ 50,5%, thể hiện sự phân bố đồng đều của bệnh trong cộng đồng đái tháo đường típ 2 mắc loét bàn chân do bệnh mạch ngoại biên.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian phát hiện đái tháo đường trung vị là 10 năm, với phạm vi tứ phân vị từ 5 đến 15 năm, tuy nhiên thời gian này không hoàn toàn chính xác do đái tháo đường tiến triển âm thầm Theo y văn, thời gian mắc bệnh càng lâu thì nguy cơ mắc BĐMNB càng cao, nhưng mức độ kiểm soát đường huyết và các yếu tố nguy cơ đi kèm như tuổi cao, hút thuốc, tăng huyết áp và rối loạn lipid máu cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự xuất hiện biến chứng Mức độ kiểm soát đường huyết được thể hiện qua chỉ số HbA1c, và dân số nghiên cứu của chúng tôi có mức HbA1c trung bình khá cao, cho thấy mức kiểm soát đường huyết còn hạn chế.

Chỉ có 20,4% dân số nghiên cứu của chúng tôi đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết với mức HbA1c < 7%, theo hướng dẫn của Hiệp hội đái tháo đường Mỹ Trong khi đó, đến 79,6% người bệnh không đạt được mục tiêu này, thể hiện sự khó khăn trong kiểm soát đường huyết ở quần thể nghiên cứu Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh tim mạch xơ vữa, đặc biệt ở dân số người lớn tuổi mắc đái tháo đường và tăng huyết áp; hầu hết đã sử dụng thuốc statin trước đó Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không tập trung vào tỷ lệ rối loạn lipid máu chung mà chủ yếu đánh giá tỷ lệ người bệnh đạt được mục tiêu LDL-C dưới 1,8 mmol/l theo khuyến cáo của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ.

Trong nghiên cứu năm 2019, tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường mắc bệnh tim mạch xơ vữa chỉ chiếm 22,4% trong dân số của chúng tôi, phản ánh tỷ lệ khá thấp Sự kiểm soát đường huyết kém thể hiện qua mức HbA1c cao, và phần lớn bệnh nhân không đạt mục tiêu LDL-C với tới 78,6% Đồng thời, có đến 69,2% bệnh nhân mắc tăng huyết áp, điều này phần nào giải thích cho việc dân số nghiên cứu của chúng tôi có thời gian phát hiện đái tháo đường ngắn nhưng đã xuất hiện các biến chứng nặng như loét chân và bệnh mạch ngoại biên chi dưới.

Xơ vữa động mạch là bệnh lý hệ thống toàn thân, gây tổn thương xơ vữa đồng thời ở nhiều hệ mạch máu khác nhau Bệnh nhân mắc bệnh động mạch ngoại biên thường đi kèm với các bệnh mạch máu khác như bệnh mạch vành và bệnh mạch máu não Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh mạch vành chiếm 20,6%, tai biến mạch máu não cũ chiếm 8,4%, tuy nhiên, tỷ lệ này khá thấp có thể do nghiên cứu dựa vào hồ sơ bệnh án, không phản ánh chính xác thực trạng các bệnh tim mạch xơ vữa đi kèm trong dân số.

4.1.2 Đặc điểm vết loét bàn chân của dân số nghiên cứu

Thời gian từ khi xuất hiện vết loét đến khi nhập viện trong nghiên cứu của chúng tôi trung bình là 20 ngày, ngắn hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thy Khuê, ghi nhận trung bình gần 30 ngày (29,97 ngày) Ngoài ra, thời gian loét chân trong nghiên cứu MEDFUN kéo dài trung bình 45,2 ngày, nhiều hơn so với kết quả của chúng tôi, cho thấy sự khác biệt về thời gian bệnh nhân phải chờ đợi để nhập viện giữa các nghiên cứu lập khác nhau.

Vị trí vết loét trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu tập trung ở ngón chân, chiếm đến 80,4% (n=86/107), phản ánh tần suất cao nhất Tiếp theo là vết loét ở mu bàn chân với tỷ lệ 29% (n=31/107), trong khi gan bàn chân chiếm 6,5% (n=7/107) và gót chân có tỷ lệ thấp nhất là 4,7% (n=5/107) Các kết quả này phù hợp với nghiên cứu của S Esposito tại Italia, ghi nhận ngón chân là vị trí loét phổ biến nhất, chiếm 33,6%, cho thấy tầm quan trọng của việc chăm sóc và phòng ngừa loét ở các vị trí này.

(observational study of the infected diabetic foot) vị trí loét ở ngón chân là 45.4% chiếm tỉ lệ cao nhất [104]

Hầu hết các vết loét bàn chân đái tháo đường trong nghiên cứu của chúng tôi đều nhiễm trùng, chiếm tỷ lệ 99,1% (106/107), với 35,5% (38/107) là nhiễm trùng nặng Dù đặc điểm thường gặp của bệnh mạch ngoại biên chi dưới là hoại tử khô phần xa của chi, tỷ lệ nhiễm trùng ở vết loét trong dân số cao có thể do Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM là tuyến đầu tiếp nhận đa số bệnh nhân đã điều trị tại tuyến dưới với diễn tiến nặng, không đáp ứng điều trị, dẫn đến tỷ lệ nhiễm trùng và nhiễm trùng nặng cao.

4.1.3 Đặc điểm bệnh động mạch ngoại biên của chân có vết loét

Mặc dù ABI là phương tiện tầm soát bệnh động mạch ngoại biên chi dưới không xâm lấn, dễ thực hiện, tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 37,8% trường hợp được đo ABI (40/107), trong đó 33 trường hợp có ABI ≤ 0,9 và 7 trường hợp có ABI > 0,9 Đáng chú ý, tất cả 7 trường hợp có ABI > 0,9 đều có hẹp động mạch chi dưới ≥ 50% khi chụp DSA, cho thấy một hạn chế của ABI trong chẩn đoán BĐMNB chi dưới, đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường do vôi hóa lớp trung mạc có thể gây ra ABI giả cao và bỏ sót bệnh lý nặng Trong dân số nghiên cứu, 43,9% được chụp CTA (47/107), 72% được chụp DSA (77/107), và 22,6% được kết hợp cả hai phương pháp (22/107) Mặc dù DSA là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán BĐMNB chi dưới, nhưng do tính xâm lấn của thủ thuật này, bác sĩ thường ưu tiên chẩn đoán bằng CTA trước, đặc biệt khi có hẹp hoặc tắc động mạch để đánh giá ý nghĩa và chuẩn bị cho can thiệp nội mạch sau này nếu điều kiện phù hợp.

Chụp DSA có thể gây ra biến chứng nguy hiểm nhất là tổn thương thận cấp do thuốc cản quang, gọi là bệnh thận do thuốc cản quang (Contrast Induced Nephropathy) Đây là nguyên nhân đứng hàng thứ ba gây tổn thương thận cấp tính ở bệnh nhân nhập viện Vì vậy, cần thận trọng trong quá trình sử dụng thuốc cản quang để giảm thiểu nguy cơ tổn thương thận.

Bệnh thận do chất cản quang thường bắt đầu với tăng creatinin huyết thanh và có thể tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối cần chạy thận nhân tạo vĩnh viễn hoặc tử vong Nguy cơ mắc bệnh thận do chất cản quang thấp ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, chỉ chiếm 1-2%, nhưng tăng lên đến 10% ở những bệnh nhân có nồng độ creatinin huyết thanh từ 1,3-1,9 mg/dl và tới 62% ở những người có creatinin hơn 2 mg/dl Mặc dù đái tháo đường không phải là yếu tố nguy cơ độc lập, tỷ lệ mắc bệnh thận do chất cản quang cao hơn ở người đái tháo đường do thận dưới lâm sàng Các biện pháp phòng ngừa hiệu quả bao gồm truyền dịch muối bicarbonate hoặc đẳng trương trước khi dùng thuốc cản quang, cùng với việc sử dụng N-acetylcystein để giảm nguy cơ tổn thương thận do chất cản quang Trong nghiên cứu của chúng tôi, phần lớn dân số (72%) được chụp DSA và có bệnh thận mạn, nhưng không có trường hợp nào liên quan đến thuốc cản quang, và các tổn thương thận cấp thường xảy ra trước khi nhập viện do thiếu dịch hoặc nhiễm trùng, sau đó phục hồi trong thời gian nằm viện Hầu hết bệnh nhân có bệnh thận mạn trong nghiên cứu đều được hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa thận để truyền tĩnh mạch nước muối đẳng trương và sử dụng N-acetylcystein, góp phần giảm thiểu tổn thương thận cấp do thuốc cản quang.

Trong bệnh nhân đái tháo đường, bệnh tắc nghẽn động mạch ngoại biên chi dưới thường xảy ra ở nhiều vị trí, chủ yếu tại tầng động mạch dưới gối bao gồm động mạch khoeo và động mạch dưới kheo như động mạch mác, động mạch mu chân, và động mạch chày sau [114] Kết quả chụp DSA hoặc CTA của nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tắc hoặc hẹp ≥ 50% ở các vị trí này khá phổ biến, với động mạch khoeo - dưới khoeo chiếm hơn 50%, trong khi các vị trí khác như động mạch đùi hoặc ĐM chậu – đùi có tỷ lệ thấp hơn, khoảng từ 8,7% đến 9,8% [46][47][70] Nghiên cứu của Se-Young Kim tại Hàn Quốc cũng ghi nhận tỷ lệ tắc hoặc hẹp dọc theo các đoạn động mạch gần (chậu hoặc đùi – khoeo) chiếm khoảng 9,2%, còn các đoạn xa như ĐM chày – mác chiếm tới 35,5%, cả hai vị trí xa và gần chiếm 55,3% [70] Trong các nghiên cứu khác, tắc hoặc hẹp ≥ 50% thường gặp nhiều hơn ở tầng động mạch dưới gối, đặc biệt tại các đoạn như ĐM chày sau, mác, và mu chân, trong khi tỷ lệ ở tầng trên gối thấp hơn đáng kể [28][51] Tuy nhiên, các nghiên cứu không đồng nhất về vị trí cụ thể, nhưng chung quy lại, tầng động mạch dưới gối có tỷ lệ tắc nghẽn cao hơn rõ rệt so với các phần trên của chi dưới.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 29% bệnh nhân (31/107 trường hợp) được điều trị nội khoa, trong khi đó 71% (76/107 trường hợp) được điều trị bằng phương pháp tái thông mạch máu Trong số các trường hợp tái thông mạch máu, 90,8% (69/76) được thực hiện thành công bằng can thiệp nội mạch, còn 6,6% (5/76) được điều trị bằng phẫu thuật bắt cầu, và 2,6% (2 trường hợp) được kết hợp cả hai phương pháp Thành công kỹ thuật khi tái thông mạch máu đạt 93,4%, tuy nhiên có 5 trường hợp thất bại đều do mạch máu bị vôi hóa nặng, đoạn vôi hóa dài, gây ra hẹp và cứng thành mạch, khiến bóng nong không thể vỡ hoặc đặt stent qua chỗ hẹp Ở Việt Nam, việc tái thông mạch máu cho bệnh nhân đái tháo đường bị loét chân và BĐMNB chưa phổ biến rộng rãi, do đó tỷ lệ 71% ở nghiên cứu của chúng tôi phản ánh một tỷ lệ khá cao so với thực tế hiện tại.

4.1.4 Đặc điểm vi sinh của vết loét bàn chân của dân số nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi về dân số vết loét bàn chân đái tháo đường có BĐMNB chi dưới, có 76/107 trường hợp được cấy dịch vết thương Kết quả cho thấy, 23% mẫu cấy âm tính (10/76) và 87% mẫu cấy dương tính (66/76), trong đó, loại vi khuẩn phổ biến chiếm 62,1% (n = 41).

Trong các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng bàn chân đái tháo đường, hai loại vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm đến 37,9% (n=25) Trong tổng số 66 mẫu cấy dương tính, đã phân lập được 91 vi khuẩn, trong đó vi khuẩn Gram âm chiếm tỷ lệ cao đến 74,7% (n=68), còn vi khuẩn Gram dương chiếm 25,3% (n=23) Phân tích phân bố các loại vi khuẩn cho thấy, Escherichia coli (E coli) chiếm tỷ lệ cao nhất với 26,4%, tiếp đó là Klebsiella pneumoniae với 16,5%, và Staphylococcus aureus với 11% Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đó tại Bệnh viện ĐH Y dược TP.HCM cơ sở 1 cho thấy kết quả khác biệt, phản ánh sự đa dạng trong thành phần vi khuẩn gây nhiễm trùng bàn chân đái tháo đường.

Tỉ lệ đoạn chi dưới

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đã thu hồi hồ sơ bệnh án từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 7 năm 2019 tại hai khoa Nội tổng hợp và khoa Lồng ngực mạch máu Các hồ sơ này cung cấp dữ liệu quý giá để phân tích các trường hợp bệnh lý liên quan, giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị Nghiên cứu nhằm đánh giá xu hướng bệnh tật theo thời gian và đề xuất các phương pháp can thiệp phù hợp dựa trên thực tiễn lâm sàng tại hai khoa này.

Tại cơ sở 1 của BV ĐHYD TPHCM, chúng tôi đã tuyển chọn 107 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đái tháo đường bị loét chân có BĐMNB chi dưới phù hợp với các tiêu chí nghiên cứu Trong số này, có 52 trường hợp bị đoạn chi ở các mức độ khác nhau, chiếm tỷ lệ 48,6% Phân loại theo vị trí, đoạn chi cao chiếm 10,3% (11 trường hợp), đoạn chi tối thiểu chiếm 38,3% (41 trường hợp), trong đó đoạn ngón chi có tỷ lệ cao nhất là 29,9% (32 trường hợp) Tiếp theo là đoạn ngang bàn chân với tỷ lệ 8,4% (9 trường hợp), đoạn cẳng chân chiếm 3,7% (4 trường hợp), và đoạn trên gối là 6,5% (7 trường hợp) Tỷ lệ đoạn chi chung được tính dựa trên tổng số ca đoạn chi từ lần nhập viện đầu tiên và lần tái nhập viện, trong đó nếu cả hai lần đều có đoạn chi thì lấy đoạn cao nhất trong hai lần.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 18 bệnh nhân nhập viện trở lại, trong đó 16 trường hợp bị đoạn chi, đặc biệt 4 trường hợp đã đoạn chi trong lần xuất viện đầu tiên và phải đoạn chi lần thứ hai, còn 12 bệnh nhân trước đó điều trị bảo tồn và phải đoạn chi khi tái nhập viện Không có trường hợp nào được tái thông mạch máu trong lần tái nhập viện, cho thấy vai trò của việc duy trì lưu lượng máu đến mô là rất quan trọng trong quá trình điều trị vết loét Để vết loét tiến triển tốt, cần loại bỏ mô hoại tử, kiểm soát nhiễm trùng và đảm bảo đủ tưới máu mô vùng tổn thương Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ đoạn chi ở bệnh nhân tái nhập viện rất cao, thể hiện rằng điều trị vết loét bàn chân đái tháo đường nhiễm trùng đơn thuần đòi hỏi quá trình chăm sóc, đánh giá và theo dõi lâu dài, đặc biệt là yếu tố tưới máu đến mô vết loét đóng vai trò then chốt trong thành công điều trị.

Lipsky nhấn mạnh rằng bệnh động mạch ngoại biên và nhiễm trùng là hai nguyên nhân chính gây đoạn chi ở bệnh nhân đái tháo đường Nghiên cứu của chúng tôi trên bệnh nhân đái tháo đường bị loét chân cho thấy tỷ lệ đoạn chi chung là 48,6%, trong đó đoạn chi tối thiểu chiếm 38,3% và đoạn chi cao 10,3% Trong khi đó, nghiên cứu của tác giả Lê Tố Tiên tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM chỉ ghi nhận tỷ lệ đoạn chi chung là 18,4%, với đoạn chi tối thiểu 14,7% và đoạn chi cao 3,7%, dù yếu tố nhiễm trùng khá tương đồng Sự chênh lệch này cho thấy bệnh động mạch ngoại biên ảnh hưởng đáng kể đến kết quả đoạn chi trên vết loét bàn chân đái tháo đường.

Nghiên cứu của Pinar Aysert Yildz và cộng sự trên đối tượng vết loét bàn chân đái tháo đường tại Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ lệ đoạn chi chung là 33,7%, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, điều này có thể do tuổi trung bình trong dân số của chúng tôi cao hơn (72,4 ± 10 tuổi so với trung vị là 63 tuổi) Faglia và cộng sự thực hiện trên 219 bệnh nhân đái tháo đường loét chân có BĐMNB chi dưới, tỷ lệ đoạn chi chung là 45,6%, phù hợp với kết quả của chúng tôi Nghiên cứu của Marco Meloni ở Ý theo dõi 272 bệnh nhân trong 1 năm cho thấy tỷ lệ đoạn chi là 58,7%, cao hơn do thời gian theo dõi dài hơn Se-Young Kim tại Hàn Quốc báo cáo tỷ lệ đoạn chi cao lên tới 38,2% trong nhóm 76 bệnh nhân, cao hơn nhiều so với 10,3% trong nghiên cứu của chúng tôi, có thể do dân số này có nhiều bệnh nhân ở mức Wagner 5 và tỷ lệ tái thông mạch máu thấp hơn (21% so với 71%).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đoạn ngón chiếm tỷ lệ cao nhất trong các ca phẫu thuật đoạn chi, đặc biệt khi hoại tử không hồi phục hoặc nhiễm trùng vết loét sâu đến xương Vết loét do bệnh lý mạch máu ngoại biên (BĐMNB) tại chân thường là hoại thư vùng xa của bàn chân và ngón chân, nơi chịu áp lực lớn nhất, giải thích tại sao loét ở ngón chân chiếm đến 80,4%, và đoạn ngón chiếm tỷ lệ cao nhất với 29,9% trong tổng số các ca phẫu thuật đoạn chi.

Các yếu tố liên quan đoạn chi dưới

Một phân tích gộp từ 25 bài báo với tổng cộng 6.132 trường hợp loét bàn chân đái tháo đường nhiễm trùng cho thấy các yếu tố nguy cơ liên quan đến đoạn chi bao gồm giới tính nam (OR = 1,31), hút thuốc lá (OR = 1,38), tiền sử đoạn chi (OR = 1,47), viêm tủy xương (OR = 1,94), bệnh động mạch ngoại biên (OR = 2,35), bệnh võng mạc đái tháo đường (OR = 1,32), vết loét Wagner phân loại 4 và 5 (OR = 4,3 và 6,4), hoại thư hoặc hoại tử chi (OR = 9,9), nhiễm trùng nặng (OR = 3,12), tăng bạch cầu (OR = 1,76), tăng protein phản ứng C (CRP), nuôi cấy mô có vi khuẩn dương tính (OR = 1,61) và vi khuẩn gram âm từ nuôi cấy mô (OR = 1,5) Thời gian nằm viện cũng được xác định là yếu tố dự báo quan trọng cho đoạn chi trên vết loét bàn chân đái tháo đường Ngoài ra, nghiên cứu của Sadriwala và cộng sự còn ghi nhận tuổi, thời gian mắc đái tháo đường và HbA1c là các yếu tố nguy cơ liên quan đến đoạn chi dưới Tuy nhiên, kết quả từ các nghiên cứu khác nhau về các yếu tố nguy cơ này vẫn còn chưa nhất quán Trong nghiên cứu của chúng tôi, các yếu tố liên quan đến đoạn chi đã được xác định rõ ràng dựa trên phân tích dữ liệu.

4.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố về nhân trắc học và đoạn chi dưới

Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận mối liên quan giữa tuổi và kết cục của vết loét bàn chân đái tháo đường, mặc dù kết quả không song song giữa các nghiên cứu Nghiên cứu của Marzoq và cộng sự tại Iran cho thấy bệnh nhân đái tháo đường ≥ 65 tuổi có tỷ lệ lành vết loét thấp hơn và tỷ lệ đoạn chi cao hơn so với các nhóm tuổi khác Trong nghiên cứu EURODIAL, tuổi là yếu tố dự báo không lành vết loét ở bệnh nhân đái tháo đường loét chân có bệnh mạch máu ngoại biên, với mỗi 10 tuổi tăng làm tăng nguy cơ không lành vết loét lên 1,42 lần (KTC 95% 0,17–1,73, p < 0,001) Ngoài ra, nghiên cứu của Zameer Aziz tại Singapore cũng chỉ ra rằng bệnh nhân trên 60 tuổi có nguy cơ đoạn chi dưới cao gấp 2,8 lần so với nhóm trẻ hơn (OR 1,1- 7,0; p = 0,026).

Nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi giữa hai nhóm đoạn chi và không đoạn chi, phù hợp với các nghiên cứu trước đó Các nghiên cứu như MEDFUN tại Nigeria [122], nghiên cứu của Yufeng Jiang và Xiang Li tại Trung Quốc [65], [73], cùng các công trình của Bùi Thị Mỹ Hạnh tại bệnh viện 115 [4] và Huỳnh Tấn Đạt tại bệnh viện Chợ Rẫy [1], đều cho thấy không có mối liên quan đáng kể giữa tuổi và nguy cơ đoạn chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường.

Nghiên cứu của Aiping Wang cho thấy tiên lượng kết cục đoạn chi cao, không lành vết loét ở bệnh nhân nam đái tháo đường mắc loét chân xấu hơn so với nữ đái tháo đường Kết quả này có ý nghĩa thống kê rõ ràng (p = 0,003), nhấn mạnh tầm quan trọng của giới tính trong dự đoán diễn tiến bệnh và lập kế hoạch điều trị phù hợp.

Nghiên cứu của Alvarsson và cộng sự cho thấy tuổi trung bình của bệnh nhân nam bị đoạn chi sớm hơn 10 tuổi so với nữ, đồng thời nhiễm trùng và đoạn chi cũng nghiêm trọng hơn ở nam giới Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, không có sự khác biệt rõ rệt về giới giữa hai nhóm đoạn chi và không đoạn chi (p = 0,631), phù hợp với các nghiên cứu của Zameer Aziz tại Singapore, Xiang Li tại Trung Quốc, và Bùi Thị Mỹ Hạnh tại Bệnh viện 115.

4.3.2 Mối liên quan giữa các vấn đề về đái tháo đường với đoạn chi dưới

4.3.2.1 Thời gian phát hiện đái tháo đường

Bệnh đái tháo đường típ 2 thường tiến triển âm thầm, không có triệu chứng lâm sàng rõ ràng, và đa số các trường hợp được phát hiện tình cờ qua khám sức khỏe định kỳ, khiến thời điểm mắc bệnh khó xác định chính xác Thời gian phát hiện bệnh chỉ là một biến số tham khảo, và việc bệnh kéo dài bao lâu sẽ ảnh hưởng đến nguy cơ mắc các biến chứng mạn tính, đặc biệt là các vấn đề về bàn chân đái tháo đường như thần kinh ngoại biên, thiếu máu chân, và nhiễm trùng Yếu tố nhận thức, tầm quan trọng của bệnh và điều kiện chăm sóc y tế ảnh hưởng lớn đến khả năng tuân thủ điều trị của bệnh nhân, từ đó ảnh hưởng đến thời điểm xuất hiện các biến chứng Ngoài ra, kiểm soát đường huyết kém trong thời gian dài là nguyên nhân chính dẫn đến các biến chứng nặng về bàn chân, đặc biệt khi bệnh nhân thiếu kiến thức hoặc không quan tâm đúng mức đến chăm sóc bàn chân, dẫn đến nguy cơ vết thương trở nặng, nhiễm trùng và phải điều trị tích cực hoặc cắt đoạn chi cao.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng nhóm có đoạn chi có thời gian mắc đái tháo đường lâu hơn so với nhóm không đoạn chi, với mỗi năm sống lâu hơn với đái tháo đường làm tăng 15% khả năng đoạn chi (OR = 1,15; 95% CI 1,04–1,27; p = 0,008) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Resnick, cho thấy mỗi năm sống lâu hơn với đái tháo đường làm tăng nguy cơ đoạn chi gấp 3,1 lần (OR = 3,1; 95% CI 1,1–5,1; p < 0,01) Nghiên cứu của Yufeng Jiang tại Trung Quốc cũng xác nhận rằng thời gian mắc đái tháo đường càng lâu thì nguy cơ đoạn chi càng cao, cụ thể mỗi tháng sống lâu hơn làm gia tăng 4% khả năng đoạn chi (OR = 1,004; 95% CI 1,000–1,007; p = 0,026) Tương tự, nghiên cứu tại Ấn Độ của Mohammad Zubair cũng ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian mắc đái tháo đường giữa nhóm đoạn chi và không đoạn chi, với p < 0,001, cho thấy thời gian mắc bệnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nguy cơ đoạn chi.

4.3.2.2 HbA1c và đường huyết lúc nhập viện

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mức đường huyết trung bình theo thời gian, được đánh giá qua HbA1c, là yếu tố dự báo quan trọng cho nguy cơ đoạn chi dưới, khi HbA1c phản ánh nồng độ đường huyết trung bình suốt vòng đời của huyết sắc tố Các bằng chứng cho thấy mỗi 1% tăng HbA1c làm tăng đáng kể nguy cơ đoạn chi dưới, với các nghiên cứu như của Davis, Moss và Jbour ghi nhận lần lượt tăng 1,3 đến 1,39 lần nguy cơ đoạn chi dưới Kiểm soát đường huyết là chiến lược then chốt để ngăn ngừa tiến triển bệnh thần kinh ngoại biên đái tháo đường, vì bệnh thần kinh ĐTĐ làm tăng gấp 6,16 lần nguy cơ đoạn chi, trong khi HbA1c cao còn liên quan đến bệnh động mạch ngoại biên và làm tăng nguy cơ đoạn chi đến 7,7 lần Ngoài ra, HbA1c cao còn gây nhiễm trùng, góp phần vào nguy cơ đoạn chi dưới; nghiên cứu UKPDS 35 cho thấy giảm 1% HbA1c giảm 43% nguy cơ đoạn chi hoặc tử vong do BĐMNB Trong nghiên cứu của chúng tôi, dù có sự khác biệt về HbA1c trung bình giữa nhóm đoạn chi và không đoạn chi, nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê do cỡ mẫu nhỏ, phù hợp với các nghiên cứu khác tại Trung Quốc và Việt Nam.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đường huyết trung bình lúc nhập viện cao hơn ở nhóm đoạn chi so với nhóm không đoạn chi, với ý nghĩa thống kê (OR = 1,08; KTC 95% 1,01 - 1,16; p = 0,023) Tình trạng nhiễm trùng và bệnh đi kèm nặng hơn trong nhóm đoạn chi có thể là các yếu tố gây stress làm tăng đường huyết lúc nhập viện, đồng thời, mức đường huyết tăng làm khó kiểm soát nhiễm trùng của bàn chân đái tháo đường, từ đó góp phần vào kết cục đoạn chi dưới.

4.3.3 Mối liên quan giữa các bệnh đi kèm đái tháo đường với đoạn chi dưới

Một phân tích tổng hợp từ 10 nghiên cứu trên hơn 51.000 bệnh nhân đái tháo đường cho thấy mối liên hệ giữa tỷ lệ đoạn chi cao và các yếu tố đi kèm như tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, tai biến mạch máu não, các yếu tố này làm tăng nguy cơ đoạn chi một cách có ý nghĩa thống kê Trong khi đó, các yếu tố như rối loạn lipid máu, bệnh thận, bệnh võng mạc và bệnh lý thần kinh không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nguy cơ đoạn chi ở bệnh nhân đái tháo đường Các kết quả này cung cấp cái nhìn rõ nét về những yếu tố đi kèm quan trọng ảnh hưởng đến nguy cơ đoạn chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường.

Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ bệnh tăng huyết áp giữa nhóm đoạn chi và nhóm không đoạn chi (p = 0,664), tương tự như các nghiên cứu của Xiang Li và cộng sự, Jiang, đã thực hiện tại Trung Quốc lần lượt vào năm 2011 và 2015 [73][65] Trong khi đó, nghiên cứu của Se-Young Kim tại Hàn Quốc cũng xác nhận rằng tăng huyết áp không phải là yếu tố nguy cơ liên quan đến đoạn chi cao ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường loét chân [70] Ngược lại, nghiên cứu của Mohammad Zubair tại Ấn Độ cho thấy bệnh tăng huyết áp làm tăng nguy cơ đoạn chi gấp 2,83 lần (KTC 95%: 1,33 – 6,01, p = 0,009) trong mô hình phân tích đa biến, cho thấy sự khác biệt rõ ràng về mối liên hệ này giữa các nghiên cứu.

Bệnh thận mạn trên bệnh nhân đái tháo đường có thể là biến chứng mạch máu nhỏ của đái tháo đường hoặc bệnh lý đi kèm do nguyên nhân khác Nghiên cứu cho thấy mối liên quan rõ ràng giữa bệnh thận mạn và các vấn đề mạch máu lớn như bệnh động mạch ngoại biên, loét chân và đoạn chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường Kết quả từ nghiên cứu ARIC cho thấy nguy cơ mắc bệnh động mạch ngoại biên cao gấp 1,56 lần ở bệnh nhân có bệnh thận mạn so với người bình thường, ngay cả sau khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, giới tính, chủng tộc và bệnh tim mạch Một nghiên cứu tại Đức của Wolf và cộng sự đã chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa suy giảm chức năng thận và bệnh bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường típ 1 và típ 2 Ngoài ra, nghiên cứu của Margolis và cộng sự còn chỉ ra rằng mức độ nặng của bệnh thận mạn càng cao thì nguy cơ phát triển vết loét bàn chân và đoạn chi dưới càng lớn, đặc biệt là ở các trường hợp có eGFR từ 30-60 ml/phút/1,73 m², làm tăng nguy cơ loét chân gấp 1,85 lần và nguy cơ đoạn chi dưới gấp 2,08 lần so với chức năng thận bình thường Nhóm bệnh nhân có eGFR dưới 30 ml/phút/1,73 m² còn có nguy cơ loét chân cao gấp gần 4 lần và đoạn chi dưới cao gấp hơn 7 lần so với nhóm có chức năng thận bình thường, cho thấy mức độ suy giảm thận ảnh hưởng đáng kể đến các biến cố mạch máu lớn ở bệnh nhân đái tháo đường.

Nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện sự khác biệt về tỉ lệ đoạn chi giữa nhóm bệnh nhân mắc bệnh thận mạn (eGFR < 60 ml/phút/1,73 m² da) và nhóm có chức năng thận bình thường (eGFR ≥ 60 ml/phút/1,73 m² da) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Yufeng Jiang và cộng sự tại Trung Quốc, của tác giả Huỳnh Tấn Đạt tại Bệnh viện Chợ Rẫy, cũng như nghiên cứu của Se-Young Kim tại Hàn Quốc, cho thấy bệnh thận mạn không phải là yếu tố nguy cơ liên quan đến đoạn chi cao ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ loét chân có BĐMNB chi dưới.

Bệnh nhân mắc bệnh động mạch ngoại biên có tỷ lệ đồng mắc bệnh mạch vành cao do xơ vữa mạch máu, một bệnh lý toàn thân Nghiên cứu của Rishi Sukhija và cộng sự đã chỉ ra mối liên hệ giữa chỉ số ABI và mức độ nặng của bệnh mạch vành trong nhóm bệnh nhân này Theo đó, những bệnh nhân có ABI dưới 0,4 có tới 84% bị tắc nghẽn 3 hoặc 4 nhánh mạch vành, trong khi chỉ 11% bị tắc nghẽn 2 nhánh và 5% tắc nghẽn 1 nhánh mạch vành Các bệnh nhân có ABI từ 0,4 - 0,69 có tỷ lệ tắc nghẽn 3 hoặc 4 nhánh mạch vành là 46%, tắc nghẽn 2 nhánh là 41%, và tắc nghẽn 1 nhánh là 13% Trong nhóm ABI từ 0,7 - 0,89, tỷ lệ tắc nghẽn 3 hoặc 4 nhánh mạch vành giảm xuống còn 26%, trong khi tắc nghẽn 2 nhánh là 42% và tắc nghẽn 1 nhánh là 32% Kết quả này cho thấy, càng thấp chỉ số ABI thì tỷ lệ bị tắc nghẽn nặng trên các nhánh mạch vành càng cao, trong khi tắc nghẽn một nhánh trở nên ít phổ biến hơn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh mạch vành chiếm 20,6% Kết quả cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về bệnh mạch vành giữa nhóm đoạn chi và không đoạn chi (p = 0,273), phù hợp với các nghiên cứu của Xiang Li và cộng sự năm 2011 và Yufeng Jiang và cộng sự năm 2015 tại Trung Quốc, đều ghi nhận không có sự khác biệt đáng kể về bệnh mạch vành giữa hai nhóm này Ngoài ra, nghiên cứu của Se-Young Kim tại Hàn Quốc cũng xác định rằng bệnh mạch vành không phải là yếu tố nguy cơ liên quan đến đoạn chi trong nhóm bệnh nhân đái tháo đường loét chân.

4.3.3.4 Bệnh tai biến mạch máu não cũ

Điểm hạn chế của đề tài

Nghiên cứu của chúng tôi dựa trên việc hồi cứu từ hồ sơ bệnh án, nên dữ liệu thu thập về một số biến số còn chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến tính đại diện của kết quả phân tích thống kê cho toàn bộ dân số nghiên cứu.

Tiêu chí chẩn đoán bệnh động mạch ngoại biên chi dưới nhận vào của mẫu nghiên cứu không đồng nhất

Dân số nghiên cứu chưa đủ lớn để phân tích mối liên hệ giữa mức độ nặng của bệnh động mạch ngoại biên (PAD) dựa trên chỉ số ABI và tình trạng đoạn chi dưới Hơn nữa, sai số nhỏ của mẫu khảo sát hạn chế khả năng xác định chính xác tác động của ABI đối với các đoạn chi dưới, đặc biệt là đoạn cao, như các nghiên cứu quốc tế đã đề cập Việc mở rộng quy mô nghiên cứu sẽ giúp làm rõ hơn mối liên hệ giữa chỉ số ABI và mức độ nặng của PAD tại các đoạn chi dưới.

Nghiên cứu của chúng tôi là một nghiên cứu cắt ngang mô tả dựa trên việc hồi cứu từ hồ sơ bệnh án Tuy nhiên, nghiên cứu chưa thể giải thích rõ ràng về cơ chế và diễn tiến của các yếu tố dẫn đến đoạn chi Đây là hạn chế cần được khắc phục trong các nghiên cứu tiếp theo để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của đoạn chi.

Ngày đăng: 04/04/2023, 21:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Tấn Đạt (2016), "Các yếu tố nguy cơ đoạn chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường loét chân", Y học TP. Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 20 (Số 1), pp. 352- 357 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố nguy cơ đoạn chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường loét chân
Tác giả: Huỳnh Tấn Đạt
Nhà XB: Y học TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2016
2. Lê Tố Tiên (2019), "Tỉ lệ đoạn chi dưới và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có loét chân nhiễm trùng chân nhập viện", Luận án chuyên khoa II, ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ đoạn chi dưới và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có loét chân nhiễm trùng chân nhập viện
Tác giả: Lê Tố Tiên
Nhà XB: ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh
Năm: 2019
3. Nguyễn Bảo Trung (2018), "Khảo sát tỉ lệ bệnh động mạch ngoại biên chi dưới trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nhập viện vì loét chân", Luận văn chuyên khoa II, ĐH Ydược TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn chuyên khoa II
Tác giả: Nguyễn Bảo Trung
Nhà XB: ĐH Ydược TP HCM
Năm: 2018
4. Bùi Thị Mỹ Hạnh (2012), "Tỉ lệ đoạn chi và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 nhiễm trùng chân tại Bệnh Viện Nhân Dân 115", Luận án chuyên khoa II, ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án chuyên khoa II
Tác giả: Bùi Thị Mỹ Hạnh
Nhà XB: ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh
Năm: 2012
5. Lê Tuyết Hoa (2014), "Những thay đổi về dân số loét bàn chân đái tháo đường tại BV Nguyễn Tri Phương", Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, Phụ bản tập 18 (Số 6), pp. 87-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Tuyết Hoa
Năm: 2014
16. Armstrong D. G., Lavery L. A. (1998), "Diabetic foot ulcers: prevention, diagnosis and classification", American family physician, 57 (6), pp. 1325-32, 1337-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetic foot ulcers: prevention, diagnosis and classification
Tác giả: Armstrong D. G., Lavery L. A
Nhà XB: American family physician
Năm: 1998
18. Aronson D., Edelman E. R. (2010), "Revascularization for coronary artery disease in diabetes mellitus: angioplasty, stents and coronary artery bypass grafting", Reviews in endocrine metabolic disorders, 11 (1), pp. 75-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reviews in endocrine metabolic disorders
Tác giả: Aronson D., Edelman E. R
Năm: 2010
24. Bouhon A. (2004), "The diabetic foot: from art to science", Diabetologia, 47 (5), pp. 1343-1353 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The diabetic foot: from art to science
Tác giả: Bouhon A
Nhà XB: Diabetologia
Năm: 2004
25. Boulton A. J., Vileikyte L., Ragnarson-Tennvall G., et al. (2005), "The global burden of diabetic foot disease", The Lancet, 366 (9498), pp. 1719-1724 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The global burden of diabetic foot disease
Tác giả: Boulton A. J., Vileikyte L., Ragnarson-Tennvall G
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2005
51. Gharibvand M. M., Mounesi M., Shahriari A., et al. (2018), "Effectiveness of revascularization of the ulcerated foot in diabetic patients with peripheral artery disease for one year follow-up", Frontiers in Biology, 13 (6), pp. 458-463 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effectiveness of revascularization of the ulcerated foot in diabetic patients with peripheral artery disease for one year follow-up
Tác giả: Gharibvand M. M., Mounesi M., Shahriari A
Nhà XB: Frontiers in Biology
Năm: 2018
63. Jbour A., Jarrah N. S., Radaideh A. M., et al. (2003), "Prevalence and predictors of diabetic foot syndrome in type 2 diabetes mellitus in Jordan", Saudi medical journal, 24 (7), pp. 761-764 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and predictors of diabetic foot syndrome in type 2 diabetes mellitus in Jordan
Tác giả: Jbour A., Jarrah N. S., Radaideh A. M., et al
Năm: 2003
76. Lipsky B. A., Berendt A. R., Cornia P. B., et al. (2012), "2012 Infectious Diseases Society of America clinical practice guideline for the diagnosis and treatment of diabetic foot infections", Clinical infectious diseases, 54 (12), pp.e132-e173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2012 Infectious Diseases Society of America clinical practice guideline for the diagnosis and treatment of diabetic foot infections
Tác giả: Lipsky B. A., Berendt A. R., Cornia P. B
Nhà XB: Clinical infectious diseases
Năm: 2012
84. Molina C. S., Faulk J. B. (2019), "Lower Extremity Amputation", StatPearls, StatPearls Publishing LLC., Treasure Island (FL) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lower Extremity Amputation
Tác giả: Molina C. S., Faulk J. B
Nhà XB: StatPearls Publishing LLC.
Năm: 2019
85. Monteiro-Soares M., Russell D., Boyko E., et al. (2019), "IWGDF Guideline on the classification of diabetic foot ulcers", Diabetes Metab Res Rev Sách, tạp chí
Tiêu đề: IWGDF Guideline on the classification of diabetic foot ulcers
Tác giả: Monteiro-Soares M., Russell D., Boyko E., et al
Năm: 2019
86. Moss S. E., Klein R., Klein B. (1999), "The 14-year incidence of lower- extremity amputations in a diabetic population. The Wisconsin Epidemiologic Study of Diabetic Retinopathy", Diabetes care, 22 (6), pp. 951-959 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 14-year incidence of lower- extremity amputations in a diabetic population. The Wisconsin Epidemiologic Study of Diabetic Retinopathy
Tác giả: Moss S. E., Klein R., Klein B
Nhà XB: Diabetes Care
Năm: 1999
104. Richard J.-L., Lavigne J.-P., Got I., et al. (2011), "Management of patients hospitalized for diabetic foot infection: results of the French OPIDIA study", Diabetes &amp; metabolism, 37 (3), pp. 208-215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of patients hospitalized for diabetic foot infection: results of the French OPIDIA study
Tác giả: Richard J.-L., Lavigne J.-P., Got I
Nhà XB: Diabetes & metabolism
Năm: 2011
108. Scully B. (2012), "Diabetic foot infections: microbiology and antibiotic therapy", Diabetes and Peripheral Vascular Disease, Springer, pp. 93-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetic foot infections: microbiology and antibiotic therapy
Tác giả: Scully B
Nhà XB: Springer
Năm: 2012
114. Strandness D., Priest R., Gibbons G. (1964), "Combined clinical and pathologic study of diabetic and nondiabetic peripheral arterial disease", Diabetes, 13 (4), pp. 366-372 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes
Tác giả: Strandness D., Priest R., Gibbons G
Nhà XB: Diabetes
Năm: 1964
126. Wang C., Mai L., Yang C., et al. (2016), "Reducing major lower extremity amputations after the introduction of a multidisciplinary team in patient with diabetes foot ulcer", BMC endocrine disorders, 16 (1), pp. 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reducing major lower extremity amputations after the introduction of a multidisciplinary team in patient with diabetes foot ulcer
Tác giả: Wang C., Mai L., Yang C., et al
Năm: 2016
10. Adler A. I., Stevens R. J., Neil A., et al. (2002), "UKPDS 59: hyperglycemia and other potentially modifiable risk factors for peripheral vascular disease in type 2 diabetes", Diabetes care, 25 (5), pp. 894-899 Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w