ĐẶT VẤN ĐỀNhờ những thay đổi có tính chiến lược trong đường lối xây dựng kinh tế - xã hộicủa Đảng và Chính phủ ta, Thành phố Quy Nhơn đang bước vào một thời kỳ đổi mớitoàn diện, trong đó
Trang 1CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhờ những thay đổi có tính chiến lược trong đường lối xây dựng kinh tế - xã hộicủa Đảng và Chính phủ ta, Thành phố Quy Nhơn đang bước vào một thời kỳ đổi mớitoàn diện, trong đó các hoạt động đang chuyển từ tình trạng chậm phát triển sang mộtnhịp điệu mới sinh động và bước đầu đã đạt được nhiều hiệu quả kinh tế đáng khích lệ.Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là quá trình cải tạo, nâng cấp đô thị hiện có, mởrộng các khu đô thị mới, quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp tập trung
Hiện nay, cùng với sự gia tăng phát triển kinh tế, công tác thu gom, vận chuyển và
xử lý chất thải rắn đô thị đang là vấn đề nan giải đối với nhiều địa phương trong cả nước.Với khối lượng rác phát sinh lớn nhưng tỷ lệ thu gom còn hạn chế, chất thải rắn sinh rachưa được thu gom và xử lý triệt để Thành phố Quy Nhơn cũng không nằm ngoài thựctrạng này Với quy mô dân số đã tăng đến trên 254.400 người trên diện tích thành phố từ
216 km2, trong đó diện tích đô thị là 145 km2 Mỗi ngày thành phố Quy Nhơn thải ra mộtlượng rác thải khổng lồ khoảng 230 tấn rác (lượng rác thu gom được khoảng 170 - 180tấn bởi Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn, còn hơn 50 tấn thải ra môi trườngmỗi ngày)
Cũng như các thành phố khác trong cả nước, quy mô đô thị của thành phố QuyNhơn đang được mở rộng nhanh chóng, dân số đô thị ngày càng gia tăng Lựơng rác đổ
về các bãi chôn lấp ngày càng gia tăng, nếu không được xử lý thì môi trường sẽ ngàycàng bị ô nhiễm nghiêm trọng Trước tình trạng bãi chôn lấp rác ở Núi Bà Hỏa đóng cửacùng với lượng rác thải ra hàng ngày như hiện nay thì bãi chôn lấp rác Long Mỹ cũng cóthể sẽ sớm bị đóng cửa Việc chôn lấp chất thải rắn là một biện pháp xử lý đơn giản nhất,tuy nhiên hiện nay đã cho thấy nhiều bất cập từ việc chôn lấp chất thải như ô nhiễm môitrường không khí, nước ngầm, đất và tốn quỹ đất lớn để làm bãi chôn lấp… Bên cạnh đó,vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải rắn đô thị gây ra bởi ý thức thực hiện việc bảo vệmôi trường của người dân chưa cao, chưa có sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địaphương
Trang 2Chất thải rắn đô thị tại Thành phố Quy Nhơn đang ngày càng gia tăng nhanhchóng theo tốc độ gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội Lượng chất thải phát sinh
ra trong toàn địa bàn thành phố chưa được thu gom triệt để và cũng chưa được phân loạitại nguồn nên gây rất nhiều khó khăn trong việc quản lý cũng như xử lý lượng chất thảinày
Trước hiện trạng trên, việc tìm ra một phương án giải quyết tối ưu cho vấn đề rácthải là một nhu cầu cấp thiết yếu hiện nay Đó cũng chính là mục tiêu mà tôi chọn đề tài:
“ Điều tra hiện trạng và đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị tại Thànhphố Quy Nhơn” Đề tài này nhằm nghiên cứu đưa ra một số biện pháp cải thiện hệ thốngquản lý chất thải rắn đô thị tại Thành phố Quy Nhơn
1.2 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Để góp phần hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn đô thị ở Thành phố Quy Nhơn phùhợp với chiến lược phát triển chung của Tỉnh và của Thành phố, nghiên cứu này được đặt
ra với hai mục tiêu sau:
Điều tra hiện trạng phát sinh và đánh giá công tác quản lý chất thải rắn đô thị tạiThành phố Quy Nhơn
Đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị tại Thành phố Quy Nhơnphù hợp hơn, mang tính khả thi hơn
1.2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu đề ra, nội dung nghiên cứu bao gồm các vấn đề sau:
- Tổng hợp, biên hội và kế thừa các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan,
- Tổng quan về tình hình chất thải rắn đô thị tại Thành phố Quy Nhơn,
- Khảo sát điều tra hiện trạng phát sinh chất thải rắn đô thị tại Thành phố Quy Nhơn,
và dự báo diễn biến của chất thải rắn đô thị tại Thành phố Quy Nhơn đến năm 2010
và 2025,
- Khảo sát, xem xét và đánh giá hiện trạng quy trình quản lý chất thải rắn tại Thànhphố Quy Nhơn,
Trang 3- Đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị phù hợp hơn cho Thành phốQuy Nhơn.
1.2.3 Giới hạn đề tài
Giới hạn về nội dung
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu với đối tượng chất thải rắn đô thị của Thành phố QuyNhơn
Giới hạn về không gian
Phạm vi không gian của đề tài là một số phường tiêu biểu trong Thành phố Quy Nhơn.Thêm vào đó, Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn sẽ được nghiên cứu về hiệntrạng công tác quản lý chất thải rắn để từ đó đề xuất xây dựng chương trình quản lý hợp
lý hơn, nhằm góp phần giải quyết được những tồn tại của công tác quản lý chất thải hiệnnay của Thành phố
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được điều này, trước hết chúng ta phải điều tra, xem xét và phân tíchtình hình phát sinh, thu gom, vận chuyển và quản lý chất thải rắn đô thị tại đây được thựchiện như thế nào Qua đó đánh giá hiện trạng trên và đưa ra được những đề xuất cải thiệnquy trình quản lý tại đây sao cho phù hợp hơn với thực trạng hiện nay và cho tương lai
Trang 4Sơ đồ nghiên cứu:
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
1.3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: tiến hành phát phiếu điều tra
-phỏng vấn cho từng hộ gia đình về mối quan tâm của họ đối với việc thải bỏ chất thải rắn,thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau như: từ thực tế, sách vở, thư viện, từ mạng, công
ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn… khảo sát hiện trạng chất thải rắn đô thị tại một
số phường trong thành phố
Nội dung cần nghiên cứu
Thu thập, biên hội tài liệu Điều tra hiện trạng
Phát phiếu điều tra
Trò chuyện,phỏng
vấn
Chụp hình, đánh giá thực trạng
Trang 5Các văn bản pháp quy của Nhà nước
Các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn… trên địabàn tỉnh Bình Định
Các tài liệu liên quan đến chất thải rắn đô thị
1.3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu: toàn bộ các số liệu thực hiện trên các
bảng biểu và đồ thị Số liệu được quản lý và phân tích trên máy tính với phần mềmMicrosoft Excell 5.0 Phần soạn thảo văn bản sử dụng phần mềm Microsoft Word 6.0
1.3.2.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp: từ kết quả của quá trình phân tích
tổng hợp các dữ liệu đã có, đề xuất cải thiện quy trình quản lý chất thải rắn đô thị phùhợp hơn
1.3.2.5 Phương pháp chuyên gia:
Tham khảo, lấy ý kiến các chuyên gia tại địa phương và sự góp ý của thầy hướng dẫn ởViện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
- Người dân trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn thuộc các phường nghiên cứu
- Hệ thống thu gom vận chuyển trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn (thuộc công ty TNHHmôi trường đô thị Quy Nhơn)
1.3.4 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là Thành phố Quy Nhơn, cụ thể là các hộ gia đình, các bệnhviện, trung Tâm y tế, các cơ sở sản xuất, các nhà máy xí nghiệp, thuộc các phường nộithành: Trần Phú, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Ngô Mây, Hải Cảng, Nguyễn Văn Cừ và haiphường ngoại thành: Đống Đa, Trần Quang Điệu (vì giới hạn thời gian nên không thể tìmhiểu trên toàn địa bàn Thành phố)
Lý do chọn các phường trên là vì các phường này có mật độ dân số tập trung đôngđúc và là nơi hội tụ gần như đầy đủ các yếu tốmà mình quan tâm
Trang 6CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ
2.1 Khái niệm
2.1.1 Khái niệm chất thải:
Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuấtcông nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình,trường học, các khu dân cư, nhà hàng khách sạn Ngoài ra còn phát sinh trong giao thôngvận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… chất thải làkim loại, hóa chất từ các loại vật liệu khác
2.1.2 Khái niệm chất thải rắn:
Theo quan niệm chung:
Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh
tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sựtồn tại của cộng đồng…) Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ cáchoạt động sản xuất và hoạt động sống
Theo quan điểm mới:
Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị) được định nghĩa là: vật chất mà ngườitạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sựvứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hộinhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và xử lý
2.2 Nguồn phát sinh và thành phần chất thải rắn đô thị
Chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau Hàng ngày chất thải rắn chủ yếu phátsinh từ các nguồn sau và thành phần của chúng bao gồm:
Hộ dân: phát sinh từ các hộ gia đình, các căn hộ chung cư Thành phần rác thải này bao
gồm thực phẩm, giấy, plastic, gỗ, thủy tinh… Ngoài ra rác hộ dân có thể chứa một phầncác chất thải độc hại
Quét đường: phát sinh từ hoạt động vệ sinh đường phố, khu vui chơi giải trí và làm đẹp
cảnh quan Nguồn rác này do người đi đường, các đối tượng tham gia giao thông và các
hộ dân sống dọc hai bên đường xả bừa bãi Thành phần của chúng có thể gồm cành cây
Trang 7Khu thương mại: phát sinh từ các hoạt động buôn bán của các cửa hàng bách hóa, nhà
hàng, khách sạn, siêu thị, văn phòng giao dịch… Các loại chất thải từ khu thương mạibao gồm giấy, carton, plastic, gỗ, thực phẩm, thủy tinh, kim loại, vỏ xe, đồ điện tử giadụng Ngoài ra rác khu thương mại có thể chứa một phần các chất thải nguy hại
Cơ quan, công sở: phát sinh từ các cơ quan, xí nghiệp, trường học, nhà tù, văn phòng
làm việc Thành phần rác ở đây giống ở khu thương mại
Chợ: phát sinh từ các hoạt động mua bán ở các chợ, thành phần chủ yếu là rác hữu cơ
bao gồm rau, củ, quả thừa và hư hỏng
CTR xây dựng (xà bần) từ các công trình xây dựng: phát sinh từ các hoạt động xây
dựng và tháo dỡ các công trình xây dựng, đường giao thông Các loại chất thải gồm gỗ,thép, bêtông, gạch, thạch cao
CTR bệnh viện: gồm rác sinh hoạt và rác y tế phát sinh từ các hoạt động khám bệnh,
điều trị bệnh và nuôi bệnh trong các bệnh viện và cơ sở y tế Các loại chất thải gồm kimtiêm, chai lọ chứa thuốc, các loại thuốc quá hạng sử dụng… có khả năng lây nhiễm vàđộc hại đối với sức khỏe cộng đồng nên phải được phân loại và tổ chức thu gom, vậnchuyển, xử lý riêng
CTR công nghiệp: phát sinh từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản
xuất công nghiệp Thành phần của chúng gồm vật liệu phế thải không độc hại và các chấtthải độc hại Phần rác thải không độc hại có thể đổ bỏ chung với rác thải hộ dân Đối vớiphần rác thải công nghiệp độc hại phải được quản lý và xử lý riêng
2.3 Tác hại của chất thải rắn
2.3.1 Gây hại sức khỏe
Rác sinh hoạt có thành phần chất hữu cơ cao, là môi trường sống tốt cho các sinh vật gâybệnh như ruồi, muỗi, gián, chó, mèo… Qua các trung gian truyền nhiễm, bệnh có thể pháttriển thành dịch Người ta đã tổng kết rác thải gây ra 22 loại bệnh cho con người, đặc biệt
là bệnh ung thư do rác plastic và khi đốt plastic ở 1.200 oC tạo chất dioxin gây quái thai ởngười
Trang 82.3.2 Chất thải rắn làm ô nhiễm nguồn nước
Các chất thải rắn, nếu là chất thải hữu cơ trong môi trường nước nó sẽ bị phân hủy mộtcách nhanh chóng làm ô nhiễm nguồn nước
Nếu rác thải là những chất kim loại thì nó gây nên hiện tượng ăn mòn trong môi trườngnước Sau đó oxy hóa có oxy và không có oxy xuất hiện, gây nhiễm bẩn cho môi trườngnước Những chất thải nguy hại như Hg, Pb, hoặc các chất thải phóng xạ sẽ có mức độnguy hiểm hơn, cao hơn rất nhiều lần
2.3.3 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường đất
Trong điều kiện hiếu khí, khi có độ ẩm thích hợp để rồi qua hàng loạt các sản phẩm trunggian cuối cùng tạo ra các chất khoáng đơn giản, các chất H2O, CO2 Với quá trình kỵ khíthì sản phẩm cuối cùng chủ yếu là: CO2, CH4, H2O Với một lượng vừa phải thì khả năng
tự làm sạch của môi trường đất sẽ làm cho các chất từ rác không trở thành ô nhiễm.Nhưng với lượng rác quá lớn thì môi trường đất sẽ trở nên quá tải và gây ô nhiễm Sự ônhiễm này sẽ cùng với sự ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chảyxuống mạch nước ngầm làm ô nhiễm nước ngầm
2.3.4 Chất thải rắn làm ô nhiễm môi trường không khí
Các chất thải rắn thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm khôngkhí Cũng có những chất thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễmtrực tiếp Cũng có loại rác trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm (70-80%) sẽ có quá trìnhbiến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật Kết quả quá trình là gây ô nhiễm không khí
Từ những đống rác, nhất là những đống rác thực phẩm - nông phẩm chưa hoặc khôngđược xử lý kịp thời và đúng kỹ thuật sẽ bốc mùi hôi thối
Quá trình phân giải các chất thải chứa nhiều đạm trong rác bao gồm cả lên men chua menthối, mốc xanh mốc vàng có mùi ôi thiu do vi khuẩn Tùy điều kiện môi trường mà cácchất thải có những hệ vi sinh vật phân hủy khác nhau:
Trong điều kiện hiếu khí axit amin trong chất thải hữu cơ được men phân giải và vikhuẩn tạo thành axit hữu cơ và NH3, sự có mặt của NH3 làm có mùi hôi
Trong điều kiện hiếm khí các axit amin trong rác bị phân giải thành các chất dạng amin
Trang 9Như vậy rác sinh ra các chất khí gồm có: H2S, NH2, O2, CO, CH4, H2 Trong đó, CO2 và
CH4 sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí Quá trình này kéo dài mãi cho đến 18 thángmới dừng hẳn
2.4 Đặc điểm chất thải rắn (CTR) thành phố Quy Nhơn
Theo tính chất, CTR thành phố Quy Nhơn có thể chia thành 5 loại sau:
- CTR sinh hoạt: là các chất thải liên quan đến các hoạt động của con người ở khudân cư, các cơ quan, trường học, các khu dịch vụ, du lịch
- CTR công nghiệp: là chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp
- CTR bệnh viện: là chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn trong các bệnhviện, trạm xá và trạm y tế
- CTR thương mại: là chất thải phát sinh do hoạt động thương mại Tính chất tương
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, phân người và động vật khác
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu sinh hoạtcủa dân cư
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác, bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, cácsản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác trong giađình, trong kho của các công sở, cơ quan xí nghiệp, các loại xỉ than
- Các chất thải rắn từ đường phố, công viên có thành phần chủ yếu là lá cây, que,
Trang 10Tỷ lệ thu gom CTR ở thành phố Quy Nhơn năm 2006 là 80%, khối lượng chất thảithu gom được 189,10 tấn/ngày, thành phần trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Khối lượng chất thải rắn thành phố, đơn vị: tấn/ngày.
Loại chất thải rắn
Tổng chất thải phát sinh năm 2006 (tấn/ngày)
% theo khối lượng
Chất thải rắn sinh hoạt và công cộng 137.99 72.97
Chất thải rắn công nghiệp và xây dựng 35.56 18.81
(Nguồn: Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn)
2.4.1.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt thành phố Quy Nhơn
Quy Nhơn là thành phố biển, thành phần CTR chứa lượng hữu cơ cao, thành phầnchất thải sinh hoạt thay đổi theo mùa đánh bắt hải sản, du lịch Thành phần cụ thể củaloại CTR này được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn thành phố Quy Nhơn:
6 Tạp chất khó phân loại (<10mm) 20,5
(Nguồn: Công ty TNHH MTĐT Tp Quy Nhơn)
2.4.2 Chất thải rắn công nghiệp
2.4.2.1 Nguồn phát sinh
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất
- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhàmáy nhiệt điện
- Các phế thải trong quá trình công nghệ
- Bao bì đóng gói sản phẩm
Trang 11Thành phần CTR công nghiệp rất phức tạp, đặc biệt là CTR công nghiệp nguy hại,phụ thuộc vào nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tạo thành của từng công nghệ và các dịch
vụ có liên quan
Các chất nguy hại do các cơ sở công nghiệp hoá chất thải ra có tính độc hại cao, tácđộng xấu đến sức khỏe, do đó việc xử lý chúng phải có những giải pháp kỹ thuật để hạnchế tác động độc hại đó
CTR công nghiệp nguy hại chiếm 2- 25% tổng lượng chất thải nguy hại Côngnghiệp thành phố Quy Nhơn chủ yếu là công nghiệp khai thác đá, chế biến gỗ, thủy sản…lượng chất thải rắn côngnghiệp nguy hại được thể hiện ở bảng 2.3
Bảng 2.3: Thành phần tính toán chất thải rắn công nghiệp thành phố:
(Nguồn: Công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn)
2.4.3 Chất thải rắn bệnh viện (y tế)
2.4.3.1 Nguồn phát sinh
- Các loại bông băng, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật
- Các loại kim tiêm, ống tiêm
- Các chi thể cắt bỏ, tổ chức mô cắt bỏ
- Chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân
- Chất thải chứa các chất có nồng độ cao: Chì, thuỷ ngân, Cadmi, Arsen, Xianua…
- Các chất thải phóng xạ trong bệnh viện
Trang 126 Bơm tiêm nhựa, kim tiêm Có 0,9
(Nguồn: Quản lý chất thải rắn - tập 1_GS.TS Trần Hiếu Nhuệ)
Với số lượng giường bệnh hiện có năm 2006 là 1.280 giường bệnh, lượng CTR y tế sauthu gom là 9.780 tấn, với tỷ lệ thu gom là 85%
2.4.4 Chất thải rắn thương mại
2.4.4.1 Nguồn phát sinh
CTR thương mại phát sinh tại các nơi diễn ra hoạt động kinh doanh, thương mại nhưsiêu thị, hội chợ, khu trung tâm thương mại, chợ…
2.4.4.2 Tính chất và thành phần chất thải rắn thương mại thành phố
Tính chất và thành phần CTR thương mại thành phố Quy Nhơn giống như tính chấtthành phần CTR sinh hoạt của thành phố
Lượng CTR thương mại thành phố năm 2006 là 2.630 tấn
2.4.5 Chất thải xây dựng
2.4.5.1 Nguồn phát sinh
- Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng
- Đất đá do việc đào móng trong xây dựng
- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo…
- Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước thiênnhiên, nước thải sinh hoạt, bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố
2.4.5.2 Thành phần chất thải xây dựng.
Thành phần chủ yếu của chất thải rắn xây dựng là: đất đá, gạch ngói, xà bần…
Tốc độ phát triển xây dựng đô thị Quy Nhơn là khá cao đến 7%, do việc xây dựng ở đâyđang được chú trọng, lượng CTR xây dựng năm 2006 là 24.248 tấn
Trang 13Tỷ trọng chất thải rắn thành phố Quy Nhơn
Tỷ trọng CTR có vai trò quyết định đến việc lựa chọn trang thiết bị thu gom, vậnchuyển Tỷ trọng CTR phụ thuộc vào thành phần chất thải, độ ẩm của chất thải và mứcsống của dân cư đô thị Ở Việt Nam tỷ trọng CTR đô thị dao động từ 480-530 kg/m3
Tỷ trọng CTR của thành phố Quy Nhơn cũng như các đô thị vừa và nhỏ của nước ta
là 0,45-0,53 tấn/m3, theo số liệu điều tra năm 2005 Theo dự báo do tốc độ tăng trưởngkinh tế của Việt Nam, cuộc sống của người dân đô thị ngày một năng cao, nguồn thựcphẩm qua cơ chế tăng lên… tỷ trọng chất thải rắn thành phố Quy Nhơn là 470kg/m3 vàonăm 2006
2.5 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CTR ĐÔ THỊ
Quản lý CTR là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, trung chuyển và vận
chuyển, xử lý và đổ CTR theo phương thức tốt nhất cho sức khỏe cộng đồng, kinh tế, kỹthuật, bảo tồn, cảm quan và các vấn đề môi trường khác Quản lý thống nhất CTR là việclựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chương trình quản lý thích hợp nhằm hoànthành mục tiêu đặc biệt quản lý CTR
Một cách tổng quát, sơ đồ hệ thống kỹ thuật quản lý CTR đô thị được trình bày tóm tắttrong hình 2.1
Nguồn phát sinh
Tồn trữ tại nguồn, phân loại
xử lý chất thải tại nguồn
Trang 14Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S: Phạm Hồng Nhật
Hình 2.1: Sơ đồ tổng quát hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị (Tchobanoglous và cộng
sự, 1993)
Nguồn phát sinh: Nguồn chủ yếu phát sinh CTR đô thị bao gồm: (1) từ các khu dân cư
(chất thải rắn sinh hoạt), (2) các trung tâm thương mại, (3) các công sở, trường học, côngtrình công cộng, (4) dịch vụ đô thị, sân bay, (5) các hoạt động công nghiệp, (6) các hoạtđộng xây dựng đô thị, (7) các trạm xử lý nước thải và từ các đường cống thoát nước củaThành phố
Tồn trữ tại nguồn: CTR phát sinh được lưu trữ trong các loại thùng chứa khác nhau tùy
theo đặc điểm nguồn phát sinh rác, khối lượng rác cần lưu trữ, vị trí đặt thùng chứa, chu
kỳ thu gom, phương tiện thu gom Một cách tổng quát, các phương tiện chứa rác thườngđược thiết kế, lựa chọn sao cho thõa mãn các tiêu chuẩn sau: (1) chống sự xâm nhập củaxúc vật, côn trùng, (2) bền, chắc, đẹp và Không bị hư hỏng do thời tiết, (3) dễ cọ rửa khicần thiết
Thu gom: Rác sau khi được tập trung tại các điểm quy định sẽ được thu gom và vận
chuyển đến trạm trung chuyển/trạm xử lý hoặc bãi chôn lấp Theo kiểu vận hành, hệthống thu gom được phân loại thành: (1) hệ thống thu gom container di động: loại cổ điển
và loại trao đổi thùng chứa và (2) hệ thống thu gom container cố định
Trung chuyển và vận chuyển: Các trạm trung chuyển được sử dụng để tối ưu hóa năng
suất lao động của đội thu gom và đội xe Trạm trung chuyển được sử dụng khi: (1) xảy rahiện tượng đổ CTR không đúng quy định do khoảng cách vận chuyển quá xa, (2) vị trí
Trung chuyển & vận
chuyển
Tái sinh, tái chế &
xử lý
Bãi chôn lấp
Trang 15dung tích nhỏ (thường nhỏ hơn 15 m3), (4) khu vực phục vụ là khu dân cư thưa thớt, (5)
sử dụng hệ thống container di động với thùng chứa tương đối nhỏ dể thu gom chất thải từkhu thương mại Hoạt động của mỗi trạm trung chuyển bao gồm: (1) tiếp nhận các xe thugom rác, (2) xác định tải trọng rác đưa về trạm, (3) hướng dẫn các xe đến điểm đổ rác, (4)đưa xe thu gom ra khỏi trạm, (5) xử lý rác ( nếu cần thiết), (6) chuyển rác lên hệ thốngvận chuyển để đưa đến bãi chôn lấp Đối với mỗi trạm trung chuyển cần xem xét: (1) sốlượng xe đồng thời trong trạm, (2) khối lượng và thành phần rác được thu gom về trạm,(3) bán kính hiệu quả kinh tế đối với mỗi loại xe thu gom, (4) thời gian để xe thu gom đi
từ vị trí lấy rác cuối cùng của chuyến thu gom về trạm trung chuyển
Tái sinh, tái chế và xử lý: Rất nhiều thành phần CTR trong rác thải có khả năng tái sinh,
tái chế như: giấy, carton, túi nilon, nhựa, cao su, da, gỗ, thủy tinh, kim loại… Các thànhphần còn lại, tùy theo phương tiện kỹ thuật hiện có sẽ được xử lý bằng các phương phápkhác nhau như: (1) sản xuất phân compost, (2) đốt thu hồi năng lựơng hay (3) đổ ra bãichôn lấp
Bãi chôn lấp: Bãi chôn lấp là phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn kinh tế nhất và
chấp nhận được về mặt môi trường Ngay cả khi áp dụng các biện pháp giảm lượng chấtthải, tái sinh, tái sử dụng và cả các kỹ thuật chuyển hóa chất thải, việc thải bỏ phần chấtthải còn lại ra bãi chôn lấp vẫn là một khâu quan trọng trong chiến lược quản lý thốngnhất chất thải rắn Một bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt được gọi là bãi chôn lấp hợp
vệ sinh khi được thiết kế và vận hành sao cho giảm đến mức thấp nhất các tác động đếnsức khỏe cộng đồng và môi trường Bãi chôn lấp hợp vệ sinh được thiết kế và vận hành
có lớp lót đáy, các lớp che phủ hàng ngày và che phủ trung, có hệ thống thu gom và xử lýnước rò rỉ, hệ thống thu gom và xử lý khí thải, được che phủ cuối cùng và duy tu, bảo trìsau khi đóng bãi chôn lấp
2.6 MỘT SỐ MÔ HÌNH QUẢN LÝ CTR TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.6.1 Mô hình quản lý trong nước
2.6.1.1 Hiện trạng QLCTR tại Tp HCM
Tổ chức chịu trách nhiệm quản lý CTR cho Tp HCM là công ty MTĐT, công ty xử lý
Trang 16lực lượng quét dọn rác dân lập Trong đó công ty dịch vụ công cộng có trách nhiệm thugom 51% lượng rác hàng ngày Lượng rác thu gom hàng ngày trong các hộ gia đình, quéttrên đường phố hay vỉa hè do lực lượng dân lập đảm trách Phương tiện thu gom chủ yếu
là các dụng cụ thô sơ như xe hai bánh, xe ba gác máy, xe ba bánh
Lượng rác thu gom từ các hộ dân cư có nhà nằm trên mặt tiền hay lượng rác trên mặtđường, vỉa hè, rác cơ quan, trường học, xí nghiệp do lực lượng công nhân vệ sinh các xínghiệp công ty đô thị cấp quận đảm trách Sau khi thu gom từ các nơi riêng lẻ, rác đượcđưa đến điểm hẹn Điểm hẹn là nơi tập kết hết các khâu và được công nhân vệ sinh bốcbằng tay lên xe cơ giới, mức độ làm việc có căng thẳng hay không tùy thuộc vào khốilượng rác và lượng xe chuyên chở Sai số thời gian này được coi là lớn nhất do sự sailệch về giờ giấc và phương tiện vận chuyển
Rác được đưa ra bãi rác bằng xe tải lớn, để rút ngắn thời gian chuyển giao rác tại các bôtrung chuyển thành phố đã xây dựng các bô trung chuyển theo kiểu cầu đổ tạo điều kiệncho xe ép rác, xe xuồng rót thẳng rác vào xe tải, nhưng nếu dùng theo cách này sẽ cónhược điểm là rác không được nén ép đến mức cần thiết Việc vận chuyển rác từ bô trungchuyển về các bãi rác chính được xe tải của công ty dịch vụ công cộng vận chuyển, ngoài
ra còn có một số xí nghiệp cấp quận đảm trách việc này
Từ năm 1981 với sự tài trợ của Đan Mạch Tp.HCM đã xây dựng nhà máy rác Danno cócông suất 70 tấn/ngày cho công nghệ xử lý rác hiếu khí
Công nghệ xử lý này đã được cơ giới hóa và sử dụng hai lò quay trong môi trường để duytrì liên tục không khí và độ ẩm Tuy nhiên, sau một thời gian hoạt động công nghệ này đãkhông còn phù hợp vì một số nhược điểm:
- Không đáp ứng được lượng rác thải ngày một gia tăng
- Tính chất của rác thải ngày càng phức tạp không phù hợp với công nghệ phân loại vàsàng lọc như đã thiết kế
- Giá thành cao do chí phí năng lượng và vận hành
Theo số liệu từ sở giao thông công chính, lượng rác thu gom ở Tp.HCM bình quân ngày
có trên 6.010 tấn, trong đó rác sinh hoạt là 4.936 tấn, rác xây dựng là 1.069 tấn và rác y tế
Trang 17phải có trên 1.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 20% rác độc hại (số liệu truy cập tháng6/2007).
Sở giao thông công chánh Tp.HCM đã tiến hành dự án phân loại rác tại nguồn với vốnđầu tư khoảng 205 tỷ đồng được triển khai hoạt động tại 4 quận 1,4,5 và 10 nhằm mụcđích tách rác thải thành các loại riêng biệt, trong đó 60% chất thải cứng sẽ được tái sửdụng
Lựơng rác trong thành phố hàng ngày được giải quyết nhờ lực lượng quét dọn gồm 7.355người, trong đó có 2.950 người thuộc lực lượng tư nhân Rác từ khu phố được chuyểnđến điểm hẹn bằng xe đẩy tay, các xe cơ giới ra lấy rác về trạm trung chuyển rồi mới đưađến khu xử lý rác Vấn đề nan giải đối với thành phố là làm thế nào để có chỗ xử lý ráccho hợp vệ sinh, không ảnh hưởng đến khu dân cư đang sống
Bãi rác Đông Thạnh với quy mô rộng khoảng 40 ha, cách trung tâm thành phố 26km đãđóng cửa vào ngày 20/6/2003 Công ty MTĐT Tp.HCM tiến hành xả 120.000m3 nước rỉrác đã qua xử lý ở bãi rác Đông Thạnh ra sông Rạch Tra, biện pháp này sẽ phần nào khắcphục được tình trạng ô nhiễm nhiều năm ở Đông Thạnh Tuy nhiên, tại cùng thời điểmbãi rác Đông Thạnh còn khoảng 80.000m3 nước rỉ rác Trung tâm tư vấn công nghệ vàmôi trường CTA đã và đang tiến hành làm sạch bằng công nghệ sinh học
Bãi rác Gò Cát (Huyện Bình Chánh) rộng 25ha cách trung tâm thành phố 16,4km, xử lýrác với công suất 2.000tấn/ngày
Bãi chôn lấp rác Hiệp Phước (huyện Củ Chi) rộng 43,3ha cách trung tâm thành phố43km, hàng ngày xử lý 3.000 tấn rác sinh hoạt Ngoài ra còn có 3 bãi rác nhỏ trên địa bànhuyện Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi Riêng số rác y tế có 9 xe chuyên dùng, hàng ngàychở rác lò gas trung tâm Bình Hưng Hòa để đốt
Thời gian qua nhiều nguồn kinh phí thành phố đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho các dự án
xử lý rác như: khu liên hiệp XLCTR Tây Bắc thành phố để chôn lấp rác, dự án này đượcthành phố đầu tư 215 tỷ đồng, dự án nâg cấp công trình xử lý rác Gò Cát 261,4 tỷ đồng,trong đó ngân sách Thành phố chiếm 40% nguồn ODA Hà Lan 60% Ngoài ra còn chuẩn
bị hàng ngàn tỷ đồng để hình thành các khu XLCTR xã Hiệp Phước, xã Đa Phước (213,8
Trang 18tỷ đồng) xã Tân Thành, Long An; xây dựng 2 nhà máy xử lý rác thành phân hữu cơ visinh ở xã Phước Hiệp, 2 dư án này do 2 công ty tư nhân đầu tư.
2.6.1.2 Hiện trạng quản lý CTR tại Tp Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng có bãi rác nhưng đã đóng cửa từ năm 1993 theo chỉ thị của lãnh đạo,bên cạnh đó có một bãi rác mới được hình thành tại chân núi Khi Đa cách trung tâmthành phố khoảng 6km theo đường chim bay
Bãi rác này có diện tích là 10ha, dự kiến sẽ đổ rác trong vòng 10 năm, được chia thànhnhiều ô nhỏ để đổ rác lần lượt, có các bức tường ngăn ô cao 1m, có thiết kế hệ thống thugom nước rác rất đơn giản dẫn đến bể tự hoại xây bằng bêtông với thể tích là 100m3.Trên thực tế sau khoảng 2 năm sử dụng lượng rác hầu như đã chiếm hết diện tích khu vựcbãi rác
Nhược điểm:
- Bể xử lý nước rác thực tế là một bể chứa không hoạt động được
- Trong mùa mưa, lượng nước mưa thấm qua bãi rác tràn vào bể chứa rồi đổ nước đenđậm đặc ra ngoài gây mùi hôi thối lan tỏa khắp cả vùng, ngoài ra còn có tác động xấu đếnhoạt động nông nghiệp
2.6.2 Mô hình quản lý nước ngoài
2.6.2.1 Đổ đống hay bãi hở
Đây là phương pháp cổ điển được áp dụng từ thời tiền xử của loài người Ngay từ thời kỳ
Hy Lạp, La Mã cổ đại, cách đây khoảng 500 năm trước Công Nguyên người ta đã biết đổrác ở bên ngoài tường thành và ở cuối hướng gió Cho đến ngày nay, phương pháp nàyvẫn còn áp dụng nhiều ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triểntrong đó có Việt Nam Phương pháp này có một số nhược điểm sau:
- Tạo cảnh quan khó chấp nhận được, gây cho con người cảm giác thật là khó chịu khithấy chúng
- Các bãi rác thường là ổ dịch bệnh tiềm tàng, gây mùi hôi và làm lan truyền bệnh thôngqua chuột, ruồi, muỗi… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người
- Nước rỉ ra từ các bãi rác tạo nên một vùng lầy lội, ẩm ướt, dễ dàng thâm nhập vào đất
Trang 19- Quá trình phân hủy tự nhiên tạo ra mùi hôi và gây ô nhiễm không khí.
- Tuy được coi là phương pháp rẻ tiền nhất, nhưng phương pháp này đòi hỏi diện tích quálớn và do vậy đối với một số thành phố lớn với giá thành đất rất cao thì phương pháp nàylại trở nên đắt tiền
2.6.2.2 Xuất khẩu
Rác xuất khẩu chủ yếu là chất thải công nghiệp như nhựa phế thải, giấy vụn, vải vụn vàcác phế thải công nghiệp độc hại khác Tuy nhiên tình hình ô nhiễm môi trường ngàycàng trở nên trầm trọng hơn, các quốc gia ngày càng hạn chế nhập khẩu các phế thải côngnghiệp
2.6.2.3 Đổ xuống biển
Phương pháp này dựa trên công nghệ nén rác ở mật độ cao và thả xuống biển ở xa bờthuộc vùng hải phận chung quốc tế Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc chôn rác dướibiển mang lại nhiều điều lợi Ví dụ: ở Tp New York trước đây chất thải rắn được chởđến các bến cảng bằng những đoàn xe lửa riêng, sau đó được các xà lan chở đem chôndưới biển Ngoài ra, ở San Francisco và một số thành phố ven biển ở Hoa Kỳ, người tacòn xây dựng những bãi ngầm nhân tạo trên cơ sở sử dụng các khối gạch, bê tông phá vỡ
từ các tòa nhà hoặc thậm chí từ các ô tô thải bỏ Làm điều này vừa giải quyết được vấn đềchất thải, vừa tạo nên nơi trú ẩn cho các loài sinh vật biển Bên cạnh những ưu điểm trênthì biện pháp này rất khó kiểm soát và có khả năng tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường biển
2.6.2.4 Bãi chôn lấp hợp vệ sinh
Chôn lấp vệ sinh là biện pháp tương đối đơn giản, được áp dụng phổ biến ở các quốc giaphát triển nơi mà diện tích đất trống còn khá dồi dào Ở Hoa Kỳ hơn 80% rác được xử lýtheo kiểu này
Ở Anh, Nhật và nhiều quốc gia phát triển khác cũng áp dụng phương pháp này một cáchrộng rãi Việc chôn rác được thực hiện bằng cách dùng các xe chuyên dụng chở rác đếncác khu vực đã được quy hoạch trước Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi sẽ san bằng mặtrác và đổ lên một lớp đất dày 15cm, sau khi kết thúc bãi chôn lấp thì lớp phủ cuối cùngtối thiểu phải là 60cm Theo thời gian sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp
Trang 20Tuy nhiên, việc chôn lấp rác cần phải được khảo sát kỹ lưỡng và có quy hoạch môitrường cùng các biện pháp phòng chống ô nhiễm thích hợp Các nơi chôn rác cần phảiđược thiết kế sao cho nước rò rỉ từ bãi rác không xâm nhập được vào nước mặt cũng nhưnước ngầm và phải xây dựng hệ thống xử lý nước rò rỉ trước khi thải chúng ra môitrường Phương pháp chôn lấp vệ sinh có ưu điểm sau:
- Do được nén và phủ lên trên bề mặt một lớp đất nên các loại côn trùng, ruồi muỗi, chuộtkhó có khả năng sinh sôi
- Các hiện tượng cháy ngầm hay bùng cháy khó có thể xảy ra, đồng thời giảm thiểu đượcmùi hôi thối, hạn chế ô nhiễm môi trường không khí
- Nếu làm việc tốt ngă chặn nước rò rỉ thì hạn chế được nguy cơ gây ô nhiễm môi trườngnước, đất
- Nếu được quy hoạch trước, sau khi ngưng hoạt động thì bãi chôn lấp có thể xây dựngthành các công viên, các sân chơi hoặc phục vụ các công trình nghỉ ngơi giải trí
- Chi phí vận hành không cao
Tuy nhiên, bãi chôn lấp hệ vệ sinh cũng có những khuyết điểm sau:
- Việc chôn lấp đòi hỏi diện tích đất đai lớn, là một khó khăn đối với các thành phố và đôthị tập trung dân cư đông đúc
- Các lớp phủ bãi rác thường tạo nên khí mêtan, hydrosulphua độc hại, có thể gây cháy nổhoặc gây ngạt Tuy nhiên, nếu có biện pháp thu hồi thích hợp thì đây là nguồn tạo nănglượng rất tốt
2.6.2.5 Ủ rác thành phân hữu cơ
Ủ rác thành phân hữu cơ là kết quả của phương pháp xử lý sinh học Giải pháp này được
áp dụng rộng rãi ở các quốc gia đang phát triển Việc ủ rác thành phân bón hữu cơ có ưuđiểm là giảm được đáng kể khối lượng rác, đồng thời tạo ra được của cải vật chất, giúpích cho công tác cải tạo đất Chính vì vậy, phương pháp này được ưa chuộng ở các quốcgia nghèo và đang phát triển Công nghệ ủ rác thành phân hữu cơ có thể được chia thành
2 loại:
2.6.2.5.1 Ủ hiếu khí
Trang 21Ủ hiếu khí là công nghệ được sử dụng rộng rãi trong khoảng hai thập kỷ gần đây, đặc biệt
là ở các quốc gia đang phát triển Công nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên hoạt động của các vikhuẩn hiếu khí với sự có mặt của oxy Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác thôđược thực hiện quá trình oxy hóa cacbon thành cacbon dioxit Thường thì chỉ sau 2 ngày,nhiệt độ tăng lên khoảng 45oC Sự phân hủy rác diễn ra khá nhanh, chỉ sau 2 – 4 tuần làrác đã được phân hủy hoàn toàn Các vi khuẩn gây bệnh và các côn trùng hầu hết bị diệt
do nhiệt độ trong đống ủ Bên cạnh đó mùi hôi cũng được khử nhờ quá trình ủ hiếu khí
2.6.2.5.2 Ủ yếm khí
Công nghệ ủ rác yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (chủ yếu là ở quy mô nhỏ) Quátrình ủ này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm khí Công nghệ không đòi hỏi cónhững đầu tư ban đầu tốn kém song có những nhược điểm sau:
Thời gian phân hủy kéo dài thường từ 4 – 12 tháng
Các vi khuẩn vẫn tồn tại do nhiệt độ của quá trình phân hủy thấp
Các khí metan và hydrosulphua sinh ra từ quá trình phân hủy gây mùi khó chịu
Ưu điểm của phương pháp ủ:
Ổn định chất thải
Tái sử dụng được chất thải
Không đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn như phương pháp đốt
Giảm nhu cầu sử dụng đất để chôn lấp
Giảm được nguy cơ gây ô nhiễm môi trường so với các phương pháp klhác
Tạo ra được sản phẩm có ích cho xã hội
Tạo công ăn việc làm cho người dân
Khuyết điểm:
Thời gian dài hơn so với phương pháp đốt
Khi ủ yếm khí còn sinh ra mùi khó chịu
Tốn chi phí cho các máy móc, nếu so sánh với phương pháp đốt hầu như chẳng cần sửdụng máy móc nhiều
Trang 22CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI
TRƯỜNG THÀNH PHỐ QUY NHƠN3.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý và hành chính
Thành phố Quy Nhơn nằm ở cực Nam của tỉnh Bình Định, có tọa độ địa lý 13046’ vĩ
độ Bắc 119014’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và Phù Cát, phía Namgiáp huyện Sông Cầu tỉnh Phú Yên, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện TuyPhước, cách Hà Nội 1.060 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 640 km về phíaNam, nơi chạy qua cửa đường quốc lộ số 1, tuyến đường sắt xuyên Việt Thành phố cósân bay thương mại với các chuyến bay thường kỳ đến Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.Thành phố được chính thức thành lập cách đây trên 100 năm nhưng Quy Nhơn đã
có lịch sử hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa thế kỷ 11, triều đại TâySơn và Cảng Thị Nại thế kỷ 18 Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số
Trang 23558/QĐ-TTg công nhận thành phố Quy Nhơn là đô thị loại II, một trong ba trung tâmthương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
Hiện nay thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá và khoa họccủa tỉnh Bình Định, là thành phố Cảng, đầu mối giao thông thuỷ bộ quan trọng của vùngNam Trung Bộ, cửa ngõ quan trọng của Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia,Thái Lan, ra biển Đông, là một trong những đô thị hạt nhân của vùng Nam Trung Bộ
3.1.2 Địa hình
Khu vực thành phố Quy Nhơn có địa hình đa dạng gồm cả đồi núi, các dải đất bằngphẳng, ruộng lúa, ao đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo, Quy Nhơn có dải bờ biểndài 42km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiềuloài đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao
Địa hình thành phố Quy Nhơn nhìn chung được chia thành hai khu vực:
- Khu vực thành phố cũ: nằm sát bờ biển, bị chia cắt bởi núi Bà Hỏa cao 279,2m và núiVũng Chua cao 500m thành hai khu vực nhỏ:
- Khu vực trung tâm nội thành ở phía Đông núi Bà Hỏa, địa hình tương đối bằng phẳng;cao độ thay đổi từ 1,5 - 5,5m; hướng dốc từ núi ra biển và từ núi về triền sông; độ dốctrung bình từ 0,5 - 1%; khu vực ven sông, biển có cao độ thấp hơn 2m, bị ngập lụt từ 0,5 -1m
Khu vực phường Bùi Thị Xuân - Trần Quang Diệu - xã Long Mỹ nằm hai bên Đông vàTây của Quốc lộ 1A, là thung lũng hẹp, kẹp giữa núi Bà Hỏa và núi Hòn Chà Địa hìnhphía Tây Quốc lộ 1A tương đối bằng phẳng Cao độ thấp nhất là 5,5m Cao độ trung bình8m, có hướng dốc từ Tây sang Đông và từ Nam ra Bắc với độ dốc từ 0,5% đến 1,5% rấtthuận lợi cho xây dựng Địa hình phía Đông Quốc lộ 1A thấp trũng, phần lớn là ruộnglúa Cao độ thấp nhất là 1,1m Cao độ cao nhất là 15m Có hướng dốc dần từ Nam ra Bắcvới độ dốc từ 0,5% đến 2% Thường bị ngập lụt từ 0,5 - 2,5m ở các khu vực có cao độ
<3m Địa hình khu Long Mỹ tương đối bằng phẳng có cao độ từ 5,5m trở lên
Khu vực mở rộng bán đảo Phương Mai: là một cồn cắt ngang ổn định dài khoảng18km Nơi rộng nhất là 4,5km; hẹp nhất là 1km Cao độ lớn nhất 31,5m; thấp nhất là
Trang 240,3m; trung bình là 15m Địa hình có hướng dốc về hai phía Đông và Tây với độ dốc từ0,5% đến 2%.
3.1.3 Khí hậu
Thành phố Quy Nhơn mang đặc tính khí hậu của vùng Trung - Trung Bộ, bị chiphối bởi gió Đông Bắc trong mùa mưa và gió Tây vào mùa khô Mùa khô từ tháng 1 đếntháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80% lượngmưa cả năm) Mùa Đông ít lạnh, thịnh hành gió Tây Bắc đến Bắc Mùa hè có nhiệt độkhá đồng đều, có 4 tháng nhiệt độ trung bình vượt 280C Hướng gió chủ yếu là Đông đếnĐông Nam, nhưng chiếm ưu thế trong nửa đầu mùa Hạ là hướng Tây đến Tây Bắc Mùamưa tại khu vực Quy Nhơn thường có bão và bão lớn tập trung nhiều nhất vào tháng 10.Một số đặc trưng khí hậu về thành phố Quy Nhơn:
- Nhiệt độ trung bình năm: 26,90C;
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 30,80C;
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 24,00C;
- Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối: 39,90C;
- Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối: 150C;
- Tổng số giờ nắng cả năm: 2.521 giờ;
- Độ ẩm tương đối cao nhất: 83%;
- Độ ẩm tương đối thấp nhất: 35,7%;
- Độ ẩm tương đối trung bình: 78%;
- Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.600mm đến 1.700mm, ngày mưa lớn nhất383mm Lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11, 12 và chiếm khoảng 80%lượng mưa cả năm Tổng số ngày mưa trung bình là 128 ngày
(Nguồn: Điều chỉnh QHC thành phố Quy Nhơn, đặc điểm khí hậu tỉnh Bình Định, các số liệu từ trạm khí tượng Quy Nhơn).
Khí hậu thành phố Quy Nhơn nói chung tương đối thuận lợi, lượng mưa không quánhiều, mùa Đông có nhiệt độ không quá thấp, nhiều nắng, tương đối thích hợp cho việcxây dựng đô thị Tuy nhiên, khô hạn cũng thường kéo dài gây nên cạn kiệt nguồn nước
Trang 25mặt, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất, chế độ mưa lũ không đều cũng gây nên nhữngtác động khó khăn cho việc xây dựng cải tạo hệ thống thoát nước
Tổng sản phẩm địa phương (GDP) năm 2006 đạt 3.024,782 tỷ đồng (giá thực tế), tăng21,78% so với năm 2005 là mức tăng cao nhất trong những năm gần đây, trong đó giá trịsản xuất công nghiệp và xây dựng cơ bản là 2.083,49 tỷ đồng, chiếm 66,89% GDP, nônglâm thuỷ sản đạt xấp xỉ 308,331 tỷ đồng, tương đương 10,19% GDP Thu ngân sách địaphương năm 2006 đạt 228,11 tỷ đồng, tăng 418,64% so với năm 2005
Các ngành đóng góp lớn cho Ngân sách nhà nước là công nghiệp chế biến, côngnghiệp khai thác mỏ, du lịch Trong đó ngành du lịch có đóng góp lớn và ngày càng tăngtrong cơ cấu GDP của thành phố
Thành phố có trên 1.800 cơ sở công nghiệp lớn nhỏ, 11.593 cơ sở dịch vụ giải quyếtviệc làm cho 73.800 lao động và hàng chục nghìn cơ sở kinh doanh cá thể Giá trị sảnxuất công nghiệp năm 2004 đạt 2.083 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 183.478 USD,tăng 35,41% so với năm 2005 GDP bình quân năm 2006 là 11,86 triệu đồng
Kinh tế hộ gia đình cũng ngày càng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo ngày càng giảm,
hộ giàu ngày càng tăng Theo các tiêu chí đánh giá và phân loại hộ nghèo của Bộ laođộng - TBXH thì số hộ nghèo năm 2006 là 4,3% (giảm 1,32% so với năm 2005) Số hộnghèo phân bố không đều giữa các phường xã khác nhau của thành phố Các phường nộithị có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn so với các xã ngoại thị
Trang 263.2.1.2 Du lịch - dịch vụ và thương mại
Du lịch và dịch vụ thương mại là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn củathành phố Năm 2006 tổng GDP của ngành đạt 874 tỷ đồng, chiếm 47,8% tổng GDP.Thành phố Quy Nhơn có ưu thế về phát triển du lịch, có bãi biển đẹp và di tích lịch
sử - văn hoá đặc sắc Ngành du lịch đang được đầu tư và có bước phát triển nhanh Tínhđến năm 2007, thành phố đã có trên 20 khách sạn, phần lớn tiêu chuẩn 2 - 3 sao, với tổngcộng 563 phòng Doanh thu du lịch năm 2006 đạt 46,39 tỷ đồng
3.3 Tình hình xã hội
3.3.1 Dân số - lao động
Theo số liệu niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn, dân số chính thức năm
2006 của thành phố là 255.119 người Trong đó dân số của 16 phường nội thị là 234.269người, chiếm 91,82% dân số toàn thành phố Trong cơ cấu dân số nội thị, khu đô thị cũ
có 163.007 người, chiếm 73,08% dân số nội thị, khu đô thị mới phát triển có 62.351người, chiếm 26,92% dân số nội thị Dân số ngoại thị là 20.570 người, tương đương8,16% bao gồm cả 2.623 người thuộc các xã khu vực bán đảo Phương Mai: Nhơn Hội,Nhơn Lý, Nhơn Hải, xã đảo Nhơn Châu Quy mô trung bình của một hộ gia đình là 5người
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 1,7%
Mật độ dân số thành phố là 1.179 người/km2
Dân số thành phố trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ 58,44% dân số
Cơ cấu lao động theo bảng 3.1 và bảng 3.2
Bảng 3.1: Cơ cấu lao động thành phố:
ST
Tổng số lao động làm việc trong các
Trang 272 Nội trợ 1.205 3,2
(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn 2006)
Bảng 3.2: Dân số và cơ cấu dân số thành phố Quy Nhơn:
(km 2 )
Dân số (người)
Mật độ dân số (người/km 2 )
(Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Quy Nhơn 2006)
3.3.2 Y tế
Trang 28Thành phố có 5 bệnh viện đa khoa, 2 phòng khám khu vực, 2 trung tâm y tế kếhoạch hóa gia đình, 1 đội vệ sinh phòng dịch và 20 trạm y tế, nhà hộ sinh phường
Thành phố có 1.280 giường bệnh, đạt 508 giường bệnh trên 1.000 dân, 1.371 cán bộ
y tế, đạt 544 người trên 1.000 dân, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thànhphố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, cũng như khu vực miền Trung và Tây Nguyên
3.3.3 Văn hoá, giáo dục
Thành phố Quy Nhơn là một trong những trung tâm giáo dục không chỉ của tỉnhBình Định mà còn của cả khu vực Nam Trung Bộ Trường Đại học Quy Nhơn đã vươnlên thành trường đại học đa ngành với quy mô 17.500 sinh viên, trong đó có 14.500 sinhviên dài hạn, mỗi năm có trên 2.000 sinh viên tốt nghiệp Hệ thống các trường cao đẳng,trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh đào tạo mỗi năm hàng nghìn sinh viên tốtnghiệp bổ sung vào nguồn nhân lực của cả khu vực Nam Trung Bộ Tỷ lệ người được đàotạo ngày càng tăng
Giáo dục phổ thông cũng được cũng cố, đầu tư trang bị cơ sở vật chất khang trang,hiện đại, cơ cấu ổn định Trên địa bàn thành phố có 48 trường phổ thông với 1.302 lớphọc và trên 50.000 học sinh, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 20% dân số
3.3.4 Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
3.3.4.1 Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông đối ngoại gồm có các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thuỷ
và đường hàng không, phục vụ việc đi lại và vận chuyển hàng hoá trong tỉnh Bình Định,liên tỉnh trong nước và ngoài nước Giao thông đối ngoại Bắc Nam đi qua các đường phíaTây Nam thành phố, giao thông đối ngoại vào cảng Quy Nhơn đi qua trung tâm thànhphố
Hệ thống giao thông thành phố được xây dựng và mở rộng, với mật độ xây dựngđường trong khu vực đô thị là 3,4 - 4 km/km2, gồm các loại đường bê tông nhựa, đườngthấm nhập nhựa, đường bê tông xi măng và đường đất
3.3.4.2 Hệ thống cấp nước sạch
Nguồn nước cấp cho toàn thành phố lấy từ các giếng khoan đặt dọc theo sông Hà
Trang 29dụng trực tiếp sau khi đã khử trùng Mạng lưới phân phối nước cho thành phố có khoảng120.000m ống có đường kính 400 - 500mm.
Theo thống kê tháng 6/2006 toàn thành phố có 25.762 điểm đấu nối nước, trong đó2.168 hợp đồng của hộ gia đình và 594 hợp đồng của cơ quan, ước tính cung cấp khoản52% yêu cầu của người dân và số lượng khách hàng đang dùng trên một điểm mắc là 5,6người/đồng hồ
3.3.4.3 Hệ thống cấp điện:
Thành phố Quy Nhơn được cấp điện từ lưới điện quốc gia 220KV và 110KV và cómột nguồn điện tại chỗ là nhà máy điện Điezen Nhơn Thạch, công suất đạt 27,78 MW,công suất khả dụng 18,72 MW
3.4 Mức sống, phong tục tập quán liên quan đến môi trường
Ý thức của công cộng của người dân nói chung là yếu, chưa có ý thức bảo vệ cáccông trình công cộng và vệ sinh môi trường công cộng Hiện tượng vi phạm pháp luậtnhư xây dựng lấn chiếm dòng chảy các công trình thoát nước, lấn chiếm đường phố, hồ
ao và đất công cộng, vứt rác bừa bãi… chưa được ngăn chặn Hiện tượng đưa các chấtphế thải xuống ga cống, mương sông xảy ra nghiêm trọng… Nhiều nhà ở, cơ quan khixây dựng cũng không chú trọng đến việc xây dựng thoát nước
Nước thải sinh hoạt chỉ một phần nhỏ được xử lý sơ bộ tại nhà bằng bể tự hoại, sốlượng bể tự hoại chiếm 70 - 80% số hộ trong đô thị, trong đó có nhiều bể xây dựng chưađúng kỹ thuật Một phần nước thải sinh hoạt thấm vào đất gây ảnh hưởng nguồn nướcngầm, khoảng 25% lượng nước bẩn và nước đã sử dụng thải ra cống cuối cùng chảy rabiển, hồ qua hệ thống thoát nước chung nhưng xử lý chưa đạt tiêu chuẩn gây ô nhiễmnguồn nước mặt
3.5 Hiện trạng môi trường tại Thành phố Quy Nhơn
Thành phố Quy Nhơn đất hẹp (2,5km2), dân đông (trên 250.000 người), là nơi tập trungnhiều cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bệnh viện, trung tâm buôn bán Đây lànhững nguồn tạo nhiều chất thải: rác thải, nước thải, khí thải, bụi, tiếng ồn, rung
3.5.1 Chất thải rắn sinh hoạt
Trang 30Thành phố Quy Nhơn với hơn 250.000 người, nội thành 22 vạn, hàng ngày thải ra hơn161,64 tấn/ngày bao gồm: rác thải sinh hoạt và rác thải dịch vụ, sản xuất, bệnh viện (theo
số liệu báo cáo của Công ty công chính TP Quy Nhơn năm 2006) Mặc dù rất cố gắngnhưng cũng chỉ thu gom ở các khu vực đường chính, khu trung tâm, hẻm lớn xe có thểvào được Hàng ngày Công ty công chính dùng 19 xe chở rác trong đó 11 xe có bộ phận
ép rác lượng rác thải thu gom được 70% Số còn lại 30% nhân dân thường đổ rác xuốngbiển, xuống đầm, xuống sông, núi Nguyên nhân chủ yếu là xe không vào được các hẻmnhỏ, năng lực thu gom vận chuyển hạn chế (kể cả thiết bị và năng lực), một phần do ýthức vệ sinh môi trường đô thị của nhân dân chưa cao
Lượng rác tồn đọng hàng ngày tích luỹ dần làm ô nhiễm môi trường như: bãi biển QuyNhơn, ven đầm Đống Đa, ven núi Bà Hoả, dọc sông Hà Thanh
Công nhân thu gom rác thuộc công ty TNHH môi trường đô thị Quy Nhơn đã tiến hànhviệc thu gom và tập trung tại các điểm hẹn để được đội vận chuyển chở tới khu xử lý chấtthải rắn Long Mỹ Tại nhà máy xử lý chất thải rắn này, lượng chất thải rắn được phunthuốc phân hủy rác và thuốc diệt ruồi, khử mùi hôi bãi chứa rác Quan trọng hơn, công tytiếp tục lập phương án đề xuất các cấp quan tâm đầu tư xây dựng hoàn chỉnh khu xử lýrác Long Mỹ, xử lý hồ sinh thái đầm Đống Đa, Bầu Sen góp phần giữ gìn môi trườngQuy Nhơn luôn sạch đẹp
3.5.2 Ô nhiễm không khí
Hiện nay, thành phố Quy Nhơn đang bị ô nhiễm không khí, chủ yếu là bụi và tiếng ồn.Nguồn gây ô nhiễm chính là các xí nghiệp chế biến gỗ và lâm sản, khai thác và chế biến
đá xây dựng, xay xát Phần lớn cơ sở sản xuất nằm rải rác và xen kẽ ngay trong khu dân
cư, kể cả cơ sở sản xuất hoạt động từ lâu và cơ sở sản xuất mới mọc lên
Trang 31bụi trung bình thành phố Quy Nhơn 0,72 mg/m3 Khu vực cảng Thị Nại hàm lượng bụicao hơn cả 1,21mg/m3.
Lượng bụi do phương tiện giao thông gây ra đang tăng lên vượt tiêu chuẩn cho phép 2-3lần vì số lượng xe máy, ô tô tăng nhanh, đất cát ở lòng đường tồn đọng nhiều, nhiều đ-ường nội thành chưa tráng nhựa Việc phun nước tráng bụi trên đường phố chưa đượcthực hiện do kinh phí hạn hẹp (chỉ phun vào ngày lễ, ngày tết trên đường phố chính).Chất lượng xe máy, ô tô ngày càng giảm sút kéo theo lượng chất thải tăng đáng kể (CO,NOx, CO2, aldehyde và chì) Xe chạy dầu thải hàm lượng bụi than, khí dioxyt lưu huỳnhcao Cảng Thị Nại có hàm lượng bụi cao là do bốc dỡ hàng hoá, san đất, lòng đườngnhiều đất cát, lưu lượng xe chở hàng lớn
Việc thải phân, rác ra môi trường tạo mùi hôi thối do các hợp chất khí mêtan, NH3, H2S
3.5.2.2 Ô nhiễm SO 2 , NO 2
Hàm lượng khí SO2 , NO2 trong nội thành chưa vượt tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng
SO2 trung bình 0,24 mg/m3 Hàm lượng NO2 trung bình 0,038 mg/m3 Lượng SO2 và
NO2 đo năm 2004 là 0,09 mg/m3và 0,09 mg/m3 có tăng nhưng chưa vượt tiêu chuẩn chophép
Tóm lại, tại Quy Nhơn và các khu vực xung quanh chưa có vấn đề ô nhiễm không khí do
SO2 và NO2 gây ra
3.5.2.3 Ô nhiễm tiếng ồn
Trong nội thành lượng xe máy và ô tô tăng lên đáng kể nên tiếng ồn do động cơ xe cũngtăng lên, các cơ sở sản xuất nhỏ có: ca máy, máy tiện, các cơ sở gara có độ ồn phát ra t-ương đối cao Độ ồn trung bình 74 dBA, xấp xỉ giới hạn trên của tiêu chuẩn cho phép đốivới khu dân cư Độ ồn tăng đáng kể vào sáng và chiều (giờ đi làm và giờ tan sở) Tuynhiên, chưa vượt giới hạn cho phép
3.5.2.4 Các chất ô nhiễm khác
Hàm lượng các chất ô nhiễm như: CO, tổng các chất hữu cơ bay hơi (THC) 3,7 mg/m3 vàbụi chì (Pb) tại Quy Nhơn còn thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, cho thấy không khí nộithành chưa ô nhiễm bởi các chất khí này
Trang 32Từ đánh giá ta nhận thấy ô nhiễm không khí chính tại một số vùng trọng điểm ở thànhphố Quy Nhơn là ô nhiễm bụi, các khí khác như SO2, NOx, CO2 còn ở mức thấp.
3.5.3.Môi trường nước ở Tp.Quy Nhơn
3.5.3.1 Tác động của các nguồn tại chỗ
Chất thải, nước thải sinh hoạt và từ các cơ sở sản xuất, dịch vụ, nhà hàng, khách sạn,bệnh viện, từ các phương tiện giao thông đường thủy là các nguồn tại chỗ gây ô nhiễm n-ước bề mặt khu vực thành phố Quy Nhơn
Khu vực Quy Nhơn và vùng ven biển nằm ở hạ lưu sông Hà Thành, sông Côn… có khảnăng chịu tác động của các nguồn ô nhiễm từ biển và từ các nguồn tại chỗ Tổng lượng n-ước thải do sinh hoạt và dịch vụ đổ vào môi trường 40.000m3/ngày đêm, thành phần chủyếu là các chất hữu cơ Nguồn thải: cơ sở sản xuất, nhà hàng, khách sạn, bệnh viện, giaothông đường thủy, hoá chất dùng trong nông nghiệp ở Quy Nhơn, số cơ sở sản xuấtcông nghiệp - dịch vụ hơn 14.000, có 3 chợ quy mô lớn và 7 chợ nhỏ Tại các khu vensông, hồ, biển, mật độ dân cư cao, ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi trùng cao Tạiđầu cống thải eo biển đầu sân bay Quy Nhơn hàm lượng coliform lên 1.100.000MNP/100ml gấp 110 lần TCVN 5945-2005 (EPC TP Hồ Chí Minh đo năm 2005) Trongtỉnh chưa có hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh để đạt tiêu chuẩn Việt Nam 2005.Trong ngành chế biến thực phẩm, thủy, hải sản đông lạnh lượng nước thải thải ra chưađược xử lý triệt để đã gây ô nhiễm nguồn nước mặt thành phố
3.5.3.2 Xâm nhập mặn từ biển
Vào mùa khô toàn bộ các sông ở Quy Nhơn bị nhiễm mặn Nồng độ Cl- vượt xa tiêuchuẩn nước thủy lợi và nước cấp Khu vực cầu Sông Ngang nồng độ Cl- tương ứng 11,9mg/l và 89 mg/l đã gấp 8 lần ; Cầu Đôi: 2.890 mg/l và 9.674 mg/l; Cầu Chữ I: 11.030mg/l và 13.206 mg/l Các chỉ tiêu về EC và SO4 cũng tăng Xu hướng xâm nhập mặn tăng
do xây dựng đập ngăn mặn Phú Hoà và lượng mưa (số liệu 1998) ít
3.5.3.3 N ước thải sinh hoạt
Ven hồ, đầm, ven biển 33.000 hộ điều kiện vệ sinh kém hàng ngày thải 3300m3 nướcthải Quy Nhơn có trên 40 km cống thoát nước thải đã xuống cấp, không đáp ứng yêu cầu
Trang 33hôi thối và ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguồn nước ngầm Một số điểm có mức độ ô nhiễm vi sinh vượt tiêu chuẩn cho phép 5 - 7 lần.
Sông hồ, biển khu tập trung dân cư cao bị ô nhiễm chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vitrùng cao hơn các nơi xa khu dân cư nhiều lần Tại đầu ra của cống thải ở eo biển sân baychỉ tiêu BOD5 50 mg/l; COD 139 mg/l; DO 4,6 mg/l Tại cống thải của khu vực PhườngTrần Phú BOD5 60 mg/l; COD 139 mg/l; DO 5,0 mg/l
3.5.3.4 N ước thải sinh sản xuất và dịch vụ
Các cơ sở chế biến thuỷ hải sản, thực phẩm, bệnh viện, chế biến đá, nhà máy bia, chếbiến mì màu, bến cảng, kho xăng dầu,nhiều ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệpkhác nhau, hàng chục khách sạn, nhà hàng góp phần đáng kể vào vấn đề ô nhiễm nước bềmặt tại Quy Nhơn Lượng nước thải của 7 bệnh viện là 50m3/ngày đêm hầu như chưa qua
xử lý Lượng nước thải công nghiệp 120m3/ngày đêm, tuy không lớn nhưng hầu hết các
cơ sở chưa có hoặc chưa hoàn chỉnh hệ thống xử lý nước thải Khoảng 40 cơ sở giết mổgia súc thải 150m3 nước thải/ ngày đêm trực tiếp vào môi trường Khoảng 50 hộ chế biến
mỳ màu thải 145m3/ngày đêm chưa có hệ thống xử lý Nhiều cơ sở sản xuất đá granit vàthuốc bảo vệ thực vật, phân bón ở vùng thượng lưu các sông chảy về Quy Nhơn gây ônhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt
Ô nhiễm nước các vùng sản xuất tiểu thủ công nghiệp ngày càng gia tăng Đặc biệt, ônhiễm do chế biến mì màu ở phường Bùi Thị Xuân Thành phố quy Nhơn là nghiêm trọngtheo chiều hướng ngày càng xấu đi Mặc dù trong thời gian qua ở địa phương, SởKHCN&MT (trước đây) đã quan tâm đầu tư nghiên cứu các giải pháp xử lý, nhưng khảnăng của người nông dân không có vốn đầu tư để xử lý Đây là vấn đề nan giải của địaphương: công ăn, việc làm, vốn hỗ trợ để chuyển đổi ngành nghề hoặc Nhà nước đầu tư
xử lý
Đặc điểm chung :
+ Các cơ sở sản xuất thường nằm xen kẽ trong các khu dân cư, du lịch
+ Công nghệ sản xuất còn lạc hậu, thiếu vốn đầu tư nâng cấp nên tình trạng ô nhiễm ngàycàng gia tăng
Trang 34+ Hầu hết các cơ sở không có hệ thống xử lý, một số cơ sở có hệ thống bể lắng lọc, như
-ng hoạt độ-ng kém hiệu quả Các cơ sở này hầu hết là thải thẳ-ng ra hệ thố-ng thoát nướcthành phố ra biển
+ Tại khu vực cảng vấn đề ô nhiễm dầu, hữu cơ ngày càng gia tăng
3.5.4 Tác động do hoạt động nông nghiệp
Các hoá chất dùng trong nông nghiệp: phân vô cơ, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật,clo hữu cơ, photpho hữu cơ từ vùng nông nghiệp là nguồn gây ô nhiễm nước bề mặtthành phố Quy Nhơn
3.5.4.1 Tác động môi tr ường n ước từ vùng th ượng lư u
Vùng thượng lưu (2 huyện An Nhơn và Tây Sơn) có nhiều cơ sở sản xuất đá ốp lát, chếbiến thực phẩm… nước thải chứa các chất ô nhiễm chưa được xử lý, ảnh hưởng đến chấtlượng nước mặt sông Hà Thanh và sông Côn Ô nhiễm do thượng nguồn đưa xuống chưacao, chỉ có chỉ tiêu chất rắn lơ lửng 138 mg/l gấp 1,5 lần TCVN Tuy nhiên, trong thờigian lấy mẫu, nước sông Hà Thanh cạn kiệt và hầu như không chảy, nên việc đánh giánày chỉ mang tính chất tương đối
+ Chất lượng nước ngầm ở Quy Nhơn:
- Vào mùa khô số giếng bị nhiễm mặn cao hơn mùa mưa
+ Kết quả kiểm tra một số giếng ở bán đảo Phương Mai độ dẫn từ 1.100 đến 1.490 mS/cm, thể hiện mức độ ô nhiễm mặn nhẹ
+ Một số giếng ở khu vực phường Hải Cảng cũng thấy nhiễm mặn ở mức độ đáng kể, cógiếng độ dẫn đạt đến 1.520 mS/cm
+ Khu vực Đống Đa - Bạch Đằng bị nhiễm mặn tương đối cao
+ Các khu vực còn lại chưa thấy dấu hiệu nhiễm mặn
- Hầu hết các giếng ở khu vực thành phố Quy Nhơn và vùng ven bị nhiễm phèn, hàm ượng sắt từ 0,01 - 0,19 mg/l đạt tiêu chuẩn nước uống (< 0,3 mg/l) Chỉ có giếng ở khu
Trang 35l-Đa số các giếng khu vực thành phố Quy Nhơn có pH từ 7,7 - 8,6.
- Tại Quy Nhơn các giếng không bị ô nhiễm kim loại nặng
- Hầu hết các giếng thuộc Quy Nhơn và vùng lân cận đều có hàm lượng NO2-N; NO3-Nchưa vượt tiêu chuẩn nước cấp sinh hoạt
- Một số giếng đóng tại khu vực Quy Nhơn bị nhiễm E.Coli (khu vực phường Hải Cảng)
- Một số giếng khu vực phường Hải Cảng, phường Quang Trung có dấu hiệu nhiễm dầu
- Nước giếng khu vực phường Trần Quang Diệu có hàm lượng Cl- là 4.083 mg/l gầp 6 lầnTCVN và khu vực cầu Diêu Trì là 959 mg/l Còn lại các chỉ tiêu khác hầu như không v-ượt quá tiêu chuẩn cho phép
3.5.4.2 Chất l ượng nư ớc sông hồ
Nước mặt ở Quy Nhơn tại một số khu vực có nguy cơ ô nhiễm chất hữu cơ như : cầu Đôi,đầm Đống Đa, dọc sông Hà Thanh (hạ lưu) Riêng hồ Bàu Sen là nơi tập trung một sốcống thải nước thải sinh hoạt các chỉ tiêu ô nhiễm khá cao BOD5 40 mg/l; COD 112 mg/l;
DO 5,5 mg/l Còn các điểm nước sông khác nói chung có độ oxy hoà tan khá cao (DO từ6,9-7,5 mg/l) nên có khả năng tự làm sạch lớn
Các điểm nước mặt của Quy Nhơn và vùng ven đều có điều kiện phú dưỡng hoá Nồng
độ N, P không chỉ do nước thải sinh hoạt mà còn do việc sử dụng các loại phân hoá họcgây ra
Tại khu vực hồ Đèo Son hàm lượng các chất dinh dưỡng P-PO4 là 0,01 – 0,03 mg/l, NO3
-N từ 0,02-0,04 mg/l Việc ô nhiễm chất dinh dưỡng ở đây chưa cao là nhờ nước có nhiềukhả năng tự làm sạch
Mức độ ô nhiễm vi sinh ở một số điểm nước mặt đạt tiêu chuẩn cho phép Về mùa mưa,mức độ ô nhiễm vi sinh cao hơn mùa khô Nguyên nhân chính do các chất thải sinh hoạtmùa mưa bị cuốn theo
3.5.4.3 Môi trư ờng biển và vùng ven bờ
Bờ biển tỉnh Bình Định chạy dọc theo chiều dài Bắc Nam của tỉnh, nhưng đáng quan tâmnhất là vùng ven biển Quy Nhơn
Nước biển tại khu vực bãi tắm tại các cảng biển chưa có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ Hàm
Trang 36l-6,3 mg/l, hàm lượng NO3-N từ 0,01 - 0,02 mg/l; NO2-N từ 0,01 - 0.03 mg/l Riêng chỉtiêu tổng chất rắn lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép, được tại các bãi tắm này là 194 - 234mg/l, gấp 4 lần tiêu chuẩn cho phép
Hàm lựợng một số kim loại nặng như: thuỷ ngân, chì, đồng cho thấy chưa có vấn đềnghiêm trọng về ô nhiễm kim loại nặng
3.5.5 Hiện trạng về môi trường của khu công nghiệp tập trung Phú Tài
Hiện nay khu công nghiệp Phú Tài (phường Trần Quang Diệu và phường Bùi Thị Xuân –Thành phố Quy Nhơn) của tỉnh Bình Định đã được chính phủ phê duyệt, nơi đây sẽ hìnhthành một khu công nghiệp tập trung Khu công nghiệp này nằm cách xa trung tâm thànhphố Quy Nhơn 10 km, thuộc vùng ven của thành phố, dân cư thưa thớt Hiện nay, tại đây
có một số nhà máy, xí nghiệp như: nhà máy bia, các công ty chế biến đá ốp lát, xí nghiệp
cơ khí, nhà máy cơ khí lâm nghiệp, các xí nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu, một
số nhà máy xí nghiệp vừa và nhỏ khác
Hàng ngày lượng chất thải công nghiệp do các nhà máy, xí nghiệp này thải ra chưa nhiều,nhưng hầu hết các cơ sở chưa có hoặc chưa hoàn chỉnh được hệ thống xử lý chất thải, do
đó, chất thải được thải ra gây ô nhiễm môi trường khu vực Bên cạnh đó, một nguồn ônhiễm nữa phải kể đến là chế biến mì màu của hơn 50 hộ dân, làm ô nhiễm nguồn nước
và không khí
* Vấn đề rác thải, nước thải ở Quy Nhơn trong những năm đến sẽ trở nên gay cấn, việcđầu tư nhà máy xử lý rác, bãi chôn lấp, hệ thống xử lý nước thải thành phố vượt quá khảnăng đầu tư của tỉnh, do đó môi trường đô thị sẽ trở nên ngày càng gay gắt hơn
Trang 37CHƯƠNG 4 : PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC
HIỆN4.1 Phương pháp luận:
Trước thực trạng về vấn đề mà xã hội quan tâm hiện nay Rác thải - một mối lo rất lớnkhông chỉ đối với những nước phát triển và đang phát triển mà là mối lo của toàn xã hội
Ở những nước phát triển như Hà Lan, Anh, Đức… vấn đề rác thải là một trong nhữngvấn đề đang được quan tâm hàng đầu của xã hội Cùng với tốc độ phát triển của xã hội,quá trình đô thị hóa - công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số ngày càng nhanh làm cholượng rác thải ra mỗi ngày cũng càng nhiều Vấn đề quản lý chất thải rắn trên thế giới vẫncòn rất nhiều bất cập
Ở Việt Nam, cùng với tốc độ phát triển kinh tế ở mức cao, vấn đề ô nhiễm môi trường ởcác thành phố đã và đang gây đau đầu cho các nhà quản lý Hiện nay lượng rác khổng lồhầu hết được chôn lấp xuống lòng đất chưa phải là giải pháp tối ưu, công nghệ xử lý cũngkhông có gì đặc biệt, nhưng trong điều kiện còn khó khăn đây được xem là một giải pháptình thế
Trước hết cần phải hiểu tại sao rác là nguồn tài nguyên mà hiện nay chưa được khai thác.Theo thống kê của Sở Tài Nguyên - Môi Trường Tp Quy Nhơn thì trong rác thải đô thị
tỷ lệ trung bình thành phần hữu cơ chiếm 75% và vô cơ là 25% Trong thành phần vô cơ
Trang 38có 15 - 20 thành phần từ các nguồn nguyên liệu khác nhau như: giấy, carton, nhựa, nylon,cao su, thủy tinh, kim loại…
Hầu hết các thành phần này có thể thu hồi, tái chế thành nguyên liệu sản xuất cho nhiềusản phẩm khác nhau có ích cho xã hội, thay thế cho lượng phế liệu nhập khẩu phục vụcho nhu cầu sản xuất
Trong thành phần hữu cơ của rác chủ yếu có nguồn gốc từ thực vật và động vật Phần ráchữu cơ có thể dùng làm nguyên liệu sản xuất phân compost, dùng bón cho nông nghiệp,lâm nghiệp với giá thành thấp vừa không gây tác động xấu đến môi trường, cánh đồng,vừa có thể cải tạo được một số vùng đất chết
Mặt khác, với các công nghệ mới tiên tiến hiện nay có thể biến rác thành năng lượngphục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Công nghệ đốt rác phát điện và công nghệ thukhí (CH4) từ các bãi chôn lấp rác mà các quốc gia phát triển trên thế giới đang áp dụngrộng rãi là những ví dụ
Khi hiểu được lợi ích thực tế từ chính nguồn thải của mình cũng như những tác hại mà nómang lại thì con người mới có thể giúp cho việc quản lý chất thải một cách tốt hơn Nhưvậy, từng cá nhân và hộ gia đình cần phải làm gì để biến rác thành tài nguyên, hỗ trợ cho
cơ quan quản lý môi trường, giúp Nhà nước trong việc sử dụng rác như nguồn tài nguyêncủa mình Một trong những tiêu chí quản lý môi trường của cả nước đang hướng đến hiệnnay là phân loại rác tại nguồn và trong đó không thiếu sự tham gia của thành phố QuyNhơn Và thành công trước tiên được xem là cơ bản là người dân không vứt rác tùy tiện,
tự phân rác ra thành hai phần: rác vô cơ và rác hữu cơ trước khi chuyển giao cho đội thugom
Rác vô cơ, người dân có thể chuyển giao cho đơn vị thu gom rác hoặc tự quy đổi thànhtiền Người dân làm được điều này có nghĩa là đã biến rác thành tài nguyên và tạo điềukiện sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rác cho các công nghệ tiếp theo
Thành phố Quy Nhơn cũng vậy, với một lượng chất thải rắn khổng lồ thải ra môitrường mỗi ngày đang là một vấn nạn rất được nhiều người quan tâm Đó là một vấn đềbất cập và đang là một báo động lớn vì chi phí cho việc quản lý và xử lý khá cao, tốn quỹ
Trang 39vệ sinh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và sinh vật Nếu không được xử lýđúng cách, những loại chất thải do con người thải ra môi trường có thể gây ra nhiều loạibệnh tật, là con đường truyền nhiễm nguy hiểm, phá hoại đến cả môi trường sống… Vấn
đề môi trường liên quan đến chất thải vẫn chủ yếu phát sinh từ sự quản lý sai việc hủy bỏ
và thu gom chất thải không hiệu quả Nhiều bãi rác vệ sinh được thiết kế hợp quy cách đãbiến thành bãi đổ rác tự do gây nên mùi hôi thối khó chịu và các vấn đề ruồi nhặn ảnhhưởng đến sức khỏe cộng đồng Trước thực trạng trên, việc tìm ra một phương án giảiquyết tối ưu cho rác thải là một vấn đề thiết yếu hiện nay
4.2 Phương pháp thực hiện
4.2.1 Phương pháp điều tra:
Để có được kết quả điều tra về hiện trạng phát sinh chất thải rắn tại Thành phố QuyNhơn, tôi đã thực hiện một cuộc điều tra với những câu hỏi đã được soạn sẵn trước đó.Những câu hỏi có nội dung phù hợp và cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình Trong lúc thực hiện việc điều tra hiện trạng về chất thải rắn tại Thành phố Quy Nhơn, tôi
đã trực tiếp tham gia trong việc đi điều tra tìm hiểu và quan sát thực tế về việc phát sinhchất thải tại các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất, bệnh viện, trường học, chợ Trong quátrình quan sát và điều tra tôi đã thực hiện việc ghi chép lại những gì mà mình quan sátđược theo lối tường thuật lại
Quá trình điều tra, khảo sát hiện trạng được thực hiện như sau:
- Tiếp xúc làm quen và tìm hiểu về khối lượng phát sinh cũng như tình hình quản lý ráctại các hộ gia đình thuộc địa bàn thực hiện việc nghiên cứu
- Tham khảo ý kiến của một số CBCNV tại Công ty TNHH MTĐT để biết thêm về hiệntrạng quản lý chất thải rắn tại đây
Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn nên không thể thực hiện trên phạm vi toàn thành phố
mà tôi chỉ thực hiện ở một số phường nhất định Cụ thể thực hiện tại các phường: Trần Phú, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Ngô Mây, Hải Cảng, Nguyễn Văn Cừ,Trần Quang Diệu, Đống Đa
Tiến hành việc điều tra qua bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp các hộ dân ở 8 phường
Trang 40tin phỏng vấn bao gồm: lượng rác thải mà hộ gia đình thải ra mỗi ngày, số người trong hộgia đình, các vấn đề về việc quản lý rác Và trong lúc thực hiện công tác phỏng vấn,những gì mà người tham gia trả lời câu hỏi thắc mắc cần được giải đáp thì tôi cũng đãtrực tiếp giải thích cho họ hiểu Quá trình điều tra phỏng vấn này không những mang lạicho tôi những tư liệu mà mình muốn thu thập, bên cạnh đó còn bổ sung trong suy nghĩcủa người dân những vấn đề về rác thải hộ gia đình Làm cho họ hiểu được rằng rác thảikhông chỉ là rác thải mà nó còn là một nguồn lợi mà mình có thể tái sử dụng và thu hồilại được Mang lại những lợi ích cho người dân từ hoạt động tái chế, tái sử dụng này.Điều tra các đối tượng khác có liên quan đến chất thải rắn như: cơ sở sản xuất, các chợ,trường học, công trình xây dựng, bộ phận chuyên trách của cơ quan chức năng.
Đề tài này mang tính hiện thực về những vấn đề đang được rất nhiều nhà quản lý quantâm, vì thế bảng câu hỏi mang nội dung thực tế và gần gũi với đời sống của những ngườidân địa phương Tất cả mọi người đều có thể tham gia trong cuộc phỏng vấn điều tra này
4.2.2 Phương pháp tính toán
Nguồn thải sinh hoạt từ các hộ dân: được tính trên cơ sở đánh giá tốc độ tạo rác
Trong phạm vi nghiên cứu, tôi đánh giá tốc độ thải rác bằng cách: điều tra trực tiếp bằngbảng câu hỏi và phỏng vấn các hộ dân ở 8 phường nội và ngoại thành, sau đó hiệu chỉnh
để loại trừ một số sai số khi phỏng vấn như: không tính phế liệu thu hồi, ước lượng rácthải hàng ngày không chính xác hoặc chưa tính đến lượng rác thải phát sinh trong nhữngngày cuối tuần, lễ, tết …
Thông qua kết quả điều tra được, tôi tính được tốc độ thải rác trung bình của một ngườitrong một ngày đêm bằng cách:
4.2.3 Phương pháp dự báo
Tổng số người điều tra
Tổng khối lượng CTR phát sinh điều tra