1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

10 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 41,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận phân tích tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo Điều 201 Bộ luật hình sự. Phân tích các dấu hiệu pháp lý về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định bộ luật dân sự 2015 và bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Đặc điểm tình hình 2

2 Tính cấp thiết của chuyên đề 2

B PHẦN NỘI DUNG 4

1 Lý luận chung về tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 4

1.1 Khái niệm tội phạm 4

1.2 Khái niệm về vay tài sản 5

1.3 Khái niệm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 5

2 Tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 6

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 6

2.2 Các trường hợp phạm tội cụ thể 7

C KẾT LUẬN 10

Trang 2

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặc điểm tình hình

Xã hội ngày càng phát triển mang đến nhiều lợi ích cho nền kinh tế, song với đó còn làm phát sinh một số vấn đề kinh tế - xã hội như sự phân hóa giàu nghèo, nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ ngày càng tăng cao từ đó làm phát sinh nhiều

hệ lụy nguy hiểm cho xã hội, trong đó nổi bật là tình trạng cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Đối tượng cho vay là những băng nhóm chuyên cho vay nặng lãi, có tiền án, tiền sự, côn đồ, sẵn sàng dùng các thủ đoạn đe dọa để gây sức ép từ người vay tiền, người thân của những người này để thu hồi các khoản tiền cho vay Đối tượng đi vay tín dụng đen thường là những người không có nghề nghiệp ổn định, hoặc thất nghiệp do tình hình dịch bệnh,… Mục đích vay tiền sử dụng vào nhu cầu thiết yếu như trang trải cuộc sống trong gia đình, sản xuất, kinh doanh, ngoài ra còn sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc Thủ đoạn của những người cho vay biết

rõ thông tin về nhân thân, địa chỉ, số điện thoại, khi cho vay chụp ảnh, giữ giấy tờ tùy thân như sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký xe mô tô của người vay tiền Để che giấu hành vi phạm tội của mình, khi cho vay tiền không lập hợp đồng, khi trả tiền gốc và tiền lãi không lập biên nhận Với thủ đoạn này, che đậy hoàn toàn hành vi phạm tội khi bị tố giác, bị phát hiện Nhận thấy hoạt động cho vay lãi nặng phạm tội phức tạp, tinh vi, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội và bức xúc trong dư luận Khi người vay tiền không còn khả năng chi trả, bị đe dọa mới tố giác tội phạm, Do đó, rất khó phát hiện hành vi và hậu quả của tội phạm Hiện tại, các cơ quan có thẩm quyền chỉ phát hiện, xử lý thông qua

tố giác tội phạm của người dân

2 Tính cấp thiết của chuyên đề

Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất Thế giới, để tiếp tục duy trì và phát huy thành quả này cần phải có sự ổn định

về mặt xã hội Tuy nhiên, việc phát sinh tội phạm tín dụng đen biến tướng gây ta nhiều hệ lụy, ngoài việc gây mất an ninh trật tự, mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, làm thất thoát nguồn thu thuế của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến hệ thống tài chính của đất nước

Trước thực trạng tội phạm “tín dụng đen”, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa

đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự) quy định về xử lí hình sự đối với tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” đáp ứng yêu cầu xử lý loại tội phạm này hiện nay Để tăng cường công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và

vi phạm pháp luật liên quan đến “tín dụng đen”, trước đó Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 25-4-2019 về “Tăng cường phòng ngừa, đấu

tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến tín dụng đen” là biện pháp

quyết liệt, mạnh mẽ giúp trấn áp, kiềm chế tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực này Bên cạnh sự vào cuộc mạnh mẽ của các lực lượng chức năng và sự ủng hộ của người dân, nhưng hiện nay quy định của pháp luật về xử lý tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự còn vướng mắc, khó khăn trong

Trang 3

việc quy định, áp dụng, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế khi xử lý Chính vì nguyên nhân đó, cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xử lý

loại tội phạm này Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu về “tội phạm cho vay lãi nặng

trong giao dịch dân sự”, để nâng cao hiệu quả trong việc xử lý tội phạm cho vay

lãi nặng, góp phần bảo đảm an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của thành phố biển

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

1 Lý luận chung về tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 1.1 Khái niệm tội phạm

Điều 8 Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế

độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự” Như vậy tội phạm phải là

hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bởi chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi và xâm phạm đến các mối quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

Một hành vi được xem là tội phạm khi đủ các yếu tố cấu thành bao gồm khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm, cụ thể:

Thứ nhất, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại.

Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội

và tất yếu không có tội phạm Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại

Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là

những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, hoàn cảnh phạm tội… Thông qua biểu hiện bên ngoài ở mặt khách quan của tội phạm có thể đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm bao gồm:

Hành vi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm Hành vi bao gồm hành vi hành động (ví dụ: hành vi của tội giết người, tội cướp tài sản,…) và hành vi không hành động (ví dụ: hành vi của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,…)

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả tội phạm Ví dụ, tội hiếp dâm thì hậu quả không phải là dấu hiệu định tội, tội vứt bỏ con mới đẻ thì hậu quả

là dấu hiệu định tội

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

Thứ ba, mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của

tội phạm được phản ánh qua hình thức động cơ, mục đích của tội phạm Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm:

Lỗi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm, bao gồm

- Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

Trang 5

- Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

- Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

- Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

Thứ tư, Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội Người

phạm tội (chủ thể của tội phạm) phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

và đạt độ tuổi nhất định mà Bộ luật hình sự quy định đối với mỗi loại tội phạm

1.2 Khái niệm về vay tài sản

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi1 Như vậy, cho vay là sự thỏa thuận giữa các bên mà thông qua đó làm phát sinh quyền

và nghĩa vụ của các bên Hay nói cách khác, cho vay là một loại hợp đồng dân sự

Điều 463 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận

giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.Theo

Điều 116 BLDS, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Vì vậy, hợp đồng cho vay là một loại giao dịch dân sự, mà để giao dịch này có hiệu lực thì cần phải đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS, bao gồm: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Ngoài ra, Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

Tóm lại, vay tài sản là một loại giao dịch dân sự và thông qua đó làm bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản và quyền được nhận lại tài sản cùng với lãi nếu có thỏa thuận, bên vay có quyền được nhận tài sản vay và có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cùng với lãi nếu có cho bên cho vay khi đến thời hạn mà các bên thỏa thuận Hợp đồng cho vay cần phải đáp ứng một số điều kiện nhất định thì mới có hiệu lực

1.3 Khái niệm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Vay tài sản là một loại hợp đồng phát sinh từ sự thỏa thuận, thống nhất giữa các bên Tuy nhiên, để hạn chế tác động xấu đến xã hội và đảm bảo an ninh tiền tệ, pháp luật đã giới hạn mức lãi suất trong hợp đồng vay tài sản Cụ thể, khoản 1 Điều 468 BLDS quy định lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt

1 Khoản 16 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trang 6

quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác, nếu vượt mức này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực Như vậy, khi lãi suất vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay thì được coi là cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

2 Tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được quy định tại Điều

201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS), cụ thể:

“Điều 201 Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1 Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2 Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên[155], thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thể hiện qua các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội này

Về chủ thể của tội phạm, Điều 12 BLHS quy định gười từ đủ 16 tuổi trở lên

phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này

có quy định khác Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173,

178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của

Bộ luật này Căn cứ Điều 201 BLHS, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự không quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cũng không phải là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thuộc trường hợp người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự Song với đó, tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự không thuộc phạm vi chị trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Điều 76 BLHS Do đó, người từ đủ 16 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự

là chủ thể của loại tội này

Về khách thể của tội phạm, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội

phạm xâm phạm đến, và quan hệ xã hội mà tội cho vay nặng lại xâm phạm ở đây

là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ Ngoài ra cho

Trang 7

vay nặng lãi có thể là nguyên nhân dẫn đến xâm phạm trật tự an toàn, an ninh khi

có hành vi thu hồi nợ trái pháp luật diễn ra trên thực tế

Về mặt chủ quan của tội phạm, khi xét đến mặt chủ quan của tội phạm,

người ta xét đến yếu tố lỗi của người phạm tội Đối với tội cho vay nặng lãi, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật, thấy trước hậu quả là người vay tiền phải trả quá lãi suất mà pháp luật quy định nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra Do đó, lỗi của loại tội phạm này là lỗi cố ý trực tiếp

Về mặt khách quan tội phạm, hành vi khách quan của tội này là hành vi cho

người khác vay tiền, nhưng là cho vay với mức lãi suất cao gấp 05 lần mức lại suất cao nhất trong hợp đồng dân sự nhằm thu lợi bất chính Thu lợi bất chính trong giao dịch dân sự, tức là số lợi bất hợp pháp do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

về dân sự, là khoản lợi ích mà người cho vay thu được do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về dân sự, ở đây là gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất mà BLDS quy định

Bên cho vay thường dùng thủ đoạn lợi dụng lúc người vay đang gặp khó khăn về tài chính, có thể là do tai nạn, ốm đau, hoặc khó khăn đột xuất, cần gấp một khoản tiền lớn, họ sẽ áp dụng hình thức cho vay nóng, quảng cáo thủ tục đơn giản, giải ngân dễ dàng so với vay ở ngân hàng hay các tổ chức tín dụng hoạt động chính thống để người vay phải vay với lãi suất cao

Hậu quả gây ra thiệt hại về vật chất đối với người đi vay do phải trả một khoản lãi quá cao so với quy định Và đôi khi là còn kem theo cả tổn hại về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, do trên thực tế, không phải ai vay nặng lãi cũng có khả năng trả nợ, mà nhắc đến vay nặng lãi thì người ta cũng đồng thời nghĩ đến siết nợ xã hội đen, do đó thiệt hại xảy ra không chỉ là đối với người đi vay

mà còn ảnh hưởng tớ cả trật tự an ninh xã hội

2.2 Các trường hợp phạm tội cụ thể

2.2.1 Trường hợp phạm tội theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự

Mức phạt của tội cho vay nặng lãi được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều

201 Bộ luật Hình sự như sau:

“Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm’.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì lãi suất trong hợp đồng vay được xác định như sau:

“1 Lãi suất vay do các bên thỏa thuận Trường hợp các bên có thỏa thuận

về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều

Trang 8

chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

   2 Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ” 2

Cách tính mức lãi suất cụ thể như sau: 20%/năm, tức là 1,67%/tháng = 0,056%/ngày Mức lãi suất cho vay gấp 05 lần trở lên, tức là 100%/năm = 8,3%/tháng = 0,28%/ngày Số tiền thu lợi bất chính phải từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng Trừ trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành

vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự hoặc đã bị kết án về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự

* Cách xác định số tiền thu lợi bất chính như sau:

Trường hợp cho vay lãi nặng đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự trong cả

kỳ hạn vay

Trường hợp cho vay lãi nặng chưa hết thời hạn vay theo thỏa thuận mà bị phát hiện thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn

Trường hợp bên vay đã trả tiền lãi trước hạn và các khoản thu trái pháp luật khác thì số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi

và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay thực tế đã trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự3

* Truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể

- Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, mà số tiền thu lợi bất chính của mỗi lần phạm tội từ 30.000.000 đồng trở lên, nếu mỗi lần phạm tội đều chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì ngoài việc bị áp dụng khung hình phạt tương ứng với tổng

số tiền thu lợi bất chính, họ còn bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

“phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự

- Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng mà các lần thu lợi bất chính đều dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính từ

2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Trang 9

30.000.000 đồng trở lên và các hành vi này chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự

- Trường hợp người thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi nặng, trong đó

có một lần cho vay lãi nặng, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên và hành

vi cho vay lãi nặng này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; còn các hành vi cho vay lãi nặng khác thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, các hành vi này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự với khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính của các lần cho vay lãi nặng, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản

1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự

- Trường hợp người cho vay lãi nặng thực hiện nhiều hành vi khác nhau liên quan đến việc đòi nợ (như: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần, gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe hoặc có hành vi khác để lấy tài sản, ) thì tùy từng trường hợp họ còn bị xử lý hình sự về tội phạm tương ứng, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm

- Trường hợp người cho vay lãi nặng nhằm thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên, nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn mà người cho vay chưa thu lợi bất chính hoặc đã thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt tương ứng với tổng số tiền thu lợi bất chính

mà họ nhằm đạt được Việc xác định số tiền thu lợi bất chính được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết này Khi quyết định hình phạt, Tòa án áp dụng Điều 15 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự về phạm tội chưa đạt4

2.2.2 Trường hợp phạm tội theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự

Mức phạt của tội cho vay nặng lãi được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều

201 Bộ luật Hình sự như sau:

“Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Đây là trường hợp phạm tội thu lợi bất chính số tiền từ 100.000.000 đồng trở lên Nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân

sự như sau: Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự; Xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người thực hiện hành vi phạm tội Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm thì xem xét áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính5

hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao

Trang 10

Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội theo khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự như sau:

“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm” Trường hợp hình phạt chính được áp dụng không

phải hình phạt tiền thì phải xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt bổ sung là hình phạt tiền6

C KẾT LUẬN

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định tội danh

và khung hình phạt hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Nhưng hiện nay, chế tài của pháp luật còn nhẹ, văn bản hướng dẫn còn chưa cụ thể, chưa rõ ràng nên thực thi pháp luật còn một số hạn chế, bất cập khi xử lý tội phạm, chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa

Để đảm bảo công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, đảm bảo pháp luật đi vào đời sống thực tiễn, góp phần giải quyết các bất cập hiện tại, cần phải có giải pháp đồng bộ, thống nhất về pháp luật và thực tiễn, để góp phần thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm cho vay lãi nặng, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, phát triển bền vững văn minh đô thị thành phố biển đảo đầu tiên của Việt Nam

dịch dân sự.

hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Ngày đăng: 04/04/2023, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w