1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học của u thần kinh nội tiết ở phổi , tụy và ống tiêu hóa

141 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm mô bệnh học của u thần kinh nội tiết ở phổi, tụy và ống tiêu hóa
Tác giả Dương Thị Thúy Vy
Người hướng dẫn TS BS. Võ Thị Ngọc Diễm
Trường học Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa học y sinh (Giải phẫu bệnh)
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 7,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (17)
    • 1.1. Danh pháp và phân loại (17)
    • 1.2. Dịch tễ học (22)
    • 1.3. Đặc điểm mô bệnh học (23)
    • 1.4. Kiểu hình miễn dịch trên các dấu ấn xác định nguồn gốc tế bào (31)
    • 1.5. Độ mô học (33)
    • 1.6. Sơ đồ chẩn đoán và phân loại u TKNT trên mẫu sinh thiết nhỏ (36)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (40)
    • 2.1. Phương pháp nghiên cứu (40)
    • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu (40)
    • 2.3. Tiến hành nghiên cứu (41)
    • 2.4. Vấn đề y đức (47)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
    • 3.1. Một số đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu (49)
    • 3.2. Đặc điểm mô bệnh học của mẫu nghiên cứu (53)
    • 3.3. Kiểu hình miễn dịch trên các dấu ấn xác định nguồn gốc tế bào (60)
    • 3.4. Phân độ mô học và các mối liên quan (64)
    • 3.5. Một số đặc điểm riêng của u TKNT ở từng cơ quan (71)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (75)
    • 4.1. Một số đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu và mối liên quan từng cặp (75)
    • 4.2. Đặc điểm mô bệnh học của mẫu nghiên cứu và các mối liên quan (79)
    • 4.3. Phân độ mô học và các mối liên quan (88)
    • 4.4. Một số đặc điểm riêng của u TKNT ở từng cơ quan (94)
  • KẾT LUẬN (98)

Nội dung

nhiều trường hợp u carcinoid đường hô hấp dưới gồm cả loại điển hình và khôngđiển hình lại được chẩn đoán quá mức là carcinôm tế bào nhỏ trên mẫu sinh thiết[28], [64], [76].UTKNT ở ống t

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo loạt ca, do u TKNT thuộc nhóm bệnh hiếm (xuất độ < 50 trường hợp/100.000 dân) [27], [67], [87].

Đối tƣợng nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu bao gồm các bệnh phẩm phẫu thuật và sinh thiết ở phổi, ống tiêu hóa và tụy có kết quả giải phẫu bệnh là u/carcinôm TKNT tại Bộ môn Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2018.

Các trường hợp được đưa vào nghiên cứu phải thỏa mãn đủ hai tiêu chuẩn sau:

- U ở phổi, ống tiêu hóa hoặc tụy.

Chẩn đoán xác định u/carcinom TKNT dựa trên đặc điểm mô bệnh học điển hình hoặc nghi ngờ, với tiêu chuẩn dương tính ≥ 10% tế bào u Việc xác định này đòi hỏi sự hiện diện của ít nhất một trong ba dấu ấn sinh học quan trọng của hệ thần kinh nội tiết, gồm chromogranin A, synaptophysin và CD56 Đây là các dấu ấn sinh học giúp phân biệt u/carcinom TKNT với các loại u khác trong hệ thần kinh nội tiết, đảm bảo chẩn đoán chính xác và phù hợp cho điều trị.

- Bệnh nhân có hóa trị trước khi lấy mẫu.

- Tiêu bản Hematoxylin & Eosin (H&E), hóa mô miễn dịch (HMMD) không đạt và mất khối vùi nến hoặc khối vùi nến không còn mô u đủ để thực hiện thêmHMMD/khảo sát thêm H&E.

Tiến hành nghiên cứu

Thu thập dữ liệu gồm: họ tên, tuổi, giới, vị trí u (cơ quan, vị trí cụ thể), chẩn đoán lâm sàng, chẩn đoán giải phẫu bệnh và mã số giải phẫu bệnh từ dữ liệu điện tử lưu trữ của Bộ môn Giải phẫu bệnh Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Thu thập và đánh giá tiêu bản H&E, HMMD theo các bước:

 Bước 1: Nghiên cứu viên đánh giá tiêu bản với người hướng dẫn khoa học, trên kính hiển vi quang học nhiều thị kính Olympus BX50.

 Bước 2: Loại bỏ những trường hợp không thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu.

 Bước 3: Thu thập dữ liệu về đặc điểm mô bệnh học trên tiêu bản H&E và kiểu hình miễn dịch trên tiêu bản HMMD.

 Bước 4: Thu thập khối vùi nến, mô u trên khối vùi nến còn đủ để cắt mỏng:

 Thực hiện đủ HMMD: chromogranin A, synaptophysin, CD56, Ki-67.

 Bước 5: Đánh giá biểu hiện các dấu ấn TKNT (chromogranin A, synaptophysin, CD56) về tỉ lệ, dạng phân bố và đậm độ bắt màu của tế bào u.

 Bước 6: Đánh giá chỉ số phân bào trên kính hiển vi quang học Olympus CX23 (chỉ số quang trường 20, diện tích quang trường ở độ phóng đại ×400 là 0,2 mm 2 ).

 Quan sát tiêu bản ở độ phóng đại ×200, lựa chọn vùng hoạt động nhất (điểm nóng), đếm số phân bào trên 50 quang trường lớn ở điểm nóng.

 Bệnh phẩm sinh thiết nhỏ: đếm số phân bào trên số quang trường lớn khảo sát được (tối thiểu 10 quang trường lớn)

 Chỉ số phân bào = số phân bào trên 10 quang trường lớn (tương đương 2 mm 2 ).

 Bước 7: Đánh giá chỉ số Ki-67 trên kính hiển vi quang học Olympus BX51

 Quan sát tiêu bản ở độ phóng đại ×200, lựa chọn vùng hoạt động nhất(điểm nóng).

Tại điểm nóng, chụp từ 10-20 hình với độ phóng đại ×400 giúp xác định số tế bào dương tính cao nhất trên tổng số tế bào Các hình ảnh được chụp và xử lý bằng phần mềm CellSens Standard 1.9© của công ty Olympus, đảm bảo độ chính xác và độ chi tiết cao trong phân tích vi mô.

 Phân biệt tế bào u và tế bào khác như lymphô bào, tương bào, nguyên bào sợi,… dựa vào kích thước, hình dạng nhân và dạng chất nhiễm sắc.

 Đếm số tế bào u dương tính và số tế bào u âm tính.

 Chọn những hình có số tế bào u dương tính trên tổng số tế bào u cao nhất, sao cho tổng số tế bào u ở các hình đạt 2.000 tế bào.

 Chỉ số Ki-67 = phần trăm tế bào u dương tính trên tổng số tế bào u.

Trong các trường hợp có hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc lan rộng và không thể đếm chính xác từng tế bào, có thể sử dụng phần mềm Immuno Ratio do tác giả Isola và Tuominen phát triển tại Viện Kỹ thuật Y sinh, Đại học Tampere năm 2010 để hỗ trợ phân tích chính xác.

Bộ môn Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dƣợc TP.HCM.

Các mẫu trong nghiên cứu đƣợc nhuộm HMMD trên hệ thống máy tự động Benchmark XT của công ty Ventana tại Bộ môn Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dƣợc TP.HCM Các bước thực hiện:

 Bước 1: Chuẩn bị tiờu bản: cắt mỏng lỏt mụ dày 3 àm, căng mụ trờn buồng căng với nước cất, vớt lát mô lên tiêu bản HMMD có mô chứng và mã số GPB.

 Bước 2: Thấm khô tiêu bản, đặt nghiên và sấy cho ráo nước trong mô.

 Bước 3: Ủ trong tủ ấm 37 o C qua đêm (14-16 giờ).

 Bước 4: Sấy tiêu bản ở nhiệt độ 60-65oC trong 2 giờ trước khi cho vào máy nhuộm.

 Bước 5: Nhuộm tự động bằng hệ thống máy Benchmark XT theo quy trình của Bộ môn Giải phẫu bệnh, Đại học Y Dƣợc TP.HCM.

 Bước 6: Sau khi máy chạy xong, lấy tiêu bản ra và rửa bằng xà phòng để loại bỏ lớp dầu phủ trên tiêu bản, rửa lại bằng nước sạch.

 Bước 7: Nhuộm tương phản bằng Hematoxylin trong 1 phút.

 Bước 8: Để khô, dán lamelle.

Bảng 2.1 Các loại kháng thể sử dụng trong nghiên cứu

STT Kháng thể Công ty Tỉ lệ pha loãng Mô chứng

1 Chromogranin A Ventana Pha sẵn Tiểu đảo tụy

2 Synaptophysin Ventana Pha sẵn Tiểu đảo tụy

3 CD56 Ventana Pha sẵn Đám rối thần kinh thành ruột

4 Ki-67 Dako 1:100 Hạnh nhân khẩu cái

2.3.4 Các biến số nghiên cứu, mã hóa dữ liệu

Tuổi: biến định lƣợng, liên tục, tính bằng năm tại thời điểm đầu tiên phát hiện u

Giới tính: biến nhị giá

Vị trí u: biến danh định

Vị trí cụ thể trong cơ quan: biến danh định

1 Cấu trúc: biến danh định (xem thêm phần 1.3.1 Dạng cấu trúc)

 Đơn dạng: biến nhị giá, định nghĩa: không khác biệt nhiều về kích thước và hình dạng tế bào ở độ phóng đại ×100

 Hình dạng tế bào: biến nhị giá, định nghĩa: gián tiếp qua hình dạng nhân vì màng tế bào không rõ

 Hình thoi: 1, định nghĩa: nhân tế bào hình thoi dài, thon nhỏ ở 2 đầu, xếp song song [54]

 Dạng bào tương: biến nhị giá

 Hạt ưa eosin: 1, định nghĩa: bào tương bắt màu eosin, hạt mịn [61]

 Tỉ lệ nhân/bào tương: biến nhị giá

 Thấp: 1, định nghĩa: tỉ lệ nhõn/bào tương < ẵ

 Nhân khớp: biến nhị giá, định nghĩa: nhân các tế bào lân cận ấn lõm, khớp với nhau do rất ít bào tương xen giữa [54], [75]

 Chất nhiễm sắc: biến danh định

 Dạng muối tiêu: 1, định nghĩa: chất nhiễm sắc thô xen lẫn đều với lưới hạt mịn [75]

 Dạng bọt: 2, định nghĩa: nhiều bọt trong nhân tế bào [54]

 Dạng hạt thô: 3, định nghĩa: chất nhiễm sắc dạng hạt, kích thước lớn [92]

 Hạt nhân rõ: biến nhị giá, định nghĩa: quan sát thấy hạt nhân ở độ phóng đại ×200

 Kích thước (đối với carcinôm TKNT): biến nhị giá

 Nhỏ: 1, định nghĩa: < 3 lần lymphô bào nhỏ (21m) [75]

3 Hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc: biến nhị giá, định nghĩa: chất nhiễm sắc trong nhân nhân bị ép dẹp, chồng chất, bào tương không rõ [21]

4 Hoại tử: biến thứ tự, định nghĩa: đám tế bào chết, không quan sát đƣợc chi tiết tế bào, hồng đồng nhất [54]

 Hoại tử ổ nhỏ, khu trú: 1

 Hoại tử ổ lớn, lan rộng: 2

5 Chỉ số phân bào: biến định lƣợng

 Tỉ lệ phần trăm: biến thứ tự

 Dương tính: ≥ 10% tế bào dương tính [85]

 Âm tính: < 10% tế bào dương tính

 Dạng phân bố: biến thứ tự

 Đậm độ: biến thứ tự

2 Chỉ số Ki-67: biến định lƣợng

2.3.4.4 Phân độ và phân loại:

1 Độ mô học: biến thứ tự, Bảng 1.7

2 Phân loại mô học: biến danh định, Bảng 1.2 và Bảng 1.3

 Carcinôm TKNT, loại TB nhỏ: 3

 Carcinôm TKNT, loại TB lớn: 4

Dữ liệu được thu thập thông qua Phiếu thu thập, phân tích các biến số đã được định nghĩa và mã hóa trong phần 2.3.4 Nghiên cứu tập trung vào 70 trường hợp u tuyến (u TKNT) xuất hiện ở phổi, ống tiêu hóa và tụy, cung cấp thông tin quan trọng để đánh giá đúng tình hình bệnh lý và hỗ trợ công tác chẩn đoán lâm sàng.

Số liệu đƣợc nhập và đối chiếu 2 lần, quản lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Dữ liệu đƣợc phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0, dữ liệu trong nghiên cứu thuộc các loại sau:

1 Biến nhị giá: giới tính, tế bào đơn dạng, hình dạng tế bào, dạng bào tương, tỉ lệ nhân/bào tương, nhân khớp, hạt nhân rõ, kích thước tế bào, hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc.

2 Biến danh định: vị trí u, cấu trúc, dạng chất nhiễm sắc, phân loại mô học.

3 Biến thứ tự: hoại tử, dấu ấn TKNT (tỉ lệ phần trăm, dạng phân bố, đậm độ), độ mô học.

4 Biến định lƣợng: tuổi, chỉ số phân bào, chỉ số Ki-67.

Vấn đề y đức

Nghiên cứu này là nghiên cứu hồi cứu dựa trên dữ liệu lưu trữ tại khoa, sử dụng các thông số liên quan nhằm bảo vệ quyền riêng tư của bệnh nhân và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu Các mẫu bệnh phẩm được lấy từ phương pháp vùi nến mà không ảnh hưởng đến kết quả điều trị hoặc theo dõi bệnh nhân, đảm bảo an toàn và không gây tác động tiêu cực Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong quá trình chẩn đoán bệnh theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại Nhờ các yếu tố trên, nghiên cứu đã tuân thủ các nguyên tắc y đức và không vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Một số đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu

Ba đặc điểm dịch tễ học quan trọng phân tích trong nghiên cứu bao gồm: vị trí u, tuổi và giới tính, đƣợc mô tả chi tiết trong bảng sau:

Bảng 3.1 Một số đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu Đặc điểm Số TH Tỉ lệ (%) Tổng số

Phổi Ống tiêu hóa Tụy

Loại bệnh phẩm Sinh thiết

Trong 3 cơ quan khảo sát, xuất độ u TKNT ở ống tiêu hóa và phổi chiếm đa số(tương ứng 42,9% và 47,1%), u TKNT ở tụy chỉ chiếm 10% (Bảng 3.1).

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận phân bố tuổi theo thập niên có dạng đồ thị gần giống phân phối chuẩn, với tuổi trung vị là 60 tuổi và tuổi trung bình là 58 ± 15 tuổi Tuổi mắc bệnh dao động từ 27 đến 91 tuổi, trong đó 70% bệnh nhân là người từ 51 tuổi trở lên Nhóm tuổi phổ biến nhất là từ 41-80 tuổi, chiếm 84,3% tổng số ca, và mức độ mắc bệnh cao hơn rõ rệt ở nhóm này (kiểm định t-mẫu độc lập, p = 0,008 và p = 0,005, độ tin cậy 95%).

Biểu đồ 3.1 Phân nhóm tuổi theo thập niên 3.1.3 Giới tính

U TKNT gặp ở nam nhiều hơn nữ, với tỉ lệ lần lƣợt là 77,1% và 22,9%; (tỉ lệ nam:nữ = 3,4:1) (Bảng 3.1).

3.1.4 Mối liên quan giữa các đặc điểm dịch tễ học

Nghiên cứu khảo sát mối liên quan từng cặp giữa vị trí u, giới tính và tuổi.

3.1.4.1 Mối liên quan giữa vị trí u TKNT và tuổi

U TKNT ở ống tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm tuổi 21-40, tiếp theo là u ở tụy, trong khi không ghi nhận u TKNT ở phổi Trong nhóm tuổi 41-60, u TKNT ở ống tiêu hóa và tụy có tỷ lệ tương tự Ở các nhóm tuổi lớn hơn, u TKNT ở phổi chiếm tỷ lệ cao nhất và xu hướng tăng dần theo tuổi, trong khi tỷ lệ u TKNT ở ống tiêu hóa giảm dần và không ghi nhận u TKNT ở tụy.

Biểu đồ 3.2 Phân bố vị trí u TKNT theo tuổi

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và vị trí của u, trong đó tuổi trung bình của các trường hợp u ở phổi (64,7 tuổi) cao hơn đáng kể so với u ở ống tiêu hóa (54,3 tuổi) và tụy (43,7 tuổi) Kết quả này được xác nhận qua kiểm định Anova-1 chiều với p-value < 0,001 và độ tin cậy 95%.

3.1.4.2 Mối liên quan giữa vị trí u TKNT và giới tính

Bảng 3.2 Mối liên quan giữa vị trí u TKNT và giới tính Đặc điểm

Vị trí u Mẫu nghiên cứu

Phổi Ống tiêu hóa Tụy

Ghi chú: (*): Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95%

Mối liên quan giữa vị trí u TKNT và giới tính có ý nghĩa về mặt thống kê (kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95%, p < 0,001) Ở nữ giới, xuất độ u TKNT ở ống tiêu hóa cao nhất; ngƣợc lại, ở nam giới xuất độ u TKNT ở phổi cao nhất Ngoài ra, số trường hợp u TKNT ở tụy không đủ để khảo sát mối liên hệ này (Bảng 3.2).

3.1.4.3 Mối liên quan giữa tuổi và giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh nhân nữ dưới hoặc bằng 70 tuổi, trong khi bệnh nhân nam thường trên 40 tuổi Tuy nhiên, mức độ bệnh cao nhất ở cả hai giới đều tập trung trong khoảng tuổi từ 41 đến 70, cho thấy sự phổ biến của bệnh ở nhóm tuổi trung niên và cao tuổi (Biểu đồ 3.3, Phụ lục 2 – Bảng PL 2.4).

Biểu đồ 3.3 Phân bố giới tính theo tuổi

Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa tuổi và giới tính (kiểm định Anova-1 chiều, p = 0,911; độ tin cậy 95%) Tuổi của nam giới không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê so với tuổi của nữ giới.

Nghiên cứu của chúng tôi gồm 37,1% trường hợp là mẫu phẫu thuật, còn lại là mẫu sinh thiết (62,9%) (Bảng 3.1).

Đặc điểm mô bệnh học của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm mô bệnh học của u thần kinh ngoài trung tâm (u TKNT) được khảo sát gồm chín đặc điểm chính, bao gồm dạng cấu trúc và đặc điểm tế bào như tính đơn dạng, hình dạng tế bào, dạng bào tương, tỷ lệ nhân trên bào tương, hình ảnh nhân khớp, dạng chất nhiễm sắc, tính chất hạt nhân, cùng với hình ảnh kéo dài chất nhiễm sắc Các đặc điểm này được trình bày rõ ràng trong bảng mô tả để hỗ trợ chẩn đoán và phân loại chính xác u TKNT.

Bảng 3.3 Đặc điểm mô bệnh học Đặc điểm Số TH Tỉ lệ (%) Tổng số

Loại 1 Loại 2 Loại 3 Loại hỗn hợp Loại kém biệt hóa

Hình dạng TB Hình thoi

Dạng bào tương Hạt ƣa eosin

Tỉ lệ nhân/bào tương Thấp

Hình ảnh nhân khớp Không

Dạng muối tiêu Dạng bọt Dạng hạt thô

Tính chất hạt nhân Không rõ

Hình ảnh kéo dài chất nhiễm sắc Không

Hầu hết các mẫu, chiếm 67/70 trường hợp, có thể đánh giá đầy đủ các đặc điểm quan trọng Tuy nhiên, vẫn tồn tại 3 trường hợp mẫu sinh thiết có hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc chiếm toàn bộ mô u, khiến việc đánh giá các đặc điểm mô bệnh học khác không khả thi Ngoài ra, chúng tôi chỉ có thể xác định dạng cấu trúc trên 59/70 trường hợp do hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc chiếm hơn 75% mô u hoặc phần mô u quá ít để xác định dạng cấu trúc chính xác.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận các dạng cấu trúc điển hình của u TKNT hiện diện trong 54,2% trường hợp Trong đó, u hiện diện hỗn hợp nhiều loại cấu trúc chiếm tỉ lệ 20,3% Trong nhóm ƣu thế một loại cấu trúc, loại 1 chiếm tỉ lệ cao nhất (23,7%), tiếp đến là loại 2 (8,5%), thấp nhất là loại 3 (1,7%) (Bảng 3.3).

Bảng 3.4 Phân bố dạng cấu trúc theo vị trí u

Vị trí Loại 1 Loại 2 Loại 3

Tá tràng Đại tràng sigma Trực tràng

Ghi chú: các trường hợp cấu trúc loại hỗn hợp được đếm 2 lần cho 2 loại cấu trúc thường gặp nhất

Cấu trúc loại 1 thường gặp ở các cơ quan như phổi, trực tràng và tụy, cho thấy tầm quan trọng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến các vùng này Cấu trúc loại 2 thường xuất hiện ở trực tràng và tụy, phản ánh đặc điểm phân bố của các cấu trúc này trong cơ thể Trong khi đó, cấu trúc loại 3 thường xuất hiện ở dạ dày và trực tràng, nhưng không gặp ở phổi, điều này giúp phân biệt các loại cấu trúc khi chẩn đoán hình ảnh (Bảng 3.4).

Ngoài ra, nghiên cứu nghi nhận cấu trúc loại biệt hóa kém hiện diện trong 45,8% trường hợp (Bảng 3.3).

Trong 67 trường hợp khảo sát được đặc điểm tế bào, tính đơn dạng hiện diện trên 31 trường hợp (46,3%), TB hình thoi chỉ hiện diện trên 3 trường hợp(4,5%), bào tương dạng hạt ưa eosin chiếm đa số (64 trường hợp, 95,5%), tỉ lệ nhân trên bào tương thấp và cao chiếm tỉ lệ tương đương nhau (tương ứng 55,2%

Hình ảnh nhân khớp xuất hiện trong gần 30% các trường hợp (29,9%) và thường xuyên gặp ở độ 3, loại TB nhỏ Hạt nhân rõ ràng chiếm gần 1/3 số trường hợp (29,9%), cho thấy đặc điểm đáng chú ý trong mô bệnh học Các dạng chất nhiễm sắc gồm muối tiêu chiếm tỷ lệ cao nhất (55,2%), tiếp theo là dạng bọt (26,9%) và thấp nhất là dạng hạt thô (17,9%), phản ánh sự đa dạng trong đặc điểm hình thái của các cấu trúc này.

3.2.1.3 Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc

Trong 70 trường hợp của mẫu nghiên cứu, hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc hiện diện hơn ẵ trường hợp (55,7%) (Bảng 3.3).

Mối liên quan giữa hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc và một số đặc điểm khác

Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc thường gặp trong u tuyến tụy nội tiết (TKNT), đặc biệt là trên bệnh phẩm sinh thiết có tỉ lệ nhân trên bào tương cao Phân tích mối liên quan giữa hiện tượng này với các yếu tố như loại bệnh phẩm, vị trí u và phân loại mô học giúp làm rõ ý nghĩa của nó trong chẩn đoán Ngoài ra, hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc còn ảnh hưởng đến màng tế bào và bào tương, do đó, nghiên cứu mối liên hệ này với các dấu ấn TKNT trên màng tế bào và bào tương là vô cùng cần thiết để nâng cao nhận thức về đặc điểm sinh học của u TKNT.

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc và vị trí u, loại bệnh phẩm và phân loại Đặc điểm

Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc Mẫu nghiên cứu

Phổi Ống tiêu hóa Tụy

UTKNT Độ 1/điển hình Độ 2/không điển hình

Ghi chú: (*) Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc nổi bật ở phổi (66,7%) và gần gấp 4 lần số trường hợp không có hiện tượng này Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc ít gặp hơn ở ống tiêu hóa (33,3%) và không hiện diện ở tụy Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc và vị trí u (Bảng 3.5).

Mối liên quan giữa hình ảnh kéo dài chất nhiễm sắc và loại bệnh phẩm có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (p < 0,001), theo kiểm định χ² Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc phổ biến hơn trong các bệnh phẩm sinh thiết và ít gặp hơn trong nhóm bệnh phẩm phẫu thuật, thể hiện rõ trong dữ liệu tại Bảng 3.5.

Mối liên quan giữa hình ảnh kéo dài chất nhiễm sắc và phân loại mô học có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 95% (kiểm định χ², p = 0,029) Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc ưu thế xuất hiện ở u thần kinh và mạch máu độ 2/không điển hình cũng như trong các ung thư thần kinh và mạch máu, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa đặc điểm hình ảnh và phân loại mô học, góp phần hỗ trợ chẩn đoán chính xác hơn trong lâm sàng.

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc và kiểu hình miễn dịch Đặc điểm Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc Tổng số

Ghi chú: (*) Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa mức độ hiện diện hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc và tình trạng biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch (kiểm định χ2, độ tin cậy 95%, p không tính đƣợc do không thỏa giả định của kiểm định) Trên hầu hết các mức độ xảy ra hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc, số trường hợp dương tính với các dấu ấn đều gấp nhiều lần số trường hợp âm tính (Bảng 3.6) Ngoài ra, những trường hợp hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc > 75% mô u vẫn biểu hiện mạnh và lan tỏa ≥ hai dấu ấn miễn dịch.

3.2.2 Xâm nhập mạch và thần kinh

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hai yếu tố liên quan đến tiên lượng nhưng chưa được sử dụng trong việc phân độ và phân giai đoạn u Tủy sống là xâm nhập mạch và thần kinh Các yếu tố này có vai trò quan trọng cần được xem xét để nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và dự đoán diễn biến bệnh Việc khảo sát thêm về xâm nhập mạch và thần kinh sẽ giúp cải thiện phương pháp phân loại và xác định giai đoạn của u Tủy sống, từ đó hỗ trợ lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu hơn.

Bảng 3.7 Xâm nhập mạch và thần kinh

Yếu tố Số TH Tỉ lệ (%) Tổng số

Không Hiếm gặp Trung bình Thường gặp

Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận hiện tượng xâm nhập mạch trong 12/70 trường hợp khảo sát (17,1%) (Bảng 3.7).

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ghi nhận có 66 trên 70 trường hợp thỏa điều kiện khảo sát xâm nhập thần kinh, với tình trạng xâm nhập thần kinh hiện diện ở 14 trường hợp (tương đương 21,2%) Tần suất xuất hiện của xâm nhập thần kinh giảm dần từ hiếm gặp đến thường gặp, với tỷ lệ lần lượt là 12,1% đến 1,5% (Bảng 3.7).

Xâm nhập mạch và thần kinh là những yếu tố tiên lượng quan trọng cần được ghi nhận trong quá trình chẩn đoán và điều trị u Mối liên quan giữa hai yếu tố này với vị trí u đã được phân tích rõ trong Phụ lục 2 – Bảng PL 2.10, giúp xác định độ nguy hiểm của bệnh lý Ngoài ra, đặc điểm mô bệnh học cùng các yếu tố tiên lượng khác như giới tính, tuổi và độ mô học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp Việc xem xét kỹ lưỡng các yếu tố này sẽ nâng cao hiệu quả chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị phù hợp cho bệnh nhân.

3.2.2.1 Mối liên quan giữa xâm nhập mạch, thần kinh và đặc điểm mô bệnh học

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa xâm nhập mạch và đặc điểm mô bệnh học Đặc điểm

Dạng cấu trúc Loại kém biệt hóa

Tỉ lệ nhân trên bào tương

Muối tiêu Bọt Hạt thô

Tính chất hạt nhân Không rõ

Ghi chú: (*): Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Mối liên quan giữa dạng cấu trúc và xâm nhập mạch có ý nghĩa thống kê, với p-value là 0,023 (kiểm định χ2, độ tin cậy 95%) Kết quả này cho thấy, xâm nhập mạch ưu thế hơn ở các dạng cấu trúc kém biệt hóa, phản ánh mối liên hệ rõ ràng giữa mức độ biệt hóa của dạng cấu trúc và khả năng xâm nhập mạch.

Kiểu hình miễn dịch trên các dấu ấn xác định nguồn gốc tế bào

Nghiên cứu chúng tôi khảo sát kiểu hình miễn dịch trên các dấu ấn xác định nguồn gốc tế bào đƣợc chọn là chromogranin A, synaptophysin và CD56, theo ba dạng biểu hiện là tỉ lệ TB dương tính, dạng phân bố và đậm độ bắt màu (Biểu đồ 3.4, Phụ lục 2 –Bảng PL 2.1).

Biểu đồ 3.4 Tỉ lệ (A), dạng phân bố (B), đậm độ (C) TB u dương tính với các dấu ấn miễn dịch TKNT

Nghiên cứu cho thấy có 20% trường hợp (14/70) hoàn toàn âm tính với chromogranin A, trong khi 5 trường hợp có 1-10% tế bào u bắt màu, trong đó 4 trường hợp là dạng rời rạc hoặc từng cụm nhưng nhạt hơn mô chứng, còn 1 trường hợp dạng rời rạc có đậm độ tương đương mô chứng Theo định nghĩa, 72,9% mẫu dương tính với chromogranin A, trong đó tỷ lệ bắt màu > 75% tế bào u chiếm cao nhất với 47,2%, và tỷ lệ này giảm dần theo từng mức độ bắt màu nhỏ hơn (theo Biểu đồ 3.4A).

Nghiên cứu ghi nhận rằng cả ba dạng phân bố tế bào bắt màu với chromogranin A đều xuất hiện, trong đó dạng lan tỏa chiếm khoảng 67,1% các trường hợp, phản ánh tỉ lệ cao trong các mẫu bệnh phẩm Dạng từng cụm và rời rạc có tỷ lệ thấp gần bằng nhau, lần lượt là 7,2% và 5,7%, thể hiện sự đa dạng trong phân bố của tế bào ung thư Độ đậm của tế bào u tương đương mô chứng chiếm gần 43%, tiếp theo là đậm hơn mô chứng với 21,4% và nhạt hơn mô chứng chiếm 15,7%, góp phần vào việc xác định đặc điểm sinh học của khối u.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 7,1% (5/70) trường hợp âm tính với Synaptophysin, trong khi phần lớn các trường hợp khác (92,9%) cho kết quả dương tính với marker này Đặc biệt, hơn 78,6% các ca dương tính có mức độ bắt màu > 75%, cho thấy sự phản ứng mạnh mẽ của các tế bào nguồn gốc Các mức độ bắt màu còn lại chiếm tỷ lệ thấp và giảm dần, thể hiện sự phân bổ đều đặn theo biểu đồ 3.4A, nhấn mạnh tầm quan trọng của Synaptophysin trong xác định nguồn gốc tế bào của các tổn thương.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không ghi nhận sự phân bố dạng tế bào bắt màu rời rạc với Synaptophysin, khi đa số các trường hợp dương tính có dạng lan tỏa chiếm tỷ lệ lên tới 91,5% Chỉ có một số trường hợp hiếm, với dạng từng cụm, chiếm 1,4% (Biểu đồ 3.4B) Đối với độ đậm của tế bào u, đậm độ tương đương mô chứng chiếm tỷ lệ cao nhất đạt 54,3%, tiếp theo là đậm hơn mô chứng với 24,3% và nhạt hơn mô chứng với 14,3% (Biểu đồ 3.4C).

Gần 1/3 các trường hợp (30,9%) bị âm tính với CD56, trong khi đó 69,1% bệnh nhân cho kết quả dương tính với dấu ấn này theo định nghĩa xác định nguồn gốc tế bào Tỷ lệ tế bào u dương tính trên 75% chiếm cao nhất (44,1%) và tỷ lệ này giảm dần theo từng mức độ bắt màu, thể hiện rõ qua Biểu đồ 3.4A.

Nghiên cứu cho thấy, tương tự như Synaptophysin, không ghi nhận dạng TB bắt màu rời rạc với CD56 Trong các trường hợp dương tính, phần lớn là dạng lan tỏa chiếm 67,6%, trong khi chỉ có 1,5% là dạng từng cụm TB Độ đậm của TB u tương đương hoặc đậm hơn mô chứng, lần lượt chiếm tỉ lệ 29,4% và 25,0%, còn độ nhạt hơn mô chứng chiếm tỉ lệ thấp hơn là 14,7%.

3.3.4 Đặc điểm biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch

Trong các dấu ấn khảo sát, không có dấu ấn nào cho kết quả dương tính tuyệt đối 100% ở tất cả các trường hợp Ngoài ra, hiện tượng dương tính lan tỏa trên 75% tế bào u với đậm độ tương đương mô chứng là dạng biểu hiện phổ biến nhất, góp phần quan trọng vào chẩn đoán và đánh giá mức độ bệnh.

Bảng 3.11 So sánh đặc điểm biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch Đặc điểm Chromogranin A Synaptophysin CD56

Tỉ lệ tế bào dương tính > 75% (%) 47,2 78,6 44,1

Trong nghiên cứu của chúng tôi, Synaptophysin có tỷ lệ dương tính cao nhất đạt 92,9%, xác định đây là marker có khả năng phát hiện mạnh mẽ Tiếp đến là Chromogranin A với tỷ lệ dương tính 80%, góp phần quan trọng trong chẩn đoán Trong khi đó, CD56 có tỷ lệ dương tính thấp hơn là 69,1%, thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các marker trong việc xác định bệnh Các yếu tố về tỷ lệ dương tính lan tỏa đạt 67,1% đến 91,5%, cùng với đậm độ tương đương hoặc đậm hơn chứng từ 42,9% đến 54,3% phù hợp với đặc điểm đề cập đến trong nghiên cứu.

Synaptophysin đạt tỷ lệ dương tính cao nhất với hơn 75% (78,6%) và tỷ lệ dương tính lan tỏa lên đến 91,5%, vượt trội so với Chromogranin A (47,2% dương tính > 75% và 67,1% dương tính lan tỏa) và CD56 (44,1% dương tính > 75% và 67,6% dương tính lan tỏa) Trong các dấu ấn này, CD56 là dấu ấn có tỷ lệ dương tính thấp nhất Tại phổi, cả ba dấu ấn đều biểu hiện với tỷ lệ cao và tương tự nhau, từ 75,7% đến 87,8%, trong khi đó, hầu hết các u thần kinh nội tiết ở ống tiêu hóa và tụy đều biểu hiện synaptophysin với tỷ lệ lên đến 97,4%, nhưng chromogranin A và CD56 lại có tỷ lệ thấp hơn rõ rệt, lần lượt là 65,0% và 59,6%.

Bảng 3.12 Tỉ lệ biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch ở từng cơ quan

Vị trí u Chromogranin A Synaptophysin CD56

Phổi 81,8 87,8 75,7 Ống tiêu hóa và tụy 65,0 97,4 59,6

3.3.5 Đồng biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch

Biểu đồ 3.5 Đồng biểu hiện của các dấu ấn miễn dịch trong mẫu nghiên cứu (A), ở phổi (B), ở ống tiêu hóa và tụy (C)

Trong nghiên cứu, đồng biểu hiện của cả ba dấu ấn chiếm gần 48,6% các trường hợp, cho thấy sự phổ biến của đặc điểm này trong mẫu bệnh Đồng thời, tỷ lệ đồng biểu hiện của hai dấu ấn là 38,6%, phản ánh vai trò quan trọng của các dấu ấn này trong chẩn đoán Biểu hiện đơn độc của synaptophysin chiếm 11,4%, chromogranin A không ghi nhận trường hợp nào (0%) và CD56 chiếm 1,4%, cho thấy mức độ đa dạng trong hoạt động sinh học của các dấu ấn này trong bệnh lý đã nghiên cứu.

(1 trường hợp) (Biểu đồ 3.5, Phụ lục 2 - Bảng PL 2.2).

U TKNT ở phổi thường biểu hiện đồng biểu hiện hai hoặc ba dấu ấn, chiếm đa số các trường hợp (tương ứng 51,5% và 42,4%), trong khi chỉ có một trường hợp biểu hiện đơn độc synaptophysin và một trường hợp biểu hiện đơn độc CD56 Tại ống tiêu hóa và tụy, đồng biểu hiện hai hoặc ba dấu ấn chiếm khoảng 43,4% và 35,1% các trường hợp, còn lại chủ yếu biểu hiện đơn độc synaptophysin với tỷ lệ 21,5%.

Hình ảnh minh họa cho các đặc điểm mô bệnh học và kiểu hình miễn dịch của u TKNT đƣợc trình bày trong Phụ lục 3.

Phân độ mô học và các mối liên quan

Độ mô học của u TKNT được đánh giá dựa trên chỉ số tăng trưởng, bao gồm chỉ số phân bào và/hoặc chỉ số Ki-67, cùng với tình trạng hoại tử của khối u Các yếu tố này giúp xác định mức độ biệt hóa và tính ác tính của khối u, từ đó hỗ trợ quá trình chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chính xác hơn Thông qua các tiêu chí này, các chuyên gia có thể phân loại u TKNT theo các mức độ khác nhau, phục vụ cho việc dự báo tiên lượng và quản lý bệnh tối ưu.

Bảng 3.13 Yếu tố liên quan phân độ

Yếu tố Số TH Tỉ lệ (%) Tổng số

Không Khu trú Vùng lớn/bản đồ

Nghiên cứu chúng tôi đánh giá được chỉ số phân bào trong 63/70 trường hợp,

Trong số các trường hợp, có 7 trường hợp không thể đánh giá do không đủ số lượng quang trường quan sát, khiến việc phân tích trở nên không chính xác Bên cạnh đó, còn có 1 trường hợp không thể đánh giá chỉ số Ki-67 do mẫu bị trôi mất trong quá trình nhuộm HMMD, và kích thước mẫu còn lại quá nhỏ để thực hiện lại phép nhuộm Những hạn chế này ảnh hưởng đến độ chính xác của quá trình chẩn đoán và đánh giá mô học trong nghiên cứu y học.

Trong 63 trường hợp thỏa điều kiện đánh giá, chỉ số phân bào dao động từ 0-

Trong nghiên cứu, trung bình có 110 phân bào trên 10 quang trường lớn, với trung vị là 6, biểu thị sự phân phối dữ liệu qua các bách phân vị thứ 25, 50 (trung vị) và 75 lần lượt là 0, 6 và 24 Các mức độ phân biệt được phân thành ba nhóm: thấp, trung bình và cao, dựa trên phân tích độ mô học của u TKNT ở phổi, ống tiêu hóa và tụy theo Bảng 1.7 và Bảng 3.13, giúp đánh giá chính xác mức độ tiến triển của bệnh lý Việc phân nhóm này đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị phù hợp cho bệnh nhân. -**Sponsor**Bạn đang là một người sáng tạo nội dung và muốn tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/NhMhZQgj), bạn có thể nhận được những bài viết 2.000 từ được tối ưu hóa SEO ngay lập tức! Tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết, nó giống như có một đội ngũ sáng tạo nội dung của riêng bạn—mà không gặp rắc rối! Ví dụ, từ đoạn văn "110 phân bào/10 quang trường lớn ", chúng tôi có thể giúp bạn diễn giải lại một cách mạch lạc và tuân thủ các quy tắc SEO.

Trong 69 trường hợp thỏa điều kiện đánh giá, chỉ số Ki-67 dao động từ 0% đến 99,8%, có trung vị là 3,9 (bách phân vị thứ 25, 50 và 75 lần lƣợt là 1,3; 3,9 và 25,7).

Nghiên cứu ghi nhận tình trạng hoại tử xuất hiện trong 50% các trường hợp, với dạng hoại tử lan rộng hoặc bản đồ chiếm tỷ lệ cao hơn (31,4%) so với dạng hoại tử khu trú chỉ chiếm 18,6%.

Dựa trên kết hợp các yếu tố chỉ số phân bào, chỉ số Ki-67 và mức độ hoại tử, chúng tôi đã phân độ mô học cho 64/70 trường hợp u TKNT ở phổi, ống tiêu hoá và tụy theo Bảng 1.7 và Sơ đồ 1.1 Trong số đó, độ mô học độ 3 chiếm tỷ lệ cao nhất là 43,8%, trong khi độ 1 và độ 2 đều chiếm khoảng 28,1%.

3.4.2 Mối liên quan giữa một số đặc điểm dịch tễ học và độ mô học

3.4.2.1 Mối liên quan giữa vị trí u và độ mô học

Nghiên cứu cho thấy đa số các trường hợp u TKTN độ 1 xuất hiện ở ống tiêu hóa (77,8%), tiếp đến là u tụy (22,2%), trong khi không ghi nhận trường hợp u ở phổi Trong các trường hợp u TKTN độ 2 và độ 3, u phổi chiếm hơn một nửa (50,0% và 64,3%), còn u ở ống tiêu hóa chiếm khoảng một phần ba các trường hợp Tuy nhiên, không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa vị trí u và độ mô học, theo kiểm định χ² với mức tin cậy 95%.

Biểu đồ 3.6 Mối liên quan giữa vị trí u và độ mô học

3.4.2.2 Mối liên quan giữa tuổi, giới tính và độ mô học

Các bệnh nhân tuổi ≤ 70 thường gặp đa số dạng mô học độ 1 và độ 2, trong khi độ 3 phổ biến hơn ở nhóm tuổi từ 41 đến 80 Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và độ mô học (kiểm định ANOVA-1 chiều, p < 0,004; độ tin cậy 95%) Tuổi của các trường hợp độ mô học độ 3 cao hơn đáng kể so với độ 1 và độ 2, thể hiện rằng bệnh nhân cao tuổi có xu hướng mắc độ mô học nặng hơn Do đó, chúng tôi tập trung phân tích mối liên quan giữa độ mô học và nhóm tuổi ≤ 60 và > 60 để làm rõ sự khác biệt này.

Nghiên cứu cho thấy tuổi trung vị là 60, với mối liên quan có ý nghĩa thống kê về đặc điểm mô học giữa hai nhóm bệnh nhân (kiểm định χ², độ tin cậy 95%, p = 0,048) Đặc biệt, mô học độ 3 chiếm tỷ lệ gấp ba lần trong nhóm trên 60 tuổi, thể hiện sự ưu thế rõ rệt của độ mô học này ở nhóm tuổi cao hơn Các kết quả này được trình bày trong Biểu đồ 3.7 và cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa độ tuổi và mức độ mô học của bệnh nhân.

Biểu đồ 3.7 Mối liên quan giữa tuổi và độ mô học

Nghiên cứu cho thấy giới nữ không có sự chênh lệch đáng kể về mặt mô học ở cả ba độ, trong khi đó, mô học độ 3 cao gấp khoảng hai lần so với độ 1 và 2 ở nam giới Tuy nhiên, không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa độ mô học và giới tính, với kiểm định χ² đạt độ tin cậy 95%, nhưng p-value không tính được do không thỏa mãn giả định của kiểm định.

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa giới tính và độ mô học Đặc điểm Độ mô học

Giá trị p Độ 1 Độ 2 Độ 3

Các đặc điểm dịch tễ học như tuổi, giới tính và vị trí u không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến các đặc điểm mô bệnh học, như được trình bày trong phần Kiểm định χ² với độ tin cậy 95% được sử dụng để xác định tính liên quan, và kết quả cho thấy không thỏa giả định của kiểm định (-/-).

Phụ lục 2 - Bảng PL 2.5, Bảng PL 2.6, Bảng PL 2.7)

3.4.3 Mối liên quan giữa đặc điểm mô bệnh học và độ mô học Đặc điểm mô bệnh học giữa u TKNT và carcinôm TKNT có nhiều điểm khác biệt, vì vậy chúng tôi phân tích mối liên quan giữa độ mô học và đặc điểm mô bệnh học như dạng cấu trúc, tính đơn dạng và tỉ lệ nhân trên bào tương, dạng chất nhiễm sắc và tính chất hạt nhân.

Ghi chú: (*): Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Biểu đồ 3.8 Mối liên quan giữa đặc điểm mô bệnh học và độ mô học

Mối liên quan giữa độ mô học và các đặc điểm dạng cấu trúc, tính đơn dạng, cùng tỷ lệ nhân trên bào tương có ý nghĩa thống kê rõ ràng Kết quả kiểm định χ² với độ tin cậy 95% cho thấy các yếu tố này có mối liên hệ chặt chẽ, góp phần cung cấp những thông tin quan trọng trong đánh giá mô học và khả năng chẩn đoán chính xác.

Trong nghiên cứu, cấu trúc dạng loại 4 chủ yếu là độ 3 chiếm tỷ lệ 92,6%, trong khi các loại khác chủ yếu thuộc độ 1 và 2 với tỷ lệ lần lượt là 53,1% và 40,6% Về tính đơn dạng, các trường hợp có tính đơn dạng chủ yếu là loại 1 và 2, trong khi hơn 2/3 trường hợp không đơn dạng thuộc loại 3 Tỷ lệ nhân trên bào tương cũng cho thấy hơn 1/3 trường hợp có tỷ lệ thấp thuộc loại 1, trong khi hơn 2/3 trường hợp có tỷ lệ cao thuộc loại 3, phản ánh đặc điểm phân loại dựa trên cấu trúc và các đặc điểm vi mô của mẫu. -**Sponsor**Bạn là một người viết nội dung và đang tìm kiếm sự hỗ trợ để cải thiện bài viết của mình cho phù hợp với SEO? Với [editorr](https://pollinations.ai/redirect-nexad/hGTSIMsP), bạn có thể dễ dàng nhận được sự hỗ trợ chỉnh sửa và biên tập chuyên nghiệp để làm cho đoạn văn mạch lạc hơn Chúng tôi cung cấp các câu quan trọng chứa đựng ý nghĩa của một đoạn văn mạch lạc, đồng thời tuân thủ các quy tắc SEO Hãy để Editorr giúp bạn biến bài viết trở nên hoàn hảo và thu hút hơn.

Mối liên quan giữa tính chất hạt nhân và độ mô học có ý nghĩa về mặt thống kê, dựa trên kiểm định χ² với độ tin cậy 95% và p = 0,050, như thể hiện trong Biểu đồ 3.8 và Bảng PL 2.8 trong Phụ lục 2 Tuy nhiên, hạt nhân rõ thường gặp ở độ 3 Trong khi đó, mối liên quan giữa dạng chất nhiễm sắc và độ mô học không có ý nghĩa thống kê, do p không tính được vì không thỏa mãn giả định của kiểm định χ². -**Sponsor**Bạn đang tìm kiếm công cụ để cải thiện bài viết của mình? [editorr](https://pollinations.ai/redirect-nexad/9ShKCc6o) là nền tảng chỉnh sửa và biên tập hàng đầu, giúp bạn nâng cao chất lượng bài viết một cách chuyên nghiệp Editorr cung cấp dịch vụ hiệu đính và chỉnh sửa theo yêu cầu, đảm bảo bài viết của bạn rõ ràng, đúng ngữ pháp và hấp dẫn hơn Hãy để Editorr giúp bạn biến bài viết của mình thành một tác phẩm hoàn hảo, tuân thủ các quy tắc SEO và thu hút độc giả.

Mô học độ 3 ƣu thế trong nhóm cấu trúc kém biệt hóa (92,6%), không đơn dạng (67,6%), tỉ lệ nhân trên bào tương cao (66,7%) và hạt nhân rõ (65%).

3.4.4 Mối liên quan giữa xâm nhập mạch, thần kinh và độ mô học

Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa độ mô học và hiện tượng xâm nhập mạch, thần kinh (kiểm định χ², độ tin cậy 95%, p không tính được do không thỏa mãn giả định) Tuy nhiên, trong nhóm có xâm nhập mạch, thần kinh, độ mô học cao hơn liên quan đến tỷ lệ xâm nhập lớn hơn; đặc biệt, độ mô học độ 3 chiếm 75,0% các trường hợp xâm nhập mạch và 64,3% các trường hợp xâm nhập thần kinh Chính vì vậy, chúng tôi tập trung phân tích hiện tượng xâm nhập mạch và thần kinh ở hai nhóm biệt hóa rõ (mô học độ 1 và 2) và biệt hóa kém (mô học độ 3).

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa xâm nhập mạch, thần kinh và độ mô học Đặc điểm Độ mô học

Giá trị p Độ 1 Độ 2 Độ 3

Ghi chú: (*): Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Một số đặc điểm riêng của u TKNT ở từng cơ quan

Các đặc điểm chung nhƣ tuổi, giới, mô bệnh học và kiểu hình miễn dịch đã đƣợc phân tích trong các phần 3.1 đến 3.4 Một số đặc điểm riêng của từng cơ quan sẽ đƣợc phân tích trong phần này, bao gồm mô tả cụ thể vị trí của u trong phổi, ống tiêu hóa và tụy.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã khảo sát vai trò của chỉ số Ki-67 trong phân độ mô học của 33 khối u phổi, giúp đánh giá mức độ biệt hóa của tế bào ung thư Ngoài ra, nghiên cứu còn phân tích mối liên hệ giữa kiểu hình miễn dịch của u trải dài tại trực tràng và các vị trí khác, làm sáng tỏ đặc điểm sinh học của các khối u này Chúng tôi cũng so sánh độ tương đồng giữa phân độ mô học dựa trên chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67 trong 30 khối u tiêu hóa và 7 khối u tụy, góp phần nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và định hướng điều trị.

Trong 33 trường hợp u TKNT ở phổi, chúng tôi ghi nhận 12 trường hợp u ở phổi trái, 20 trường hợp u ở phổi phải và 1 trường hợp u ở màng phổi 2 bên Trong đó, u TKNT ở thùy trên là thường gặp nhất (8/12 trường hợp ở phổi trái và 8/20 trường hợp ở phổi phải), tiếp đến là thùy dưới (2/12 trường hợp ở phổi trái và 5/20 trường hợp ở phổi phải).

3.5.1.2 Vai trò của Ki-67 trong phân độ mô học

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 7 trường hợp không đủ số quang trường để khảo sát chỉ số phân bào do hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc trên 75% mô u Chủ yếu, các trường hợp này có chỉ số Ki-67 dưới 25%, phản ánh hoạt động phân bào thấp, trừ một trường hợp duy nhất có chỉ số Ki-67 đạt 92%, được xếp vào nhóm carcinôm TKNT (tế bào thần kinh trung tâm) dựa trên mức độ cao của sự tăng sinh tế bào.

3.5.2 U TKNT ở ống tiêu hóa và tụy

3.5.2.1 Phân bố u TKNT ở ống tiêu hóa và tụy

Trong 30 trường hợp u TKNT ở ống tiêu hóa, chúng tôi ghi nhận được các vị trí sau: 2 trường hợp u ở 1/3 dưới thực quản, 8 trường hợp u ở dạ dày (trong đó 6 trường hợp ở thân vị và 2 trường hợp ở hang-môn vị), 1 trường hợp u ở tá tràng, 1 trường hợp u ở đại tràng sigma và 18 trường hợp u ở trực tràng (ưu thế nhất, chiếm 60,0%).Trong 7 trường hợp u TKNT ở tụy, 3 trường hợp u ở đầu tụy, 3 trường hợp u ở thân tụy, 1 trường hợp u ở nhiều vị trí trên thân và đuôi tụy.

3.5.2.2 Mối liên quan giữa chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67 ở ống tiêu hóa và tụy

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67 ở ống tiêu hóa và tụy Đặc điểm

Ghi chú: (*): Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67, khi kiểm định χ2 cho thấy độ tin cậy 95% Ngoài ra, vẫn có những trường hợp không tương đồng giữa hai chỉ số, như nhóm chỉ số phân bào thấp có 4 trường hợp Ki-67 trung bình (gồm 1 ở ống tiêu hóa và 3 ở tụy), và nhóm chỉ số phân bào trung bình có 3 trường hợp Ki-67 thấp và 3 cao, đều ở ống tiêu hóa (Bảng 3.16).

3.5.2.3 Mối liên quan giữa u TKNT ở trực tràng và các dấu ấn TKNT

Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa u trực tràng và tình trạng dương tính với chromogranin A (p = 0,032, kiểm định χ², 95% tin cậy) Trong đó, chỉ có 50% các u ở trực tràng dương tính với chromogranin A, trong khi số trường hợp u ngoài trực tràng dương tính gần gấp bốn lần so với số âm, thể hiện sự khác biệt rõ rệt trong tỷ lệ dương tính với chromogranin A giữa các vị trí u (Biểu đồ 3.11, Phụ lục 2 – Bảng PL 2.14).

Mối liên hệ giữa u ở trực tràng và tình trạng dương tính với synaptophysin không đạt ý nghĩa thống kê, với p-value không thể xác định do không thỏa mãn giả định của kiểm định χ² Tương tự, không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa u trực tràng và dương tính với CD56, với p = 0,790 (Biểu đồ 3.11, Phụ lục 2 – Bảng PL 2.14).

Ghi chú: (*): Kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95% “-/-”: không thỏa giả định của kiểm định

Biểu đồ 3.11 Mối liên quan giữa u TKNT trực tràng và các dấu ấn miễn dịch

BÀN LUẬN

Một số đặc điểm dịch tễ học của mẫu nghiên cứu và mối liên quan từng cặp

Vị trí u và tuổi mắc bệnh có nhiều điểm tương đồng với các nghiên cứu ở nhiều vùng địa lý khác nhau, cho thấy tính phổ biến của các yếu tố này trong quá trìnhchẩn đoán Phân bố giới tính của các ca bệnh cho thấy sự khác biệt so với các nghiên cứu trước đó, điều này có thể do tác động của nhiều nguyên nhân như chủng tộc, vị trí khối u và loại mô học liên quan Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ đặc điểm dịch tễ học và hướng tiếp cận điều trị phù hợp.

Vị trí u có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tuổi và giới tính, đặc biệt là u ở phổi thường gặp ở nam giới lớn tuổi Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa giữa giới tính và tuổi đối với các vị trí u khác.

Nghiên cứu chọn những trường hợp u TKNT ở ba cơ quan là phổi, ống tiêu hóa và tụy vì các cơ quan này có vị trí xuất độ u TKNT cao nhất theo nhiều nghiên cứu [19], [23], [87], [91], đặc biệt tại nơi thực hiện nghiên cứu (Bộ Môn Giải Phẫu Bệnh, Đại học Y Dược TP.HCM) với tỷ lệ lần lượt là phổi 36%, ống tiêu hóa 41,6% và tụy 9% Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại u TKNT đã được cập nhật bởi nhiều tổ chức uy tín như Hiệp hội u TKNT châu Âu [65], Hiệp hội u TKNT Bắc Mỹ [36], Cơ quan Nghiên cứu Ung thư quốc tế (IARC) [29] và được trình bày trong các ấn phẩm mới nhất về Phân loại u TKNT của Tổ chức Y tế Thế giới [10], [48], [85], đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong xác định bệnh.

Trong các cơ quan khảo sát, u TKNT ở ống tiêu hóa và phổi chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 42,9% và 47,1%, trong khi đó u TKNT tại tụy chỉ chiếm khoảng 10% Những số liệu này phù hợp với các nghiên cứu trước đó tại nhiều khu vực địa lý khác nhau, cho thấy đặc điểm phân bố của u TKNT trong các bộ phận này có tính thống nhất.

Bảng 4.1 So sánh xuất độ vị trí u TKNT với các nghiên cứu khác

Tác giả Năm Nơi nghiên cứu

Số trường hợp Ống tiêu hóa (%)

Nghiên cứu này 2018 TP.HCM 70 42,9 10,0 47,1 Tsai và cs [87] 2013 Đài Loan 2.187 48,0 6,0 20,0 Yao và cs.[91] 2008 Mỹ 35.618 50,6 6,4 27,0 Hauso và cs.[23] 2008 Na Uy 2.030 50,9 7,1 21,6

Dù chỉ khảo sát 70 trường hợp, phân bố tuổi theo thập niên trong nghiên cứu có dạng gần giống phân phối chuẩn, với tuổi trung vị 60 và tuổi trung bình là 58 ± 15, cho thấy mẫu khảo sát có thể đại diện cho quần thể nghiên cứu Độ tuổi mắc bệnh trong nghiên cứu rộng từ 27 đến 91 tuổi, trong đó 70% bệnh nhân ≥ 51 tuổi, phản ánh xu hướng tuổi mắc bệnh phổ biến ở nhóm trung niên và cao tuổi.

Nghiên cứu cho thấy bệnh thường được chẩn đoán ở độ tuổi trên 50, với khoảng 70% bệnh nhân có tuổi từ 50 trở lên Xuất độ mắc bệnh cao rõ rệt trong nhóm 41-80 tuổi (84,3%), phù hợp với các ghi nhận của Yao và cộng sự Gần ẵ bệnh nhân trong nghiên cứu là người cao tuổi trên 60, và tuổi trên 60 được coi là yếu tố lâm sàng tiên lượng không thuận lợi có ý nghĩa, vì bệnh nhân lớn tuổi thường có thời gian sống còn ngắn hơn.

Mặc dù có một số khác biệt nhỏ trong các nghiên cứu, nhìn chung u TKNT có xuất độ tương đương ở cả hai giới, nhưng nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận xuất độ cao hơn ở nam giới với tỷ lệ nam:nữ là 3,4:1 Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể liên quan đến yếu tố chủng tộc, loại mô học và đặc điểm dân số nghiên cứu Các nghiên cứu từ châu Á cũng ghi nhận tỷ lệ cao hơn ở nam giới so với các nghiên cứu tại châu Âu và Mỹ Về loại mô học, nhiều nghiên cứu loại trừ carcinôm TKNT ở phổi khỏi mẫu nghiên cứu, trong đó tỷ lệ nam:nữ của loại này là 1,7:1 Trong khi đó, các nghiên cứu khảo sát lớn hơn trên nhiều dân số và vị trí khác nhau, còn nghiên cứu của chúng tôi chỉ phân tích 70 trường hợp u TKNT ở ba cơ quan thường gặp nhất.

Bảng 4.2 So sánh xuất độ u TKNT theo giới tính với các nghiên cứu khác

Tác giả Năm Nơi nghiên cứu Số trường hợp Nam (%) Nữ (%) Tỉ lệ

Nghiên cứu năm 2018 tại TP.HCM với 70 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ nam giới chiếm 77,1% và nữ giới 22,9%, với tỷ lệ nam/nữ là 3,4:1, cho thấy giới tính là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh Các nghiên cứu quốc tế như của Soga và cộng sự (2005) tại Nhật Bản với 1.914 trường hợp, Tsai và đồng nghiệp (2013) ở Đài Loan với 2.187 bệnh nhân, Hauso và cộng sự (2008) tại Na Uy với 2.030 người, cũng đều ghi nhận rằng nam giới có tỷ lệ di căn tại thời điểm chẩn đoán cao hơn nữ giới Đặc biệt, theo Yao và cộng sự (2008) tại Mỹ với 35.618 ca, nam giới có khả năng sống sót kém hơn nữ giới bất chấp các giai đoạn bệnh, cho thấy giới tính nam là yếu tố dự báo đáng chú ý trong tiên lượng bệnh.

4.1.4 Mối liên quan giữa các đặc điểm dịch tễ học

4.1.4.1 Mối liên quan giữa vị trí u TKNT và tuổi

Nghiên cứu cho thấy xuất độ u thần kinh nội tiết (TKNT) ở ống tiêu hóa và tụy giảm dần theo tuổi, trong khi ở phổi lại tăng dần theo tuổi Mối liên hệ giữa tuổi và vị trí u có ý nghĩa thống kê (kiểm định Anova-1 chiều, p < 0,001; độ tin cậy 95%), tương tự như các kết quả của nghiên cứu của Yao và cộng sự Trung bình, tuổi của các trường hợp u phổi là 64,7 tuổi, cao hơn rõ rệt so với u ở ống tiêu hóa (54,3 tuổi) và tụy (43,7 tuổi), phù hợp với ghi nhận về sự khác biệt mức độ tuổi trung bình giữa các cơ quan, trong đó u phổi phổ biến ở độ tuổi 60-70, u ống tiêu hóa ở 50-70, và u tụy ở 30-60 tuổi.

4.1.4.2 Mối liên quan giữa vị trí u TKNT và giới tính

Nghiên cứu cho thấy u TKNT tại phổi và ống tiêu hóa có tỷ lệ nam giới cao gấp đôi so với nữ giới, trong khi u TKNT ở tụy lại phổ biến hơn ở nữ giới Tỷ lệ nam/nữ theo vị trí u lần lượt là > 2, 1-2, và < 1, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về giới tính trong phân bố các loại u này Ngoài ra, mối liên hệ giữa vị trí u TKNT và giới tính có ý nghĩa thống kê với p < 0,001, phù hợp với các kết quả nghiên cứu trước đó.

4.1.4.3 Mối liên quan giữa tuổi và giới tính

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đa số bệnh nhân nữ dưới 70 tuổi, trong khi bệnh nhân nam thường trên 40 tuổi Tuy nhiên, xuất độ bệnh cao nhất ở cả hai giới đều trong nhóm tuổi 41-70 Chúng tôi nhận thấy không có mối liên quan rõ ràng về mặt thống kê giữa tuổi và giới tính (kiểm định Anova-1 chiều, p = 0,911; độ tin cậy 95%), và độ tuổi của nam giới không khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nữ giới.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, việc lựa chọn mẫu phẫu thuật để khảo sát được đặt lên hàng đầu khi có cả mẫu sinh thiết và mẫu phẫu thuật, nhằm đảm bảo độ chính xác cao trong phân tích Tuy nhiên, tỷ lệ mẫu phẫu thuật chỉ chiếm 37,1% (26/70 trường hợp), trong khi đó phần lớn các mẫu là mẫu sinh thiết với tỷ lệ 62,9%, ảnh hưởng đến phạm vi và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

Mẫu bệnh phẩm sinh thiết có nhiều hạn chế trong chẩn đoán và phân độ mô học do thất bại trong lấy mẫu do u ở sâu và khả năng xảy ra ảnh giả cao gây khó khăn cho chẩn đoán Cụ thể, việc lấy mẫu không thành công vì u nằm sâu làm giảm độ chính xác của kết quả, trong khi hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc có thể gây ra ảnh giả, khiến việc phân tích trở nên khó khăn hơn.

Chẩn đoán và phân loại mô học dựa trên mẫu sinh thiết ban đầu đóng vai trò quyết định trong quá trình điều trị, đặc biệt với các khối u phổi, bởi hơn hai phần ba các trường hợp u ác tính không thể phẫu thuật và chỉ có thể chẩn đoán qua mẫu sinh thiết nhỏ hoặc phết tế bào Tuy nhiên, việc đánh giá biệt hóa hướng thần kinh nội tiết gặp nhiều khó khăn vì biểu hiện qua các dấu ấn miễn dịch có thể không rõ ràng trên mẫu sinh thiết nhỏ, kích thước u không đủ để thực hiện xét nghiệm phân biệt chính xác, hoặc mẫu sinh thiết không chứa thành phần thần kinh nội tiết trong trường hợp u hỗn hợp Thêm vào đó, những hạn chế về mặt số lượng quang trường đánh giá chỉ số phân bào hoặc tính không đồng nhất của khối u có thể dẫn đến đánh giá không chính xác về độ mô học Ngoài ra, y văn còn ghi nhận nhiều trường hợp u carcinoid đường hô hấp dưới, gồm cả loại điển hình và không điển hình, bị chẩn đoán nhầm thành carcinôm tế bào nhỏ do các giới hạn trong mẫu sinh thiết.

[28], [64], [76], nhất là khi có hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc lan rộng [5].

Chúng tôi vẫn tiến hành thu thập mẫu sinh thiết để phục vụ nghiên cứu, bất chấp các lý do hạn chế Đường kính lớn nhất của u trên mẫu sinh thiết dao động từ 1 mm đến 5 mm, trong đó đa số u có đường kính > 1 mm, đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán và phân loại Tuy nhiên, có 7 trường hợp xuất hiện hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc chiếm gần hết mô u, làm ảnh hưởng đến quá trình đánh giá.

Đặc điểm mô bệnh học của mẫu nghiên cứu và các mối liên quan

Đặc điểm mô bệnh học đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán u thần kinh ngoại biên, với các dạng cấu trúc điển hình như ổ đặc, dạng bè hoặc dạng tuyến Các đặc điểm tế bào như dạng đơn, bào tương dạng hạt ưu eosin và chất nhiễm sắc dạng muối tiêu giúp xác định loại u Ngoài ra, hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nhận diện và phân loại u thần kinh ngoại biên.

 Hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc thường gặp trên bệnh phẩm sinh thiết và chủ yếu trong carcinôm TKNT loại TB nhỏ.

Đặc điểm biệt hóa hướng tế bào thần kinh nội tiết của u được xác định gián tiếp thông qua việc dương tính với các dấu ấn thần kinh nội tiết Hầu hết các trường hợp dương tính đều bắt màu mạnh và lan tỏa, nhưng không có tất cả các mẫu đều cho kết quả dương tính với tất cả các dấu ấn khảo sát Trong đó, synaptophysin là dấu ấn nhạy cảm nhất để xác định đặc điểm này, tiếp theo là chromogranin A Trong khi đó, CD56 không đóng vai trò đáng kể, đặc biệt trong các trường hợp kéo dài chất nhiễm sắc lan rộng.

4.2.1 Đặc điểm mô bệnh học

Các đặc điểm mô bệnh học của u thần kinh nội tiết (TKNT) bao gồm cấu trúc mô học, đặc điểm tế bào như tính đơn dạng, hình dạng tế bào và dạng bào tương, tỷ lệ nhân trên bào tương, hình ảnh nhân khớp, dạng chất nhiễm sắc, và tính chất hạt nhân Hình ảnh kéo dài chất nhiễm sắc cũng là đặc trưng quan trọng được chúng tôi lựa chọn dựa trên các nguồn y văn uy tín [10], [30], [48], [60], [61], [75] để đảm bảo độ chính xác và phù hợp trong nghiên cứu.

Trong bài viết này, các đặc điểm chính về dạng cấu trúc, tính đơn dạng, hình dạng tế bào, dạng bào tương và dạng chất nhiễm sắc được phân tích rõ ràng Những đặc điểm này phụ thuộc nhiều vào loại mô học, như dạng cấu trúc, tính đơn dạng, tỷ lệ nhân/bào tương, dạng chất nhiễm sắc và tính chất hạt nhân Thêm vào đó, các yếu tố này sẽ được phân tích chi tiết hơn trong phần 4.3.3.2 để làm rõ những ảnh hưởng của chúng đến đặc điểm hình thái của tế bào.

Tế bào u TKNT có thể dạng điển hình hoặc không điển hình, dựa trên các đặc điểm như tính đơn dạng, kích thước tế bào, lượng bào tương và nhân không điển hình (màng nhân, chất nhiễm sắc và tính chất hạt nhân) Những biến đổi không điển hình thường xuất hiện do quá trình thoái hóa ở vùng đặc của các khối u lớn, đặc biệt trong các loại u nội tiết Tuy nhiên, tế bào không điển hình không ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh, vì một số u TKNT biệt hóa rõ với nhân đa hình không tiến triển nhanh Do đó, nghiên cứu này không tập trung vào đặc điểm không điển hình của tế bào u TKNT để đảm bảo chính xác trong dự đoán và phân loại bệnh.

Các cấu trúc nhƣ dạng đảo, dạng bè, dạng tuyến,… khá điển hình cho u TKNT

[85] và ƣu thế ở một số vị trí, tuy nhiên không có mối liên quan đến tiên lƣợng [36],

[13] Dạng kém biệt hóa nhƣ mảng đặc, bè lớn với ranh giới không rõ, tế bào không điển hình ít đặc trưng hơn cho u TKNT, tuy nhiên đây là dấu hiệu hướng ác tính [60] và tiên lƣợng xấu [9].

Các dạng cấu trúc điển hình

U thần kinh trung ương (TKNT) có cấu trúc rất đa dạng, có thể kết hợp nhiều dạng khác nhau trong cùng một khối u Phân loại cấu trúc của u TKNT lần đầu tiên được đưa ra bởi Soga và cộng sự vào năm 1971, giúp định hướng chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn.

Nghiên cứu của chúng tôi phát hiện rằng các dạng cấu trúc điển hình của u TKNT xuất hiện trong 54,8% các trường hợp, trong đó u có cấu trúc hỗn hợp chiếm 20,3% Trong nhóm các u ưu thế một loại cấu trúc, loại 1 chiếm tỷ lệ cao nhất (23,7%), tiếp theo là loại 2 (8,5%) và thấp nhất là loại 3 (1,7%) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Soga và cộng sự, khi họ ghi nhận tỷ lệ các loại cấu trúc lần lượt là loại hỗn hợp (43,5%), loại 1 (22,3%), loại 2 (21,0%) và loại 3 (3,2%), cho thấy sự đa dạng về cấu trúc của u TKNT.

Một số dạng cấu trúc có ưu thế hơn ở một số vị trí nhất định, như đã đề cập trong các nghiên cứu [30], [60] Tuy nhiên, mối liên hệ này vẫn còn kém chặt chẽ và không đóng vai trò chính trong thực hành chẩn đoán giải phẫu bệnh, đòi hỏi các bác sĩ cần thận trọng khi dựa vào các đặc điểm này để đưa ra kết luận chẩn đoán chính xác.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, phân bố dạng cấu trúc theo vị trí không ghi nhận dạng cấu trúc ưu thế tại bất kỳ vị trí nào, tương tự như các nghiên cứu trước đây nhưng không nhiều Điều này cho thấy không có mối liên hệ rõ ràng giữa vị trí khối u và dạng cấu trúc của nó, phản ánh sự đa dạng trong đặc điểm của các dạng cấu trúc u trong quần thể nghiên cứu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số các dạng kém biệt hóa là carcinôm tuyến tụy nội tiết (TKNT), cho thấy mức độ biệt hóa thấp của khối u Tuy nhiên, nghiên cứu cũng ghi nhận ba trường hợp bệnh phẩm sinh thiết có hiện tượng tồn tại của loại ung thư khác, cho thấy tính đa dạng trong đặc điểm sinh học của các loại kém biệt hóa này.

Các trường hợp này đều thuộc nhóm u TKNT, trong đó đặc điểm mô học xác định mức độ ác tính và tiên lượng bệnh rõ ràng Cụ thể, trường hợp u ở phổi có đặc điểm mô học phù hợp carcinôm TB nhỏ, không hoại tử, chỉ số phân bào 3/10 quang trường lớn và chỉ số Ki-67 8,4%, được xếp loại u carcinoid không điển hình U dạ dày loại 4, tổn thương sâu, có chỉ số phân bào 6/10 và Ki-67 15,3%, được xếp vào nhóm u TKNT độ 2 Trong khi đó, u trực tràng loại 4 có xâm nhập thần kinh, hoại tử rộng, nhưng với chỉ số phân bào thấp 1/10 và Ki-67 1,5%, được phân loại độ 1 Những trường hợp này cho thấy, loại 4 có thể đi kèm dấu hiệu tiên lượng xấu như phân bào bất thường, xâm nhập thần kinh và hoại tử, dù mức tăng trưởng không cao Các tác giả Goldblum và Bettini nhấn mạnh rằng loại 4 là dấu hiệu cho hướng ác tính, dự báo tiên lượng xấu, liên quan đến tỷ lệ tử vong cao và giảm thời gian sống còn, do đó vẫn cần ghi nhận trong báo cáo giải phẫu bệnh để đánh giá chính xác tình trạng bệnh nhân.

4.2.1.2 Đặc điểm tế bào Đặc điểm tế bào và chất nhiễm sắc của UTKNT có độ nhạy và độ chuyên cao

[75], trong đó tế bào đơn dạng và chất nhiễm sắc dạng muối tiêu là đặc điểm đặc trƣng nhất của U TKNT [61], [75] Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận tế bào đơn dạng trong 46,3% trường hợp và chất nhiễm sắc dạng muối tiêu trong 55,2% trường hợp.

Tế bào u thần kinh trung ương thường có viền bào tương không rõ, hình tròn, bầu dục hoặc đa diện, không có sự khác biệt rõ ràng giữa vị trí xuất nguồn u và mức độ biệt hóa.

Tế bào hình thoi là một dạng tế bào khá đặc biệt chủ yếu được ghi nhận ở ngoại vi khối u, thường xuất hiện trong các loại u thần kinh nội tiết (TKNT) và carcinôm TKNT, đặc biệt là trong carcinôm tế bào nhỏ ở phổi và hệ tiêu hóa Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 3 trường hợp tế bào hình thoi ở phổi, trong đó có 2 trường hợp carcinoma tế bào nhỏ và 1 trường hợp carcinoma TKNT tế bào lớn Đa số các u TKNT có bào tương dạng hạt ưa eosin, tuy nhiên, một số dạng bào tương đặc biệt như phồng bào, bào tương sáng hoặc nhiều không bào chứa lipid cũng được ghi nhận, trong đó các dạng đặc biệt này thường không có đặc điểm nhân đặc trưng của u TKNT, dẫn đến nguy cơ bỏ sót chẩn đoán Cụ thể, nghiên cứu của chúng tôi phát hiện 3 trường hợp bào tương sáng, khác biệt so với dạng hạt ưa eosin thông thường, và cả 3 đều thiếu chất nhiễm sắc dạng muối tiêu đặc trưng của u TKNT, với một trường hợp chất nhiễm sắc dạng kết cụm trên carcinôm TKNT ở dạ dày và hai trường hợp chất nhiễm sắc dạng bọt tại hành tá tràng và tụy.

Hình ảnh nhân khớp là đặc tính rất đặc trƣng cho carcinôm TB nhỏ [75], [85]. Trong nghiên cứu hình ảnh nhân khớp chỉ hiện diện thường xuyên trong độ 3 – loại

TB nhỏ, phù hợp với ghi nhận của y văn.

4.2.2 Hiện tƣợng kéo dài chất nhiễm sắc

Tuy hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc thường gặp trong nhiều loại bệnh lý

Phân độ mô học và các mối liên quan

Hệ thống phân độ mô học hiện nay chủ yếu dựa vào chỉ số tăng trưởng của khối u, giúp đánh giá mức độ ác tính và tiên lượng bệnh Tuy nhiên, phân bố độ mô học khác biệt lớn giữa các nghiên cứu, phụ thuộc vào vị trí u được khảo sát, yếu tố chủng tộc, giai đoạn bệnh và chương trình chăm sóc sức khỏe của từng quốc gia Việc hiểu rõ các yếu tố này là quan trọng để cải thiện chính xác trong chẩn đoán và điều trị bệnh.

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa độ mô học tuổi, đặc điểm mô bệnh học và xâm nhập mạch trong ung thư Mô học độ 3 thường gặp ở nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi, đặc trưng bởi cấu trúc kém biệt hóa, không đồng nhất và tỷ lệ nhân trên bào tương cao Ngoài ra, các trường hợp này còn có hiện tượng xâm nhập mạch, làm tăng nguy cơ di căn và ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh.

Nghiên cứu không ghi nhận được mối liên quan giữa vị trí u, giới tính, xâm nhập thần kinh và kiểu hình miễn dịch với độ mô học của u thần kinh tế Tuy nhiên, xu hướng phân bố của các yếu tố này cho thấy nhiều nét tương đồng với các nghiên cứu trước đó, đặc biệt là trong các trường hợp u TKNT độ.

U độ 2 và độ 3 thường gặp ở bệnh nhân nam và u ở phổi, đặc biệt là trong các trường hợp xâm nhập thần kinh hoặc không dương tính lan tỏa với các dấu ấn TKNT thường gặp ở độ 3 Đối với u TKNT ở ống tiêu hóa và tụy, các yếu tố chính để phân độ mô học bao gồm chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67 Riêng ở phổi, việc phân độ mô học dựa vào chỉ số phân bào cùng với hiện tượng hoại tử, như thể hiện trong Bảng 1.2 và Bảng 1.7, giúp xác định mức độ xâm lấn và tính chất của khối u.

Chỉ số tăng trưởng đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán tiên lượng bệnh, được xác nhận qua nhiều nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các cơ quan như dạ dày, tá tràng, tụy, đại tràng và phổi Nhiều nghiên cứu nhận thấy rằng chỉ số tăng trưởng là yếu tố tiên lượng độc lập trong phân tích đa biến, dẫn đến việc hệ thống phân độ mô học chủ yếu dựa trên chỉ số này Chỉ số tăng trưởng thường được đánh giá thông qua chỉ số phân bào hoặc chỉ số Ki-67, giúp xác định mức độ phát triển của tế bào ung thư và hỗ trợ việc dự đoán diễn biến bệnh.

Chỉ số phân bào thể hiện sự khác biệt rõ ràng giữa các độ mô học của u TKNT tại các vị trí như phổi, ống tiêu hóa và tụy [85], [10], [48] Chỉ số Ki-67 cũng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa các độ mô học trong u TKNT tại ống tiêu hóa và tụy [62], trong khi đó, ở phổi, các nhóm u có xu hướng chồng lấp như u carcinoid điển hình ≤ 5%, u carcinoid không điển hình ≤ 20%, và carcinôm TKNT TB lớn 40-80%.

Phân độ mô học của u TKNT trong ống tiêu hóa và tụy dựa trên chỉ số phân bào và/hoặc chỉ số Ki-67 để đánh giá mức độ nghiêm trọng của khối u Trong khi đó, phân độ mô học của u TKNT ở phổi chỉ dựa vào chỉ số phân bào kết hợp với sự xuất hiện của hoại tử, giúp xác định mức độ xâm lấn và khả năng tiến triển của bệnh Các phương pháp này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tiên lượng và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

Chỉ số phân bào có các bách phân vị thứ 25, 50 và 75 lần lượt là 0, 6 và 24, trong khi đó, chỉ số Ki-67 có các bách phân vị tương ứng là 1,3; 3,9 và 25,7, đều nằm trong các ngưỡng phân độ mô học của u TKNT (Bảng 1.7) Những giá trị này phù hợp với phổ phân bố sinh học của u, gián tiếp cho thấy phương pháp đánh giá chỉ số tăng trưởng trong nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp theo hướng dẫn.

Nghiên cứu ghi nhận rằng tình trạng hoại tử xuất hiện trong 50% các trường hợp u TKNT, đặc biệt trong các trường hợp carcinôm TKNT U TKNT có kích thước nhỏ, độ thấp thường ít hoặc không có hoại tử, trong khi đó, hoại tử có thể rất khu trú hoặc lan rộng, đặc biệt trong carcinôm TKNT Đặc điểm hoại tử của u TKNT giúp giải thích tại sao dạng hoại tử khu trú chiếm tỷ lệ thấp hơn trong nghiên cứu của chúng tôi.

(18,6%) và dạng hoại tử lan rộng/bản đồ chiếm tỉ lệ cao hơn (31,4%) (2/3 trường hợp trong nghiên cứu là mẫu sinh thiết).

Vai trò của đặc điểm hoại tử trong phân loại và dự đoán u TKNT phụ thuộc vào cơ quan, giúp phân biệt u carcinoid điển hình và không điển hình ở phổi Mặc dù hiện diện hoại tử hỗ trợ phân loại, hoại tử trong u carcinoid không điển hình có thể rất khu trú, khiến mẫu sinh thiết không hoại tử vẫn không đủ để phân loại chính xác, đặc biệt khi bệnh phẩm bị bảo quản không tốt hoặc có hiện tượng kéo dài chất nhiễm sắc ảnh hưởng đến đặc điểm mô bệnh học Mức độ hoại tử không giúp phân biệt giữa u carcinoid không điển hình và carcinôm TKNT ở phổi, bởi u carcinoid không điển hình cũng có thể có hoại tử rộng Trong tiêu hóa, hoại tử trong u TKNT không có ý nghĩa tiên lượng và không được sử dụng để phân loại, do có thể là thứ phát do thiếu máu hoặc xơ hóa do hormon tiết từ u Tuy nhiên, trong u TKNT ở tụy, hoại tử được ghi nhận liên quan đến dự đoán ung thư, nhưng không được đưa vào bảng phân độ mô học.

Dựa theo ấn bản của Tổ chức y tế thế giới về Phân loại u ở hệ tiêu hóa [10], tụy

Phân loại u thần kinh nội tiết (u TKNT) dựa trên các yếu tố như chỉ số phân bào, chỉ số Ki-67 và mức độ hoại tử, nhằm đánh giá chính xác mức độ ác tính của tế bào (Bảng 1.7 và Sơ đồ 1.1) Các yếu tố này giúp xác định khả năng tiến triển của khối u và hướng điều trị phù hợp, đặc biệt trong các mẫu sinh thiết nhỏ từ phổi và các cơ quan khác Việc kết hợp dữ liệu về chỉ số phân bào, Ki-67 và hoại tử là phương pháp quan trọng để phân loại u TKNT một cách chính xác và hiệu quả.

Độ 3 chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,8%, trong khi độ 1 và độ 2 chiếm tỷ lệ tương đương nhau, mỗi loại khoảng 28,1% Tỷ lệ phân bố độ mô học khác biệt rõ rệt giữa các nghiên cứu, phụ thuộc vào vị trí của khối u, chủng tộc, giai đoạn bệnh, cũng như chương trình chăm sóc sức khỏe, góp phần ảnh hưởng đến kết quả chẩn đoán và điều trị.

Bảng 4.3 Phân bố độ mô học giữa các nghiên cứu

Tác giả Năm Nơi nghiên cứu

2018 TP.HCM 64 Phổi, ống tiêu hóa, tụy

2008 Đức 202 Dạ dày, tá tràng, tụy

Mô học có mối liên quan chặt chẽ với giai đoạn bệnh và tiên lượng sống của bệnh nhân, trong đó tỷ lệ di căn xa tại thời điểm chẩn đoán tương ứng với độ mô học 1, 2 và 3 lần lượt là 21%, 30% và 50% Ngoài ra, độ mô học càng cao thì thời gian sống còn càng ngắn, cho thấy vai trò quan trọng của mô học trong dự đoán khả năng sống sót của bệnh nhân ung thư.

4.3.3.1 Mối liên quan giữa một số đặc điểm dịch tễ học và độ mô học

Tác giả Korse và cs ghi nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa độ mô học và vị trí u

[43], phổi là vị trí thường gặp mô học độ 2 và 3, trong khi u TKNT độ 1 thường xuất hiện ở ống tiêu hóa Nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận đƣợc mối liên hệ này Tuy nhiên đa số trường hợp u TKNT độ 1 là u ở ống tiêu hóa (77,8%), và không ghi nhận u ở phổi; ngược lại trong các trường hợp u TKNT độ 2 và độ 3, chỳng tụi ghi nhận hơn ẵ trường hợp là u ở phổi (tương ứng 50,0% và 64,3%), tiếp đến là u ở ống tiêu hóa (khoảng 1/3 trường hợp).

Mô học độ 1 và độ 2 thường gặp ở bệnh nhân ≤ 70 tuổi, trong khi độ 3 phổ biến hơn ở nhóm tuổi từ 41 đến 80 Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và độ mô học (kiểm định Anova-1 chiều, p < 0,004; độ tin cậy 95%), phù hợp với các kết quả của tác giả García-Yuste [22] Cụ thể, tuổi của các trường hợp mô học độ 3 cao hơn rõ rệt về mặt thống kê so với các trường hợp độ 1 và độ 2 Ngoài ra, tác giả Van Eeden cũng nhận định tuổi trên 60 là yếu tố tiên lượng lâm sàng không thuận lợi có ý nghĩa, đồng thời tuổi 60 là trung vị của mẫu nghiên cứu, và chúng tôi cũng ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong độ mô học giữa hai nhóm bệnh nhân ≤ 60 và > 60 tuổi.

60 tuổi (kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95%, p = 0,048) nhƣ tác giả Van Eeden [88] Mô học độ 3 chủ yếu ở nhóm > 60 tuổi (gấp ba lần độ 1 và độ 2).

Một số đặc điểm riêng của u TKNT ở từng cơ quan

U TKNT từng cơ quan còn có một số đặc điểm riêng về đặc điểm mô học, độ mô học, phân bố và kiểu hiền miễn dịch.

U TKNT ở phổi thường gặp hơn ở phổi phải Vai trò của Ki-67 hạn chế trong phân biệt u carcinoid và carcinôm TKNT, chỉ số Ki-67 có giá trị trong những trường hợp dương tính ≥ 50%, tuy nhiên các trường hợp này chỉ chiếm tỉ lệ thấp.

Dữ liệu ghi nhận cho thấy u TKNT thường xuất hiện nhiều hơn ở phổi phải so với phổi trái, đặc biệt tập trung tại thùy trên là vị trí phổ biến nhất, phù hợp với các nghiên cứu của tác giả Travis và cộng sự [83] Tuy nhiên, số lượng mẫu thu thập được vẫn chưa đủ để phân tích chính xác về mức độ xuất hiện của u TKNT ở thùy trên so với các vị trí khác trong phổi.

4.4.1.2 Vai trò của Ki-67 trong phân độ mô học

Chỉ số Ki-67 trong u tế bào nhỏ phổi (u TKNT) có mức dao động rõ ràng ở các nhóm như u carcinoid điển hình ≤ 5% và u carcinoid không điển hình ≤ 20%, trong khi carcinôm tế bào lớn 40-80% và carcinôm tế bào nhỏ 50-100%, dễ gây nhầm lẫn trong phân loại Tuy nhiên, chỉ số Ki-67 có giá trị phân biệt quan trọng giữa u carcinoid và carcinôm TKNT, đặc biệt là carcinôm tế bào nhỏ, qua mẫu sinh thiết, nhất là khi có hiện tượng kéo dài chromatin hoặc mẫu cố định yếu Các nghiên cứu khác nhau đưa ra giới hạn phân biệt giữa u carcinoid và carcinôm TKNT với các giá trị như < 10% và > 25% theo Aslan, < 20% và > 50% theo Pelosi, hoặc < 25% và > 50% theo Lin Trong phân loại dựa trên mẫu sinh thiết nhỏ, cần tránh chẩn đoán quá mức u carcinoid thành carcinôm tế bào nhỏ để đảm bảo chính xác, đặc biệt khi chỉ số Ki-67 dưới 25%.

Chỉ số Ki-67 ≥ 50% hỗ trợ chẩn đoán carcinôm TKNT, đặc biệt trong những trường hợp khó phân loại Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 1 trong số 7 trường hợp u TKNT phổi có chỉ số Ki-67 ≥ 50%, đủ để phân loại, cho thấy vai trò hạn chế của chỉ số này trong chẩn đoán Chỉ số Ki-67 có thể giúp phân biệt u carcinoid và carcinôm TKNT, nhưng chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ trong những trường hợp chỉ số cao ≥ 50%, và không thể sử dụng như một tiêu chuẩn duy nhất để chẩn đoán.

67 cao chiếm tỉ lệ thấp.

4.4.1 U TKNT ở ống tiêu hóa và tụy

U tổ chức thần kinh trung ương (TKNT) trong ống tiêu hóa thường gặp nhất ở trực tràng và thường không kích hoạt với xét nghiệm Chromogranin A, giúp phân biệt loại u này Ki-67 đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ phân chia tế bào, hỗ trợ phân độ u TKNT tại ống tiêu hóa và tụy, từ đó định hướng phương pháp điều trị phù hợp.

4.4.1.1 Phân bố u TKNT ở ống tiêu hóa và tụy

Phân bố u TKNT trong ống tiêu hóa cho thấy sự khác biệt theo khu vực địa lý Ở châu Âu và Mỹ, u TKNT chủ yếu xuất hiện tại hỗng-hồi tràng và đại tràng phải với tỷ lệ cao (30-60%), trong khi ở châu Á, vị trí này chỉ chiếm dưới 10% Ngược lại, trực tràng là nơi thường gặp nhất của u TKNT ở châu Á, có thể ảnh hưởng bởi yếu tố chủng tộc mặc dù chưa có nhiều dữ liệu xác thực Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trực tràng là vị trí phổ biến nhất của u TKNT trong ống tiêu hóa (60%), tiếp theo là dạ dày và thực quản, trong khi không thấy u TKNT ở hỗng-hồi tràng Ngoài ra, tỷ lệ xuất độ u TKNT ở tụy cũng tương tự như các vị trí khác trong ống tiêu hóa theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu trước đó.

Các trường hợp u TKTN ở thực quản đều xuất hiện tại 1/3 dưới, đây là vị trí phổ biến nhất theo y văn, liên quan đến số lượng tế bào nội tiết tăng cao ở vùng này Hầu hết các u TKNT tại thực quản ở vị trí này có liên quan với thực quản Barrett và carcinôm tuyến, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa các yếu tố này Trên thực tế, u TKNT ở dạ dày có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào mà không có vùng thường gặp cụ thể nào, khác với tình hình ở thực quản.

Vị trí u TKNT ở tụy có sự khác biệt phụ thuộc vào trạng thái hoạt động chức năng và loại mô học, nhưng thường gặp nhất ở đầu tụy Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 7 trường hợp u TKNT tại tụy, trong đó u ở đầu và thân tụy chiếm tỷ lệ tương đương, phù hợp với các ghi nhận trong y văn.

4.4.1.2 Mối liên quan giữa chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67

Phân độ mô học của u TKNT ở ống tiêu hóa và tụy dựa trên chỉ số phân bào và/hoặc chỉ số Ki-67, nhưng một số nghiên cứu ghi nhận sự không đồng nhất giữa hai chỉ số này [50], [6] Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 10 trường hợp có sự không tương đồng giữa chỉ số phân bào và chỉ số Ki-67, trong đó 4 trường hợp có chỉ số phân bào thấp nhưng chỉ số Ki-67 trung bình, 3 trường hợp có chỉ số phân bào trung bình và chỉ số Ki-67 thấp, và 3 trường hợp có cả chỉ số phân bào trung bình và chỉ số Ki-67 cao, tương tự như các ghi nhận của tác giả McCall và Basturk Tác giả McCall báo cáo rằng các u TKNT có chỉ số phân bào thấp và chỉ số Ki-67 trung bình thường có đặc điểm mô học tiến triển hơn so với u TKNT độ 1, thể hiện qua tỷ lệ xâm nhập sâu, xâm nhập mạch và thần kinh, di căn hạch và xa, cùng với giảm thời gian sống còn toàn bộ, mặc dù không khác biệt rõ ràng so với các trường hợp u TKNT có cả chỉ số phân bào và Ki-67 tương đồng.

Basturk báo cáo rằng các trường hợp u TKNT có chỉ số phân bào trung bình và chỉ số Ki-67 thấp thường có thời gian sống còn toàn bộ dài hơn so với các trường hợp có độ mô học cao hơn, nhưng không có ý nghĩa thống kê rõ ràng Điều này xác nhận rằng chỉ số Ki-67 đóng vai trò quan trọng trong việc phân độ và dự đoán tiên lượng u TKNT tại ống tiêu hóa và tụy, song song với vai trò của chỉ số phân bào Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới, độ mô học của u TKNT được xác định dựa vào chỉ số tăng trưởng cao hơn trong hai chỉ số này (chỉ số phân bào và Ki-67).

4.4.1.3 Mối liên quan giữa u TKNT ở trực tràng và các dấu ấn TKNT

Nghiên cứu ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa về mặt thống kê giữa u ở trực tràng và tình trạng dương tính với chromogranin A (kiểm định χ 2 , độ tin cậy 95%, p

U thần kinh nội tiết (TKNT) trong trực tràng có tỷ lệ dương tính với chromogranin A thấp hơn nhiều so với u ở vị trí ngoài trực tràng, chỉ khoảng 50% Điều này phù hợp với các ghi nhận trong y văn, cho thấy u TKNT tại trực tràng thường âm tính với chromogranin A hơn so với các vị trí khác, nơi biểu hiện của chromogranin B thường cao hơn Biểu hiện của các marker như synaptophysin và CD56 không có mối liên hệ rõ ràng với vị trí trực tràng.

Ngày đăng: 04/04/2023, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hứa Thị Ngọc Hà (2014), Hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán, tiên lượng và điều trị bệnh, Nhà xuất bản Y học, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán, tiên lượng và điều trị bệnh
Tác giả: Hứa Thị Ngọc Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
5. Aslan DL, Gulbahce HE (2005), ‗Ki-67 Immunoreactivity in the Differential Diagnosis of Pulmonary Neuroendocrine Neoplasms in Specimens With Extensive Crush Artifact‖, Am J Clin Pathol;123:pp.874-878, doi: 10.1309/QYV05VGEGKUL2RTT Link
12. Brenner B, Tang L, Klimstra D, Kelsen D (2004), ―Small-Cell Carcinôms of the Gastrointestinal Tract: A Review‖, Journal ofClinical Oncology.22(13): pp.2730-2739. doi:10.1200/jco.2004.09.075 Link
14. Caplin ME, Baudin E et al (2015), ―Pulmonary Neuroendocrine (Carcinoid) Tumors: European Neuroendocrine Tumor Society Expert Consensus and Recommendations for Best Practice for Typical and Atypical Pulmonary Carcinoid‖, Ann OncolAug;26(8):1604-20. doi:10.1093/annonc/mdv041 Link
19. Dasari A, Shen C, Halperin D, Zhao B, Zhou S, Xu Y, Shih T, Yao JC (2017), ―Trends in the Incidence, Prevalence, and Survival Outcomes in Patients With Neuroendocrine Tumors in the United States‖, JAMA Oncology, http://jamanetwork.com/journals/jamaoncology/article-abstract/2621997; June, 20th, 2017 Link
20. Fischer L, Kleeff J et al (2008), ―Clinical outcome and long-term survival in 118 consecutive patients with neuroendocrine tumours of the pancreas‖, Br J Surg.May;95(5): pp.627-35. doi: 10.1002/bjs.6051 Link
24. Hirabayashi K, Zamboni G et al (2013), ―Histopathology of gastrointestinal neuroendocrine neoplasms‖. Front Oncol;3.doi:10.3389/fonc.2013.00002 Link
27. Huguet I, Grossman A, O'Toole D (2015), ―Changes in the Epidemiology of Neuroendocrine Tumours‖, Neuroendocrinology, 104(2),pp.105-111. doi:10.1159/000441897 Link
30. Inzani F, Petrone G, Fadda G, Rindi G (2017), ―Cyto-histology in NET:what is necessary today and what is the future?‖, Reviews in Endocrine and Metabolic Disorders,18(4),pp.381-391. doi:10.1007/s11154-017- 9428-x Link
33. Ito T, Sasano H et al (2010), ―Epidemiological study of gastroenteropancreatic neuroendocrine tumors in Japan‖, J Gastroenterol,45,pp.234–243. doi 10.1007/s00535-009-0194-8 Link
38. Klửppel G, Couvelard A (2009), ―ENETS Consensus Guidelines for the Standards of Care in Neuroendocrine Tumors: Towards a Standardized Approach to the Diagnosis of Gastroenteropancreatic Neuroendocrine Tumors and Their Prognostic Stratification‖. Neuroendocrinology 2009;90: pp.162–166, doi: 10.1159/000182196 Link
39. Klửppel G, Rindi G et al (2007), ―Site-specific biology and pathology of gastroenteropancreatic neuroendocrine tumors‖, Virchows Arch, 451 (Suppl 1):S9–S27. DOI 10.1007/s00428-007-0461-0 Link
40. Klửppel G, Rindi G, Perren A, Komminoth P, Klimstra DS (2010),―The ENETS and AJCC/UICC TNM classifications of the neuroendocrine tumors of the gastrointestinal tract and the pancreas: a statement‖, Virchows Arch (2010) 456:595–597,DOI 10.1007/s00428- 010-0924-6 Link
42. Kontogianni K, Nicholson AG (2005), ―CD56: a useful tool for the diagnosis of small cell lung carcinomas on biopsies with extensive crush artifact‖.J Clin Pathol;58:pp.978–980.doi: 10.1136/jcp.2004.023044 Link
45. La Rosa S, Rigoli E, Uccella S, Novario R, Capella C (2007), ―Prognostic and biological significance of cytokeratin 19 in pancreatic endocrine tumours‖, Histopathology, 50,pp.597–606. doi: 10.1111/j.1365- 2559.2007.02662.x Link
46. Liang P, Nakada I et al (2006), ―Prognostic Significance of Immunohistochemically Detected Blood and Lymphatic Vessel Invasion in Colorectal Carcinoma: Its Impact on Prognosis‖, Annals of Surgical Oncology 14(2):pp.470–477, DOI: 10.1245/s10434-006-9189-3 Link
65. Perren A, Couvelard A et al (2017), ―ENETS Consensus Guidelines for the Standards of Care in Neuroendocrine Tumors: Pathology: Diagnosis and Prognostic Stratification‖, Neuroendocrinology,doi: 105.10.1159/000457956 Link
72. Rossi G, Marchioni A et al (2004), ―TTF-1, Cytokeratin 7, 34βE12, and CD56/NCAM Immunostaining in the Subclassification of Large Cell Carcinomas of the Lung‖, Am J Clin Pathol;122:pp.884-893, doi:10.1309/9W8D3XCVLRA3858A Link
78. Soga J, Tazawa K (1971), ―Pathologic analysis of carcinoidsHistologic re evaluation of 62 cases‖. Cancer. 28(4):pp.990-998. doi:10.1002/1097- 0142(1971)28:4&lt;990::aid-cncr2820280424&gt;3.0.co;2-k Link
80. Stojsic Z, Brasanac D et al (2010), ―Large-cell neuroendocrine carcinoma of the ampulla of Vater‖, Med Oncol, 27:pp.1144–1148, DOI 10.1007/s12032-009-9350-5 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm