1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (copd)

110 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (copd)
Tác giả Phan Kim Huỳnh
Người hướng dẫn PGS. TS. Tô Gia Kiên, GS. TS. Faye Hummel
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Điều Dưỡng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHPHAN KIM HUỲNH MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM NHẬN ĐƯỢC GIA ĐÌNH HỖ TRỢ VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA BỆNH NHÂN MẮC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH COPD LUẬN VĂN TH

Trang 1

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHAN KIM HUỲNH

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM NHẬN ĐƯỢC GIA ĐÌNH HỖ TRỢ VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA BỆNH NHÂN MẮC BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD)

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

Trang 2

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHAN KIM HUỲNH

MỐI LIÊN QUAN GIỮA CẢM NHẬN ĐƯỢC GIA ĐÌNH HỖ TRỢ VÀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC CỦA BỆNH NHÂN MẮC

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH (COPD)

NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG

MÃ SỐ: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS TÔ GIA KIÊN

2 GS TS FAYE HUMMEL

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu khoa học nào khác

Tác giả nghiên cứu

Phan Kim Huỳnh

Trang 4

1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 51.2 Tổng quan về hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân bệnh phổi tắc

1.3 Các nghiên cứu liên quan cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành

vi tự chăm sóc của bệnh nhân

17

1.4 Học thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh mạn tính và ứng dụng

của học thuyết vào nghiên cứu

20

Trang 5

2.5 Thu thập dữ liệu 33

3.2 Hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 433.3 Cảm nhận được gia đình hỗ trợ của bệnh nhân bệnh phổi tắc

4.2 Hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 664.3 Cảm nhận được gia đình hỗ trợ của bệnh nhân bệnh phổi tắcnghẽn mạn tính

4.7 Khả năng khái quát hóa và ứng dụng của nghiên cứu 76

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân

Phụ lục 2: Bảng thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuận tham

gia nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

COPD Chronic Obstructive Pulnomary Disease

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chỉ số khối cơ thể

FEV1 Forced expiratory volume in one second

Thể tích khí thở ra gắng sức trong 1 giây đầu tiên

Dung tích sống gắng sức

GOLD The global initiative for chronic obstructive lung disease

Hiệp hội sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạntính

WHO World Health Organization

Tổ chức Y tế Thế Giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

TrangBảng 1.1 Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD 8Bảng 1 2 Bảng thang điểm mMRC (Theo GOLD 2018) 9

Bảng 3.4 Tần suất và tỷ lệ các hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân

COPD

43

Bảng 3.5 Hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD 47Bảng 3.6 Tần số và tỷ lệ cảm nhận được gia đình hỗ trợ 48Bảng 3.7 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan với cảm nhận

được gia đình hỗ trợ

50

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với

hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD

53

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan với hành vi tự

chăm sóc

54

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH - SƠ ĐỒ - BIỂU ĐỒ

TrangHình 1.1 Thang điểm CAT (COPD Assessment Test) 10Hình 1.2 Khung khái niệm học thuyết tầm trung về tự chăm sóc

bệnh mạn tính

21

Sơ đồ 1.1 Đánh giá COPD theo nhóm ABCD (Theo GOLD 2018) 11

Sơ đồ 1.2 Ứng dụng học thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh

nhân COPD

24

Sơ đồ 2.1 Các bước tiến hành chọn mẫu nghiên cứu 28

Biểu đồ 3.2 Mối tương quan giữa hành vi tự chăm sóc và cảm nhận

được gia đình hỗ trợ của bệnh nhân COPD

52

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obtructive PulmonaryDisease (COPD)) là bệnh thường gặp và có xu hướng ngày càng tăng do sựgià hóa dân số, hút thuốc lá và ô nhiễm không khí Theo Tổ chức Y tế thế giới(World Health Organization (WHO)), trên toàn cầu ước tính có 251 triệu camắc COPD trong năm 2016, chiếm khoảng 12% dân số từ 40 tuổi trở lên [78].Đến năm 2020 số người mắc COPD tăng lên 3 - 4 lần và là căn bệnh gây tửvong đứng hàng thứ 3 trên thế giới COPD gây ra 3,2 triệu ca tử vong mỗinăm (tức là khoảng 5% tổng số ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm) [78].COPD được dự báo sẽ tăng trong vòng 30 năm tiếp theo và đến năm 2030 sẽ

có hơn 4,5 triệu người chết do COPD và các yếu tố liên quan đến bệnh [37]

Về chi phí điều trị của COPD, theo nghiên cứu về gánh nặng kinh tế củaCOPD ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (2019) cho thấy tổng chi phí xãhội hàng năm của COPD dao động từ 4398 đến 23049 đô la Mỹ (USD) trênđầu người ở Nhật Bản, 453 đến 12167 USD ở Hàn Quốc, Singapore là 2700USD, Đài Loan là 4000 USD, Trung Quốc là 3942 USD và Thái Lan là 1105USD [79]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tỷ lệ mắc COPD là4,1% ở người trên 40 tuổi và có xu hướng tiếp tục tăng cao do tình trạng hútthuốc lá, thuốc lào và ô nhiễm môi trường gia tăng [65] Theo WHO, tỷ lệmắc COPD ở Việt Nam là 7,1% ở nam, 1,9% ở nữ và 75% số ca mắc COPD

là do hút thuốc lá [78] Chi phí điều trị ở Việt Nam tuy thấp hơn các nướctrong khu vực nhưng là gánh nặng đối với cá nhân, gia đình và xã hội Theomột nghiên cứu năm 2019 cho thấy chi phí cho nằm viện của COPD trungbình là 2,5 triệu đồng/ngày nằm viện và tổng chi phí là 18,3 triệu đồng/đợtnằm viện, trong đó chi phí thuốc điều trị chiếm 53,9% chi phí nằm viện [58]

Trang 12

COPD gây ra gánh nặng bệnh tật và kinh tế cho toàn cầu nói chung và tại ViệtNam nói riêng.

COPD đặc trưng bởi sự hạn chế luồng khí thở không hồi phục hoàntoàn Các triệu chứng hô hấp (ho, khạc đàm, khó thở, thở khò khè) kéo dài,ngày càng tăng làm bệnh nhân giảm khả năng vận động, tập thể dục, mệt mỏi,chán ăn, giảm cân, trầm cảm và rối loạn giấc ngủ [26], [38], [45] COPD

không chỉ ảnh hưởng các hoạt động thể chất mà còn tác động đến các vấn đềtâm lý, xã hội Chính vì vậy, bệnh nhân cần học cách tự chăm sóc và chịutrách nhiệm quản lý bệnh của họ mỗi ngày Tự chăm sóc tốt sẽ giúp giảm sốlần nhập viện, kiểm soát tình trạng bệnh, nâng cao sức khỏe và chất lượngcuộc sống [33], [67] Một nghiên cứu can thiệp hướng dẫn tự chăm sóc trênbệnh nhân người lớn mắc COPD đã cho thấy có sự cải thiện đáng kể về hành

vi tự chăm sóc, tuân thủ điều trị và kiến thức về bệnh Bên cạnh đó, cũng tìm

ra được mối liên hệ giữa khả năng tự chăm sóc, tuân thủ điều trị và triệuchứng trầm cảm [28] Bệnh nhân có hành vi tự chăm sóc tốt sẽ có cải thiện vềtuân thủ điều trị cũng như giảm trầm cảm Tuy nhiên, hành vi tự chăm sóc củabệnh nhân bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi, thu nhập, các triệu chứngcủa bệnh, kiến thức về bệnh, yếu tố tâm lý (lo âu, trầm cảm) và sự hỗ trợ từgia đình, xã hội [21] Trong các yếu tố trên, sự hỗ trợ từ gia đình là yếu tố ảnhhưởng tích cực, to lớn đến khả năng tự chăm sóc và thực hiện hành vi tự chămsóc của một cá nhân [21], [77] Các thành viên trong gia đình có mối quan hệràng buộc lẫn nhau Họ có ý thức trách nhiệm về việc hỗ trợ các thành viênkhác trong gia đình về thể chất, tinh thần, kinh tế và xã hội [42], [66] Một vàinghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ tích cực giữa sự hỗ trợ từ gia đình vàhành vi tự chăm sóc Nghiên cứu do Zijing Chen và cộng sự (2017) thực hiệncho thấy bệnh nhân COPD sống với người thân có hoạt động thể chất nhiềuhơn những người sống một mình, tỷ lệ tham gia tập luyện phục hồi chức năng

Trang 13

hô hấp cũng cao hơn gấp 11 lần ở những người sống cùng vợ/chồng so vớinhững người chỉ sống một mình [30].

Mặc dù gia đình có tác động tích cực đến hành vi tự chăm sóc củabệnh nhân nhưng hiệu quả của sự hỗ trợ từ gia đình còn phụ thuộc vào cảmnhận của bệnh nhân về sự hỗ trợ mà họ nhận được [48] Cảm nhận được giađình hỗ trợ có nghĩa là bệnh nhân tin là họ nhận được sự giúp đỡ từ nhữngngười thân trong gia đình khi phải chịu áp lực từ bệnh tật [62] Các nghiêncứu chỉ ra rằng khi bệnh nhân cảm nhận được gia đình hỗ trợ tốt sẽ giúp tăngcường sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội, tăng động lực tuân thủ phác đồđiều trị, tăng tuổi thọ, giảm tỷ lệ nhập viện và tử vong [42], [48], [64] Bêncạnh đó, còn giúp bệnh nhân giảm trầm cảm và lo lắng, tăng sự sẵn lòng thamgia các hành vi tự chăm sóc và giảm gánh nặng cho người chăm sóc [42].Theo hiểu biết của chúng tôi, hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu vềhành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD, cảm nhận của bệnh nhân về sự hỗtrợ của gia đình cũng như mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợvới hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD Các dữ liệu về các vấn đề trênvẫn còn rất hạn chế Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Mối liênquan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnhnhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” với mong muốn kết quả của nghiên cứu

sẽ là cơ sở giúp điều dưỡng thực hành xác định được các hành vi tự chăm sóccòn kém của bệnh nhân COPD, mức độ thực hiện các hành vi tự chăm sóccũng như mức độ cảm nhận được gia đình hỗ trợ của bệnh nhân và mối liênquan giữa hai yếu tố trên Từ đó, điều dưỡng xây dựng các can thiệp nhằmtăng cường sự hỗ trợ từ gia đình cho bệnh nhân COPD, giáo dục sức khỏenhằm giúp bệnh nhân tăng cường kiến thức về bệnh, phát triển các kỹ năngthực hiện các hành vi tự chăm sóc một cách hiệu quả và hướng đến mục đíchcuối cùng là giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân COPD

Trang 14

Câu hỏi nghiên cứu:

- Có mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành vi tựchăm sóc của bệnh nhân COPD không?

Mục tiêu tổng quát:

- Xác định mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành

vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD

Mục tiêu cụ thể

1 Xác định tỷ lệ bệnh nhân COPD có hành vi tự chăm sóc tốt.

2 Xác định tỷ lệ bệnh nhân COPD cảm nhận được gia đình hỗ trợ tốt.

3 Xác định mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD.

4 Xác định mối liên quan giữa các yếu tố tuổi, giới, tình trạng kinh tế, tình trạng hút thuốc, tình trạng bệnh với hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD.

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

1.1.1 Định nghĩa COPD

Theo Hiệp hội sáng kiến toàn cầu về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính(The global initiative for chronic obstructive lung disease (GOLD)) 2020,COPD được định nghĩa là một bệnh thường gặp, dự phòng và điều trị được,

có đặc điểm là triệu chứng hô hấp và giới hạn luồng khí dai dẳng do bấtthường ở đường thở và/hoặc phế nang thường do phơi nhiễm với các phân tửhoặc khí độc [38]

1.1.2 Các yếu tố liên quan COPD

Nguyên nhân chính của COPD là do tiếp xúc với khói thuốc lá (hútthuốc chủ động hoặc hút thuốc thụ động) chiếm 3/4 trường hợp Các yếu tốrủi ro khác bao gồm tiếp xúc với ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời,bụi và khói nghề nghiệp Nhiều trường hợp COPD có thể phòng ngừa đượcbằng cách tránh hoặc cai thuốc lá sớm [78]

Các yếu tố nội sinh như thiếu hụt men antitrypsin, hen phế quản cũng liên quan đến COPD [75]

1.1.3 Tỷ lệ tử vong và gánh nặng của COPD

Để đánh giá mức độ thiệt hại gây ra do khuyết tật và tử vong của bệnhtật một cách chính xác, các chuyên gia dùng chỉ số DALYs (The disability-adjusted life year) DALYs là đơn vị tính số năm sống còn lại của người bệnhtrong tình trạng khuyết tật và số năm người bệnh tử vong sớm do bệnh tật.Năm 2005, chỉ số DALYs do COPD đứng thứ 8 trên toàn cầu nhưng đến năm

2013 COPD đã là nguyên nhân thứ 5 Tại Mỹ, COPD là nguyên nhân đứngthứ hai làm giảm DALYs, chỉ sau bệnh thiếu máu cục bộ [38]

Davies Adeloye (2015) thu thập 37472 ấn bản từ năm 1990 đến năm

2014 trong tổng số 132 nghiên cứu về tỷ lệ mắc COPD Bằng phương pháp

Trang 16

phân tích hồi quy cho thấy năm 1990 trên toàn cầu ước tính khoảng 227,3triệu người từ 30 tuổi trở lên mắc COPD chiếm khoảng 10,7%, số người mắcCOPD tăng đến 284 triệu vào năm 2010 chiếm 11,7% Tỷ lệ mắc cao nhất ởchâu Mỹ (13,3% năm 1990 và 15,2% năm 2010), thấp nhất ở Đông Nam Á(7,9% năm 1990 và 9,7% năm 2010) Từ năm 1990 đến năm 2010, tỷ lệ mắctăng nhanh nhất ở Địa Trung Hải (118,7%), sau đến Châu Phi (102,1%), thấpnhất ở Châu Âu (22,5%) Năm 1990 tỷ lệ mắc COPD ở thành thị là 13,2%,nông thôn là 8,8%, năm 2010 tỷ lệ mắc ở thành thị là 13,6% và nông thôn là9,7% Nhìn chung tỷ lệ mắc ở nam 14,3%, nữ 8,2% [19].

Lewis A (2016) nghiên cứu ở Châu Âu về chi phí sử dụng thuốc giãnphế quản (GPQ) cho người mắc hen phế quản và COPD trong năm 2015 ướctính khoảng 813 triệu euro, 560 triệu euro và 774 triệu euro lần lượt tại 3 nước

là Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vương quốc Anh [50]

Tại Việt Nam, theo Ngô Quý Châu và cộng sự (2019), chi phí điều trịtrung bình cho một đợt nhập viện của bệnh nhân COPD vì đợt cấp là 18 triệuVNĐ, trong đó chi phí cho thuốc điều trị chiếm 53,9% chi phí điều trị [58].Theo nghiên cứu của Võ Quang Trung và cộng sự (2018) về chi phí điều trịcủa bệnh nhân COPD tại 2 bệnh viện Đồng Nai và Phạm Ngọc Thạch 2015-

2017 cho thấy số ngày bệnh nhân nhập viện trung bình là 6-10 ngày, chi phíđiều trị cho một lượt khám ngoại trú từ 22,4 đến 32,7 USD, chi phí cho mộtđợt nhập viện từ 180,9 đến 386,9 USD, trong đó hơn 50% là chi phí dành chothuốc điều trị [74]

1.1.4 Triệu chứng lâm sàng

Các triệu chứng chính của COPD là ho, khạc đờm, khó thở, nặng ngực

và tiếng thở rít Giai đoạn nặng thường suy kiệt, nói ngắn hơi, co kéo cơ hôhấp, dễ bị kích thích, thiếu tập trung do thiếu oxy não Lồng ngực căng giãn

cả chiều ngang và chiều dọc, xương sườn nằm ngang, hạn chế di động khoang

Trang 17

liên sườn, thời gian thở ra dài hơn bình thường, tiếng thở giảm đều, tiếng tim

mờ, có thể thấy ran rít, ran ngáy nhất là trong đợt cấp [3], [37]

1.1.5 Thăm dò chức năng hô hấp (CNHH)

Đo CNHH dùng để chẩn đoán xác định và theo dõi COPD Để giúpphát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, cần đo CNHH cho tất cả đối tượng có triệuchứng cơ năng hô hấp như ho, khạc đờm mạn tính, khó thở hoặc có tiền sửtiếp xúc với các yếu tố nguy cơ [3], [37]

Ở người mắc COPD đo CNHH có thể thấy thể tích khí thở ra gắng sứctrong 1 giây đầu tiên FEV1 (Forced expiratory volume in one second) giảm,mức độ giảm tuỳ theo mức độ nặng của bệnh, dung tích sống gắng sức FVC(Forced Vital Capacity) giai đoạn đầu có thể bình thường nhưng sẽ giảm khibệnh tiến triển nặng, thể tích khí cặn RV (Residual Volume) tăng lên, chỉ sốFEV1/FVC < 70% và đây cũng là yếu tố xác định chẩn đoán COPD Khảo sátđường cong lưu lượng thể tích để phân biệt rối loạn thông khí tắc nghẽn vớirối loạn thông khí hạn chế Đường cong lưu lượng thể tích giúp xác định vị trítắc nghẽn đường thở, nếu giảm phần xa của đường biểu diễn thở ra là tắcnghẽn đường thở nhỏ, nếu giảm toàn bộ đường biểu diễn thở ra là tắc nghẽn

số Gaensler (FEV1/FVC) < 70% sau test hồi phục phế quản [3]

1.1.6.2 Đánh giá mức độ của COPD

Bên cạnh chẩn đoán xác định COPD thì đánh giá mức độ của COPD

là vô cùng cần thiết Đánh giá mức độ COPD cho phép xác định mức độ nặng

Trang 18

của bệnh, các tác động trên tình trạng sức khỏe bệnh nhân và các nguy cơtrong tương lai (cơn kịch phát, nhập viện, tử vong) Các nhà lâm sàng thườngquan tâm các khía cạnh như đánh giá triệu chứng, đánh giá mức độ tắc nghẽnđường thở, đánh giá nguy cơ đợt cấp và đánh giá các bệnh kèm theo Mức độtắc nghẽn đường thở được đánh giá dựa vào chỉ số FEV1 sau khi bệnh nhânđược sử dụng thuốc giãn phế quản.

Bảng 1.1 Đánh giá mức độ tắc nghẽn đường thở theo GOLD [3]

Phân loại mức độ nặng của giới hạn dòng khí trong COPD (dựa

trên FEV1 sau test hồi phục phế quản) Người mắc COPD: FEV1/FVC < 0,70

lý thuyếtGOLD 2 Mức độ trung bình 50% ≤ FEV1 < 80%

chỉ số lý thuyếtGOLD 3 Mức độ nặng 30% ≤ FEV1 < 50%

chỉ số lý thuyếtGOLD 4 Mức độ rất nặng FEV1 < 30% chỉ số

lý thuyết

Các nhà lâm sàng còn sử dụng các bảng câu hỏi để lượng giá tìnhtrạng lâm sàng của COPD như thang điểm CAT (COPD Assessment Test) vàbảng câu hỏi đánh giá tình trạng khó thở mMRC (Modified British MedicalResearch Council) [3] CAT và mMRC là những công cụ đơn giản, dễ sửdụng trong giao tiếp giữa người bệnh và thầy thuốc trong khi thăm khámbệnh, giúp thầy thuốc lâm sàng đưa ra những quyết định điều trị và quản lýbệnh phù hợp [38] Bộ câu hỏi sửa đổi của Hội đồng nghiên cứu y khoa Anh(mMRC) gồm 5 câu hỏi với điểm cao nhất là 4, điểm càng cao thì mức độ khóthở càng nhiều mMRC < 2 được định nghĩa là ít triệu chứng, mMRC ≥ 2được định nghĩa là nhiều triệu chứng [3]

Trang 19

Bảng 1 2 Bảng thang điểm mMRC (Theo GOLD 2018) [3]

Khó thở khi đi vội trên đường bằng hay đi lên dốc nhẹ 1

Đi bộ chậm hơn người cùng tuổi vì khó thở hoặc phải dừng lại

để thở khi đi cùng tốc độ của người cùng tuổi trên đường bằng 2

Phải dừng lại để thở khi đi bộ khoảng 100m hay vài phút trên

Khó thở nhiều đến nỗi không thể ra khỏi nhà, khi thay quần áo 4

Bộ câu hỏi CAT gồm 8 câu hỏi, tổng điểm 40, điểm càng cao thì ảnhhưởng của bệnh tới tình trạng sức khỏe của bệnh nhân càng lớn CAT < 10được định nghĩa ít triệu chứng, ít ảnh hưởng CAT ≥ 10 được định nghĩa ảnhhưởng của bệnh nhiều [3]

Trang 20

Hình 1.1 Thang điểm CAT (COPD Assessment Test)

(Theo GOLD 2018) [3]

Nguy cơ đợt cấp được đánh giá dựa vào tiền sử đợt cấp trong nămtrước (số đợt cấp và mức độ nặng của đợt cấp) Số đợt cấp/năm: 0-1 (đợt cấpnhẹ không phải nhập viện, không sử dụng kháng sinh và/hoặc corticosteroid)được định nghĩa là nguy cơ thấp Số đợt cấp ≥ 2 hoặc có từ 1 đợt cấp nặngphải nhập viện hoặc đợt cấp mức độ trung bình phải sử dụng kháng sinhvà/hoặc corticosteroid được định nghĩa là nguy cơ cao Theo hướng dẫn chẩnđoán và điều trị COPD, bệnh nhân COPD được phân nhóm ABCD theo đánh

Trang 21

giá kết hợp Phân nhóm ABCD chủ yếu dựa vào mức độ triệu chứng, ảnhhưởng của bệnh (mMRC, CAT) và nguy cơ đợt cấp (tiền sử đợt cấp/năm,mức độ nặng đợt cấp).

Sơ đồ 1.1 Đánh giá COPD theo nhóm ABCD (Theo GOLD 2018) [3]

COPD nhóm A - Nguy cơ thấp ít triệu chứng: có 0 - 1 đợt cấp trong vòng 12tháng qua (đợt cấp không nhập viện và không phải sử dụng kháng sinh,corticosteroid) và mMRC 0 - 1 hoặc CAT < 10

COPD nhóm B - Nguy cơ thấp, nhiều triệu chứng: có 0 - 1 đợt cấp trong vòng

12 tháng qua (đợt cấp không nhập viện, không phải sử dụng kháng sinh,corticosteroid) và mMRC ≥ 2 hoặc điểm CAT ≥ 10

COPD nhóm C - Nguy cơ cao, ít triệu chứng: có ≥ 2 đợt cấp trong vòng 12tháng qua (hoặc 1 đợt cấp nặng phải nhập viện hoặc phải đặt nội khí quản) vàmMRC 0 - 1 hoặc điểm CAT <10

mMRC 0-1 CAT<10

mMRC ≥ 2 CAT ≥ 10

FEV1 (% dự đoán)

≥ 2 hoặc ≥

1 đợt cấp phải nhập viện

0 hoặc 1

không phải nhập viện)

Chẩn đoán dựa vào đo CNTK phổi

Đánh giá mức

độ tắc nghẽn

Đánh giá triệu chứng/nguy cơ đợt cấp

sau test hồi phục phế quản

Triệu chứng

Trang 22

COPD nhóm D - Nguy cơ cao, nhiều triệu chứng: có ≥ 2 đợt cấp trong vòng

12 tháng qua hoặc 1 đợt cấp phải nhập viện và mMRC ≥ 2 hoặc điểm CAT ≥10

1.2 Tổng quan về hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD

1.2.1 Định nghĩa về tự chăm sóc

Thuật ngữ tự chăm sóc được sử dụng vô cùng rộng rãi trong y văn vànhiều chuyên ngành Các chuyên gia đã đưa ra nhiều định nghĩa về tự chămsóc theo quan điểm riêng của cá nhân [53]

Theo WHO, “Tự chăm sóc là khả năng của cá nhân, gia đình và cộngđồng để tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, duy trì sức khỏe và đối phóvới bệnh tật và khuyết tật có hoặc không có sự hỗ trợ của các nhà cung cấpchăm sóc sức khỏe” [80] Phạm vi tự chăm sóc bản thân được mô tả trongđịnh nghĩa này bao gồm tăng cường sức khỏe, phòng bệnh và kiểm soát, tựdùng thuốc, chăm sóc cho người phụ thuộc, tìm kiếm bệnh viện/bác sĩ chuyênkhoa/chăm sóc ban đầu nếu cần thiết và phục hồi chức năng bao gồm chămsóc giảm nhẹ Như vậy, tự chăm sóc bao gồm một loạt các chế độ và phươngpháp tự chăm sóc

Theo học thuyết về tự chăm sóc của Orem, tự chăm sóc bản thân đượcđịnh nghĩa là “thực hành các hoạt động mà các cá nhân tự khởi xướng và thựchiện trong việc duy trì cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc” [21] Học thuyết tựchăm sóc của Orem giả định rằng, bệnh nhân cần tự chăm sóc cho bản thânmình Bệnh nhân có khả năng tự chăm sóc và thực hiện được các hành vi tựchăm sóc Học thuyết còn nhấn mạnh vai trò của điều dưỡng trong việc thúcđẩy tự chăm sóc và đánh giá các nhu cầu, khả năng và thiếu hụt tự chăm sóc

để hỗ trợ bệnh nhân tự chăm sóc

Theo học thuyết tầm trung về tự chăm sóc các bệnh mạn tính, tự chămsóc được định nghĩa như một quá trình duy trì sức khỏe thông qua các thực

Trang 23

hành tăng cường sức khỏe và quản lý bệnh tật Tự chăm sóc được thực hiện ở

cả hai trạng thái khỏe mạnh và ốm yếu Khi khỏe mạnh, tự chăm sóc thể hiệntrong các hoạt động hàng ngày như đánh răng, lựa chọn thực phẩm Khi sứckhỏe ổn định, mọi người thường có thể duy trì sức khỏe mà không cần chuyểnsang chế độ chăm sóc bệnh tật Nhưng khi một người mắc bệnh, quản lý bệnhtrở thành vấn đề ưu tiên đối với bệnh nhân thì họ cần tự chăm sóc bệnh tật đểduy trì sức khỏe của mình Do vậy, tự chăm sóc có thể diễn ra cả khi khỏemạnh và khi bệnh tật và không phải lúc nào cũng là một quá trình đồng thời.Tuy nhiên, tự chăm sóc được chú trọng hơn khi bệnh tật đặc biệt là ở các bệnhnhân mắc bệnh mạn tính Các khái niệm chính trong lý thuyết tầm trung nàybao gồm duy trì tự chăm sóc, giám sát tự chăm sóc và quản lý tự chăm sóc[67]

Thuật ngữ tự chăm sóc và tự quản lý đôi khi được dùng thay thế lẫnnhau [35] Tuy nhiên, tự chăm sóc mang tính tổng quát hơn Tự chăm sóc baogồm khả năng tự chăm sóc bản thân và thực hiện các hoạt động cần thiết đểđạt được, duy trì hoặc tăng cường sức khỏe tối ưu (bao gồm các hoạt độngdành riêng cho tình trạng sức khỏe cấp tính và mạn tính) [28] Trong khi đó,thuật ngữ tự quản lý hướng đến một quá trình, một chuỗi các hoạt động có kếhoạch để duy trì sức khỏe, ngăn ngừa triệu chứng, tuân thủ điều trị cũng nhưđối phó với ảnh hưởng của bệnh tật Tự quản lý cần có sự cam kết giữa bệnhnhân và nhà cung cấp dịch vụ y tế Thuật ngữ tự quản lý bệnh thường được sửdụng trong các bệnh mạn tính [53]

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự chăm sóc

Tự chăm sóc là một quá trình cực kỳ khó khăn, hiểu rõ các yếu tố ảnhhưởng đến tự chăm sóc sẽ giúp khắc phục những rào cản và có được sự hỗ trợ

để tự chăm sóc tốt hơn

Trang 24

Theo tổng quan hệ thống về tự chăm sóc, tự chăm sóc bị ảnh hưởngbởi các yếu tố bên trong như hiệu quả của bản thân, quá trình học tập, độnglực, nhận thức về sự mất cân bằng, niềm tin và tôn giáo, cam kết và khả năngđưa ra phán xét và các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như sự sẵn có của cácnguồn lực và sự hỗ trợ [53].

Nghiên cứu của Lisa C Cicutto và cộng sự (2006) thực hiện trên cácbệnh nhân COPD cho thấy hầu hết bệnh nhân thực hiện các hành vi tự chămsóc để quản lý tình trạng bệnh của mình Trong quá trình tự chăm sóc củabệnh nhân thì nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấpthông tin cần thiết, khoa học giúp bệnh nhân tự chăm sóc phù hợp, hiệu quả[31]

Theo học thuyết tầm trung về tự chăm sóc các bệnh mạn tính, các yếu

tố ảnh hưởng đến tự chăm sóc là kinh nghiệm và kỹ năng, động lực, niềm tin

và giá trị văn hóa, sự tự tin, năng lực nhận thức, sự hỗ trợ từ người khác vàcác yếu tố khác Mặc dù, tự chăm sóc được định nghĩa là hành vi tự chăm sóccủa cá nhân nhưng điều này không có nghĩa là bệnh nhân chỉ thực hiện hành

vi tự chăm sóc bởi chính họ Bệnh nhân cũng cần sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bènhất là đối với bệnh nhân mắc bệnh mạn tính [67]

Nghiên cứu do H H Hu và cộng sự (2015) thực hiện trên các bệnhnhân tăng huyết áp ở Trung Quốc cho thấy rằng sự hỗ trợ từ gia đình có liênquan tích cực đến hành vi tuân thủ dùng thuốc và đo huyết áp thường xuyên.Bệnh nhân tự tin vào bản thân cũng có hành vi tự chăm sóc tốt (42,1 ± 13,3),

trầm cảm và lo lắng không liên quan đến bất kỳ hành vi tự chăm sóc nào [42]

Nghiên cứu về mối liên quan giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ vàhành vi tự chăm sóc ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 (2018) cho kết quảđiểm trung bình và độ lệch chuẩn của điểm số tự chăm sóc và cảm nhận được

hỗ trợ lần lượt là 4,31 ± 2,7 và 50,32 ± 11,09 Có sự khác biệt đáng kể giữa

Trang 25

điểm trung bình của hành vi tự chăm sóc và cảm nhận được hỗ trợ theo giớitính và tình trạng hôn nhân (p<0,05) Hệ số tương quan Pearson chỉ ra rằng tựchăm sóc và cảm nhận được hỗ trợ tương quan đáng kể (r=0,489, p<0,001)[54].

1.2.3 Hiệu quả của hành vi tự chăm sóc đối với bệnh nhân

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tự chăm sóc hiệu quả có thể cải thiệnchất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe và giảm nhập viện và sử dụngcác dịch vụ chăm sóc sức khỏe Theo Junling Gao và cộng sự (2013), khinghiên cứu về ảnh hưởng của tự chăm sóc về kiểm soát đường huyết trênbệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 cho thấy rằng hành vi tự chăm sóc có ảnhhưởng trực tiếp lên kiểm soát đường huyết [36]

Theo tổng quan tài liệu về tác động của tự chăm sóc/tự quản lý đối vớibệnh nhân COPD cho thấy các can thiệp tự quản lý giúp nâng cao chất lượngcuộc sống và giảm số lần nhập viện của bệnh nhân [57], [68]

1.2.4 Hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD

Bệnh nhân COPD không chỉ phải chịu đựng các triệu chứng tiến triển,dai dẳng của bệnh mà còn trải qua các tác động tâm lý mà bệnh tật mang lại.Bệnh nhân thường có các biểu hiện tâm lý, chẳng hạn như trầm cảm và lolắng, ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống [44], [69] Chính vì vậy,bệnh nhân COPD đòi hỏi một chế độ trị liệu phức tạp và tự chăm sóc hàngngày để quản lý bệnh tật và cuộc sống

Theo Clari, Matarese và cộng sự (2016), ba lĩnh vực chính của tựchăm sóc đã được xác định gồm các hoạt động tự chăm sóc sức khỏe, cáchoạt động tự chăm sóc để quản lý bệnh và các hoạt động ứng phó với bệnh.Ngừng hút thuốc và tiêm phòng cúm hàng năm là những hoạt động tự chămsóc quan trọng nhất Thuốc được bệnh nhân coi là quan trọng nhưng bệnhnhân thường tự quyết định để giảm liều hoặc ngừng dùng thuốc khi các triệu

Trang 26

chứng COPD giảm Bệnh nhân cũng tự học cách ứng phó với sự thay đổi vềthể chất, tâm lý và xã hội [32].

Cũng theo Clari, Matarese và cộng sự (2017), các hành vi tự chăm sóccòn hướng vào việc ngăn ngừa, kiểm soát và quản lý các hậu quả về thể chất,cảm xúc và xã hội của bệnh [33] Các hành vi tự chăm sóc phổ biến nhấtnhằm mục đích hạn chế tác động thể chất của COPD bao gồm tập thể dục, kỹthuật thở, tập phục hồi chức năng hô hấp và kỹ năng quản lý khó thở

Theo tổng quan tài liệu, các hành vi tự chăm sóc khác thường đượccác chuyên gia chăm sóc sức khỏe khuyến nghị còn bao gồm sử dụng thuốchít hiệu quả, tuân thủ dùng thuốc và phòng ngừa nhiễm trùng thông qua tiêmchủng và thói quen vệ sinh Để đối phó với các vấn đề tâm lý, các kỹ thuậtthư giãn và quản lý căng thẳng được bệnh nhân ủng hộ thực hiện [33]

Theo hướng dẫn về chẩn đoán và điều trị COPD của Bộ Y tế (bản cậpnhật 2018), bên cạnh việc chẩn đoán sớm và điều trị theo phác đồ bệnh nhâncần thực hiện các khuyến cáo như ngừng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, caithuốc lá/thuốc lào, tiêm vắc xin phòng nhiễm trùng đường hô hấp và phục hồichức năng hô hấp [3]

Như vậy, tự chăm sóc hướng tới việc phòng ngừa, kiểm soát và quản

lý các hậu quả về thể chất của COPD Bên cạnh đó, tự chăm sóc cũng tậptrung vào việc quản lý các tác động tâm lý của COPD, nhằm giảm tác độngcủa COPD đối với đời sống xã hội của bệnh nhân

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD

Clari và cộng sự thực hiện nghiên cứu tổng hợp tài liệu tìm kiếm được

114 bài báo xuất bản từ tháng 1 năm 1996 đến tháng 1 năm 2016, kết luận thuđược là hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD phụ thuộc vào sự tiếp cận

Trang 27

với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đòi hỏi bệnh nhân phải có kiến thức và

kỹ năng [33]

Theo nghiên cứu của Park (2017) về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi

tự chăm sóc của bệnh nhân COPD tại Hàn Quốc cho thấy kiến thức về bệnh,các bệnh đi kèm, số lần nhập viện, được giáo dục sức khỏe về đợt cấp và quản

lý bệnh là các yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhânCOPD [61]

Sự hỗ trợ từ gia đình cũng có ảnh hưởng tích cực đến hành vi tự chămsóc của bệnh nhân COPD Theo Jiang Xiaolian và cộng sự, có một mối quan

hệ tích cực có ý nghĩa thống kê giữa sự hỗ trợ từ gia đình và hành vi tự chămsóc (r=0,252, p=0,012) [81] Kết quả tương tự cũng được tìm thấy trongnghiên cứu của Magfiret K Kaşıkçı và cộng sự (2007) cho thấy có một mốiquan hệ tích cực có ý nghĩa thống kê giữa sự hỗ trợ từ gia đình và hành vi tựchăm sóc (r=0,302, p=0,01) [48]

1.3 Các nghiên cứu liên quan cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi

tự chăm sóc của bệnh nhân

1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới liên quan cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân

Một nghiên cứu về cảm nhận được gia đình hỗ trợ, cảm nhận tự hiệuquả và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD tại Thổ Nhĩ Kỳ mắc COPD

do Magfiret K Kaşıkçı và cộng sự thực hiện 2007 cho kết quả 91,5% bệnhnhân cho rằng họ nhận được sự hỗ trợ từ gia đình và hơn 73% người tham giathực hiện đủ lượng hành vi tự chăm sóc, có mối liên quan có ý nghĩa thống kêgiữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc (r=0,302, p=0,01)[48]

Jiang Xiaolian và cộng sự (2002) đã thực hiện nghiên cứu về cảmnhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc ở bệnh nhân COPD Trung

Trang 28

Quốc Kết quả thu được điểm số của hành vi tự chăm sóc để đáp ứng các yêucầu tự chăm sóc sức khỏe chung là 32,28 ± 7,28 (16-48) Về tổng số điểmcảm nhận được gia đình hỗ trợ dao động từ 4 đến 15, với trung bình ± độ lệchchuẩn là 10,43 ± 1,99 Nghiên cứu cũng tìm ra có mối quan hệ tích cực có ýnghĩa thống kê giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và tổng hành vi tự chămsóc (r=0,252, p=0,012) [81].

Jijing Chen và cộng sự (2017) đã thực hiện nghiên cứu trên bệnh nhânCOPD Hoa Kỳ về mối liên quan giữa hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân và

sự hỗ trợ mà họ nhận được Kết quả từ nghiên cứu cho thấy bệnh nhân COPDcảm nhận được gia đình hỗ trợ tốt hơn thì có hoạt động thể chất nhiều hơn vàtham gia nhiều hơn vào các khóa học phục hồi chức năng hô hấp Kết quả củanghiên cứu đã củng cố tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ gia đình, xã hội đốivới hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD [30]

Shirvani và cộng sự (2020) thực hiện nghiên cứu về mối liên quangiữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc ở người cao tuổimắc COPD tại Iran Kết quả thu được là điểm trung bình của cảm nhận đượcgia đình hỗ trợ là 17,69 ± 2,74, được coi là tốt và điểm trung bình của cáchành vi tự chăm sóc là 105,36 ± 20,27, được coi là tốt Có một mối tươngquan nghịch, có ý nghĩa thống kê giữa cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành

vi tự chăm sóc của người cao tuổi mắc COPD (r=-0,44, p<0,001) Ngoài ra,

có mối tương quan thuận có ý nghĩa đã được xác định giữa các hành vi tựchăm sóc với giới tính (là nam), trình độ học vấn cao và sống với các thànhviên gia đình (không đơn độc) (p<0,05) [70]

Như vậy, bên cạnh nhiều nghiên cứu chỉ ra có mối liên hệ tích cực giữacảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPDvẫn có nghiên cứu có kết quả ngược lại Mối quan hệ này cần được làm sáng

tỏ thêm qua nhiều nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau

Trang 29

1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam liên quan cảm nhận được gia đình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân

Khác với các bệnh mạn tính như suy tim, tăng huyết áp hay đái tháođường, bệnh COPD có rất ít nghiên cứu về hành vi tự chăm sóc của bệnhnhân Càng ít hơn nữa các nghiên cứu về cảm nhận của bệnh nhân COPD về

sự hỗ trợ của gia đình

Theo nghiên cứu về thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc ởbệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Thái Nguyên do Nguyễn NgọcHuyền, Nguyễn Thị Hoài (2018) thực hiện trên 98 bệnh nhân COPD cho thấy

tỷ lệ nam cao hơn nữ (88,8% và 11,2%), có tới 75,5% đối tượng nghiên cứu

có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào Kiến thức về bệnh COPD còn ở mức độtrung bình Về kỹ năng thực hành chăm sóc, bệnh nhân còn thực hiện chưađúng ở một số bước trong các kỹ thuật hít thở và sử dụng dụng cụ hít [8].Nghiên cứu chỉ tập trung vào kỹ thuật sử dụng dụng cụ hít của bệnh nhân màchưa xác định được các khía cạnh khác của tự chăm sóc Nghiên cứu cũngkhông tìm hiểu cảm nhận của bệnh nhân về sự hỗ trợ của gia đình

Nghiên cứu của Bùi Văn Cường và cộng sự (2017) về thay đổi kiếnthức tự chăm sóc của người bệnh COPD tại khoa nội hô hấp bệnh viện Đakhoa tỉnh Quảng Ninh cho thấy tỷ lệ kiến thức tự chăm sóc của người bệnhtrước can thiệp là 26,7% và tỷ lệ kiến thức tự chăm sóc của người bệnh saucan thiệp là 100% [4] Cũng như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Huyền,Nguyễn Thị Hoài (2018), nghiên cứu trên cũng tập trung vào hành vi tái khámđúng hẹn, tái khám khi các triệu chứng nặng nề hơn và kỹ thuật sử dụng dụng

cụ hít đúng Chính vì vậy, cần thêm nhiều nghiên cứu về hành vi tự chăm sóccủa bệnh nhân bao gồm cả ba khía cạnh của tự chăm sóc là duy trì các hành vi

tự chăm sóc tốt (bỏ thuốc lá, tránh xa khói thuốc lá/bụi/phân tử khí ô nhiễm,vận động - tập luyện), quản lý các triệu chứng (theo dõi các triệu chứng đàm,

Trang 30

khó thở, tác dụng phụ của thuốc, tình trạng sức khỏe chung) và ứng phó vớicơn cấp (sử dụng thuốc hít khi khó thở, hít thở khi khó thở) Bên cạnh đó, cầnthêm nhiều nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng cảm nhận của bệnh nhân về sự hỗtrợ họ nhận được từ gia đình đến hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân.

1.4 Học thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh mạn tính và ứng dụng của học thuyết vào nghiên cứu

1.4.1 Học thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh mạn tính

Thế kỷ 20 kết thúc với sự tiến bộ đáng kể trong sự phát triển của cáchọc thuyết tầm trung trong điều dưỡng Học thuyết tầm trung là lý thuyết mô

tả một quan điểm về thực tế liên quan đến các hiện tượng cụ thể và một sốlượng biến hạn chế [67] Có hàng chục học thuyết tầm trung giải quyết cáchiện tượng lâm sàng cụ thể đối với thực hành điều dưỡng Hầu hết các họcthuyết tầm trung dường như xuất phát trực tiếp từ kinh nghiệm của các điềudưỡng lâm sàng, được phát triển từ các lý thuyết lớn trong điều dưỡng nhưhọc thuyết của Roy, King, Neuman, Orlando Các học thuyết tầm trung nhưhọc thuyết giải quyết nỗi đau, học thuyết chất lượng cuộc sống cho người già,học thuyết về căng thẳng của người chăm sóc và học thuyết về mệt mỏi.Trong đó, nổi bật lên có học thuyết tầm trung của Barbara Riegel, TinyJaarsma and Anna Strömberg về tự chăm sóc các bệnh mạn tính

Thực tế có gần 50% người trưởng thành có một hoặc nhiều bệnh mạntính Tự chăm sóc được coi là thiết yếu trong việc quản lý bệnh mạn tínhnhưng các yếu tố tự chăm sóc trong bệnh mạn tính chưa được xác định trongmột học thuyết tầm trung Chính vì vậy, Riegel và cộng sự (2012) đã xâydựng một học thuyết tầm trung về tự chăm sóc các bệnh mạn tính nhằm giảiquyết quá trình duy trì sức khỏe bằng các thực hành tăng cường sức khỏetrong bối cảnh đòi hỏi phải quản lý các bệnh mạn tính Học thuyết này khôngchỉ giới hạn trong thực hành điều dưỡng Nó giúp ích cho tất cả các chuyên

Trang 31

gia y tế trong việc xác định tiến trình tự chăm sóc của bệnh nhân với căn bệnhmạn tính để xây dựng các can thiệp phù hợp nhằm cải thiện sức khỏe chobệnh nhân.

Theo học thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh mạn tính, tự chăm sócđược định nghĩa là quá trình thực hành nâng cao sức khỏe và quản lý bệnh tật

Tự chăm sóc được thực hiện cả lúc khỏe mạnh và lúc bệnh tật

Hình 1.2: Khung khái niệm học thuyết tầm trung về tự chăm sóc

bệnh mạn tính [67]

Lý thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh mạn tính gồm ba khái niệmchính là duy trì tự chăm sóc, theo dõi tự chăm sóc và quản lý tự chăm sóc.Thứ nhất, khái niệm về duy trì tự chăm sóc đề cập đến những hành vi đượcthực hiện để cải thiện sức khỏe, giữ gìn sức khỏe hoặc duy trì sự ổn định vềthể chất và tinh thần Ở những cá nhân tự chăm sóc tốt tập trung vào việc cảithiện bản thân, nhưng khi đối mặt với một căn bệnh mạn tính, nhiều hành viduy trì tự chăm sóc phản ánh các khuyến nghị của chuyên gia y tế hoặc thànhviên trong gia đình Những hành vi này có thể liên quan đến lối sống như cai

Các yếu tốảnh hưởng

- Tiếp cận chămsóc

- Duy trì tựchăm sóc

- Theo dõi tựchăm sóc

- Quản lý tựchăm sóc

- Chất lượngcuộc sống

- Sức khỏe

- Sự ổn địnhtình trạng bệnh

Trang 32

thuốc lá, chuẩn bị thức ăn lành mạnh, đối phó với căng thẳng hoặc tuân thủdùng thuốc.

Thứ hai, giám sát tự chăm sóc là một quá trình thường xuyên, giám sát

sự thay đổi của cơ thể một cách thận trọng Khi các dấu hiệu và triệu chứngđược phát hiện sớm và xác định được mức độ nghiêm trọng của chúng, bệnhnhân sẽ có các hành động phù hợp trước khi bệnh diễn biến xấu đi Bên cạnh

đó, bệnh nhân có kỹ năng giám sát tự chăm sóc có thể truyền đạt thông tinđến các chuyên gia chăm sóc sức khỏe Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi đểcác chuyên gia sức khỏe cung cấp dịch vụ chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân

Cuối cùng, khái niệm về quản lý tự chăm sóc bao gồm đánh giá cácthay đổi về các dấu hiệu và triệu chứng về thể chất và cảm xúc để xác địnhxem có cần hành động hay không Những thay đổi có thể là do bệnh tật, điềutrị hoặc môi trường Những bệnh nhân quản lý tự chăm sóc tốt sẽ hiểu được ýnghĩa của những thay đổi và có những hành động phù hợp Mặt khác, quản lýchăm sóc bản thân cần tham khảo ý kiến với nhà cung cấp dịch vụ chăm sócsức khỏe để cung cấp dịch vụ điều trị phù hợp

Về các quy trình cơ bản cho sự tự chăm sóc, học thuyết đề cập đếnviệc ra quyết định và sự suy ngẫm Ra quyết định là tiến trình phức tạp của tựchăm sóc Để ra quyết định tốt bệnh nhân cần phân tích, hệ thống các bằngchứng để ra quyết định phù hợp Tuy nhiên, học thuyết mô tả bệnh nhân hiếmkhi ra quyết định theo quy trình hay phương pháp Họ có xu hướng ra quyếtđịnh theo chủ nghĩa tự nhiên khi thực hiện tự chăm sóc Cách ra quyết địnhtheo chủ nghĩa tự nhiên rất phù hợp trong tự chăm sóc vì tính chất phức tạpcủa tình huống thực tế, cần ra quyết định nhanh chóng

Sự suy ngẫm cũng là quá trình cơ bản của tự chăm sóc Học thuyết đềcập sự suy ngẫm có liên quan mật thiết với sự tiếp thu kiến thức tự chăm sóc.Một cách lý tưởng nhất là bệnh nhân có kiến thức về việc tự chăm sóc cần

Trang 33

thiết cho tình trạng của họ Họ hiểu ý nghĩa của dữ liệu họ thu thập và đưa ranhững hành vi tự chăm sóc tốt khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng bất thường.

Học thuyết cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến tự chăm sóc.Các yếu đó là kinh nghiệm và kỹ năng, động lực, thói quen, niềm tin và giá trịvăn hóa, tình trạng thể chất và nhận thức, sự tự tin, sự hỗ trợ và khả năng tiếpcận dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Học thuyết cũng xác định các kết quả đạt được của quá trình tự chămsóc Đây là cơ sở để bệnh nhân cũng như các chuyên gia y tế đánh giá đượchiệu quả của quá trình tự chăm sóc của bệnh nhân cũng như xây dựng cácchiến lược can thiệp phù hợp với các mục tiêu mong muốn Các kết quả tựchăm sóc đạt được là sự ổn định về bệnh tật, sức khỏe, hạnh phúc, nâng caochất lượng cuộc sống, giảm lo âu, giảm việc nhập viện, chi phí điều trị và tỷ

lệ tử vong

Như vậy, học thuyết tầm trung về chăm sóc bệnh mạn tính không chỉhữu ích cho các nhà nghiên cứu mà còn cho cả các chuyên gia lâm sàng.Trong quá trình thực hành lâm sàng, học thuyết có thể dùng để xây dựng bảngđánh giá có cấu trúc nhằm xác định một bệnh nhân cụ thể gặp khó khăn ở đâutrong quá trình tự chăm sóc Một bệnh nhân không nhận biết các triệu chứngtrở nặng của bệnh sẽ được can thiệp khác so với một bệnh nhân thực hànhkém hành vi tự chăm sóc Bệnh nhân cần được cung cấp kiến thức và kỹ năng

để nhận biết triệu chứng trở nặng Trong khi đó, để bệnh nhân duy trì hành vi

tự chăm sóc có thể cần tạo động lực cho bệnh nhân Học thuyết tầm trung sẽgiúp đưa ra các các can thiệp phù hợp hơn nhằm mang lại lợi ích về hiệu quả

và chi phí so với một can thiệp chung Bên cạnh đó, học thuyết cũng giúp nhànghiên cứu và lâm sàng có kế hoạch đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đếnquá trình tự chăm sóc của bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính

1.4.2 Ứng dụng của học thuyết vào nghiên cứu

Trang 34

COPD là bệnh mạn tính, bệnh tiến triển kéo dài, các triệu chứng củabệnh gây ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý, xã hội của người bệnh Chính vì thế,bệnh nhân cần phải học cách tự chăm sóc và thực hiện tự chăm sóc tốt để duytrì sức khỏe và đối phó với bệnh tật Nghiên cứu này nhằm xác định các hành

vi tự chăm sóc bệnh nhân thực hiện, mối liên quan giữa cảm nhận được giađình hỗ trợ và hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân Chính vì thế, học thuyếttầm trung về tự chăm sóc bệnh mạn tính là học thuyết vô cùng phù hợp để ápdụng cho nghiên cứu này

Ứng dụng học thuyết vào nghiên cứu này, nghiên cứu viên không chỉkhảo sát các đặc tính chung của mẫu nghiên cứu mà còn sử dụng các công cụphù hợp để đánh giá cảm nhận của bệnh nhân COPD về sự hỗ trợ bệnh nhânnhận được từ gia đình mình cũng như hành vi tự chăm sóc của họ Khi đánh

Các yếu tố ảnh hưởng tự chăm sóc ở bệnh nhân COPD

Tiến trình tự chăm sóc ở bệnh nhân COPD

Kết quả tự chăm sóc

- Đặc điểmnhân khẩu học:

tuổi, giới

- Tình trạngbệnh tật

- Hỗ trợ từngười khác: giađình (Thang đocảm nhận hỗ trợ

từ gia đình củaMohammadAbbas Uddin)

- Hành vi tựchăm sóc: duytrì, theo dõi,quản lý (Thang

đo hành vi tựchăm sóc COPDcủa Alberto)

- Chất lượngcuộc sống

- Sức khỏe

- Bệnh ổn định

Sơ đồ 1.2: Ứng dụng học thuyết tầm trung về tự chăm sóc bệnh nhân COPD

Trang 35

giá các hành vi tự chăm sóc của bệnh nhân COPD, nhà nghiên cứu đề cập đầy

đủ các tiến trình của quá trình tự chăm sóc Học thuyết cũng là cơ sở đểnghiên cứu viên thực hiện các nghiên cứu tiếp theo như can thiệp các chươngtrình giáo dục sức khỏe về tự chăm sóc cho bệnh nhân cũng như cung cấp căn

cứ để đánh giá hiệu quả của chương trình can thiệp

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: tháng 05/2020 – tháng 10/2021 Thời gian

thu thập dữ liệu từ 11/2020 đến 05/2021

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám quản lý hen-COPD, Bệnhviện Nhân Dân Gia Định

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.3 Tiêu chuẩn chọn vào

- Bệnh nhân từ 40 tuổi trở lên, được chẩn đoán mắc COPD

- Bệnh nhân tỉnh táo, có khả năng nghe hiểu tiếng Việt, không mắccác bệnh tâm thần kinh

- Bệnh nhân sống cùng với ít nhất một người thân trong gia đình hoặc

họ hàng

- Bệnh nhân đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.3.4 Tiêu chuẩn loại ra

Trang 37

- Bệnh nhân COPD mắc các bệnh nặng như ung thư, suy tim xunghuyết, lao (có các triệu chứng chồng lấp COPD, làm nặng hơn tình trạng bệnh

và ảnh hưởng đến khả năng tự chăm sóc)

2.3.5 Cỡ mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức sau: [18]

n: cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu

z: trị số tính từ phân phối chuẩn với độ tin cậy 95%, z(1-/2)=1,96

d: sai số cho phép, chọn d=0,06

p: tỷ lệ bệnh nhân COPD có hành vi tự chăm sóc tốt p=0,765 [81]

Thay vào công thức n=191

Chúng tôi chọn cỡ mẫu n = 213 bệnh nhân (cộng thêm 10% từ chốitham gia nghiên cứu)

Trong khoảng thời gian từ 11/2020 đến 05/2021, chúng tôi lựa chọnđược 220 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn và đồng ý tham gia nghiên cứu Vì vậy, cỡmẫu của nghiên cứu là 220

2.3.6 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu thuận tiện trong các ngày làm việc, từ thứ hai đến thứ sáu.Thời gian sáng từ 7h30 – 11h30, chiều từ 13h - 16h, tại phòng khám quản lýhen-COPD, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định Người bệnh đủ tiêu chuẩn sẽđược lựa chọn theo sơ đồ sau:

Trang 38

2.4 Liệt kê và định nghĩa biến số

2.4.1 Các biến số về đặc điểm đối tượng nghiên cứu

1 Tuổi Biến liên tục Là số tuổi của bệnh nhân, được tính từ

năm sinh của bệnh nhân tham gia nghiên

Sơ đồ 2.1: Các bước tiến hành chọn mẫu nghiên cứu

254 bệnh nhânCOPD

34 bệnh nhân không

đủ tiêu chuẩn/khôngđồng ý tham gia

220 bệnh nhân đủtiêu chuẩn và đồng

ý tham gia

Kết thúc phỏngvấn, cảm ơn bệnh

nhânCảm

Phỏng vấn, thuthập số liệu

Bệnh nhân đếnkhám tại phòngquản lý hen-COPD

Trang 39

STT Tên biến số Loại biến số Định nghĩa

cứu cho đến năm tiến hành nghiên cứu

2 Nhóm tuổi Biến nhị giá Tuổi được chia thành 2 nhóm: dưới 60

tuổi và từ 60 tuổi trở lên [8]

3 Giới Biến nhị giá Là giới tính của bệnh nhân Có hai giá

nghiệp

Biến danhđịnh

Là việc làm chính của người bệnh, manglại thu nhập để sinh sống với 6 giá trị lànông dân, công nhân, công chức/viênchức, nội trợ, nghỉ hưu/mất sức lao động

và nghề nghiệp khác Sau khi thu thập sẽđược phân thành 2 nhóm là không cònlàm việc (nghỉ hưu/mất sức lao động) vàcòn đang làm việc

sẽ được phân thành 2 nhóm là từ cấp 2trở xuống và từ cấp 3 trở lên

Trang 40

STT Tên biến số Loại biến số Định nghĩa

7 Tình trạng

hôn nhân

Biến danhđịnh

Là tình trạng hôn nhân của bệnh nhânvới 2 giá trị: đã kết hôn và độc thân/góa

vợ hoặc chồng/ly dị/ly thân

8 Tình trạng

thu nhập

Biến thứ tự Là cảm nhận của bệnh nhân về khả năng

đáp ứng nhu cầu sinh sống của thu nhậphàng tháng Có 3 giá trị là nghèo, đủ ăn

và khá

9 Tình trạng

hút thuốc lá

Biến danhđịnh

Là biến số ghi nhận tình trạng hút thuốc

lá của bệnh nhân, với 3 giá trị là chưatừng hút thuốc lá, bỏ hút thuốc lá vàđang hút thuốc lá

10 Số năm bỏ

thuốc lá

Biến địnhlượng

Là biến số ghi nhận số năm bệnh nhân

bỏ thuốc lá, ghi nhận từ lúc bệnh nhânbắt đầu bỏ thuốc lá đến thời điểm khảosát

11 Bảo hiểm y

tế (BHYT)

Biến nhị giá Là biến số ghi nhận loại BHYT bệnh

nhân đang sử dụng, gồm 2 giá trị là cóBHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc[14]

Biến thứ tự Là biến số ghi nhận mức chi phí khám

chữa bệnh được BHYT chi trả, có 3 giátrị là 100%, 95% và 80% [14]

13 Mức độ tắc

nghẽn

Biến thứ tự Là biến số ghi nhận mức độ tắc nghẽn

đường thở (dựa vào chỉ số FEV1(%) sau

Ngày đăng: 04/04/2023, 21:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Thị Nhật An và cộng sự (2011), "Mối liên quan giữa BMI và các giai đoạn COPD", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 15 (1), tr. 372- 377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Thị Nhật An, cộng sự
Năm: 2011
8. Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Hoài (2018), "Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Thái
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Thị Hoài
Năm: 2018
18. Viện Y tế Công cộng (2020), Cỡ mẫu cho điều tra nghiên cứu sức khỏe cộng đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỡ mẫu cho điều tra nghiên cứu sức khỏe cộng đồng
Tác giả: Viện Y tế Công cộng
Năm: 2020
9. Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Tiến Dũng (2013), "Các yếu tố liên quan đến hành vi tự chăm sóc của người già suy tim tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên", Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 64, tr. 1-3 Khác
19. Adeloye D. et al. (2015), "Global and regional estimates of COPD prevalence: Systematic review and meta–analysis", Journal of global health, 5 (2), pp. 1-17 Khác
26. Borges-Santos E. et al. (2015), "Anxiety and depression are related to dyspnea and clinical control but not with thoracoabdominal mechanics Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w