Mục lục Phần mở đầu 2 Phần nội dung 3 I Khái quát về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án 3 1 Khái niệm 3 2 Nguyên tắc và các trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 3 a) Nguyên tắc xét, miễn.
Trang 1M c l c ụ ụ
Phần mở đầu 2
Phần nội dung 3
I Khái quát về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án 3
1 Khái niệm 3
2 Nguyên tắc và các trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 3
a) Nguyên tắc xét, miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 3
b) Các trường hợp được miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự 4
c) Các trường hợp được giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 5
3 Thẩm quyền và thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 6
a) Thẩm quyền 6
b) Thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 6
II Cơ sở của chủ trương miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự 8
III.Ý kiến về chủ trương và một số kiến nghị 10
Phần kết luận 13
Danh sách tài liệu tham khảo 14
Trang 2Ph n m đ u ầ ở ầ
Thi hành án dân sự là một trong những nội dung cơ bản của tư pháp dân
sự, có tác động trực tiếp tới hiệu quả của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể thông qua hoạt động tư pháp Vì vậy, thi hành án dân sự luôn được nhà nước và xã hội quan tâm Khi bản án, quyết định dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mà nghĩa vụ thi hành án lại không thể thực hiện được, mà việc đó lại có ý nghĩa quan trọng trong đảm bảo thi hành án hiệu quả, giảm bớt gánh nặng cho người phải thi hành án,
tiết kiện thời gian, tiền bạc,…Chính vì vậy, đề tài: “Miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án dân sự là gì? Tại sao lại có chủ trương miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự? Ý kiến của em về vấn đề này?” để nghiên cứu và làm rõ hơn về vấn đề
này
Trang 3Phần nội dung
I Khái quát về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
1 Khái niệm
Miễn nghĩa vụ thi hành án là trường hợp người phải thi hành án có nghĩa
vụ nộp một khoản tiền, tài sản để thu nộp ngân sách nhà nước theo bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thực hiện hoặc mới
thực hiện được một phần mà có đủ điều kiện do pháp luật quy định nên được tòa
án có thẩm quyền quyết định miễn thi hành toàn bộ các khoản thu nộp ngân
sách nhà nước còn lại
Giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự là trường hợp người thi hành án có nghĩa vụ nộp một khoản tiền, tài sản để thu nộp ngân sách nhà nước theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thực hiện hoặc mới thực hiện một phần mà có đủ điều kiện do pháp luật quy định nên được tòa án có
thẩm quyền quyết định giảm thi hành một phần các khoản thu nộp ngân sách
nhà nước
Các khoản thu, nộp cho ngân sách nhà nước thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án gồm tiền phạt, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ
phí Tòa án, tịch thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu, nộp khác cho ngân sách nhà nước được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật; lãi chậm thi hành án đối với khoản được miễn, giảm (nếu có)
2 Nguyên tắc và các trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
a) Nguyên tắc xét, miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
Theo quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước thì nguyên tắc xét miễn, giảm thi hành án được quy định như sau:
Trang 4- Việc xét miễn, giảm thi hành án phải được thực hiện khách quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn và các quy định của pháp luật
về thi hành án dân sự, pháp luật có liên quan;
- Người được xét miễn, giảm thi hành án không phải nộp chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm Chi phí cho việc xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí hoạt động của cơ quan thực hiện việc miễn, giảm thi hành án
b) Các trường hợp được miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự
Theo Điều 61 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), việc miễn nghĩa vụ thi hành án dân sự được thực hiện một trong một số trường hợp
Thứ nhất, người phải thi hành án được xét miễn toàn bộ nghĩa vụ thi
hành án dân sự Nếu theo bản án, quyết định của Tòa án, người phải thi hành án phải nộp một hoặc một số khoản tiền cho ngân sách nhà nước nhưng vì không
có tài sản nên họ chưa nộp được bất cứ số tiền nào Trường hợp này, họ có thể
sẽ được tòa án xét miễn hoàn toàn nghĩa vụ thi hành các khoản thu đó khi có đủ các điều kiện sau:
- Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
- Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng
Thứ hai, người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu
nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có
đủ các điều kiện sau đây:
Trang 5- Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
- Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa
vụ còn lại có giá trị dưới 5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày
ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng
Thứ ba, người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí,
tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa
vụ còn lại
- Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo
dài là người bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản
do tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn
đến không đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho bản thân
người đó và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng từ mười hai tháng trở lên,
kể từ thời điểm xảy ra sự kiện đó đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án;
- Người phải thi hành án lập công lớn là người đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác;
có phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xác nhận
c) Các trường hợp được giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân
sách nhà nước mà thuộc trường hợp:“không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài
sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không
Trang 6có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;” thì được xét giảm một
phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây:
- Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa
vụ còn lại có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án;
- Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa
vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng
3 Thẩm quyền và thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự a) Thẩm quyền
Thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự được quy định theo tiêu chí lãnh thổ Việc pháp luật quy định về thẩm quyền theo tiêu này tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan có thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án trong việc xác minh về điều kiện tài sản, khả năng thi hành nghĩa vụ và thời gian thi hành án của người phải thi hành án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Toà án quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở
b) Thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
Thủ tục đề nghị xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự:
- Đối với việc xét miễn, giảm thi hành án với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; xét miễn phần án phí còn lại, căn cứ ý kiến nhất trí bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan Thi hành án dân sự đề nghị Tòa án có thẩm quyền xét miễn, giảm thi hành án
Trang 7- Đối với việc xét miễn tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài, xét giảm việc chấp hành phần tiền phạt còn lại đối với người chưa thành niên theo quy định của Bộ luật Hình sự thì: Trường hợp việc thi hành án đang do cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện tổ chức thi hành thì căn
cứ hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm của cơ quan Thi hành án dân sự, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án xét miễn, giảm thi hành án; Trường hợp việc thi hành đang do cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan Thi hành án cấp quân khu tổ chức thi hành, căn cứ ý kiến nhất trí bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan Thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan Thi hành án cấp quân khu chuyển hồ sơ để Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền đề nghị Tòa án xét miễn, giảm thi hành án
Thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự:
- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán thụ lý
hồ sơ và giải quyết việc xét miễn, giảm thi hành án Thẩm phán được phân công
có quyền yêu cầu Viện kiểm sát hoặc cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ hoặc bổ sung giấy tờ cần thiết trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu1
- Tổ chức phiên họp xét miễn, giảm thi hành án:
Phiên họp do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm
Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm Trên cơ sở xem xét
hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận
đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
Trang 8- Quyết định miễn, giảm thi hành án của Tòa án: Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp2 mà Viện kiểm sát không kháng nghị Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Toà án phải gửi quyết định
đó cho cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của Luật thi hành án dân sự
II Cơ sở của chủ trương miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
Khi bản án, quyết định dân sự của tòa án có hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ thi hành án phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy nhiên trên thực tế, có nhiều trường hợp việc thi hành không thể thực hiện được do người phải thi hành án qua một thời gian dài vẫn không có tài sản
để thi hành án (chẳng hạn như một số người bị thiên tai lũ lụt không còn nhà cửa, ruộng đồng,…) hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu và khả năng để họ có thể thi hành án là không
có Nếu cứ nhất định buộc người phải thi hành án phải thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự sẽ mất rất nhiều thời gian, công sức để xác minh, theo dõi điều kiện thi hành án của họ Ngoài ra, cũng có trường hợp tài sản của người thi hành án có giá trị nhỏ nhưng tổ chức thi hành án thì chi phí lại có thể tốn chi phí cao hơn nhiều lần và như vậy dẫn đến hiệu quả thi hành án thấp…
Việc pháp luật quy định về các trường hợp miễn, giảm nghĩa vụ thi hành
án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo tăng hiệu quả thi hành án dân sự và phần nào giảm bớt khó khăn về tài chính cho người phải thi hành án Những quy định này giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc, công sức phải bỏ ra để tiến hành xác minh, theo dõi để thi hành án Đồng thời, việc miễn, giảm sẽ làm giảm bớt đi tình trạng án tồn đọng kéo dài từ năm này đến năm khác do người phải thi hành án không có điều kiện để thi hành án Việc quy định về miễn, giảm các khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã thể hiện sâu sắc tính nhân đạo của Đảng, Nhà nước trong quá trình thực thi pháp luật nói chung và trong lĩnh vực
Trang 9thi hành án nói riêng Qua đó, pháp luật bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo vệ quyền con người
Ví dụ: Theo bản án số 232/DSST ngày 5.9.2008 của Tòa án nhân dân Thành phố Quy Nhơn, ngoài việc trả cho người được thi hành án số tiền 42,5 triệu đồng, bà Nguyễn Thị Bích L (sinh năm 1953, ở phường Trần Quang Diệu, Thành phố Quy Nhơn) còn phải nộp 2,125 triệu đồng án phí dân sự sơ thẩm Qua xác minh, Chấp hành viên Võ Công Đạt cho biết gia đình bà L rất khó khăn Chồng bà L bị chết do ung thư gan; bản thân bà không có việc làm ổn định, không có thu nhập, tài sản không có gì, phải thuê nhà rày đây mai đó3 Chấp hành viên đã nhiều lần động viên, thuyết phục bà L tự nguyện nộp khoản tiền án phí nhưng bà L thật sự không thể nộp được Qua hơn 5 năm xác minh, nắm tình hình, chấp hành viên đã quyết định lập hồ sơ đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân Thành phố Quy Nhơn xét miễn toàn bộ số tiền án phí nói trên cho bà L Với một người có công việc, có thu nhập ổn định, phải trả khoản tiền án phí như trên chẳng có gì khó khăn Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án không thể tự lo cuộc sống hằng ngày của mình, nên việc miễn khoản thu nộp ngân sách nhà nước thật sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người phải thi hành án
Đồng thời, việc quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự còn nhằm mục đích tránh việc cơ quan thi hành án dân sự lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình cũng như tránh tình trạng người phải thi hành án lợi dụng các quy định của pháp luật về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ bằng việc quy định những trường hợp với những điều kiện cụ thể để được miễn, giảm nghĩa vụ và giao cho tòa án có thẩm quyền để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự
Xuất phát từ những điều như vậy, để đảm bảo hiệu quả của công tác thi hành án dân sự và sớm ổn định được các quan hệ xã hội, pháp luật thi hành dân
Trang 10sự đã quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự của người phải thi hành án dân sự trong một số trường hợp nhất định như đã nêu ở trên
III Ý kiến về chủ trương và một số kiến nghị
Về quy định của pháp luật về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, qua
quá trình áp dụng trên thực tiễn, các nhà làm luật ngày càng xây dựng hoàn thiện hơn các điều luật về thi hành án dân sự nói chung cũng như về miễn, giảm nghĩa
vụ thi hành án dân sự nói riêng Những nghị định, thông tư đã giải thích chi tiết,
cụ thể các điều luật Chẳng hạn như Thông tư liên tịch 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành đã thay thế Thông tư liên tịch 10/2010/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC với quy định mới về trường hợp được xét giảm nhưng lại phạm tội mới; về xét miễn, giảm trong điều kiện đặc biệt; về điều kiện xét miễn, giảm với người đang chấp hành hình phạt tù,…
Nội dung sửa đổi đã mở rộng phạm vi xét miễn, giảm đối với những đối tượng phải thi hành giá trị thấp (dưới 5 triệu); bổ sung các trường hợp xét miễn, giảm khi người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn; đảm bảo việc miễn, giảm thi hành án thực sự trở thành cơ chế thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với những người thực sự không có điều kiện thi hành án Qua đó, việc thi hành án đã đạt được nhiều hiệu quả, rõ ràng, thuận lợi cho hoạt động thi hành án của cá nhân, tổ chức
có thẩm quyền
Về việc thực hiện chủ trương miễn giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự,
những quy định của pháp luật về chủ trương miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự đã đạt được những hiệu quả nhất định trên thực tế Nhiều vụ án kéo dài
đã được giải quyết, người phải thi hành án mà có đủ điều kiện để miễn, giảm