Jee-Youn Oh và cộng sự nghiên cứu loãng xương ởbệnh nhân ACO ở 321 bệnh nhân so sánh tỷ lệ loãng xương ở ba nhóm hen ,ACOvà BPTNMT nhận thấy tỷ lệ loãng xương ở bệnh nhân hen là 53,6%, A
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Mô tả hàng loạt ca
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Tất cả các bệnh nhân bị BPTNMT điều trị ở phòng quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định.
Bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (BPTNMT) và điều trị tại phòng quản lý hen và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính của Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 10/2019 đến tháng 5/2020 Quá trình điều trị nhằm kiểm soát tốt các triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm thiểu các đợt cấp của bệnh Kết quả điều trị cho thấy sự cải thiện rõ rệt các triệu chứng hen phổi và giảm tần suất tái phát của bệnh nhân Phòng quản lý bệnh tại bệnh viện đã phối hợp chặt chẽ trong việc theo dõi và điều chỉnh điều trị phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.
-Bệnh nhân đƣợc chẩn đoán BPTNMT theo GOLD 2019( có kết quả hô hấp ký có tỷ số FEV1/FVC 0,05.
- Tỷ lệ bệnh nhân nam bị loãng xương theo T-score CSTL chiếm 29,8% thấp hơn ở nữ chiếm 70%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Tỷ lệ bệnh nhân nam bị loãng xương theo T-score chung chiếm 38,3% thấp hơn ở nữ chiếm 80%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Khả năng mắc bệnh loãng xương theo T-score chung ở nhóm bệnh nhân nữ tăng gấp 6,4 lần nhóm bệnh nhân nam với KTC 95% (1,3 – 32,1).
3.2.1.4 Đặc đ ểm hút thuốc lá với tình trạ o xươ
Bảng 3.21 Phân bố hút thuốc lá theo mật độ xương tại T-score chung
Khoảng 50% bệnh nhân không hút thuốc lá mắc loãng xương theo phương pháp đo T-score, cao hơn so với tỷ lệ 42% ở nhóm bệnh nhân có thói quen hút thuốc Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với giá trị p > 0,05, cho thấy không tồn tại mối liên hệ rõ ràng giữa hút thuốc lá và tỷ lệ loãng xương trong nghiên cứu này.
3.2.1.5 Đặc đ ểm uố rượu với tình trạ o xươ
Bảng 3.22 Phân bố uống rượu theo mật độ xương tại T-score chung
Uống rƣợu 7 (77,8%) 2 (22,2%) 9 (8,7%) 0,296 Không uống rƣợu 53 (55,8%) 42 (44,2%) 95 (91,3%)
Khoảng 44,2% bệnh nhân không uống rượu bị loãng xương theo T-score, cao hơn so với 22,2% ở nhóm bệnh nhân có uống rượu Tuy nhiên, sự khác biệt này không đáng kể về mặt thống kê với p > 0,05.
3.2.1.6 Đặc đ ểm chỉ số khố cơ thể với tình trạ o xươ
Bảng 3.23 Phân bố chỉ số khối cơ thể với mật độ xương tại CXĐ và CSTL theo T- score
Trong nghiên cứu, trung bình BMI của bệnh nhân loãng xương là 18,7 ± 3,4 kg/m², thấp hơn so với BMI trung bình của nhóm không loãng xương là 22,1 ± 3,4 kg/m² Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy BMI không phải yếu tố độc lập ảnh hưởng đến loãng xương trong mẫu nghiên cứu này.
Bệnh nhân bị loãng xương theo T-score CSTL có BMI trung bình là 20,3 ± 3,6 kg/m², thấp hơn so với nhóm không mắc loãng xương với BMI trung bình là 21,7 ± 3,7 kg/m² Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng về BMI giữa hai nhóm bệnh nhân.
Bệnh nhân bị loãng xương có BMI trung bình là 20,0 ± 3,7 kg/m², thấp hơn đáng kể so với BMI trung bình của nhóm không mắc loãng xương là 22,1 ± 3,6 kg/m² Sự khác biệt về BMI này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05, cho thấy mối liên quan giữa BMI thấp và nguy cơ loãng xương.
- Khả năng mắc bệnh loãng xương theo T-score chung ở nhóm bệnh nhân BPTNMT giảm 0,85 lần nếu BMI tăng lên 1 kg/m 2 với KTC 95% (0,76 – 0,96).
Bảng 3 24 Tương quan giữa BMI với mật độ xương tại hai vị trí
Tươ ua ữa BMI với R p
Mật độ xương cổ xương đùi 0,206 0,036
Mật độ xương cột sống thắt lƣng
Biểu đồ 3.7 Tương quan giữa BMI và mật độ xương cổ xương đùi
Biểu đồ 3.8 Tương quan giữa BMI và mật độ xương cột sống thắt lưng
Nghiên cứu trên 104 bệnh nhân mắc bệnh PMTNMT cho thấy có mối tương quan tích cực giữa chỉ số BMI và mật độ xương cổ xương đùi, cũng như mật độ xương cột sống thắt lưng, với hệ số tương quan lần lượt là r = 0,206 và r = 0,247, đều có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Bảng 3.25 Phân bố tình trạng nhẹ cân với mật độ xương tại CXĐ và CSTL theo T- score
Tại vị trí CXĐ, tỷ lệ bệnh nhân nhẹ cân bị loãng xương chiếm đến 55,6%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 16,9% ở bệnh nhân không nhẹ cân Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,05, cho thấy rõ mối liên quan giữa tình trạng nhẹ cân và nguy cơ loãng xương.
Tỷ lệ bệnh nhân nhẹ cân mắc loãng xương theo T-score CSTL là 55,6%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 29,9% ở nhóm bệnh nhân không nhẹ cân Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy chưa có sự khác biệt đáng kể về nguy cơ loãng xương giữa hai nhóm.
- Tỷ lệ bệnh nhân nhẹ cân bị loãng xương theo T-score chung chiếm 59,3% cao hơn ở bệnh nhân không nhẹ cân chiếm 36,4%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
- Khả năng mắc bệnh loãng xương theo T-score chung ở nhóm bệnh nhân nhẹ cân BMI < 18,5 tăng gấp 2,5 lần nhóm bệnh nhân không nhẹ cân BMI ≥ 18,5 với KTC 95% (1,04 – 6,2).
3.2.1.7 Đặc đ ểm thời gian bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với tình trạng loãng xươ
Bảng 3.26 Phân bố thời gian BPTNMT theo mật độ xương tại T-score chung
BÀN LUẬN
ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
Trong số 104 bệnh nhân được chọn theo tiêu chuẩn chọn mẫu, tuổi trung bình là 65,5 ± 8,6 tuổi, với độ tuổi cao nhất là 87 và thấp nhất là 40 Có đến 76,9% bệnh nhân có độ tuổi từ 60 trở lên, trong đó hơn 30,8% trên 70 tuổi, cho thấy phần lớn bệnh nhân nằm trong nhóm người cao tuổi.
Phân bố tuổi của chúng tôi tương tự với các nghiên cứu trước đó, với tuổi trung bình dao động từ 63,4 đến 68 tuổi Cụ thể, tác giả Hoàng Đức Bách ghi nhận tuổi trung bình là 67,3 ± 8,8 tuổi; Trần Văn Bình là 65,7 ± 10,2 tuổi, trong đó nhóm trên 70 tuổi chiếm 37,8%; Dương Kim Hương năm 2014 ghi nhận tuổi trung bình là 67 tuổi; Nguyễn Văn Thọ và Cao Thị Mỹ Thúy đều có tuổi trung bình khoảng 68 và 67 tuổi Nghiên cứu của Alvar Agusti với 2.164 bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ổn định cho thấy tuổi trung bình là 63,4 ± 7,1 tuổi.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình của nhóm mắc BPTNMT thấp hơn mức 65,5 của tác giả Trần Văn Ngọc, đặc biệt ở nhóm có tuổi thấp nhất Điều này cho thấy xu hướng trẻ hóa trong các trường hợp BPTNMT, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chú ý đến các biến đổi về độ tuổi khi đánh giá nguy cơ và khả năng phòng ngừa bệnh So sánh này giúp nâng cao nhận thức về sự thay đổi của đặc điểm dịch tễ học bệnh trong cộng đồng, hỗ trợ các chiến lược y tế phù hợp để kiểm soát bệnh tốt hơn.
Trong nghiên cứu, tuổi trung bình của các bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD là khoảng 73 ± 10 tuổi, phản ánh sự gia tăng tuổi tác liên quan đến tình trạng bệnh Trẻ hơn, tuổi trung bình là 40 tuổi, trong khi nhóm cao tuổi nhất là 87 tuổi, còn nhóm thấp nhất là 37 tuổi, có độ tuổi trung bình là 72,9 tuổi Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thành cũng nhận thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân là 73 tuổi, cho thấy rằng COPD thường xuất hiện ở người trung niên và cao tuổi.
Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng tuổi mắc bệnh BPTNMT thay đổi đáng kể tùy theo từng nhóm nghiên cứu Theo Alvar Agusti, tuổi trung bình của 2.164 bệnh nhân BPTNMT ổn định là khoảng 63,4 tuổi, với độ lệch chuẩn là 7,1 Trong khi đó, Ruparel ghi nhận tuổi trung bình của 15.981 bệnh nhân nhập viện vì Đột quỵ BPTNMT là khoảng 70,7 tuổi, với độ lệch chuẩn là 10,7 Điều này cho thấy tuổi mắc bệnh BPTNMT phổ biến tăng dần theo các nghiên cứu và đặc điểm của từng nhóm bệnh nhân.
Theo các nghiên cứu, tuổi càng cao, diễn tiến của bệnh phình động mạch não thất (BPTNMT) càng xấu đi, gây ra số lần nhập viện do đợt cấp tăng lên đáng kể Mặc dù có sự khác biệt về tuổi trung bình giữa các nghiên cứu, nhưng tất cả đều thống nhất nhận thấy rằng nhóm bệnh nhân từ tuổi trung bình trở lên có nguy cơ bệnh nặng hơn và cần được theo dõi chặt chẽ để giảm thiểu biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Người từ 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao trong nhóm bệnh nhân BPTNMT nặng, thường đi kèm với nhiều bệnh lý đồng mắc như bệnh tim mạch, ung thư phổi, loãng xương và đái tháo đường Tần suất các bệnh lý này khác nhau giữa các nghiên cứu do phương pháp đánh giá, chẩn đoán và phân bố dân số, nhưng phổ biến nhất vẫn là các bệnh tim mạch, đặc biệt là suy tim mạn.
Bệnh tim mạch là một bệnh đồng mắc thường xuyên và có vai trò quan trọng trong COPD, liên quan đến tiên lượng xấu, nhiều triệu chứng và khả năng gắng sức giảm sút, do đó cần phát hiện, đánh giá và điều trị phù hợp Trong thực hành lâm sàng, việc hiểu rõ ảnh hưởng của các thuốc điều trị COPD đối với bệnh tim mạch cũng như tác dụng của các thuốc tim mạch lên COPD là rất cần thiết để lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu.
Bệnh nhân COPD có nguy cơ mắc ung thư phổi cao hơn so với người có chức năng hô hấp bình thường, tuy nhiên việc chẩn đoán và điều trị ung thư phổi ở nhóm này gặp nhiều khó khăn do các kỹ thuật thường khó thực hiện ở bệnh nhân COPD mức độ tắc nghẽn trung bình đến nặng, do nguy cơ biến chứng cao Ngoài ra, tần suất loãng xương ở bệnh nhân COPD (14,8%) cao hơn so với dân số chung (10,8%), với các yếu tố nguy cơ bao gồm hút thuốc lá, thiếu vitamin D, giảm BMI, kém vận động và dùng corticosteroid kéo dài Các biện pháp điều trị và phòng ngừa loãng xương cần tập trung vào việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ như cai thuốc lá, tăng cường vận động, sử dụng corticosteroid hợp lý, cũng như phòng tránh và điều chỉnh tình trạng suy dinh dưỡng.
Bệnh đái tháo đường gặp phổ biến ở bệnh nhân COPD, chiếm tỷ lệ khoảng 14% và làm tăng nguy cơ nhập viện cũng như tử vong Sử dụng corticosteroid có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng kiểm soát đường huyết ở người mắc đái tháo đường, đồng thời thúc đẩy tăng mức đường huyết ở những người có nguy cơ mắc bệnh này.
Kết quả này phản ánh đúng dịch tễ học của BPTNMT, xảy ra trên bệnh nhân lớn tuổi, có thời gian dài tiếp xúc với yếu tố nguy cơ [75].
Tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) tăng theo tuổi, và tuổi cao là một yếu tố nguy cơ đáng kể Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy 23,1% bệnh nhân mắc BPTNMT nằm trong nhóm từ 40 đến 59 tuổi, cho thấy bệnh có thể gặp ở người còn khá trẻ, còn năng lượng và sức cống hiến cho xã hội Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện các chương trình tầm soát thường xuyên và rộng rãi để phát hiện bệnh sớm, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và ý thức phòng ngừa của cộng đồng.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 104 bệnh nhân được chọn theo tiêu chuẩn mẫu, trong đó 90,4% là nam giới và 9,6% là nữ giới, tỷ lệ nam so nữ là 9,4:1 Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Lê Kim Nhung (90% nam), Đỗ Thị Tường Oanh (86,5% nam), Dương Kim Hương (82,2% nam), Dương Đình Chỉnh (83,13% nam), Trần Văn Bình (87,8% nam) và Chang Hoon Lee (88,1% nam) Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng theo mức tiêu thụ thuốc lá, với nam giới mắc bệnh cao hơn đáng kể so với nữ giới, chủ yếu do nam giới thường hút thuốc lá nhiều hơn, đây chính là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh BPTNMT.
Tỷ lệ nam/nữ trong các nghiên cứu ngoài nước thường thấp hơn, ví dụ như nghiên cứu của John Steer và cộng sự tại Anh có tỷ lệ 1/1, trong khi nghiên cứu của Maha Yousif và cộng sự tại Ấn Độ có tỷ lệ 2/1 Sự khác biệt này chủ yếu do ở các nước phát triển, tỷ lệ hút thuốc lá của nữ giới khá cao, và nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ nhạy cảm hơn với khói thuốc, từ đó làm tăng tỷ lệ mắc bệnh trong nhóm này. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách cải thiện bài viết của mình theo chuẩn SEO và muốn có những câu tóm tắt ý chính? Thật khó để luôn tạo ra nội dung chất lượng phải không? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/BCYJD5PY), bạn có thể tạo ra các bài viết 2,000 từ, tối ưu SEO ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết! Ví dụ, đoạn văn bạn cung cấp có thể được tóm tắt thành: "Tỷ lệ nam/nữ mắc bệnh khác nhau giữa các nghiên cứu quốc tế, có thể do tỷ lệ hút thuốc ở nữ giới cao hơn ở các nước phát triển, làm tăng nguy cơ mắc bệnh." Nó giống như có một đội ngũ nội dung của riêng bạn—mà không gặp rắc rối nào!
Tỷ lệ người bệnh có hút thuốc chiếm 96,2%, trong đó 41,4% vẫn đang hút thuốc và 54,8% đã bỏ thuốc, còn 3,8% hoàn toàn không hút thuốc Trung bình lượng thuốc hút ghi nhận là 29,6 gói năm, phù hợp với các nghiên cứu khác như của Dương Kim Hương với tỷ lệ hút thuốc 55% và trung bình 31,7 gói/năm, cũng như của Hứa Thị Ngọc Quỳnh với 82% người hút thuốc và trung bình 30 gói/năm, thể hiện thực trạng hút thuốc tại Việt Nam Theo GATS 2015, tỷ lệ nam giới hút thuốc là 45,3%, nữ giới là 1,1% Hút thuốc lá là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mắc bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), với nhiều nghiên cứu xác nhận mối liên hệ chặt chẽ giữa việc hút thuốc và sự phát triển của căn bệnh này trên phạm vi toàn cầu.
Nhiều bệnh nhân nữ mắc BPTNMT không có thói quen hút thuốc lá, cho thấy các yếu tố nguy cơ khác như ô nhiễm không khí do khói từ chất đốt sinh hoạt, ô nhiễm bụi độc tại nơi làm việc và môi trường cũng góp phần đáng kể vào bệnh lý này Khuyến cáo của GOLD 2019 nhấn mạnh tác động của các yếu tố nguy cơ môi trường như khói bụi, ô nhiễm không khí và ô nhiễm môi trường chung đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Dự báo tình hình này sẽ còn xấu đi trong tương lai, do ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát tốt, gây ra sự gia tăng tỷ lệ mắc BPTNMT ở nữ giới.
ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ MẬT ĐỘ XƯƠNG Ở CỔ XƯƠNG ĐÙI VÀ CỘT SỐNG THẮT LƢNG
4.2.1 Mật độ xươ và đặc đ ểm phân bố mật độ xươ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
4.2.1.1 Mật độ xươ ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán loãng xương theo WHO là đo mật độ xương tại cột sống và cổ xương đùi (CXĐ) Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã đo mật độ xương tại hai vị trí này bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA), phù hợp với tiêu chuẩn của WHO Kết quả cho thấy, mật độ xương trung bình tại cổ xương đùi là 0,64 ± 0,18 g/cm² và tại cột sống thắt lưng là 0,79 ± 0,14 g/cm²; T-score trung bình của vùng cổ xương đùi là -1,8 ± 0,9, còn của cột sống thắt lưng là -1,9 ± 1,2, đều nằm trong vùng thiếu xương từ -2,5 đến -1,1 Các kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Dương Kim Hương, ghi nhận mật độ cổ xương đùi là 0,60 ± 0,17 g/cm² và mật độ cột sống thắt lưng là 0,8 ± 0,22 g/cm², mặc dù thấp hơn so với khảo sát của Hồ Phạm Thục Lan trên đối tượng người Việt trên 50 tuổi, với T-score vùng cổ xương đùi là -1,84 ± 0,96 và -1,5 ± 0,90; vùng cột sống thắt lưng là -1,61 ± 1,28 và -1,33 ± 1,33. -**Sponsor**Looking to refine your article on osteoporosis diagnosis and ensure it's SEO-friendly? Focus on the WHO's gold standard of bone density measurement at the spine and femoral neck using DEXA Highlight key findings, such as the average bone density at the femoral neck (0.64 ± 0.18 g/cm²) and lumbar spine (0.79 ± 0.14 g/cm²), along with their corresponding average T-scores (-1.8 ± 0.9 and -1.9 ± 1.2, respectively), indicating osteopenia For more in-depth insights to enhance your article, consider a [1 Year Subscription: Nature Reviews Endocrinology](https://pollinations.ai/redirect-nexad/NOQvMD0x) and stay updated on the latest developments in bone health research.
Nghiên cứu của Graat-Verboom và cộng sự năm 2010 trên 168 đối tượng trung bình 63,6 tuổi cho thấy tỷ lệ loãng xương chiếm 38,7%, dựa trên đo mật độ xương tại vùng hông và cột sống thắt lưng Giá trị BMI trung bình của nhóm nghiên cứu là 24,7, với mật độ xương đo tại vùng hông là 0,827 ± 0,149 g/cm² và tại cột sống thắt lưng là 1,065 ± 0,215 g/cm² Đây là các số liệu quan trọng để đánh giá nguy cơ loãng xương ở người cao tuổi.
Nghiên cứu của Karadag và cộng sự đã phát hiện rằng, trong số 28 bệnh nhân nam bị BPTNMT ở giai đoạn GOLD II, tuổi trung bình là 63, BMI trung bình là 25 kg/m² Mật độ xương của vùng cổ xương đùi ở các bệnh nhân đạt mức 0,790 g/cm², trong khi mật độ xương vùng cột sống thắt lưng là 0,87 g/cm², cho thấy tình trạng loãng xương có thể liên quan đến mức độ bệnh và các yếu tố về thể trạng của bệnh nhân.
Jorgensen và cộng sự đã nghiên cứu trên 181 đối tượng trung niên, trung bình tuổi là 63,2 với %FEV1 dự đoán là 32,6 ± 14,1, cho thấy mức chức năng phổi giảm đáng kể ở nhóm này Mật độ xương tại vùng cổ xương đùi và cột sống thắt lưng lần lượt là 0,833 ± 0,162 và 1,027 ± 0,198, phản ánh mức độ giảm mật độ xương liên quan đến tình trạng loãng xương Nghiên cứu này góp phần làm rõ mối liên hệ giữa chức năng phổi và mật độ xương ở người trung niên, giúp định hướng các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả.
Theo Y văn, vùng cổ xương đùi và cột sống thắt lưng được sử dụng để đo mật độ xương, trong đó kỹ thuật DEXA đặc biệt tập trung vào vùng cổ xương đùi để chẩn đoán loãng xương, nhất là trên đối tượng BPTNMT Người Châu Á có mật độ xương thấp hơn người Châu Âu, và phần lớn các nghiên cứu về mật độ xương chủ yếu được thực hiện ở Châu Âu, cho kết quả mật độ xương và giá trị T score cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi Nguyên nhân chính là do đối tượng trong các nghiên cứu này có tình trạng dinh dưỡng tốt hơn và độ tuổi thấp hơn so với nhóm nghiên cứu của chúng tôi.
4.2.1.2 Tỉ lệ o xươ , t ếu xươ ở bệnh nhân BPTNMT
Trong nghiên cứu của chúng tôi với 104 bệnh nhân BPTNMT, có 47 đối tượng (45,2%) chẩn đoán thiếu xương, trong đó 44 người (42,3%) mắc loãng xương và chỉ 13 người (12,5%) có mật độ xương bình thường Khảo sát vùng cổ xương đùi cho thấy 50 trường hợp (48,1%) thiếu xương, trong đó có 28 trường hợp (26,9%) loãng xương, còn 26 người (25%) có mật độ xương bình thường Nghiên cứu vùng cột sống thắt lưng ghi nhận 39 trường hợp (37,5%) thiếu xương, trong đó 35 bệnh nhân (33,7%) mắc loãng xương và 30 người (28,8%) có mật độ xương bình thường Sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương tại hai vị trí vùng cột sống thắt lưng và cổ xương đùi là có ý nghĩa thống kê (p < 0,0001), với tỷ lệ loãng xương cao hơn tại vùng cột sống thắt lưng (33,7%) so với cổ xương đùi (26,9%).
Theo nghiên cứu của Trần Văn Ban (2012), tỷ lệ loãng xương tại vị trí cột sống thắt lưng (CSTL) là 76,7%, trong khi đó tỷ lệ giảm mật độ xương đạt 13,3% Ngược lại, tại đoạn chân xương đùi (CXĐ), tỷ lệ loãng xương là 20% và giảm mật độ xương là 60% Loãng xương thường gặp hơn tại vùng cổ xương đùi, phù hợp với vị trí gồm các đốt sống từ L1 đến L4, chủ yếu là xương xốp có tốc độ mất xương hàng năm cao hơn so với xương đặc Do đó, các biểu hiện của loãng xương tại CSTL thường xuất hiện sớm hơn so với ở CXĐ.
Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân BPTNMT có tỷ lệ loãng xương cao, đặc biệt ở nhóm nữ giới Trong khi đó, theo khảo sát của Hồ Phạm Thục Lan, tỷ lệ loãng xương ở nam và nữ trong dân số chung lần lượt là 10,4% và 28,6%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 42,3% của nghiên cứu của chúng tôi Những so sánh này cho thấy bệnh nhân BPTNMT có nguy cơ loãng xương cao hơn so với dân số chung.
Graat-Verboom tìm thấy tỉ lệ loãng xương giữa nhóm có bệnh BPTNMT và nhóm khỏe mạnh là 31,7% so với 5,8%[68] và tác giả Rittayamai là 31,4% so với 12,6% [128].
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho kết quả khác nhau tùy thuộc vào phương pháp nghiên cứu, chẳng hạn như Samiha và cộng sự cho thấy khoảng 56,6% bệnh nhân BPTNMT có mật độ xương thấp, trong khi Parthasarathi và cộng sự ghi nhận 73% bệnh nhân mắc loãng xương và 27% có mật độ xương bình thường Jorgensen và Schwarte cũng chỉ ra rằng khoảng 50% bệnh nhân BPTNMT có sự suy giảm mật độ xương, tuy nhiên sự khác biệt trong các kết quả này chủ yếu do sự đa dạng trong phương pháp đo MĐX và đặc điểm dân số nghiên cứu cũng như tiêu chuẩn chẩn đoán loãng xương Trong nghiên cứu của chúng tôi, phương pháp DEXA đã được sử dụng để đo MĐX, đây là phương pháp tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán loãng xương.
Một nghiên cứu của Graat-Verboom và cộng sự gồm 554 bệnh nhân BPTNMT trung bình đến nặng đã sử dụng phương pháp DEXA toàn thân để đo mật độ xương (MĐX) nhằm sàng lọc bệnh loãng xương Kết quả cho thấy khoảng 21% bệnh nhân mắc loãng xương và 41% bệnh nhân bị thiếu xương, phản ánh tầm quan trọng của việc đánh giá mật độ xương trong chẩn đoán và quản lý bệnh loãng xương.
Trong nghiên cứu của Jorgenson và cộng sự gồm 62 bệnh nhân, có 54 bệnh nhân được đo mật độ xương (MĐX) bằng phương pháp DEXA vùng hông và CSTL Kết quả cho thấy có 26 bệnh nhân (44,8%) bị loãng xương và 13 bệnh nhân (22,4%) thiếu xương, chứng tỏ tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến xương khá cao trong nhóm này.
Nghiên cứu của nhóm TORCH cho thấy hơn 50% bệnh nhân BPTNMT bị loãng xương hoặc giảm mật độ xương theo phương pháp DEXA, cho thấy tỷ lệ cao của loãng xương trong nhóm này Trong số các bệnh nhân BPTNMT, tỷ lệ loãng xương cao gấp 2 đến 5 lần so với nhóm cùng độ tuổi không mắc bệnh Do đó, các bác sĩ lâm sàng cần phát hiện sớm và điều trị loãng xương ở bệnh nhân BPTNMT để phòng ngừa các biến chứng nghiêm trọng của loãng xương.
4.2.1.3 Phân bố mật độ xươ t eo các mức độ của GOLD
Trong nghiên cứu có 9 bệnh nhân ở giai đoạn GOLD I (8,7%), 48 bệnh nhân ở giai đoạn GOLD II (46,2%), 36 bệnh nhân thuộc giai đoạn GOLD III (34,6%) và
Trong nghiên cứu, có 11 bệnh nhân thuộc phân nhóm GOLD IV, chiếm 10,6% tổng số Tỷ lệ loãng xương tăng dần theo các giai đoạn GOLD từ GOLD I đến GOLD IV tại hai vị trí cổ xương đùi (CXĐ) và cổ xương trán đầu xương đùi (CSTL) Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ loãng xương giữa các giai đoạn GOLD không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05), cho thấy mối liên hệ rõ ràng còn hạn chế giữa mức độ nặng của bệnh COPD và tỷ lệ loãng xương.
Nghiên cứu của chúng tôi xác nhận rằng bệnh nặng hơn liên quan đến tỷ lệ loãng xương cao hơn, phù hợp với y văn hiện tại Tuy nhiên, do số lượng bệnh nhân ở các giai đoạn GOLD I và GOLD IV quá ít, chúng tôi không thể xác định sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ loãng xương giữa các giai đoạn của bệnh COPD theo phân loại GOLD.
Nghiên cứu của Silva và cộng sự trên 95 bệnh nhân BPTNMT ngoại trú với tuổi trung bình 67 tuổi cho thấy 42% bị loãng xương, 42% thiếu xương và 16% xương bình thường, với tỷ lệ loãng xương cao nhất ở các giai đoạn GOLD II và III Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, khi tỷ lệ loãng xương tập trung chủ yếu ở GOLD II và III, trong khi thấp ở GOLD I và IV, với tỷ lệ loãng xương chung lần lượt là 8,7% ở GOLD I, 46,2% ở GOLD II, 34,6% ở GOLD III và 10,6% ở GOLD IV.