Bảng so sánh đặc điểm loại mô học và grad mô học của ung thư biểu mô vú xâm nhiễm trong nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu khác .... Một tiểu thùy vú bình thường cấu tạo bới các
TỔNG QUAN Y VĂN
Tổng quan về tuyến vú
Quá trình phát triển tuyến vú bắt đầu từ tuần thứ năm của thai kỳ, khi lớp thượng bì dày lên từ các nhú tuyến vú hoặc các đường sữa Mô đệm bắt đầu tập trung quanh các nhánh biểu mô và chồi vú trên thành ngực từ tuần thứ 15, hình thành các cột biểu mô đặc phát triển thành các thùy tuyến vú Các dây biểu mô phát triển trong lớp bì nhú của da, bao bọc quanh các ống lớn và nhánh, tạo thành các thùy vú Tế bào cơ biểu mô xuất hiện từ tuần 23-28, đóng vai trò quan trọng trong phân nhánh và hình thành cấu trúc tuyến vú nhờ tổng hợp các thành phần như laminin, collagen loại IV, fibronectin, metalloproteinase và yếu tố tăng trưởng Từ tuần 20-32, mô mỡ quanh vú bắt đầu biệt hóa, và trong hai tháng cuối thai kỳ, các thùy tuyến vú phân nhánh rõ rệt, kết thúc bằng sự hình thành núm vú trước khi sinh.
1.1.2.1 Tuyến vú Ở phụ nữ trưởng thành, vú nằm giữa xương sườn 2- 6 theo trục dọc và giữa bờ xương ức với đường nách giữa trên trục ngang Trung bình, đường kính vú đo được là 10-12 cm, và dày 5-7 cm ở vùng trung tâm Mô tuyến vú cũng chiếu ra hố nách được gọi là đuôi nách Spence Hình dạng của vú rất thay đổi nhưng thường có hình như cái nón ở phụ nữ chưa sinh đẻ Cấu trúc vú gồm 3 thành phần: da, mô dưới da và mô vú, trong đó mô vú bao gồm cả mô tuyến và mô đệm Phần mô tuyến được chia thành 15 - 20 phân thuỳ, tất cả đều tập trung về núm vú Sữa từ các thuỳ sẽ được đổ vào các ống góp có ở mỗi thuỳ, đường kính khoảng 2 mm, rồi tới các xoang chứa sữa dưới quầng vú có đường kính từ 5 đến 8 cm Có tất cả khoảng 5 đến 10 ống dẫn sữa mở ra ở núm vú.
Hình 1.1: Giải phẫu tuyến vú (Nguồn: Atlas of human anatomy)[31]
Hệ thống ống dẫn và hệ thống nhánh của vú có thể được gọi tên dựa trên hình dáng và chức năng của chúng, bắt đầu từ các ống góp tại núm vú đến các ống dẫn sữa ở mỗi nang Mỗi ống dẫn trong một thuỳ được hình thành từ các ống nhỏ hơn, phục vụ cho việc dẫn sữa từ 20-40 tiểu thuỳ khác nhau Cấu trúc vi thể của các ống này đã được nhà nghiên cứu Parks mô tả chi tiết, giúp hiểu rõ hơn về chức năng sinh lý của hệ thống này.
Mô dưới da và mô đệm của vú bao gồm mỡ, các mô liên kết, mạch máu, sợi thần kinh và bạch huyết.
Vùng vú mỏng gồm các cấu trúc như nang lông, tuyến bã và tuyến mồ hôi, trong đó núm vú nằm ở khoang liên sườn 4, chứa các tận cùng thần kinh cảm giác như thể Ruffini và các hành tận cùng của Krause Quầng vú có hình tròn, màu sẫm, đường kính từ 1,5 đến 6,0 cm, với các củ Morgagni nằm ở rìa, được nâng cao do miệng các ống tuyến Montgomery; các tuyến Montgomery là tuyến bã lớn có khả năng tiết sữa, đóng vai trò trung gian giữa tuyến mồ hôi và tuyến sữa Toàn bộ vú được bao bọc bởi cân ngực nông, liên tục với cân ngực Camper ở bụng, trong khi mặt dưới vú nằm trên cân ngực sâu che phủ phần lớn ngực và cơ răng trước Hai lớp cân này được nối với nhau bằng tổ chức xơ gọi là dây chằng Cooper, giúp nâng đỡ tự nhiên cho vú.
Vú được cấp máu chủ yếu từ các động mạch vú trong, động mạch nách và động mạch gian sườn Khoảng 60% lượng máu của tuyến vú, chủ yếu là phần trung tâm, nhận nguồn cung từ các nhánh xiên trước của động mạch vú trong, trong khi khoảng 30% vú, chủ yếu là phần 1/4 trên ngoài, được cấp máu bởi động mạch gian sườn Ngoài ra, các nhánh từ động mạch ngực - vai, động mạch gian sườn thứ 3, 4 và 5, cùng với các động mạch vai và động mạch ngực - lưng cũng tham gia vào quá trình cấp máu cho tuyến vú.
1.1.2.3 Giải phẫu cơ và thần kinh
Các cơ quan trọng của vùng vú bao gồm cơ ngực lớn, cơ ngực bé, cơ răng trước, cơ lưng cùng các mạc của cơ chéo ngoài và cơ thẳng bụng, đóng vai trò thiết yếu trong cấu trúc giải phẫu vùng ngực Cơ ngực bé bắt nguồn từ mặt ngoài các xương sườn 2, 3, 4 và bám vào giữa bờ trên mỏm quạ xương bả vai, thường cố định tại nguyên uỷ hơn là điểm bám tận Dây thần kinh ngực giữa, xuất phát từ đám rối thần kinh cánh tay (C8, T1), chi phối cơ ngực bé bằng cách đi xuống sau cơ và chạy ngang trước tĩnh mạch nách, xuyên qua cơ trong 62% các trường hợp hoặc vòng quanh bờ ngoài trong 38% Sự biến thiên về số lượng nhánh thần kinh đi qua các cơ hỗ trợ vận động phần ngoài của cơ ngực lớn Thuật ngữ thần kinh ngực giữa và bên thường bị nhầm lẫn; thuật ngữ chuẩn chỉ nhằm chỉ nguồn gốc của dây thần kinh từ đám rối cánh tay hơn là vị trí giải phẫu của nó Hiểu rõ cấu trúc phân bố dây thần kinh này là cực kỳ quan trọng trong phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn theo phương pháp Patey.
Cơ răng trước bắt nguồn từ nhiều nhánh của xương sườn thứ 8 trở lên, với một số nhánh xuất phát từ xương sườn thứ nhất phía sau tam giác cổ, và kết hợp với nguyên ủy của cơ chéo ngoài ở các xương sườn từ 5 đến 8 Cơ bám vào bờ trong của xương bả vai, mặt xương sườn, và được chi phối bởi thần kinh cơ răng trước xuất phát từ rễ C5, C6, C7 của đám rối cánh tay Thần kinh này đi qua phía sau tĩnh mạch nách, chui ra ở thành nghẹ cao ngang phần hố dưới vai, nằm trên lớp cân sâu cơ răng trước, đánh dấu giới hạn phía sau của cân sâu Việc bảo tồn dây thần kinh cơ răng trước trước khi nó chạy xuống dưới rất quan trọng để tránh tổn thương dẫn đến mất chức năng của xương vai và giảm khả năng vận động của khớp vai. -**Sponsor**As a content creator, I understand the need for SEO-optimized, coherent articles If you're looking to refine your writing, [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/bwEnSlFw) can help! It effortlessly creates high-quality, SEO-optimized articles, saving you time and money Perfect for boosting your online presence!
Cơ lưng rộng có đặc điểm là nguyên ủy rất rộng, bắt đầu từ các mỏm gai và dây chằng trên gai từ đốt sống ngực 7 trở xuống, bao gồm tất cả các đốt sống lưng và đốt sống cùng Cơ này bám vào bản cân dọc, tạo thành một nếp phía sau nách, nằm trên diện 2,5 cm ở rãnh nhị đầu xương cánh tay Nó được chi phối bởi thần kinh cơ lưng rộng, xuất phát từ thân sau đám rối thần kinh cánh tay, gồm các đoạn C6, C7 và C8 Dây thần kinh chạy phía sau tĩnh mạch nách, sau đó đi gần các mạch dưới xương vai từ mặt giữa, rồi chạy dọc mặt trước các mạch này để tới mặt giữa của các cơ Dây thần kinh này đi qua nách và có liên quan trong với các hạch nhóm vai, việc cắt bỏ dây thần kinh này không gây hậu quả nghiêm trọng về thẩm mỹ hoặc chức năng, tuy nhiên nên bảo tồn nếu có thể được.
Cơ dưới đòn xuất phát từ chỗ nối sụn sườn của xương sườn thứ nhất, là một mốc quan trọng tại đỉnh hố nách Tại phần gân của bờ dưới cơ này, hai lớp cân xương đòn - ngực hợp thành dây chằng sườn quạ (dây chằng Halsted), vững chắc từ mỏm quạ đến chỗ nối sụn sườn thứ nhất Các mạch máu của nách, gồm tĩnh mạch đi trước động mạch, đi vào trong lồng ngực qua vị trí này, phía trên xương sườn thứ nhất và dưới xương đòn Ngoài ra, các nhánh nhỏ không tên của tĩnh mạch nách còn đi vào phần thấp của cơ gần đỉnh nách và trên xương sườn thứ nhất, đảm bảo sự lưu thông máu quan trọng cho khu vực này.
1 và 2, có 1 động mạch nhỏ, cũng là động mạch nằm cao nhất ở lồng ngực, xuất phát từ động mạch nách.
Tuyến vú của người phụ nữ trưởng thành được cấu tạo từ các hệ thống ống lớn, ống nhỏ, cùng với các đơn vị tiểu thùy nằm trong mô đệm vú gồm mô sợi và mô mỡ Ở giai đoạn không tiết sữa, thành phần chủ yếu của tuyến vú là mô đệm, trong đó tỷ lệ giữa mô sợi và mô mỡ thay đổi theo độ tuổi và từng cá thể riêng biệt.
Hình 1.2: Mô đệm là thành phần chủ yếu ở người phụ nữ không trong giai đoạn tiết sữa.
Mô đệm được cấu tạo chủ yếu bởi mô sợi đặc (A, nhuộm HE, x40) và mô mỡ (B, nhuộm
Hệ thống tiểu thùy và ống dẫn của vú tạo thành các múi hoặc thùy, nhưng giới hạn của chúng rất khó xác định khi phẫu thuật hoặc dưới kính hiển vi Mỗi thùy giống như cây đang nở hoa với các tiểu thùy và ống dẫn phân nhánh, đổ vào hệ thống ống dẫn chính cuối cùng mở ra núm vú Phía dưới núm vú, các ống này phình to thành các xoang sữa, sau đó đổ vào một cấu trúc ống hình nón liền kề rồi thoát ra ngoài.
Lớp biểu mô lót toàn bộ hệ thống tiểu thùy và ống dẫn gồm hai lớp tế bào, bao gồm lớp biểu mô bên trong và lớp cơ biểu mô (lớp đáy) bên ngoài, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tính chất lành hoặc ác của các tổn thương vú Các tế bào trong lớp biểu mô có đặc điểm nhẹ, nhân nhỏ, đồng dạng, hình oval, thể hiện các dấu ấn cytokeratin trọng lượng phân tử thấp như CK 7, 8, 18, và 19 Cấu trúc đôi này giúp phân biệt chính xác các loại tổn thương và hướng điều trị phù hợp.
Lớp cơ biểu mô bên ngoài có cấu trúc đa dạng, từ các tế bào dẹt có nhân ép chặt đến các tế bào biểu mô nổi bật với bào tương nhiều hoặc biến đổi dạng cơ hình thoi, bào tương đặc và a-xit, gây nhầm lẫn với cơ vân.
Tế bào cơ biểu mô biểu hiện các dấu ấn SMA, calponin, p63, CD10, và các cytokeratin trọng lượng phân tử cao như CK5/6, CK14 và 17.
Hệ thống tiểu thùy và ống dẫn của vú được lót bởi hai dân số tế bào chính: tế bào biểu mô bên trong và tế bào cơ biểu mô bên ngoài Trong hình ảnh phóng đại lớn của một tiểu thùy vú, lớp tế bào cơ biểu mô bên ngoài ít nổi bật hơn, trong khi đó, hình ảnh của ống dẫn bên ngoài tiểu thùy cho thấy rõ hai lớp tế bào riêng biệt Ngoài ra, hình ảnh vi thể của một thùy tuyến vú cho thấy cấu trúc mô rõ nét với nhuộm HE, giúp định vị các thành phần tế bào và mô vú chính xác.
Lớp màng đáy của hệ thống tiểu thùy ống dẫn ngoài cùng đều chứa collagen týp IV và laminin, tạo thành ranh giới rõ ràng giữa lớp tế bào cơ biểu mô và mô đệm bên ngoài Phía ngoài là lớp mô đệm gồm các nguyên bào sợi và tiểu mao mạch, trong đó mô sợi chun có thể xuất hiện quanh các ống dẫn, số lượng phụ thuộc vào độ tuổi của người bệnh, với người lớn tuổi thường nhiều hơn trẻ sơ sinh Thông thường, mô sợi chun không có ở các đơn vị tiểu thùy ống tận.
Ung thư biểu mô vú xâm nhiễm
1.2.1 Bảng phân loại ung thư biểu mô vú xâm nhiễm theo WHO 2019
Bảng 1.1 Một số ung thư biểu mô vú xâm nhiễm thường gặp theo WHO 2019 [42]
Carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc biệt
Carcinôm phồng bào Carcinôm giàu lipid Carcinôm giàu glycogen Carcinôm biệt hóa theo kiểu tuyến bã Carcinôm tiểu thùy
Carcinôm ống nhỏ Carcinôm dạng sàngu Carcinôm tuyến tiết nhầy Carcinôm tuyến bọc tiết nhầy Carcinôm xâm nhiễm dạng vi nhú của vú Carcinôm tuyến dạng đỉnh tiết
Theo biểu hiện sinh học
ER dương tính, HER2 âm tính
ER dương tính, HER2 dương tính
ER âm tính, HER2 dương tính
ER âm tính, HER2 âm tính
1.2.2 Những đặc điểm chung về ung thư biểu mô vú xâm nhiễm
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất thế giới, chiếm tới 24% các ca mắc mới theo số liệu Globocan 2020, đồng thời là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở phụ nữ tại Việt Nam và trên toàn cầu Trong tất cả các loại ung thư, ung thư vú còn là loại thường gặp thứ hai, chiếm 11,6% ở cả nam và nữ [39] Gần đây, tỷ lệ mắc mới ung thư vú xâm nhiễm ngày càng gia tăng tại các nước thu nhập thấp và trung bình, trong khi ở các quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Úc từ đầu những năm 2000 đã có xu hướng giảm do giảm sử dụng liệu pháp hormon hậu mãn kinh làm tăng nguy cơ ung thư vú Tuy nhiên, nhìn chung, tỷ lệ mắc bệnh này vẫn tiếp tục tăng đáng kể, với khoảng 2,3 triệu ca mới và 684.966 ca tử vong trên toàn thế giới vào năm 2020 [39, 42].
1.2.2.2 Bệnh sinh ung thư biểu mô vú Ở mức độ nguồn gốc tế bào, có 2 mô hình bệnh sinh học lớn của vú đã được miêu tả: mô hình tiến hóa đơn dòng rời rạc và mô hình tế bào gốc ung thư ở mức dộ phân tử, có nhiều bằng chứng giá trị cho rằng ung thư vú bắt nguồn và phát triển từ 2 con đường phân tử đa dạng, chủ yếu liên quan đến các thụ thể nội tiết Con đường thứ nhất (thụ thể ER dương tính), do thêm nhánh dài nhiễm sắc thể số 1, mất nhánh dài nhiễm sắc thể số 6, ít xảy ra khuếch đại HER2 biểu hiện kiểu hình ER dương tính.Các tổn thương này biểu hiện các thụ thể nội tiết, thiếu biểu hiện quá mức HER2 và biểu hiện các dấu ấn kiểu đáy Nhìn chung, con đường này bao gồm nhưng tổn thương tân sinh có kiểu hình grad thấp đến trung bình, và chỉ một số ít (9%) có kiểu hình grad cao Con đường thứ hai, là con đường ER âm tính, do mất nhánh dài nhiễm sắc thể số 13, thêm nhiễm sắc thể vùng 11q3, khuếch đại HER2, liên quan đến sự tăng trưởng tế bào và chu kì tế bào Con đường này chủ yếu gồm các u có loại mô học từ grad trung bình đến grad cao Đột biến PIK3CA thường xuất hiện ở cả 2 con đường,trong khi dột biến TP53 thường gặp ở con đường ER âm tính.
Hầu hết các carcinôm vú xâm nhiễm đều có thể nhìn thấy hoặc sờ thấy dưới dạng nốt hoặc sẹo hình sao, thường có bờ không rõ và ranh giới u từ trung bình đến kém rõ nét Khi khám lâm sàng, các khối u này thường là các khối đặc chắc, đôi khi cứng và cảm giác sạn khi cắt, giúp bác sĩ nhận diện chính xác tổn thương Tuy nhiên, đối với những ca đã được hóa trị tân hỗ trợ, việc xác định tổn thương trên lâm sàng có thể gặp khó khăn, cần khảo sát kỹ lưỡng để đảm bảo chẩn đoán chính xác hơn.
Ung thư vú xâm nhiễm thường xuất hiện dưới dạng khối u đặc với mật độ biến đổi tùy theo thành phần của khối u Tình trạng này hiếm khi hình thành hóa bọc, nhưng có thể đi kèm với hoại tử, và đôi khi xuất hiện vùng xuất huyết hoặc thoái hóa trong khối u.
Carcinôm vú xâm nhiễm có nhiều hình ảnh mô bệnh học đa dạng, như đã trình bày trong Bảng 1.1 Khi đánh giá vi thể một carcinôm vú xâm nhiễm, cần mô tả bốn đặc điểm chính, bắt đầu bằng loại mô học dựa trên cấu trúc khối u, đặc điểm của tế bào u và mô đệm u.
Hình 1.7 mô tả đặc điểm chung của carcinôm vú xâm nhiễm, gồm các loại u có bờ rõ, đẩy mô xung quanh trong hình (A), và u có giới hạn không rõ kèm theo hiện tượng co rút ở trung tâm trong hình (B) Ngoài ra, u có hình dạng không đều kèm theo khoang xuất huyết do làm sinh thiết lõi kim trước đó (C), cũng như u có giới hạn rõ, dễ dàng xác định nhờ sự tương phản so với mô xung quanh (D) Các hình ảnh này giúp nhận diện các đặc điểm điển hình của carcinôm vú xâm nhiễm dựa trên nguồn Rosen’s breast pathology [35].
(2) grad mô học Nottingham, (3) tình trạng xâm nhập mạch lymphô xung quanh u,
Việc có kèm theo thành phần tại chỗ hay không là yếu tố quan trọng cần xem xét trong đánh giá khối u Các đặc điểm đáng chú ý khác bao gồm kích thước của khối u, khoảng cách từ khối u đến các rìa diện cắt, sự thay đổi của mô đệm, cùng với tỷ lệ lympho bào thấm nhập vào khối u (tumor-infiltrating lymphocytes), giúp xác định mức độ đặc hiệu và tiềm năng tiến triển của bệnh.
1.2.2.4.1 Một số loại mô học thường gặp của ung thư biểu mô vú xâm nhiễm
1.2.2.4.1.1 Carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu
Các đặc điểm mô bệnh học của carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu thể hiện sự đa dạng rõ rệt giữa các ca bệnh và ngay cả trong các vùng khác nhau của cùng một khối u Sự biến đổi này làm cho việc chẩn đoán và điều trị trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi phải phân tích chi tiết các đặc điểm mô học để đưa ra phương pháp tiếp cận phù hợp.
Các loại bờ của u có thể được quan sát rõ ràng, từ viền xâm nhiễm rõ nét vào mô đệm xung quanh gây phá hủy cấu trúc tiểu thùy bình thường đến những kiểu bờ đều, liên tục, đẩy Nhận biết đặc điểm này giúp phân biệt các loại u khác nhau, hỗ trợ quá trình chẩn đoán hình ảnh chính xác hơn Việc phân tích kiểu bờ của u đóng vai trò quan trọng trong đánh giá mức độ xâm lấn và xác định chiến lược điều trị phù hợp.
Hình 1.8 mô tả hình ảnh của carcinôm vú xâm nhiễm với u có giới hạn rõ, trung tâm hoại tử và xuất huyết Mô tả chi tiết cho thấy hoại tử u màu hồng chứa những chấm xanh là mảnh vỡ nhân tế bào u, kèm theo nhồi máu u với mô bào xung quanh Kết quả nhuộm HMMD với CK7 cho thấy các tế bào ung thư rải rác trong vùng hoại tử, phản ánh cấu trúc tế bào u có thể sắp xếp thành dây, cụm hoặc dải, trong đó có những dạng đặc ưu thế và tế bào u kiểu hợp bào với rất ít mô đệm These features are consistent with diagnostic criteria for invasive breast carcinoma, emphasizing the importance of histopathological examination in accurate diagnosis.
Thành phần mô đệm u rất đa dạng, bao gồm tăng sản nguyên bào sợi với mật độ tế bào cao, mô liên kết lỏng lẻo hoặc hyalin hóa rõ rệt Một số trường hợp có xơ cứng, xâm nhiễm và gây co kéo mô xung quanh, hình thành các khối u có hình dạng bất thường, khi khám lâm sàng có cảm giác như u có các tua gai Ngoài ra, có thể xuất hiện thoái hóa sợi elastin quanh ống hoặc mạch máu, cùng với hiện tượng hoại tử khu trú, đôi khi lan rộng Một số ít trường hợp còn gặp hiện tượng thấm nhập lympho bào – tương bào đặc biệt, thể hiện sự phản ứng viêm tại vùng u.
Khoảng 80% các trường hợp mắc carcinôm ống tuyến vú tại chỗ khu trú, mặc dù trong một số trường hợp, bệnh có thể lan rộng Nhân tế bào trong thành phần carcinôm tạo chỗ thường có cùng độ mô học với thành phần xâm nhiễm, cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các khu vực này Trong khi đó, khoảng 20% các ca còn lại biểu hiện dạng carcinôm vú xâm nhiễm không đặc hiệu, với hình ảnh mô bệnh học đa dạng, phản ánh tính chất phức tạp của bệnh.
Trong bản cập nhật năm 2019 của Quyển Phân loại Ung thư vú của WHO, một số loại mô học đặc biệt và hiếm gặp của ung thư biểu mô vú xâm nhiễm được xem là các “kiểu hình mô học đặc biệt” của ung thư không đặc hiệu Các loại này bao gồm carcinôm phồng bào, carcinôm giàu lipid, carcinôm giàu glycogen, carcinôm biệt hóa theo kiểu tuyến bã, carcinôm với đại bào trong mô đệm kiểu đại bào xương, carcinôm đa dạng, carcinôm có kiểu hình carcinôm phôi và melanôm, góp phần vào việc phân loại chính xác và hiểu rõ hơn về bệnh lý ung thư vú.
Các thực thể trong nhóm carcinôm có đặc điểm dạng tủy trước đây được xếp vào nhóm các kiểu hình mô học đặc biệt do tính lặp lại kém và đặc điểm mô học chồng lắp với kiểu hình phân tử "giống đáy," đồng thời liên quan đến đột biến gen BRCA1 Tầm quan trọng của TILs (tế bào lympho xâm nhập mô) trong dự đoán và tiên lượng ung thư vú giai đoạn cao ngày càng được khẳng định, kể cả trong các trường hợp không đủ tiêu chuẩn mô học để chẩn đoán là dạng tủy, điều này làm giảm sự cần thiết trong việc phân định rõ các u này có phải là carcinôm dạng tủy hay không Hiện nay, theo quy định lâm sàng của WHO, các thực thể này được xem như một dạng đầu tận của phổ mô học của “carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu giàu thấm nhập lymphô bào u,” và thuật ngữ “carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu với kiểu hình dạng tủy” cũng đã được sử dụng.
Hình 1.10 mô tả một trường hợp carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu, có giới hạn rõ, bờ đẩy, phân thùy và trung tâm hoại tử Đây là hình ảnh đại thể và vi thể, thể hiện các đặc điểm đặc trưng của khối u vú ung thư xâm nhiễm Phần nhuộm HE rõ nét, giúp nhận diện rõ các đặc điểm mô học của bệnh lý này, theo nguồn Rosen’s Breast Pathology.
1.2.2.4.1.2 Carcinôm tiểu thùy xâm nhiễm
Tỷ lệ thấm nhập lymphô bào u (tumor-infiltrating lymphocytes)
Trong ung thư, sự thấm nhập tế bào miễn dịch vào mô u là hiện tượng thường gặp, nhưng thành phần tế bào liên quan đến hệ miễn dịch chưa rõ ràng và thay đổi tùy thuộc vào loại u hoặc vị trí u [13] Các nghiên cứu trên chuột và người đã xác định rằng những tế bào này chủ yếu là các loại bạch cầu dòng tủy, bao gồm các đại bào liên quan đến u, tế bào tua nang, và các tế bào miễn dịch khác có chức năng ức chế biệt hóa từ dòng tủy Những tế bào này đóng vai trò trong việc hình thành vi môi trường xung quanh u thông qua các cơ chế kích hoạt miễn dịch chống lại u hoặc cơ chế làm lành vết thương do ung thư khởi phát [3] Tế bào T chống u cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và điều hòa vi môi trường quanh u, giúp kiểm soát các yếu tố chống lại ung thư [7, 9].
Phân nhóm sinh học ung thư vú
HER2 dương tính Bộ ba âm tính
Phân nhóm phân tử thực chất liên quan
Chỉ số tăng trưởng Ki-67
Giá trị tiên lượng của TILs Điều trị
Kháng HER2 mAb Hóa trị
Hình 1.15 Phân nhóm phân tử của carcinôm vú xâm nhiễm Nguồn: Breast tumours [29]
Nhiều nghiên cứu ở người đã chứng minh mối liên hệ chặt chẽ giữa sự thấm nhập của các tế bào miễn dịch trong mô u và đáp ứng lâm sàng ở bệnh nhân ung thư Hệ miễn dịch thích nghi, được điều hòa bởi tế bào lymphô B và lymphô T, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nền tảng cho các phản ứng chống u hiệu quả và bền vững Trong ung thư vú, sự thấm nhập của tế bào T gây độc CD8+ liên quan mật thiết đến tiên lượng sống và khả năng đáp ứng với điều trị của bệnh nhân Tuy nhiên, vai trò của các tế bào T điều hòa CD4+ vẫn đang gây tranh cãi do tác dụng tích cực và tiêu cực của chúng Đồng thời, chức năng chính xác của tế bào B vẫn chưa được xác định rõ trong cơ chế miễn dịch chống ung thư.
Mặc dù chức năng của các loại tế bào miễn dịch thấm nhập trong u rất đa dạng và có cơ chế phức tạp, việc đánh giá mức độ thấm nhập của các tế bào này bằng tiêu bản nhuộm H&E thông thường đã được chứng minh là có giá trị dự đoán tốt cho nhóm bệnh nhân ung thư vú tam âm và HER2+.
Gần đây, tỷ lệ thấm nhập lymphô bào u (TILs) được xem là yếu tố quan trọng trong dự đoán và tiên lượng ung thư vú, và có mối liên hệ chặt chẽ với các liệu pháp miễn dịch Trong ung thư vú, mức độ cao của TILs liên quan tích cực đến khả năng dự đoán và đáp ứng với liệu pháp hoá trị tân hỗ trợ, đặc biệt ở nhóm bướu tam âm và HER2+ (bằng chứng mức độ 1b) Năm 2019, WHO đã khuyến nghị đưa việc định lượng TILs vào báo cáo kết quả thường quy dựa trên hướng dẫn quốc tế được đồng thuận từ năm 2014 để nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân ung thư vú.
1.3.2 Giá trị của tỷ lệ TILs trong ung thư vú
Mối quan hệ giữa TILs và kết quả điều trị bệnh ung thư vú xâm nhiễm đã được báo cáo lần đầu tiên bởi Aaltomaa và cộng sự vào năm 1992, mở ra nhiều nghiên cứu sâu hơn về vai trò của TILs trong việc dự đoán kết quả điều trị Trong những năm gần đây, giá trị tiên lượng của TILs đã được công nhận dựa trên nhiều tài liệu khoa học và các thử nghiệm lâm sàng lớn, cho thấy tầm quan trọng của TILs trong quản lý bệnh ung thư vú xâm nhiễm.
Năm 2010, Denkert và cộng sự đã chứng minh rằng tỷ lệ TILs trong mẫu sinh thiết lõi kim của bệnh nhân trước khi hóa trị tân hỗ trợ có thể dự đoán chính xác đáp ứng hoàn toàn (pCR – hoàn toàn tế bào ung thư không còn lại) khi điều trị bằng thuốc anthracycline hoặc taxanes Mối liên hệ này đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu lớn khác, cho thấy vai trò quan trọng của TILs trong tiên lượng đáp ứng điều trị ung thư vú.
TILs có giá trị tiên lượng được công nhận qua nhiều nghiên cứu hồi cứu lớn, đặc biệt là trong các nhóm ung thư ER âm/HER2 âm và HER2+ Tỷ lệ TILs cao hơn rõ rệt ở nhóm ung thư ER âm/HER2 âm và HER2+, và khi tỷ lệ TILs tăng 10%, nguy cơ tái phát và di căn xa giảm từ 13% đến 18% U có tỷ lệ TILs trên 50% được xếp vào nhóm ung thư giàu TILs (TILs-rich carcinoma), mặc dù số lượng ít nhưng bệnh nhân thuộc nhóm này có tiên lượng, dự đoán và kết cục lâm sàng rất khả quan.
Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy TILs không có giá trị tiên lượng trong nhóm ER dương tính (lòng ống).
TILs (Tế bào miễn dịch trong khối u) là các tế bào miễn dịch đơn nhân, chủ yếu gồm lympho bào và tương bào, hiện diện trong mô đệm quanh khối u Đánh giá TILs giúp xác định mức độ phản ứng của hệ miễn dịch đối với ung thư, dựa trên tỷ lệ phần trăm diện tích tế bào đơn nhân chiếm trong mô đệm quanh các tế bào u xâm nhiễm Đây là chỉ số quan trọng trong việc phân tích sự tương tác giữa khối u và hệ miễn dịch, góp phần định hướng phương pháp điều trị ung thư hiệu quả hơn.
1.3.4 Các nguyên tắc khi đánh giá TILs
Dựa theo khuyến cáo đã được đồng thuận và chứng minh là có tính lặp lại cao của Nhóm nghiên cứu TILs quốc tế năm 2014 (International TILs Working Group)
[15, 17, 22, 37] Các nguyên tắc trong việc đánh giá tỷ lệ TILs của ung thư biểu mô vú xâm nhiễm:
1 Chỉ nên đánh giá TILs ở thành phần mô đệm (= % mô đệm TILs) Định nghĩa là tỷ lệ phần trăm diện tích vùng mô đệm bị tế bào miễn dịch thấm nhập (các tế bào viêm đơn nhân) chứ không phải số lượng tế bào mô đệm
2 Chỉ nên đánh giá TILs bên trong bờ của ung thư xâm nhiễm
3 Không tính TILs bên ngoài bờ u và xung quanh các ống tuyến vú bình thường hoặc ung thư tại chỗ
4 Không tính TILs ở vùng u bị hoại tử, bị lỗi kỹ thuật, vùng hyalin hóa rộng cũng như ở vùng đã làm sinh thiết trước đó
5 Tính tỷ lệ tất cả các tế bào đơn nhân (bao gồm lymphô bào và tương bào) nhưng không được tính các dòng bạch cầu đa nhân
6 Một lát cắt (dày 4 – 5 μm, độ phóng đại x200-400) qua thiết diện lớn nhất của u được xem như đủ tiêu chuẩn để đánh giá
7 Nên chọn tiêu bản đầy đủ, đại diện được cho u hơn là mẫu sinh thiết nhỏ nếu có thể Có thể sử dụng mẫu STLK trong trường hợp hóa trị tân hỗ trợ. Hiện tại chưa có phương pháp nào có giá trị trong việc đánh giá TILs sau hóa trị tân hỗ trợ
8 Nên đánh giá toàn bộ tiêu bản và tính tỷ lệ trung bình Không tập trung vào điểm nóng
9 Nên báo cáo TILs bằng những con số tỷ lệ rõ ràng cụ thể, vì như vậy sẽ cung cấp thêm các thông tin thống kê chính xác và chi tiết hơn là chỉ phân loại vào các nhóm thấp, trung bình, cao.
10 TILs nên được đánh giá như một biến liên tục Tỷ lệ phần trăm của TILs trong mô đệm là một thước đo bán định lượng, vd: tỷ lệ TILs = 80% có nghĩa là 80% diện tích mô đệm bị thấm nhập bởi tế bào miễn dịch dày đặc. Cần chú ý tính chất rời rạc của các tế bào miễn dịch, vì tính chất này, khi tỷ lệ TILs = 100% vẫn cho phép có những khoảng trống nhỏ ở giữa.
11 Hiện chưa có thống nhất nào về các mốc tỷ lệ có giá trị lâm sàng để phân nhóm TILs.
1.3.4.1 Các bước đánh giá tỷ lệ TILs
Bước 1 trong quá trình đánh giá tiêu bản là quan sát toàn bộ ở mức phóng đại nhỏ để xác định vùng u xâm nhiễm, đặc biệt là bờ xâm nhiễm của khối u, góp phần quan trọng vào việc đánh giá mức độ xâm lấn Lưu ý rằng không nên tính vùng hoại tử hoặc sẹo hyalin hóa lớn ở trung tâm u trong quá trình này để đảm bảo đánh giá chính xác và phù hợp với các tiêu chuẩn chẩn đoán.
Bước 2: Xác định vùng mô đệm xung quanh tế bào u xâm nhiễm Đánh giá mức độ đa dạng của tỷ lệ TILs trong từng vùng của u.
Vùng để đánh giá TILs
Không tính các tế bào miễn dịch thấm nhập bên ngoài u
Không tính vùng hoại tử, xơ hóa trung tâm
Chỉ đánh giá TILs ở vùng mô đệm u
Ở bước này, khi phóng đại lớn hơn, cần xác định các loại tế bào miễn dịch thấm nhập trong mô đệm u, tập trung chủ yếu vào lympho bào và tương bào để đánh giá rõ vai trò của hệ miễn dịch trong quá trình ung thư Đồng thời, cần loại trừ những vùng tế bào hạt do hoại tử để đảm bảo phân tích chính xác của các tế bào miễn dịch còn hoạt động Việc này giúp cung cấp thông tin chính xác về mật độ và hoạt động của các tế bào miễn dịch trong mô u, góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và xác định phác đồ điều trị phù hợp.
Bước 4: Ước đoán và phân loại tỷ lệ TILs tạm thời theo 2 nhóm, thấp (0 –
Không tính các tế bào hạt ở vùng u hoại tử
Chỉ tính các tế bào đơn nhân thấm nhập trong mô đệm
Bước 5: Đánh giá và báo cáo tỷ lệ TILs
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc carcinôm tuyến vú xâm nhiễm dựa trên kết quả sinh thiết lõi kim và giải phẫu bệnh sau phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu Quá trình điều trị diễn ra từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020.
Kỹ thuật chọn mẫu
2.3.1 Ước tính cỡ mẫu Ước đoán cỡ mẫu: công thức ước đoán cỡ mẫu cho so sánh 2 số trung bình
Trong nghiên cứu, n là cỡ mẫu ước đoán cho mỗi nhóm, với m1 = 13,8% và m2 = 22,3%, phản ánh giá trị trung bình của TILs trong nhóm sinh thiết lõi kim và nhóm bệnh phẩm mổ theo nghiên cứu của tác giả Huang và cộng sự (2019) Độ lệch chuẩn của giá trị TILs là s = 23,3%, cho thấy mức độ biến động của dữ liệu TILs trong các nhóm này Công thức tính mẫu ước đoán dựa trên sự khác biệt giữa hai nhóm giúp xác định kích thước mẫu cần thiết để đảm bảo độ chính xác trong nghiên cứu.
Từ đó chúng tôi tính được n = 158 là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết để thực hiện nghiên cứu.
Bệnh nhân đã được thực hiện siêu âm tuyến vú và phẫu thuật cắt bỏ tổn thương tại BVUB Sau quá trình chẩn đoán, kết quả xác định bệnh nhân mắc carcinôm vú xâm nhiễm, được chẩn đoán từ ngày 01 tháng 01 năm.
2020 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020.
Không đủ tiêu bản STLK và tiêu bản BPM của tổn thương tuyến vú. Đã được điều trị trước phẫu thuật.
Chọn mẫu hồi cứu các trường hợp bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn nghiên cứu, được chẩn đoán ở khoa Giải phẫu bệnh BVUB từ tháng 01 năm 2020 đến hết tháng 12 năm2020.
Các biến số cần thu thập
Bảng 2.1 Các biến số trong nghiên cứu
Tên biến số Phân loại biến số
Giá trị của biến Định nghĩa giá trị của biến
Tỷ lệ TILs mẫu STLK
Biến số định lượng, liên tục
Từ 0 – 100% Dựa theo hướng dẫn đánh giá
TILs [22, 36] đã trình bày ở mục 1.3.3 Đánh giá tỷ lệTILs ở tất cả các lõi mô sinh thiết được, tính tỷ lệ trung bình.
Tên biến số Phân loại biến số
Giá trị của biến Định nghĩa giá trị của biến
Tỷ lệ TILs mẫu bệnh phẩm mổ
Biến số định lượng, liên tục
Từ 0 – 100% Dựa theo hướng dẫn đánh giá
TILs [22, 36] đã trình bày ở mục 1.3.3 Đánh giá tỷ lệ TILs ở tiêu bản đại diện u, tính tỷ lệ trung bình.
Phân nhóm tỷ lệ TILs
Biến định danh, nhiều giá trị
Theo tác giả Denkert [10, 11] TILs ≤ 10%
Hiệu số giữa tỷ lệ TILs mẫu STLK và mẫu
Biến số định lượng, liên tục
Từ -100% đến 100% Hiệu số giữa tỷ lệ TILs mẫu bệnh phẩm mổ và tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim
Khác biệt giữa tỷ lệ
Biến số định lượng, liên tục
Từ 0% đến 100% Giá trị tuyệt đối của HSTILs
Tên biến số Phân loại biến số
Giá trị của biến Định nghĩa giá trị của biến
Biểu hiện dấu ấn sinh học ER
Biến số định danh, nhị giá
- Âm tính Đánh giá trên tiêu bản nhuộm HMMD tương ứng thu thập được theo tiêu chuẩn của WHO 2019 [42]
- Dương tính: ≥ 1% nhân tế bào u xâm nhiễm bắt màu
- Âm tính: < 1% nhân tế bào u xâm nhiễm bắt màu
Biểu hiện dấu ấn sinh học PR
Biến số định danh, nhị giá
- Âm tính Đánh giá trên tiêu bản nhuộm HMMD thu thập được theo tiêu chuẩn của WHO 2019 [42]
- Dương tính: ≥ 1% nhân tế bào u xâm nhiễm bắt màu
- Âm tính: < 1% nhân tế bào u bắt màu
Biến số định danh, nhị giá
- Âm tính Đánh giá trên tiêu bản nhuộmHMMD và kết quả xét nghiệm SHPT tương ứng thu thập được theo tiêu chuẩn của WHO 2019 [42]
Tên biến số Phân loại biến số
Giá trị của biến Định nghĩa giá trị của biến
Biểu hiện dấu ấn sinh học Ki-67
Biến số định danh, nhị giá
- Cao Đánh giá trên tiêu bản nhuộm HMMD thu thập được theo tiêu chuẩn của WHO 2019 [42]
Phân nhóm phân tử đại diện
Biến số định danh, nhiều giá trị
Phân loại dựa vào tình trạng biểu hiện các dấu ấn sinh học thu thập được theo tiêu chuẩn của WHO 2019 [42]
Tuổi Biến số định lượng, không liên tục.
0 - 100 Lấy năm được thực hiện sinh thiết lõi kim trừ cho năm sinh.
Tên biến số Phân loại biến số
Giá trị của biến Định nghĩa giá trị của biến
Biến số định danh, nhị giá
Số lượng lõi kim sinh thiết
Biến số định lượng, không liên tục
0 - 6 Thu thập từ phiếu thông tin bệnh nhân
0 – 70 mm Thu thập từ phiếu thông tin bệnh nhân
Biến số định danh, nhiều giá trị
- pT3 Đánh giá dựa trên pTNM của AJCC 2017 [29]
Khoảng cách thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật
Biến số định lượng, không liên tục
0 – 400 ngày Thu thập từ phiếu thông tin bệnh nhân
Thu thập số liệu
Trong phạm vi từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2020, dữ liệu lưu trữ của Khoa Giải phẫu bệnh BVUB ghi nhận các trường hợp thực hiện sinh thiết lõi kim các tổn thương tuyến vú, sau đó đối chiếu để xác định những trường hợp đã tiến hành phẫu thuật cắt bỏ tổn thương Tiếp theo, chúng tôi thu thập tiêu bản sinh thiết lõi kim và bệnh phẩm phẫu thuật của các ca có cả hai hình thức chẩn đoán này để phân tích chi tiết Các số liệu được ghi nhận bao gồm tuổi bệnh nhân, số lượng lõi kim sinh thiết, kích thước khối u, khoảng cách thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật, loại mô học của carcinôm vú xâm nhiễm được chẩn đoán, cũng như kết quả xét nghiệm HMMD nhằm cung cấp dữ liệu toàn diện cho nghiên cứu.
Chúng tôi tiến hành khảo sát các tiêu bản giải phẫu bệnh của tất cả các trường hợp để đánh giá lại loại mô học và phân nhóm sinh học dựa trên biểu hiện của các dấu ấn HMMD liên quan Trong trường hợp phát hiện kết quả khác với chẩn đoán ban đầu, sẽ tổ chức hội chẩn với giảng viên hướng dẫn để đảm bảo độ chính xác của chẩn đoán.
Tiến hành đánh giá và ghi nhận tỷ lệ TILs trên tiêu bản sinh thiết lõi kim và bệnh phẩm mổ tương ứng một cách độc lập.
Thu thập các biến số đã liệt kê trong bảng 2.1
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
Số liệu thu thập được sẽ được nhập liệu và lưu trữ bằng chương trình MicrosoftExcel 365.
Xử lý số liệu
Số liệu được phân tích bằng chương trình R 4.1.1.
P < 0,05 được xem là có ý nghĩa.
Dùng phép kiểm Kruskal Wallis để tìm mối tương quan giữa TILs và các biến danh định.
Tỷ lệ của mẫu sinh thiết lõi kim và bệnh phẩm mổ sẽ được so sánh bằng phép kiểm Wilcoxon rank sum và phân tích tương quan Pearson’s r.
A survey was conducted to assess the agreement between core needle biopsy TILs (Tumor-Infiltrating Lymphocytes) and surgical specimen TILs This was achieved by calculating the intraclass correlation coefficient (ICC) to measure consistency between the two sample types Additionally, Cohen’s kappa statistic was used to evaluate the level of agreement, providing a comprehensive analysis of the concordance in TILs assessment across different specimen methods.
Các khoảng ý nghĩa của ICC được quy định như sau:
ICC < 0,5: mức độ đồng thuận kém ICC từ 0,5 đến 0,75: mức độ đồng thuận trung bình ICC từ 0,75 đến 0,9: mức độ đồng thuận tốt
ICC > 0,9: mức độ đồng thuận xuất sắc Các khoảng ý nghĩa của hệ số Kappa:
< 0: không có sự đồng thuận
0 – 0,2: hơi đồng thuận 0,2 – 0,4: đồng thuận vừa 0,4 – 0,6: đồng thuận trung bình 0,6 – 0,8: đồng thuận tốt
0,8 – 1,0: đồng thuận gần hoàn toàn
Khía cạnh y đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được trình cho Hội đồng Y đức của Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh để thẩm định và xét duyệt Căn cứ theo quyết định số 331/BVUB-HĐĐĐ, Hội đồng đã chấp thuận các vấn đề liên quan đến đạo đức nghiên cứu y sinh học của đề tài Hội đồng đạo đức đã xác nhận rằng nghiên cứu về “Khảo sát tỷ lệ thấm nhập lymphô bào u trong ung thư biểu mô vú xâm nhiễm giữa mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ” đảm bảo các tiêu chuẩn đạo đức cần thiết This approval ensures that the research is conducted ethically and in accordance with medical standards.
Việc nhập dữ liệu thô, xử lý và phân tích số liệu được thực hiện bằng các phần mềm chuyên dụng tiên tiến, giúp đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao trong quá trình tính toán khoa học Các công cụ này tối ưu hóa việc xử lý dữ liệu, nâng cao hiệu quả công việc và đảm bảo kết quả phân tích chính xác theo yêu cầu nghiên cứu Sử dụng phần mềm chuyên dụng là giải pháp tối ưu để đảm bảo dữ liệu được xử lý đúng quy trình, đáp ứng các tiêu chuẩn về tính khoa học và độ chính xác trong phân tích số liệu.
Nghiên cứu này không ảnh hưởng đến sức khỏe hay thay đổi phương pháp điều trị của bệnh nhân, đồng thời các thông tin cá nhân được bảo mật tuyệt đối Dữ liệu thu thập từ hồ sơ lưu trữ và hình ảnh vi thể chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và không phục vụ mục đích khác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Các đặc điểm chung
Chúng tôi đã thu thập thành công 228 trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu đề ra Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 50,6 tuổi, với độ tuổi nhỏ nhất là 27 và lớn nhất là 75, cho thấy phạm vi tuổi rộng và đa dạng trong nhóm nghiên cứu.
Phân bố độ tuổi của các trường hợp trong nghiên cứu được trình bày trong Biểu đồ 3.1
Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận các bệnh nhân tập trung trong khoảng từ 40 tuổi đến 60 tuổi
Biểu đồ 3.1: Phân bố các trường hợp trong nghiên cứu theo nhóm tuổi.
3.1.2 Loại mô học, grad mô học, kích thước u và khoảng cách thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật
3.1.2.1 Loại mô học và grad mô học
Trong các trường hợp thu thập được, có đến 216 ca (chiếm 95%) được chẩn đoán là carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu, cho thấy đây là dạng phổ biến nhất Ngoài ra, 7 ca (chiếm 3%) được xác định là carcinôm tiểu thùy xâm nhiễm, trong khi các loại mô học khác chiếm tỷ lệ thấp, chỉ khoảng 2% Các dữ liệu này giúp làm rõ tỷ lệ các loại ung thư vú xâm nhiễm, hỗ trợ chẩn đoán và phương pháp điều trị phù hợp.
Về grad mô học, có 22 trường hợp được đánh giá là grad I (chiếm 10%), 145 trường hợp là grad II (chiếm 64%) và 61 trường hợp là grad III (chiếm 27%)
Chúng tôi ghi nhận loại mô học chủ yếu là carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu, phản ánh đặc điểm phổ biến của loại ung thư vú này Đồng thời, Grad mô học chủ yếu là Grad II, cho thấy mức độ phân hóa trung bình và có ý nghĩa quan trọng trong xác định tiên lượng và hướng điều trị bệnh nhân.
Carcinôm vú xâm nhiễm dạng không đặc hiệu
Carcinôm tiểu thùy xâm nhiễm
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các loại mô học được chẩn đoán trong quần thể nghiên cứu
3.1.2.2 Kích thước u, số lượng lõi kim được sinh thiết và khoảng cách thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật
Bảng 3.1 Tóm tắt các đặc điểm về kích thước u, khoảng thời thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật và số lõi kim sinh thiết
Trung bình (độ lệch chuẩn) Trung vị [giá trị nhỏ nhất; giá trị lớn nhất]
Khoảng thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật (ngày)
Trung bình (độ lệch chuẩn) Trung vị [giá trị nhỏ nhất; giá trị lớn nhất]
Kích thước u pT1 (≤ 20 mm) pT2 (20 mm – 50 mm) pT3 (> 50 mm)
Số lõi kim sinh thiết
Kích thước trung bình của u là 30,9 mm, với độ lệch chuẩn là 14,1 mm, cho thấy sự biến động đáng kể về kích thước u trong mẫu nghiên cứu Trung vị của u đạt 29,5 mm, phản ánh phân phối dữ liệu về kích thước.u có kích thước nhỏ nhất ghi nhận được là 13 mm, trong khi kích thước lớn nhất là 63 mm, cho thấy phạm vi kích thước u khá rộng.
Số lượng u được xếp vào nhóm pT1 (≤ 20 mm) là 84 (chiếm 36,8%), pT2 (20 mm –
50 mm) là 117 (chiếm 51,3%), còn lại là 27 trường hợp pT3 (≥ 50 mm) (chiếm 11,9%).
Thời gian trung bình giữa sinh thiết và phẫu thuật là 67,2 ngày, với độ lệch chuẩn là 88,2 ngày và trung vị là 25 ngày, cho thấy lượng lớn các trường hợp có thời gian chênh lệch đáng kể Khoảng cách ngắn nhất giữa hai thủ thuật là 5 ngày, trong khi khoảng cách dài nhất lên đến 424 ngày, phản ánh sự đa dạng trong quá trình điều trị và theo dõi bệnh nhân.
Trong tổng số 228 trường hợp, số lõi kim sinh thiết lớn nhất là 6 lõi và ít nhất là 1 lõi Chỉ có duy nhất 1 trường hợp (chiếm 0,4%) có 1 lõi kim sinh thiết, được gộp chung với nhóm 2 lõi thành nhóm 1+2 lõi, có tổng cộng 10 trường hợp (4%) Nhóm 3 lõi chiếm 16% với 37 trường hợp, nhóm 4 lõi chiếm 42% với 96 trường hợp, nhóm 5 lõi chiếm 25% với 56 trường hợp, và nhóm 6 lõi chiếm 13% với 29 trường hợp.
Như vậy, trong quần thể nghiên cứu của chúng tôi, chủ yếu là các u pT1, pT2. Khoảng thời gian trung bình giữa sinh thiết và phẫu thuật là 67 ngày Số lượng lõi kim sinh thiết được đa số là 4 lõi và 5 lõi Số liệu được tóm tắt trong Bảng 3.1.
3.1.2.3 Sự biểu hiện các dấu ấn HMMD và phân nhóm phân tử đại diện
Có 162 trường hợp dương tính với dấu ấn ER (chiếm 71,1%), 66 trường hợp âm tính (chiếm 28,9%).
Có 133 trường hợp dương tính với dấu ấn PR (chiếm 58,3%), 95 trường hợp âm tính (chiếm 41,7%)
71 trường hợp (chiếm 31,6%) biểu hiện dấu ấn HER2 (3+) hoặc dương tính 2+ nhưng có kết quả xét nghiệm FISH dương tính, 156 trường hợp (chiếm 68,4%) âm tính hoàn toàn hoặc dương tính 1+ hay dương tính 2+ và xét nghiệm FISH âm tính.
Giá trị trung bình của Ki-67 trong nghiên cứu là 33,1% với độ lệch chuẩn 24,2, trung vị là 30%, cho thấy mức độ phân bố biến động lớn trong mẫu Các giá trị Ki-67 thấp nhất là 5% và cao nhất lên đến 95%, phản ánh sự đa dạng trong mức độ tăng sinh tế bào Trong tổng số mẫu, có 78 trường hợp (chiếm 34,2%) thuộc nhóm Ki-67 thấp và 150 trường hợp (chiếm 65,8%) thuộc nhóm Ki-67 cao, cho thấy tỷ lệ phần trăm các bệnh nhân có mức độ tăng sinh tế bào cao chiếm đa số.
Trong phân loại các phân nhóm phân tử đại diện, có 49 trường hợp (21,5%) thuộc nhóm lòng ống A, trong khi nhóm lòng ống B – HER2-âm chiếm tỷ lệ cao nhất với 77 trường hợp (33,8%) Ngoài ra, nhóm lòng ống B – HER2-dương chiếm 17,5% với 40 trường hợp, nhóm HER2+ chiếm 14% với 32 trường hợp, còn nhóm tam âm chiếm 13,2% với 30 trường hợp Những số liệu này được trình bày rõ ràng tại Biểu đồ 3.3, giúp hình dung phân bố của các phân nhóm phân tử trong mẫu nghiên cứu.
Chúng tôi tập trung thu thập dữ liệu chủ yếu về các trường hợp trong nhóm lòng ống A và B Trong đó, số ca thuộc nhóm HER2+ và âm tính tam giảm khá ít, lần lượt chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số ca nghiên cứu.
Biểu đồ 3.3 Phân bố các trường hợp trong nghiên cứu theo các phân nhóm phân tử đại diện
Mô tả các đặc điểm của tỷ lệ TILs và mối liên quan với các yếu tố bệnh học - lâm sàng khác
3.2.1 Tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim
Giá trị trung bình của TILs trong nhóm sinh thiết lõi kim là 18,9%, với độ lệch chuẩn 19%, cho thấy sự biến thiên đáng kể Trung vị của TILs đạt 11,5%, phản ánh phân bổ không đều của dữ liệu Các giá trị TILs dao động từ 0% đến 80%, trong đó khoảng tứ phân vị từ 5% đến 30%, giúp hiểu rõ về phân phối và mức độ đa dạng của TILs trong mẫu.
Biểu đồ 3.4 Sự phân bố của tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim
Tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kimổ
Có 33 trường hợp thuộc phân nhóm TILs thấp (chiếm 14,5%), 181 trường hợp thuộc phân nhóm TILs trung bình (chiếm 79,4%) và 14 trường hợp thuộc nhóm TILs cao (chiếm 6,1%) Sự phân bố của tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim được trình bày ở Biểu đồ 3.4
3.2.1.2 Mối liên quan giữa tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim và các yếu tố khác
Phép kiểm Kruskal-Wallis cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa giá trị TILs trong mẫu sinh thiết lõi kim và các yếu tố như độ tuổi (p = 0,039), grad mô học (p < 0,001), sự biểu hiện của dấu ấn ER (p < 0,001), PR (p < 0,001), tình trạng HER2 (p=0,008), tỷ lệ phân chia tế bào Ki-67 (p < 0,001), và các phân nhóm phân tử đại diện (p < 0,001) Những kết quả này cho thấy yếu tố sinh học và đặc điểm phân tử ảnh hưởng đến mức độ TILs trong bệnh nhân.
Phân tích sâu hơn bằng phép kiểm Kruskal hậu định cho thấy TILs mẫu sinh thiết lõi kim có tỷ lệ cao hơn ở nhóm bệnh nhân trẻ tuổi dưới 60, các mô học có grade cao, đặc biệt ở các bệnh nhân âm tính với ER và PR, dương tính với HER2, cùng với mức độ Ki-67 cao (≥ 14%) Các số liệu này được trình bày rõ trong Bảng 3.2, đồng thời mối liên quan giữa TILs và các phân nhóm phân tử sẽ được phân tích chi tiết trong mục 3.2.1.3.
3.2.1.3 Tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim trong các phân nhóm phân tử đại diện
Trong nhóm lòng ống A, trung bình giá trị TILs từ mẫu sinh thiết lõi kim là 10% với độ lệch chuẩn 9%, cho thấy mức độ phản ứng miễn dịch đáng chú ý trong mô Giá trị trung vị là 5%, nằm trong khoảng tứ phân vị [3,3%; 15%], phản ánh sự phân bố của dữ liệu Các giá trị này dao động từ 0% đến 40%, thể hiện sự đa dạng về mức độ TILs trong các mẫu sinh thiết của nhóm.
Trong nhóm lòng ống B – HER2-âm, mức độ TILs trung bình là 16,3% với độ lệch chuẩn 17,5%, cho thấy sự đa dạng trong phản ứng miễn dịch của các khối u này Giá trị trung vị của TILs là 10%, nằm trong khoảng tứ phân vị [2,5%; 25%], phản ánh sự phân bố không đồng đều Các giá trị TILs dao động từ mức thấp nhất là 0% đến mức cao nhất lên đến 80%, cho thấy có những khối u không có tế bào ung thư liên kết miễn dịch, trong khi một số khác phản ánh mức độ miễn dịch mạnh.
Trong nhóm lòng ống B – HER2-dương, tỷ lệ TILs trung bình là 18,4% với độ lệch chuẩn 16,3%, cho thấy sự đa dạng về mức độ lymphocyte xâm lấn trong mô bệnh phẩm Giá trị trung vị của TILs đạt 13,7%, nằm trong khoảng tứ phân vị từ 5% đến 29%, phản ánh phân bố không đều của dữ liệu Giá trị nhỏ nhất của TILs là 0%, trong khi giá trị cao nhất lên tới 65%, chứng tỏ sự khác biệt rõ rệt giữa các mẫu bệnh phẩm.
Trong nhóm tam âm, giá trị trung bình của TILs là 27,9% (độ lệch chuẩn 22%), trung vị 25% với khoảng tứ phân vị [5%; 46,5%] Giá trị nhỏ nhất là 0%, lớn nhất là 65%.
Trong nhóm HER2+, trung bình giá trị TILs là 31,1%, với độ lệch chuẩn 24,6% và trung vị là 30%, nằm trong khoảng tứ phân vị [7,25%; 50%] Giá trị nhỏ nhất của TILs là 0%, trong khi giá trị cao nhất đạt tới 80%, cho thấy sự phân bố đa dạng trong nhóm này Sự phân bố của TILs trong các phân nhóm phân tử HER2+ được thể hiện rõ ràng qua Biểu đồ 3.5, giúp hiểu rõ hơn về mức độ đáp ứng miễn dịch trong các bệnh nhân.
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ TILs ở mẫu sinh thiết lõi kim theo các phân nhóm phân tử đại diện
Kết quả phân tích cho thấy có mối liên quan rõ rệt giữa tỷ lệ TILs trong mẫu sinh thiết lõi kim và các phân nhóm phân tử ung thư vú (p < 0.001) Cụ thể, nhóm tam âm và HER2+ có tỷ lệ TILs cao hơn so với nhóm lòng ống A, với lần lượt là 17,9% và 21,1% (p < 0.001) Ngoài ra, nhóm HER2+ cũng có tỷ lệ TILs cao hơn so với nhóm HER2- (bình thường lòng ống B), với tỷ lệ lần lượt là 14,8% (p < 0.001).
3.2.2 Tỷ lệ TILs mẫu bệnh phẩm mổ
Tỷ lệ TILs mẫu bệnh phẩm mổ
Biểu đồ 3.6 Sự phân bố của tỷ lệ TILs mẫu bệnh phẩm mổ
Giá trị trung bình của TILs trong nhóm bệnh phẩm mổ là 24,3%, cho thấy mức độ miễn dịch trong khối u khá đa dạng Độ lệch chuẩn 21,6% phản ánh sự biến thiên lớn về lượng TILs giữa các mẫu bệnh phẩm Trung vị của TILs là 15,5%, trong khi giá trị nhỏ nhất là 0% và lớn nhất đạt tới 85%, cho thấy sự phân bố phân tán rộng Khoảng tứ phân vị từ 7,8% đến 38% cung cấp thêm thông tin về sự phân phối của TILs trong các mẫu bệnh phẩm, hỗ trợ các nghiên cứu về dự đoán và định hướng điều trị ung thư dựa trên đặc điểm miễn dịch khối u.
Có 97 trường hợp thuộc phân nhóm TILs thấp (chiếm 42,5%), 108 trường hợp thuộc phân nhóm TILs trung bình (chiếm 47,4%) và 23 trường hợp thuộc nhóm TILs cao (chiếm 10,1%) Sự phân bố của tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim được trình bày ở Biểu đồ 3.6
3.2.2.2 Mối liên quan giữa tỷ lệ TILs ở mẫu bệnh phẩm mổ và các yếu tố khác
Phép kiểm Kruskal-Wolllis cho thấy có mối liên quan đáng kể giữa giá trị TILs trong mẫu bệnh phẩm mổ và các yếu tố như độ tuổi (p < 0,001), kích thước u (p < 0,001), grad mô học (p < 0,001), sự biểu hiện của các dấu ấn ER (p < 0,001) và PR (p < 0,001), tình trạng HER2 (p=0,027), chỉ số Ki-67 (p < 0,001), cùng các phân nhóm phân tử đại diện (p < 0,001), cho thấy TILs có liên quan chặt chẽ đến nhiều yếu tố lâm sàng và sinh học của bệnh.
Phân tích sâu hơn bằng phép kiểm Kruskal hậu định đã chỉ ra rằng tỷ lệ TILs cao trong mẫu sinh thiết lõi kim liên quan đến tuổi thấp (< 60 tuổi), kích thước khối u lớn và mức độ grad mô học cao Các yếu tố này đều góp phần làm tăng khả năng xuất hiện TILs trong các mẫu bệnh phẩm, cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa các đặc điểm lâm sàng và mức độ miễn dịch trong khối u Kết quả này nhằm nâng cao hiểu biết về yếu tố ảnh hưởng đến TILs, hỗ trợ trong việc dự báo chiến lược điều trị phù hợp hơn cho bệnh nhân.
Trong phân tích, các yếu tố ER và PR đều âm tính, trong khi HER2 dương tính và chỉ số Ki-67 cao (≥ 14%) đã được xác định Các dữ liệu liên quan được trình bày rõ ràng trong Bảng 3.2, và mối liên hệ giữa các phân nhóm phân tử này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong mục 3.2.1.3.
3.2.2.3 Tỷ lệ TILs mẫu bệnh phẩm mổ trong các phân nhóm phân tử đại diện
Trong nhóm lòng ống A, giá trị trung bình của TILs là 16,8% (độ lệch chuẩn 15%), cho thấy mức độ biến động lớn trong dữ liệu này Trung vị của TILs đạt 12%, nằm trong khoảng tứ phân vị từ 5% đến 20%, phản ánh phân phối chênh lệch rõ rệt Giá trị nhỏ nhất là 0%, trong khi giá trị lớn nhất lên đến 60%, cho thấy sự đa dạng về mức độ TILs trong nhóm này.
So sánh tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích mối quan hệ giữa giá trị TILs thu thập từ sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ, với hệ số tương quan Pearson’s r là 0,857 (p < 0,001), cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hai phương pháp Ngoài ra, phép kiểm Wilcoxon rank sum đã xác nhận rằng giá trị trung bình của TILs ở nhóm bệnh phẩm mổ cao hơn nhóm sinh thiết lõi kim khoảng 5,4% với độ tin cậy cao (p = 0,002) Sự tương quan giữa TILs từ mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ, cả trong toàn bộ mẫu và từng phân nhóm phân tử cụ thể, đã được trình bày rõ ràng trong Biểu đồ 3.8.
Trong từng phân nhóm phân tử đại diện, có sự tương quan dương tính giữa TILs mẫu sinh thiết lõi kim và TILs mẫu bệnh phẩm mổ Cụ thể, trong nhóm lòng ống A và lòng ống B – HER2-dương, hệ số tương quan r lần lượt là 0,588 và 0,679 với mức significance p < 0,001, cho thấy mối liên hệ tích cực giữa hai loại mẫu Phép kiểm Wilcoxon rank sum cho thấy, trong hai nhóm này, mẫu bệnh phẩm mổ có mức TILs trung bình cao hơn so với mẫu sinh thiết lõi kim, lần lượt là 6,8% (p = 0,018) ở nhóm lòng ống A và 6,4% (p < 0,001) ở nhóm lòng ống B – HER2-dương, phản ánh sự khác biệt rõ rệt về mức độ TILs giữa các mẫu.
Trong nhóm tam âm, hệ số tương quan cao r = 0,855 (p < 0,001) cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa các yếu tố nghiên cứu Tuy nhiên, phép kiểm Wilcoxon không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ TILs trong mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ (p = 0,138), cho thấy hai phương pháp này đều mang đặc điểm tương tự về mặt tỷ lệ TILs trong nhóm này.
Biểu đồ 3.8 thể hiện mối tương quan giữa tỷ lệ TILs trong mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ, cả trong tổng thể chung và từng phân nhóm phân tử đặc trưng Trục tung của biểu đồ biểu thị giá trị TILs ở các mẫu, giúp đánh giá mức độ phổ biến của tế bào lympho T infiltrating trong các loại mẫu bệnh phẩm khác nhau Các kết quả này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa tỷ lệ TILs trong các mẫu sinh thiết và mẫu mổ, góp phần nâng cao hiểu biết về đặc điểm miễn dịch của khối u theo từng phân nhóm phân tử.
Trong 2 nhóm lòng ống B – HER2-âm và HER2+ hệ số tương quan r lên đến trên 0,9 (lần lượt là 0,922 và 0,931; p < 0,001) cho thấy sự tương quan rất tốt giữa tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ Tương tự, phép kiểm Wilcoxon rank sum cho giá trị p lần lượt là 0,197 và 0,480 (p > 0,05) đồng nghĩa với việc không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ trong hai phân nhóm này
Tỷ lệ TILs trong mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ có mối tương quan tốt, cho thấy khả năng đánh giá miễn dịch và đáp ứng điều trị chính xác hơn Đặc biệt, điều này được thể hiện rõ ràng trong các phân nhóm phân tử như tam âm, lòng ống B – HER2-âm và HER2+, giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và đề ra phương pháp điều trị phù hợp.
Bảng 3.2 Giá trị trung bình và trung vị của tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ
Phân nhóm TILs mẫu sinh thiết lõi kim (%)
TILs mẫu bệnh phẩm mổ (%)
Phân nhóm TILs mẫu sinh thiết lõi kim (%)
TILs mẫu bệnh phẩm mổ (%)
Trung vị [GTNN; GTLN] pT2 (N = 117)
Trung vị [GTNN; GTLN] pT3 (N = 28)
Trung vị [GTNN; GTLN] Âm tính (N = 66)
Phân nhóm TILs mẫu sinh thiết lõi kim (%)
TILs mẫu bệnh phẩm mổ (%)
Trung vị [GTNN; GTLN] Âm tính (N = 95)
Trung vị [GTNN; GTLN] Âm tính (N = 156)
Phân nhóm TILs mẫu sinh thiết lõi kim (%)
TILs mẫu bệnh phẩm mổ (%)
Phân nhóm phân tử đại diện
*Giá trị p được tính bằng phép kiểm Kruskal Wallis
3.4 Tính tin cậy của tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim
Chúng tôi đã khảo sát độ tin cậy của giá trị TILs từ mẫu sinh thiết lõi kim bằng cách tính hệ số tương quan nội lớp (ICC) so với nhóm bệnh phẩm mổ và thu được hệ số ICC là 0,851, với khoảng tin cậy 95% từ 0,81 đến 0,88, p < 0,001 Nhìn chung, kết quả cho thấy mức độ đồng thuận cao giữa các mẫu sinh thiết lõi kim và bệnh phẩm mổ về giá trị TILs.
2 nhóm này ở mức độ tốt
Chúng tôi phân loại tỷ lệ TILs thành ba nhóm: thấp, trung bình và cao, nhằm đánh giá mức độ đồng thuận chẩn đoán Ngoài ra, tỷ lệ TILs cũng được chia thành hai nhóm chính: thấp – trung bình và cao Phương pháp này giúp đo lường mức độ đồng thuận chẩn đoán bằng phép kiểm Cohen’s kappa, và kết quả được trình bày rõ trong Bảng 3.3.
Bảng 3.3 Sự phân bố và mức độ đồng thuận (kappa) của tỷ lệ TILs khi phân loại thành 3 nhóm (A) và 2 nhóm (B)
Thấp Trung bình Cao Tổng Kappa Giá trị p
Thấp – TB Cao Tổng ĸ Giá trị p
Khi phân tỷ lệ TILs thành 3 nhóm, chúng tôi nhận thấy có tổng cộng 57 trường hợp (chiếm 25%) không tương hợp chẩn đoán Chỉ số kappa tính được là ĸ = 0,564
(p < 0,001) Mức độ đồng thuận chẩn đoán ở mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ ở mức trung bình với khoảng tin cậy 95% từ 0,466 đến 0,662
Khi áp dụng phân loại gồm hai nhóm, chúng tôi ghi nhận chỉ có 11 trường hợp (4,8%) không khớp với chẩn đoán, với hệ số kappa là 0,678 (p < 0,001), cho thấy mức độ đồng thuận chẩn đoán khá tốt Độ đồng thuận này được xác nhận với khoảng tin cậy 95% từ 0,493 đến 0,864 Ngoài ra, chúng tôi đã sử dụng biểu đồ Bland-Altman để thể hiện sự phù hợp của tỷ lệ TILs giữa nhóm sinh thiết lõi kim và bệnh phẩm mổ, trong đó giá trị trung bình của sự khác biệt là khoảng 5,4%, với chỉ 11 trường hợp (4,8%) nằm ngoài khoảng tin cậy 95%, cho thấy độ tương hợp giữa hai nhóm là rất tốt.
Biểu đồ 3.9: Đồ thị Bland – Altman Plot mô tả sự đồng thuận của tỷ lệ TILs giữa mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ.
Sự khác biệt của tỷ lệ TILs
Giá trị trung bình của tỷ lệ TILs
Như vậy, nhìn chung tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim có thể đại diện khá tốt cho mẫu bệnh phẩm mổ.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tương hợp
Chúng tôi tính giá trị chênh lệch của tỷ lệ TILs giữa nhóm sinh thiết lõi kim và bệnh phẩm mổ bằng cách lấy hiệu số của hai biến này, gọi là HSTILs Sự khác biệt giữa hai tỷ lệ được thể hiện qua giá trị tuyệt đối của HSTILs, hay còn gọi là KBTILs, phản ánh mức độ tương hợp giữa các yếu tố Trung bình của HSTILs là 5,33% với độ lệch chuẩn 11,1%, và trung vị đạt 5% trong khoảng tứ phân vị [0; 10%], giúp chúng tôi đánh giá chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ TILs.
Biểu đồ 3.10 thể hiện sự phân bố của HSTILs trong quần thể nghiên cứu, với giá trị nhỏ nhất là -44% và giá trị lớn nhất là 50% Các số liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về mức độ phân tán và biến động của HSTILs trong mẫu nghiên cứu, góp phần làm rõ đặc điểm của dữ liệu Thông qua biểu đồ này, người đọc có thể hiểu rõ hơn về phân phối của các chỉ số HSTILs, từ đó hỗ trợ các phân tích thống kê và ra quyết định phù hợp trong nghiên cứu.
Chúng tôi sử dụng phép kiểm Kruskal-Wallis để xác định mối liên quan giữa KBTILs và các yếu tố bệnh học lâm sàng khác, nhằm đánh giá mức độ khác biệt rõ ràng giữa các nhóm Kết quả của phân tích này được trình bày rõ ràng trong Bảng 3.4, giúp cung cấp dữ liệu quan trọng về mối liên hệ giữa các yếu tố bệnh lý và chỉ số KBTILs.
Bảng 3.4 Mối liên quan giữa KBTILs với các đặc điểm bệnh học lâm sàng khác
Kích thước u (mm) pT1 pT2 pT3
Phân nhóm phân tử đại diện
Số lượng lõi kim sinh thiết
*Giá trị p được tính bằng phép kiểm Kruskal Wallis
Sau khi kiểm tra, chúng tôi ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của giá trị KBTILs giữa các nhóm kích thước u và số lượng lõi kim sinh thiết (p < 0,001) Tuy nhiên, không có sự khác biệt rõ ràng về KBTILs theo các yếu tố như tuổi, grad mô học, biểu hiện của ER, PR, HER2, Ki-67 hay các phân nhóm phân tử đại diện (p > 0,05).
Phân tích hậu định Kruskal Wallis cho thấy kết quả nhất quán trong việc xác nhận giả thuyết ban đầu Cụ thể, nhóm kích thước u lớn (pT3) có KBTILs cao hơn, và nhóm 1–3 lõi kim có mức KBTILs cao hơn so với các nhóm 4, 5, và 6 lõi Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về KBTILs giữa các nhóm 1+2 lõi và 3 lõi, cũng như giữa các nhóm 4, 5, và 6 lõi Điều này cho thấy kích thước u và số lõi kim đều ảnh hưởng đến KBTILs, nhưng một số nhóm không có sự khác biệt rõ rệt giữa các phân nhóm.
Phương pháp tương quan Pearson’s r cho thấy không có sự tương quan có ý nghĩa thống kê của KBTILs và khoảng cách thời gian giữa sinh thiết và phẫu thuật (p
Dựa trên kết quả kiểm định Kruskal-Wallis, chúng tôi đã tính hệ số tương quan ICC cùng khoảng tin cậy 95% của giá trị TILs mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ, theo các nhóm kích thước u, số lõi kim sinh thiết và độ tuổi Các số liệu này được trình bày rõ ràng tại Bảng 3.5, giúp đánh giá mức độ đồng nhất và tin cậy của các mẫu trong nghiên cứu.
Trong các nhóm kích thước u (pT1, pT2, pT3), ICC lần lượt là 0,922 (p < 0,001), 0,895 (p = 0,005) và 0,565 (p = 0,042), thể hiện mức độ đồng thuận cao đối với các u nhỏ Cụ thể, ở nhóm pT1, ICC trên 0,9 cho thấy mức đồng thuận xuất sắc, trong khi nhóm pT2 gần đạt mức này Tuy nhiên, ở nhóm pT3, mức độ đồng thuận chỉ trung bình, phản ánh sự khác biệt trong độ chính xác hoặc độ tin cậy khi đánh giá các u lớn hơn.
Bảng 3.5 trình bày hệ số tương quan ICC của tỷ lệ TILs mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ theo các phân nhóm kích thước u và số lõi kim sinh thiết Kết quả cho thấy mức độ đồng nhất cao giữa các mẫu sinh thiết và mẫu mổ, đặc biệt ở các phân nhóm kích thước u lớn và số lõi kim sinh thiết nhiều Các hệ số ICC cao hơn ở nhóm có kích thước u lớn và số lõi kim sinh thiết từ 3 trở lên, cho thấy độ tin cậy trong việc sử dụng mẫu sinh thiết lõi kim để dự đoán tỷ lệ TILs Những phát hiện này hỗ trợ việc đánh giá chính xác hơn về vi mô u dựa trên mẫu sinh thiết trong thực hành lâm sàng.
Trong các nhóm số lõi kim sinh thiết, hệ số ICC tăng dần từ 0,599 ở nhóm 1 + 2 lõi đến 0,953 ở nhóm 6 lõi, cho thấy mức độ đồng thuận cao hơn khi số lõi sinh thiết tăng Khi số lõi sinh thiết chỉ từ 1 đến 3, độ đồng thuận đạt mức trung bình, nhưng khi đạt 4 đến 5 lõi, độ đồng thuận trở nên tốt hơn, và đạt mức xuất sắc nhất khi có 6 lõi kim sinh thiết, với p < 0,001.
Phân nhóm ICC Khoảng tin cậy 95% Giá trị p
Kích thước u (mm) pT1 (n) pT2 (n7) pT3 (n')
Số lõi kim sinh thiết
0.095 < ICC < 0.888 0.451 < ICC < 0.857 0.724 < ICC < 0.880 0.751 < ICC < 0.948 0.856 < ICC < 0.992
Dựa trên các phương pháp phân tích đã thực hiện, chúng tôi xác định rằng khối u có kích thước lớn (pT3) kết hợp với số lượng lõi sinh thiết nhỏ (1-3 lõi) làm giảm độ tương hợp giữa tỷ lệ TILs trên mẫu sinh thiết lõi kim và mẫu bệnh phẩm mổ Ngược lại, các khối u nhỏ hơn và số lượng lõi sinh thiết lớn (4-6 lõi) giúp nâng cao mức độ tương hợp giữa các mẫu, góp phần cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị.