1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang

111 789 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá Mức độ Ô nhiễm Môi Trường Do Gia Tăng Diện Tích Nuôi Cá Basa - Cá Tra Và Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Ngư Nghiệp Bền Vững Cho Tỉnh An Giang
Tác giả Hồ Phước Hiệp
Người hướng dẫn Th.S Phạm Hồng Nhật
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Khoa học Môi Trường/Thủy Sản
Thể loại đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng hoạt động nuôi trồng thủy sản thì môitrường cũng bị ô nhiễm với nguyên nhân là do người nuôi chưa nhận biết đượctầm quan trọng giữa nuôi trồng thủy sản vớ

Trang 1

Chương 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, tình hình phát triển kinh tế nghành thủy sản của ViệtNam đã có những bước nhảy vọt Thủy sản là nghành kinh tế mũi nhọn của ViệtNam, với sản lượng xuất khẩu đứng thứ tư trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn độ và

Inđônêxia (Nguồn: www.vasep.com.vn) Sản phẩm chủ yếu khai thác từ các nguồn

đánh bắt và nuôi trồng Ngày nay sản lượng thủy sản từ nuôi trồng đã tăng mạnh

do hoạt động nuôi trồng đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi cả nước mà điểnhình là tại Đồng bằng Sông Cửu long

Hoạt động nuôi trồng thủy sản đã đang và sẽ mở rộng tại các tỉnh Đồng bằngSông Cửu long, đặc biệt là tỉnh An Giang, nơi đầu nguồn của nghề nuôi cá tra vàcá ba sa Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng hoạt động nuôi trồng thủy sản thì môitrường cũng bị ô nhiễm với nguyên nhân là do người nuôi chưa nhận biết đượctầm quan trọng giữa nuôi trồng thủy sản với môi trường, lợi về kinh tế, nhưngcũng có khi hại về môi trường nếu chúng không được kiểm soát

Lượng thức ăn dư thừa trong quá trình nuôi, nước thải từ các ao nuôi không quaxử lí, các hóa chất sử dụng để cải tạo ao là những nguyên nhân chính khiến môitrường nước trở nên bị ô nhiễm Tài nguyên nước mặt đã được sử dụng một cáchhoang phí do sự thiếu hiểu biết hoặc biết nhưng thờ ơ không quan tâm của cácngười nuôi cá gây tác động xấu đến môi trường nước

Việc sử dụng con giống không đạt tiêu chuẩn, nguồn thức ăn không đảm bảonguồn gốc cũng như thức ăn tự chế biến là các nguyên nhân chính làm cho sảnlượng không tăng theo diện tích Giá cá lên xuống thất thường là nguyên nhânlàm cho người dân đua nhau đào ao thả cá và cũng đua nhau bỏ hoang ao Vì thếtài nguyên đất đã không được sử dụng đúng mục đích và sử dụng triệt để đã và

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

1

Trang 2

đang gây mất cân bằng sinh thái và làm suy giảm nghiêm trọng vườn cây ăn tráitại đồng bằng này.

Mặt khác với diện tích nuôi cá basa – cá tra ngày càng tăng không tuân theo quyhoạch cũng như ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng Liệu đây là tínhiệu đáng mừng cho nền kinh tế thủy sản nước nhà? Liệu chỉ sốâ kinh tế có tăngtheo diện tích nuôi? Khi diện tích nuôi tăng một cách ồ ạt và tự phát thì sẽ manglại “hiệu quả” hay “hậu quả” nhiều hơn? Môi trường sẽ ra sao nếu diện tích nuôicá tiếp tục tăng? Đời sống của người dân nuôi cá cũng như các hộ không nuôi cásẽ bị ảnh hưởng như thế nào trước xu thế này? Môi trường sẽ bị ảnh hưởng ra saonếu xu thế này vẫn tiếp tục diễn ra trong tương lai?

Để giải quyết vấn đề đang được quan tâm này, giúp cho người dân có cái nhìnđúng hơn về cái lợi và cái hại của xu thế tăng diện tích nuôi cá basa – cá tra mộtcách ồ ạt, tự phát cũng như giúp các nhà quản lí đề ra giải pháp quản lí hiệu quảnhằm mang lại lợi ích kinh tế cao mà vẫn đảm bảo môi trường trong sạch, em xin

đề xuất thực hiện đồ án tốt nghiệp “Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa - cá tra và đề xuất giải pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh An Giang” Với việc lấy điển hình tỉnh An Giang –

một trung tâm lớn nhất của nghề nuôi cá basa – cá tra ở Việt Nam, em hy vọngcó thể áp dụng rộng rãi kết quả đạt được từ nghiên cứu này cho các tỉnh nuôitrồng thủy sản khác trên cả nước

1.2 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu, phân tích và đánh giá lợi ích kinh tế trong tương quan với các tácđộng đến môi trường do việc gia tăng diện tích nuôi cá basa - cá tra tại tỉnh AnGiang, từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế ngư nghiệp theo hướng pháttriển bền vững

1.3 Nội dung nghiên cứu

Trang 3

Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần phải thực hiện các nội dung sau:

- Tổng hợp, biên hội và kế thừa các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan

- Điều tra diện tích nuôi cá basa – cá tra trên địa bàn tỉnh An Giang

- Khảo sát, xem xét qui trình nuôi cá basa – cá tra, hiện trạng môi trườngkhu vực nuôi

- Điều tra mức độ hưởng ứng phong trào nuôi cá basa – cá tra trên địa bàntỉnh

- Phân tích lợi ích kinh tế từ hoạt động nuôi cá basa - cá tra

- Phân tích, đánh giá hiện trạng môi trường trước kia và hiện tại khi phongtrào nuôi cá basa - cá tra hình thành, dự đoán trong tương lai

- Phân tích bài toán tăng trưởng diện tích nuôi cá basa - cá tra, lợi nhuậnkinh tế thu được và sự xuống cấp của môi trường

- Đề xuất các giải pháp quản lí kinh tế và môi trường, hướng đến phát triểnngư nghiệp bền vững

1.4 Giới hạn của đề tài

Giới hạn về nội dung

Đề tài chỉ đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động nuôi cá basa – cátra gây nên và phân tích lợi ích thiết thực đạt được từ hoạt động này, từ đó đánhgiá tổng hợp xem nên tăng hay hạn chế diện tích nuôi là hợp lí Qua đó đề xuấtcác giải pháp quản lí diện tích nuôi hiệu quả mang lại lợi ích kinh tế nhiều nhấtmà ít ảnh hưởng đến môi trường

Giới hạn về thời gian và không gian

Đề tài chỉ thực hiện trong vòng 3 tháng và chỉ tiến hành thực hiện đánh giá chotỉnh An Giang

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

3

Trang 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận:

Phát triển kinh tế là xu thế tất yếu của tất cả các nước trên thế giới Tùy vào điềukiện của mỗi quốc gia mà người ta dựa vào đó để phát triển nền kinh tế của quốcgia mình Các nhân tố môi trường, tài nguyên thiên nhiên là những nhân tố tứccực góp phần thành công nền kinh tế của mỗi quốc gia Lấy điển hình như cácnước vùng vịnh nền kinh tế chủ lực của họ là nền kinh tế khai thác dầu mỏ

(World Bank, 1999) Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, với chiều dài

bờ biển, diện tích biển rộng lớn, sự ưu ái của thiên nhiên , hệ thống sông ngòichằng chịt là một ưu thế cho việt nam phát triển nền kinh tế mũi nhọn đó là nềnkinh tế khai thác và nuôi trồng thủy hải sản

Là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á với vị trí địa lí và điều kiện tựnhiên thuận lơi giúp Việt Nam cũng như các nước trong khu vực có tiềm năng lớnvề nghành đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản Với 20 năm tham gia trên thị

trường thủy sản quốc tế và có sản lượng đúng thứ 4 trên thế giới (Nguồn: www.vasep.com.vn, 2003) là một ưu thế cho Việt Nam tiếp tục phát huy nền kinh

tế tiềm năng này Trước kia sản lượng thủy sản chủ yếu được khai thác từ cácnguồn đánh bắt tự nhiên Thế nhưng trong những năm gần đây thị trường thế giớinhư Mỹ, Nhật, EU có phần chuộng mặt hàng cá da trơn chủ yếu là cá basa và cátra được nuôi ở môi trường nước ngọt do đó đã có sự tăng trưởng sản lượng nuôi

trồng trong nước (Nguồn: www.vasep.com.vn 2003) Vì thế, với diện tích đất rộng

lớn kèm theo hệ thống sông rạch dày đặc tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Namnắm bắt cơ hội lớn này là chuyển sản lượng chủ yếu từ đánh bắt sang nuôi cánước ngọt bằng hình thức nuôi bè, đăng đầm hay đào ao thả cá

Mô hình này đã có những bước tiến triển tốt cho sự chuyển mình của nền kinh tếthủy sản Đời sống của người dân gắng bó với nghề ngày một ổn định hơn nhờ

Trang 5

một thị trường rộng lớn và giàu tiềm năng Trước kia, thị trường quốc tế còn dễdàng trong việc nhập hàng thủy sản vì nguyên liệu còn ít Sau khi gia nhập WTOđồng nghĩa với việc hưởng các quyền lợi là nghĩa vụ của Việt Nam trên thị trườngthế giới cả về số lượng lẫn chất lượng Do đó hàng hóa xuất khẩu phải đảm bảochất lượng mà trong đó mặt hàng thủy sản thì còn đòi hỏi cao về các tiêu chuẩn

an toàn thực phẩm và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong quá trình nuôi.Chính điều này khiến cho đầu ra của con cá nuôi của Việt Nam gặp nhiều trởngại do người nuôi chỉ biết nuôi mà ít biết đến kĩ thuật nuôi như thế nào mới làđúng, mới là sạch, mới là hiệu quả mà đặc biệt là các yếu tố môi trường đangđược thế giới quan tâm

Với phương châm một người làm thành công thì sẽ có nhiều người khác làm theo

Vì thế ngoài các công ty lớn có đầu tư kĩ thuật, vốn, xin phép nuôi cá hợp pháp,tuân theo các qui định kĩ thuật và qui hoạch thì vấn nạn hiện nay là sự gia tăngdiện tích nuôi cá một cách ồ ạt không theo qui hoạch, tạo nên sự mất cân đốitrong sử dụng tài nguyên đất và nước Mặt khác với tốc độ gia tăng này đã khiếncác cơ quan quản lí nhà nước liên quan không thể quản lí được và sẽ tiềm ẩn lànguyên nhân gây nên những hậu quả khó lường cho môi trường

Như chúng ta đã biết, việc nuôi cá dù là nuôi bè, đăng đầm hay đào ao đều tácđộng trực tiếp đến môi trường nước và đất Việc nuôi không đúng kĩ thuật gâynên dịch bệnh, thức ăn cho cá dư thừa, nước từ ao nuôi được lấy trực tiếp từ sôngvà cũng thải trực tiếp vào sông là những nguyên nhân chính gây nên sự suy thoáimôi trường trầm trọng Theo kết quả quan trắc mới nhất từ Sở Tài nguyên và Môitrường các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang cho thấytình trạng ô nhiễm môi trường ở những khu vực nuôi cá tập trung đã đến lúc báođộng

(Nguồn: Chi cục Bảo vệ Môi trường khu vực Tây Nam bộ, 2006).

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

5

Trang 6

Theo chuyên gia thủy sản, hiện con giống cá tra - basa đang có sự thoái hóa Dođó cần phải có quy định nghiêm ngặt về kiểm tra, quản lý nguồn giống bố mẹ vàchất lượng con giống Sau khi Phân viện Quy hoạch Thủy sản phiá Nam đưa ramục tiêu phát triển ngành nuôi cá tra - basa đến năm 2010 và 2020, nhiều nhàkhoa học cho rằng không nên chạy theo diện tích, số lượng nuôi, sản lượng xuấtkhẩu mà ngay từ bây giờ phải tập trung nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm,hiệu quả và sản xuất bền vững, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu

đến môi trường sống của cộng đồng (Nguồn: www.fishnet.com, 2006).

Vì những khó khăn trên đối với các nhà quản lí và người dân nuôi cá, đề tài sẽtiến hành xem xét, tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu trong và ngoài nước cóliên quan đến tình hình chung này nhằm đảm bảo cho nghiên cứu là khách quannhất đối với điều kiện và tình hình thực tế của Việt Nam mà lấy đại diện là tỉnh

An Giang Sau đó, tiến hành khảo sát diện tích nuôi cá basa – cá tra của tỉnh vàđánh giá sơ lược môi trường tại các điểm nuôi Xem xét các nguyên nhân gâykhó khăn cho việc phát triển kinh tế nuôi trồng của bà con, các tác động và cáckhía cạnh từ việc nuôi cá ảnh hưởng trực triếp đến môi trường Đồng thời điều tramức độ hưởng ứng phong trào nuôi cá basa – cá tra và mức độ quan tâm lo lắngcủa người dân đối với tác nhân gây suy thoái môi trường do hoạt động nuôi trồngnày Sau khi có được các kết quả, đề tài sẽ tiến hành phân tích lợi ích kinh tế từphong trào nuôi cá này Tiếp theo, đề tài sẽ phân tích, đánh giá chất lượng môitrường do phong trào gây ra và dự đoán chất lượng môi trường trong tương lai nếu

xu thế này vẫn tăng ngoài tầm kiểm soát Sau đó đề tài tiến hành đánh giá tổnghợp để trả lời các câu hỏi sau:

1 Liệu việc tăng diện tích nuôi có tăng được sản lượng, chất lượng sản phẩmvà lợi suất kinh tế trong tương lai?

Trang 7

2 Khi diện tích nuôi tăng một cách ồ ạt và tự phát thì sẽ mang lại “hiệu quả”hay “hậu quả”nhiều hơn?

3 Môi trường sẽ bị ảnh hưởng ra sao nếu xu thế này vẫn tiếp tục diễn ratrong tương lai?

4 Đời sống của người dân nuôi cá cũng như các hộ không nuôi cá sẽ bị ảnhhưởng như thế nào trước xu thế này?

5 Có nên khuyến khích tiếp tục tăng diện tích nuôi hay dừng hoặc giảm đểđảm bảo cho hoạt động nuôi trồng bền vững ít tác động đến môi trường?Qua đó, đề xuất các giải pháp quản lí hiệu quả diện tích nuôi cá Tăng hoặc giảmdiện tích nuôi sao cho sản lượng, chất lượng và lợi suất kinh tế là tối ưu, nhằmtiến đến phát triển kinh tế ngư nghiệp theo hướng bền vững

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

7

Trang 8

Sơ đồ nghiên cứu:

Trang 9

Phương pháp thực tế:

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

Tổng hợp, biên hội và kế thừa các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan

Khảo sát, điều tra diện tích

nuôi cá basa - cá tra và qui trình

nuôi

Phỏng vấn, điều tra mức độ hưởng ứng phong trào nuôi cá basa - cá tra và mối quan tâm về môi trường của người dân

Phân tích lợi ích kinh tế từ nuôi cá basa - cá tra, đưa ra các giả thuyết tăng hoặc giảm diện tích nuôi để phân tích ảnh hưởng kinh tế như thế nào?

Phân tích, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi cá basa - cá tra

Từ đó tiến hành dự đoán mức độ ô nhiễm trong tương lai nếu xu hướng này vẫn tăng

Đề xuất các giải pháp quản lí, phương hướng phát triển cho hoạt động nuôi cá basa - cá tra sao cho tăng lợi ích kinh tế mà vẫn đảm bảo môi trường

9

Trang 10

Phương pháp thu thập tài liệu: Từ các sở Tài nguyên và Môi trường, Thương

mại, Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Thủy sản tỉnh An Giang cùngvới các tài liệu khác đã xuất bản và trên internet

Phương pháp khảo sát: Tiến hành khảo sát tại các trại nuôi cá, chú ý môi trường

tại nơi khảo sát từ đó xem xét mức độ ảnh hưởng của việc nuôi cá đến môi trườngnhư thế nào? Khảo sát các tuyến sông chính chảy qua khu vực nuôi cá, xem bịảnh hưởng ra sao?

Phương pháp điều tra: Tiến hành phỏng vấn, điều tra mức độ hưởng ứng của

người dân đối với phong trào nuôi cá (người nuôi và người không nuôi) ra sao chonhiều loại đối tượng có trình độ học vấn, nghề nghiệp khác nhau lấy ngẫu nhiêntại Huyện Chợ Mới Việc phỏng vấn - điều tra được tiến hành một cách ngẫunhiên nhằm đảm bảo tính khách quan cho kết quả nghiên cứu của đề tài Tiếnhành phỏng vấn ngẫu nhiên 50 người bao gồm 10 hộ nuôi và 40 người dân xumquanh khu vực nuôi

Phương pháp xử lý số liệu: Từ các số liệu thu thập được tại các trại nuôi cá, từ

quá trình phỏng vấn, tiến hành xử lý, thống kê để đưa ra các số liệu mang ý nghĩathực tế

Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ các tài liệu thu thập, số liệu đã qua xử lý,

tiến hành phân tích tổng hợp để tìm hiểu mức độ, thái độ của người nuôi cá cũngnhư không nuôi cá ra sao? Lợi ích từ nuôi cá như thế nào? Aûnh hưởng đến môitrường như thế nào nếu diện tích nuôi vẫn tiếp tục tăng

Phương pháp đánh giá tổng hợp: Từ kết quả của quá trình phân tích tổng hợp các

dữ liệu đã có, tiến hành đưa ra các giải pháp quản lí hiệu quả diện tích nuôi nhằmtăng hiệu quả kinh tế và giảm tác động đến môi trường

1.6 Ý nghĩa của đề tài

Trang 11

Ý nghĩa thực tế: Giúp cho các nhà kinh tế và các cơ quan QLNN có cái nhìn

chiến lược cho mục tiêu phát triển bền vững, giúp cho bà con nông nhân hiểuđược tầm quan trọng của cân đối cái lợi trước mắt và hậu quả tiềm tàng do hành

vi của họ gây nên

Ý nghĩa khoa học: Góp một tư liệu nhỏ cho các nghiên cứu tiếp theo, là động

thái giúp các nhà khoa học vào cuộc giải quyết vấn đề xác thực và hiệu quả hơn

1.7 Đối tượng nghiên cứu

Cá basa – cá tra, các hộ nuôi cá basa – cá tra ở tỉnh An Giang, các cơ quanQLNN liên quan

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

11

Trang 12

Chương 2: TỔNG QUAN TỈNH AN GIANG

2.1 Vị trí địa lí – địa hình

vị trí địa lí

An Giang là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc đồng bằng sông Cửu Long, một phầnnằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên; có biên giới Việt Nam – Campuchia, nhiềudân tộc và tôn giáo

An Giang có diện tích tự nhiên 3.424 km2, dân số 2.049.039 người (01/4/1999).Năm 2000, dân số tăng lên 2.083.571 người

Phía Bắc Tây Bắc giáp Campuchia dài 104km (theo “Hiệp ước hoạch định biêngiới VN-CPC ký ngày 27/12/1985), Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang 69,789km,Nam giáp tỉnh Cần Thơ 44,734km, Đông giáp tỉnh Đồng Tháp 107,628km Gồm

420 tuyến địa giới hành chính cấp xã dài 1.694,463km, trong đó 259 tuyến xãtrong nội huyện dài 1.159,079km, 21 tuyến huyện dài 313,233km và 3 tuyến tỉnhdài 222,151km, được xác định bằng 461 mốc địa giới hành chính các cấp gồm 39mốc cấp tỉnh, 89 mốc cấp huyện và 333 mốc cấp xã

Điểm cực Bắc trên vĩ độ 10o57 (xã Khánh An, huyện An Phú), cực Nam trên vĩđộ 10o12 (xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn), cực Tây trên kinh độ 104o46 (xãVĩnh Gia, huyện Tri Tôn), cực Đông trên kinh độ 105o35 (xã Bình Phước Xuân,huyện Chợ Mới)

Chiều dài nhất theo hướng Bắc Nam 86km và Đông Tây 87,2km

Địa hình

Địa hình :

An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, còn cóvùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên Do đó, địa hình An Giang có 2 dạng chính làđồng bằng và đồi núi

Trang 13

Đồng bằng: Xét về nguồn gốc, địa hình đồng bằng ở An Giang có 2 loại chính là

đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi

Đồi núi: Đồi núi An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác

nhau phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã PhúHữu huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diệntích 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừnglại ở thị trấn Núi Sập huyện Thoại Sơn

Hình 1: Bản đồ vị trí địa lí tỉnh An Giang

2.2 Hệ thống sông, rạch

2.2.1 Sông, rạch tự nhiên.

Ngoài các sông lớn, An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp địabàn của tỉnh, với độ dài từ vài km đến 30km, độ rộng từ vài m đến 100m và độuốn khúc quanh co khá lớn Các rạch trong khu vực giữa sông Tiền và sông Hậuthường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu Các rạch nằm trong hữungạn sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu vào nội đồng vùng trũng Tứgiác Long Xuyên

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

13

Trang 14

Những rạch lớn hiện có ở An Giang gồm Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc (huyệnPhú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), Long Xuyên(thành phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng (huyện Châu Thành)và rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú) Trong đó rạch Ông Chưởng và rạch LongXuyên là 2 rạch quan trọng, khá dài, rộng và sâu hơn các rạch còn lại.

2.2.2 Kênh đào

Kênh Thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại được vua Gia Long giáng chỉ cho đàovào mùa Xuân năm Mậu Dần (1818) Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch LongXuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập, tiếpvới sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá Kênh dài 12.410tầm, rộng 20 tầm, ghe xuồng qua lại thuận lợi

Kênh Vĩnh Tế bắt đầu đào vào ngày Rầm tháng Chạp năm Kỹ Mão (1819) cũng

do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy Kênh đào song song với đường biên giới ViệtNam-Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sôngGiang Thành (Hà Tiên - Kiên Giang) Kênh đào trong 5 năm với hơn 80.000 dânbinh, đào đắp với hàng triệu mét khối đất Tổng chiều dài của kênh là 205 dặmrưởi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m) và sâu 6 thước (3m)

Kênh Vĩnh An: Nhà Nguyễn cho đào kênh nầy vào năm 1843, để lấy nước sôngTiền bổ sung cho sông Hậu và tạo ra trục giao thông thủy nối liền giữa 2 trungtâm thương mại Tân Châu và Châu Đốc, thông nối các vị trí quân sự, kinh tếchiến lược quan trọng của biên cương Kênh dài 17km, rộng 30m và sâu 6m.Song, do cửa đổ của kênh vào sông Hậu đúng vào chỗ giáp nước nên dòng chảyrất yếu, làm cho phù sa bị ứ đọng và bồi lắp dòng kênh Sau đó vài chục năm,vào mùa khô kênh trở nên cạn kiệt

Kênh Trà Sư: Theo lời truyền dân gian, kênh nầy được đào trên cơ sở khai thôngcon rạch nhỏ có sẵn, vào những năm 1830-1850, để ngăn lũ núi, thau chua rửa

Trang 15

phèn và dẫn nước lũ phù sa phục vụ cho khai thác các cánh đồng còn hoang hóathời bấy giờ thuộc khu vực Thới Sơn – Văn Giáo Kênh có chiều dài 23km, rộng10m và sâu trên 2m.

Kênh Thần Nông: Đào năm 1882, chạy dọc giữa huyện Phú Tân, bắt đầu từ xãPhú Vĩnh nối liền kênh Vĩnh An đến rạch Cái Đầm dài 25km, rộng 6m và sâu3m, để tưới tiêu cho toàn huyện

Kênh Vàm Xáng: Thực dân Pháp cho đào từ năm 1914 – 1918 Kênh Vàm Xángcách kênh Vĩnh An 4km về phía thượng lưu, để lấy nước sông Tiền bổ sung chosông Hậu, đồng thời tạo ra trục giao thông mới thay cho kênh Vĩnh An Ban đầukênh dài 9km, rộng 30m và sâu 6m, sau do cửa đổ nước có lợi thế tạo ra được độdốc dòng chảy lớn, nên đến nay kênh có độ rộng trên 100m, sâu trên 20m Do đó,sau sông Vàm Nao, kênh Vàm Xáng trở thành tuyến kênh quan trọng điều hòalượng nước từ sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, tạo lập trục giao thông thủy nốiliền 2 con sông nầy cho tàu thuyền lớn nhỏ qua lại dễ dàng quanh năm suốttháng

Quần thể thủy sản An Giang phân thành 2 nhóm chính:

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

15

Trang 16

- Nhóm cá sông (cá trắng) chiếm ưu thế trên sông với đặc điểm sinh học là thíchứng với môi trường dòng chảy (pH trung tính, có nhiều oxy hoà tan) như cá linh,cá he, cá chài, cá mè vinh…

- Nhóm cá đồng (cá đen) gồm các loại cá họ cá lóc, cá trê, cá rô… Đa số các loạinày đều có cơ quan hô hấp phụ nên tồn tại được ở môi trường ít oxy, pH nước nhỏhơn 5,5 Vùng khai thác nhiều cá đồng nhất là các lung, đìa, bào

2.4 Thực trạng kinh tế

2.4.1 Dân số - Lao động và việc làm

Cơ cấu theo giới tính khá cân bằng, nam chiếm 49.2% và nữ chiếm 50.8% Dân

cư trong tỉnh gồm 4 dân tộc chủ yếu: Kinh 91%, Hoa 4 - 5%, Khơmer 4.31%,Chăm 0.61%

Trang 17

Hình 2: Bản đồ phân vùng tỉnh An Giang

2.4.1.2 Tỷ lệ lao động và việc làm

Số người trong độ tuổi lao động: 59.72%

Lực lượng lao động chủ yếu tập trung ở ngành nông lâm thủy sản với khoảng73%, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 7.6% còn lại là ngành dịch vụ19.4% Cơ cấu này chuyển biến khá chậm từ năm 1995 tới nay

Cơ cấu về trình độ học vấn và chuyên môn cụ thể như sau:

Trình độ học vấn

Chưa biết chữ 6.01

Chưa tốt nghiệp tiểu học 33.98

Đã tốt nghiệp tiểu học 39.64

Đã tốt nghiệp trung học cơ sở11.07

Đã tốt nghiệp trung học phổ9.31

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

17

Trang 18

Sơ cấp học nghề trở lên 14.53

Công nhân kỹ thuật trở lên 5.92

Bảng 1: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn tỉnh An Giang

(Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội năm 2003 (Đơn vị %))

Lao động trong khu vực nông thôn hiện nay chỉ sử dụng khoảng 80% thời gian,còn lại trên 20% thời gian không có việc làm Như vậy sự thất nghiệp trong khuvực này rất lớn, đây đang là một bức xúc lớn của tỉnh

2.4.2 Quy mô – Cơ cấu – Mức tăng trưởng kinh tế

2.4.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế

Tổng GDP của tỉnh An Giang tính đến năm 2004 theo giá thực tế 15.603,8 tỷđồng Tuy chiếm đến 11.8% tổng GDP của toàn bộ Đồng bằng sông Cửu Longnhưng chỉ bằng 2.2% so với cả nước Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh làgạo 50,8% và thủy sản chiếm 30,1%

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của An Giang trong giai đoạn từ 1996 đến

2005 là 7.3% Trong đó nghành nông lâm thủy sản tuy tập trung nhiều lao độngnhất nhưng tốc độ tăng trưởng lại thấp bất ngờ 2.76%, nghành công nghiệp - xâydựng có mức tăng trưởng khả quan là: 11.42% cao hơn so với cả nước, nhưngđáng chú ý nhất là sự tăng trưởng mạnh mẽ ở nghành dịch vụ 11.15% (gấp 2 lần

so với cả nước và gấp 2.4 lần tốc độ tăng trưởng của khối ngành sản xuất).Cụ thể như sau:

Trang 19

Tốc độ tăng trưởng bìnhquân trong từng giai đoạn. Tỷ lệ tốc độ tăng trưởngdịch vụ trên sản xuất.

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang so với cả nước

(Nguồn: Cục thống kê An Giang , Bộ Kế hoạch - Đầu tư, 2005)

2.4.2.2 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu theo ngành:

Trong năm 2004 cơ cấu kinh tế theo ngành tổng quát như sau:

GDP (giá hiện

hành) 15.603,8

Nông lâm thủy sản 5.913,4

Công nghiệp – Xây

Trang 20

Nông lâm thủy sản 37,9

Công nghiệp – Xây

dựng

11,98

Dịch vụ 50,12

Bảng 3: Cơ cấu kinh tế theo ngành

Cơ cấu theo lao động:

Cơ cấu sử dụng lao động trong năm 2003 như sau:

Ngànngười Tỷ trọng% Ngànngười Tỷ trọng% Ngànngười Tỷ trọng%Tổng số 969,7 100,0 993,7 100,0 1050 100,0

Bảng 4: Cơ cấu sử dụng lao động

Dễ dàng nhận thấy nghành Nông - Lâm - Thủy sản chiếm tỷ trọng laođộng cao nhất Song trong những năm gần đây, trong nội bộ ngành này có sự

chuyển dịch đáng chú ý Lao động ngày càng chuyển sang ngành thủy sản nhiều hơn Trong công nghiệp và xây dựng cũng nhận thấy một điều là số lao động tham gia chế biến ngày càng nhiều

Trang 21

2.4.3 Tình hình xuất nhập khẩu

Sau một thời gian bị tác động mạnh bởi cuộc khủng khoảng kinh tế tài chínhChâu Á, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh không phát triển, nhưng trong những nămgần đây việc tích cực đẩy mạnh sản xuất, khai thác các mặt hàng có lợi thế đểxuất khẩu nên tình hình xuất khẩu của tỉnh tăng trưởng khá Cụ thể như sau:Chỉ tiêu Tuyệt đối(triệu USD) Tốc độ tăng trưởng(%)

1995 2000 2003 1996 - 2000 2001 - 2003 1996 - 2003Xuất

Bảng 5: Chỉ tiêu xuất nhập khẩu

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh là gạo 50,8% và thủy sản chiếm 30,1%.Các mặt hàng nhập khẩu là: gỗ, hóa chất, thuốc trừ sâu, máy móc thiết bị Trongthời gian qua việc nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu đã góp phần tíchcực vào việc đổi mới công nghệ trên địa bàn tỉnh Máy móc chiếm 25%, nguyênvật liệu chiếm 66%, và hàng tiêu dùng có xu hướng giảm nhập khẩu, chỉ còn 9%

2.4.4 Tình hình thu hút vốn FDI

Hoạt động kinh tế đối ngoại chưa được tốt Trên địa bàn tỉnh hiện chỉ có 3 dự áncó vốn FDI còn hiệu lực với tổng vốn là 14,8 triệu USD Đầu tư FDI này vào 3ngành là công nghiep nhẹ, du lịch và khách sạn Kết quả này chưa tương xứng vớitiềm năng của tỉnh An Giang đặc biệt trong lỉnh vực xuất khẩu

2.5 Thực trạng xã hội

2.5.1 Thu chi ngân sách và đầu tư xã hội

Thu – Chi ngân sách

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

21

Trang 22

Tổng thu ngân sách củ tỉnh năm 2003 đạt 1.892 tỷ đồng Trong đó thu từ cácnguồn chính:

 Kinh tế địa phương 168,5 tỷ đồng

 Thuế xuất khẩu , nhập khẩu 65 tỷ đồng

Tổng chi ngân sách năm 2003 đạt 1.642 tỷ đồng Chủ yếu là chi thường xuyên,còn lại là chi đầu tư phát triển

Đầu tư xã hội

Tình hình chung như sau:

Cơ cấu theo khu vực (%) 100 100 100

Vốn ngoài nhà nước 71,13 65,75 48,1

Cơ cấu theo ngành

Nông lâm thủy sản 22,3 17,6 18,51

Công nghiệp – Xây dựng 26,85 15,94 15,11

Bảng 6: Ngân sách đầu tư xã hội

Tổng đầu tư xã hội trong thời kỳ này tăng nhanh do đầu tư có trọng điểm của nhànước Đúng vậy, vốn nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất 61,02% Trong khi đó vốnngoài quốc doanh và FDI có chiều hướng giảm, đây là một điều cần cải thiệnnhanh chóng trong điều kiện hiện nay về môi trường đầu tư

2.5.2 Năng suất lao động

Trang 23

Năng suất lao động trong ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ là cao nhấtvà có xu hướng tăng.

Năng suất lao động Triệu VNĐ 12,6

Nông lâm thủy sản Triệu VNĐ 6,7

Công nghiệp – Xây dựng Triệu VNĐ 20,6

So sánh với tổng NSLĐ % 100

Nông lâm thủy sản % 53,3

Công nghiệp – Xây dựng % 163,8

Bảng 7: Năng xuất lao động năm 2003

2.5.3 Về mức sống và chính sách xã hội

Đời sống của nhân dân trong tỉnh đã được cải thiện đáng kể GDP bình quân đầungười năm 2003 đạt 6,15 triệu nhưng vẫn còn thấp hơn so với số trung bình cảnước là 7,49 triệu

2.5.4 Hiện trạng giáo dục và đào tạo

Trình độ học vấn như sau: toàn tỉnh có 92.82% số người biết chữ, 83.56% phổ cậptiểu học

Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp dạy nghề của tỉnh có 3 trường và hiện đangđào tạo 4500 học viên (chủ yếu là hệ tại chức) nhằm nâng cao trình độ cho dân

Trang 24

a Quan điểm phát triển:

Quan điểm và tư tưởng chỉ đạo cho sự phát triển trong thời kỳ 2006-2010 và tầmnhìn đến năm 2020 của An Giang là:

- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đuổi kịp gần mức bình quân GDP đầungười của cả nước vào năm 2010 Đồng thời, chú ý từng bước nâng cao chấtlượng tăng trưởng

- Xây dựng An Giang thành một địa bàn kinh tế mở, thông thương giữa các tỉnhkhu vực Đồng bằng sông Cửu long với Campuchia và các nước ASEAN khác.Giành và giữ thị phần của các sản phẩm chủ lực

- Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá xã hội, đảm bảo cho mọi ngườidân có cơ hội tham gia và chia sẻ thành quả của phát triển

- Kết hợp tốt giữa CNH nông nghiệp - nông thôn với mở rộng và xây dựng mớicác khu đô thị và các vùng kinh tế trọng điểm Tiếp tục tạo điều kiện cho nhândân nông thôn “sống chung với lũ an toàn” hơn

- Kết hợp chặt giữa phát triển kinh tế với đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội,giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tốt tài nguyên, môi trường, bảo đảm phát triểnbền vững

b Mục tiêu tổng quát:

Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, tạo chuyển biến mạnh vềchất lượng phát triển Đến 2010, GDP bình quân đầu người ở An Giang đạt mứcxấp xỉ bình quân của cả nước Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngCNH, HĐH; nâng cao rõ rệt chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinhtế; phát triển mạnh khoa học và công nghệ cải thiện một bước đáng kể trình độcông nghệ trong nền kinh tế Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuấtkhẩu Nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực Tăng

Trang 25

trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môitrường Không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục thực hiện xóa đói giảmnghèo, tạo thêm nhiều việc làm, giảm rõ rệt các tệ nạn xã hội Giữ vững ổn địnhchính trị, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

2.7 Chỉ tiêu phát triển chủ yếu

a Giai đoạn 2006-2010:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng đạt 12%

- Cơ cấu kinh tế đến năm 2010 dự kiến: khu vực nông, lâm, nghiệp 23,1%; khuvực công nghiệp - xây dựng 16,1%; khu vực dịch vụ 60,8%

- Đến năm 2010 phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 700 triệu USD

- Bình quân 5 năm (2006-2010) tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 45% GDP, tỷlệ động viên GDP vào ngân sách đạt 9%

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vào năm 2010 khoảng 1,19%

- GDP bình quân đầu người đến năm 2010 đạt 900 USD, gần bằng mức bình quâncả nước

- Đến năm 2007 có 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục trunghọc cơ sở và PCGD trung học đúng độ tuổi Năm 2006 đạt PCGD mẫu giáo 5tuổi

- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm trong 5 năm khoảng 150.000 lao động.Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30% Tổng lao động xuất khẩu đến năm 2010 đạttrên 10 ngàn người

- Đến năm 2008 các trường đạt chuẩn chất lượng tối thiểu Đến năm 2010 cáctrường đạt chuẩn quốc gia

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

25

Trang 26

- Đến năm 2010 cơ bản: 85% hộ sử dụng nước sạch; 100% hộ sử dụng điện; giảmtỷ lệ hộ nghèo (chuẩn quốc gia) xuống còn 7%; thanh toán cơ bản bệnh sốt rét vàcác rối loạn do thiếu I-ốt.

b Quy hoạch đến năm 2020:

Thời kỳ 2011-2020, phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng nămkhoảng 11% để đến năm 2020 An Giang đạt mức GDP/người khoảng 2.000 USD -bằng bình quân cả nước

Cơ cấu kinh tế đến năm 2020 dự kiến: khu vực nông, lâm, nghiệp 10,6%; khu vựccông nghiệp - xây dựng 20%; khu vực dịch vụ 69,4%

Hình 3: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang

Trang 27

Chương 3: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NUÔI CÁ BASA – CÁ TRA

3.1 Tình hình hoạt động nghành thủy sản cả nước

Tổng sản lượng toàn ngành thủy sản năm 2005 ước đạt 3432.8 tấn, trong đó sảnlượng khai thác hải sản là 1955.4 tấn và sản lượng nuôi trồng thủy sản là 1437.4tấn Biển Việt Nam có trên 2.030 loài cá, trong đó có khoảng 130 loài cá kinh tế,1.600 loài giáp xác, 2.500 loài nhuyễn thể Ngoài ra còn có nhiều loài rong, tảo,rắn, chim và thú biển khác Trữ lượng cá biển ước tính vào khoảng 3,1-3,2 triệutấn, tương ứng với khả năng khai thác 1,4-1,5 triệu tấn Trong những năm gầnđây, nghề cá Việt Nam đã phát triển nhanh chóng và được xác định là ngành kinhtế mũi nhọn với kim ngạch xuất khẩu đứng thứ ba toàn quốc (sau dầu khí và dệtmay)

Trang 28

Biểu đồ 1: Tổng sản lượng thủy sản, sản lượng khai thác hải sản, sản lượng nuôitrồng thủy sản

(Nguồn: www.vasep.com.vn, 2006)

Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác.Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ2,9% (năm 1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003 Tỷ lệ tăngtrưởng XKTS trung bình thời kỳ 1992-2003 là 20,4%, mức tăng trưởng trung bìnhhàng năm đạt 9,97% Đến 2003, Việt Nam đã đứng ở vị trí thứ 7 trong số cácnước XKTS nhiều nhất trên thế giới Năm 1992, XKTS đạt 307,7 triệu USDnhưng tới 2004, XKTS đã đạt mức 2,4 tỷ USD Mức tăng trưởng trong nhữngnăm sau tuy giảm dần nhưng giá trị và sản lượng vẫn tăng

1992 1996 2000 2001 2002 2003 2004KNXK (triệu USD) 308 697 1479 1778 2023 2397 2650

Trang 29

hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất Điềunày tất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất – ưu tiên phát triển cáchoạt động kinh tế mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao Việt Nam có nhiềutiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôibiển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Đến năm 2003, đã sử dụng 612.778 ha nướcmặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để nuôi thuỷ sản Trong đó, đối tượng nuôi chủlực là tôm với diện tích 580.465 ha.

Mục tiêu phát triển thủy sản đến năm 2010

Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2010

Diện tích (héc ta)

- tôm nước mặn

- Cá nước mặn

1.400.000

800.000 600.000 2.500.000

400.000 300.000 500.000 1.300.000Bảng 9: Mục tiêu thủy sản đến năm 2010

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

29

Trang 30

3.2 Đặc trưng cá basa – cá tra

3.2.1 Sự phân bố của cá basa – cá tra

Cá tra và ba sa phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan,Indonexia và Việt Nam, là hai loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao Cá tra được nuôiphổ biến hầu hết ở các nước Đông Nam Á, là một trong các loài cá nuôi quantrọng nhất của khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông Mê Kông đã có nghềnuôi cá tra truyền thống là Thái Lan, Capuchia, Lào và Việt Nam do có nguồn cátra tự nhiên phong phú Ở Capuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loàithuộc họ cá tra, chỉ có 2% là cá ba sa và cá vồ đém, sản lượng cá tra nuôi chiếmmột nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi Tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi cánhiều nhất, có 50% số trại nuôi cá tra, đứng thứ hai sau cá rô phi Một số nướctrong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ những

thập niên 70-80 (Nguồn: www.fishnet.com, 2006)

3.2.2 Nguồn giống cá basa – cá tra

Nguồn giống cá tra và ba sa trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vớt trong tựnhiên Hàng năm vào khoảng đầu tháng 5 âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồnsông Cửu long (Mê kong) bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân châu (An giang) vàHồng ngự (Đồng tháp) dùng một loại lưới hình phễu gọi là 'đáy' để vớt cá bột Cátra bột được chuyển về ao để ương nuôi thành cá giống cỡ chiều dài 7-10cm vàđược vận chuyển đi bán cho người nuôi trong ao và bè khắp vùng Nam bộ Khuvực ương nuôi cá giống từ cá bột vớt tự nhiên tập trung chủ yếu ở các địa phươngnhư Tân châu, Châu đốc, Hồng ngự, các cù lao trên sông Tiền giang như LongKhánh, Phú thuận Trong những thập niên 60-70 thế kỷ 20, sản lượng cá bột vớtmỗi năm từ 500-800 triệu con và cá giống ương nuôi được từ 70-120 triệu con.Sản lượng vớt cá bột ngày càng giảm dần do biến động của điều kiện môi trườngvà sự khai thác quá mức của con người Đầu thập niên 90, sản lượng cá bột vớt

Trang 31

hàng năm chỉ đạt 150-200 triệu con (Vương học Vinh, 1994) Đồng thời khi vớt cátra, rất nhiều cá bột của các loài cá khác cũng lọt vào 'đáy' và bị lọc ép để loạibỏ Khối lượng các loài cá khác ngòai cá tra có thể gấp 5-10 lần so với cá tra, dođó đã ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lợi cá tự nhiên Nghiên cứu sinh sản nhân tạocá tra được bắt đầu từ năm 1978 và cá ba sa từ 1990 Đến năm 1999, khi chúng tađã chủ động và xã hội hoá sản xuất giống nhân tạo cá tra và ba sa thì nghề vớt cátra bột hoàn toàn chấm dứt Vào năm 1999, sản lượng cá bột sản xuất nhân tạo đãcao hơn số lượng những năm trước vớt ngòai tự nhiên Cho đến khi có quy địnhbãi bỏ vớt cá bột, số “đáy” vớt cá đã giảm chỉ bằng 25% so với thời kỳ 1975-1980.

3.2.3 Đặc điểm cá tra – cá basa

Cá Tra (Pangasius hypophthalus)

 Phân bố: Cá tra phân bố ở Bornéo, Sumatra, Java, Thai lan, Mã lai,Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam Cá sống ở các tầngnước, nhưng thường sống ở tầng đáy cả nơi nước tĩnh và nước chảy Cá cókhả năng sống nơi ao tù có nhiều chất hữu cơ

 Tính ăn: Cá tra là loài ăn tạp thiên về động vật

 Sinh trưởng : Cá tra là loài lớn nhanh trong điều kiện nuôi bình thường cácó thể đạt 0,8 -1 kg sau một năm nuôi và 1,5 - 2 kg sau 2 năm nuôi

 Sinh sản : Cá tra thành thục sinh dục ở điều kiện sống ngoài tự nhiên.Trong ao nuôi cá thành thục sinh dục ở tuổi 3 - 4 với chế độ dinh dưỡngđầy đủ

Cá Basa (Pangasius bocourti)

 Cá ba sa là loài được nuôi phổ biến trong bè trên sông Tiền và sông Hậucủa hai tỉnh An giang và Đồng Tháp

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

31

Trang 32

 Phân bố: Cá ba sa phân bố ở India, Myanma, Thailand, Java, Campuchiavà Đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam Cá sống ở thuỷ vực nước chảy vàhồ lớn, chịu đựng được nồng độ oxy tương đối thấp

 Tính ăn: Cá ba sa ăn tạp thiên về động vật

 Sinh trưởng: Cá lớn nhanh từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, đạt trung bình

1 -1,2 kg sau một năm nuôi ở bè

 Sinh sản: Cá ba sa thành thục sinh dục ở điều kiện sống ngoài tự nhiên.Trong bè hay ao nuôi vỗ cá thành thục sinh dục ở tuổi 3 - 4 với chế độ dinhdưỡng thích hợp

3.2.4 Các chỉ tiêu môi trường trong ao nuôi

 Nhiệt độ nước: 26 - 300C

 pH: 7 - 8

 Hàm lượng oxy hoà tan: >3mg/l

 Nguồn nước cấp cho ao nuôi phải sạch, thể hiện ở các chỉ số các chất ônhiểm chính dưới mức giới hạn cho phép:

 NH3-N: < 1mg/l

 Chì (kim loại nặng): 0,002 - 0,007mg/l

 Cadmi(kim loại nặng): 0,8 - 1,8µg/l

(Nguồn: Chi cuc Thủy sản Cần Thơ, 2002)

3.2.5 kĩ thuật nuôi cá basa – cá tra

3.2.5.1 Biện pháp kĩ thuật cải tạo ao trước khi nuôi

Chọn vị trí và hình dạng ao

Trang 33

 Ao nên chọn ở những nơi gần những vị trí gần sông rạch thuận lợi cho việclấy nước và vận chuyển như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí Những nơi caoráo ít bị lũ lụt, ô nhiễm thuốc trừ sâu, hóa chất…

 Diện tích nuôi nên từ 10,000 m2 trở lên, độ sâu từ 3 -5 m, ao cá nên cóhình chữ nhật là thích hợp nhất cho việc chăm sóc và thu hoạch

 Ao nên có cống cấp nước và thoát nước riêng, đáy ao có lớp bùn dàykhông quá 20 cm và nghiêng về phía cống thoát

 Ao nên có kết cấu nền đất tốt, không phèn hoặc mức độ nhiễm phènkhông đáng kể Nên chọn nơi có đất sét hoặc sét pha cát để làm ao nhằmtránh rò rỉ nước và cá phá bờ ra ngoài Bờ ao phải được làm kiên cố đểtránh lũ lụt và mầm bệnh lây lang từ ao khác

Cải tạo ao:

Cải tạo ao là bước đầu quan trọng nhất trong ương nuôi cá Cải tạo đúng kĩthuật sẽ giúp người nuôi nâng cao tỉ lệ sống và hạn chế được nhiều bệnh chocá trong quá trình nuôi Qui trình này được xem như là quá trình cải tạo aochung, có thể ứng dụng cho nuôi các giống cá khác Qui trình cải tạo được tiếnhành theo các bước sau:

Qui trình cải tạo ao

 Tháo cạn nước ra khỏi ao sau khi đào

 Sên vét và hút bùn, chất cặn bã trong đáy ao

 Phơi đáy ao 3-5 ngày (cho ao không có phèn tiềm tàng)

 Nếu ao có phèn tiềm tàng thi nên tháo nước còn lại khoảng 3 cm tính từđáy ao rồi sao đó bón vôi

 Sử dụng CaCO3 (đá vôi) hoặc Ca(OH)2 rải đều khắp ao và bờ ao

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

33

Trang 34

 Sử dụng lưới nilon cao khoảng 40 cm rào chắn xung quanh ao.

 Tháo nước vào ao lúc thủy triều cao nhất qua cống thu nước và phải có lướilọc, chắn rác

Sát trùng nước trước khi thả cá

 Bước 1: (ngày thứ nhất): sau khi lấy nước vào ao (0.8 – 1m) được 2 ngày,hòa NEGUVONA vào xô nước rồi tạt xuống ao với liều 700g/1000m2 đểduyệt tất cả các loài ký sinh trùng (sẽ gây bệnh cho cá con) có trong nước

 Bước 2: (ngày thứ ba): sau khi sử dụng NEGUVON được 2 ngày, tiến hànhhòa tan VIRKON A vào trong xô nước rồi tạt xuống ao để duyệt virus, vikhuẩn và nấm có trong nguồn nước Liều 500b/1000m2

 Bước 3: (ngày thứ năm): sử dụng phân urê (NPK) rải xuống o với liều 2-3kg/1000m3 hoặc sử dụng phân gà, phân cút đã phơi khô (ủ cho hoai)

 Bước 4: (ngày thứ bảy): sau khi bón phân được 2 ngày có thể tiến hành thảcá giống và nuôi

3.2.5.2 Các kĩ thuật cơ bản trong nuôi cá basa – cá tra

Chọn cá giống:

Cá tra phân đàn rất lớn trong thời gian nuôi Chính lý do này, nên chọn đàn cácùng ngày tuổi, cùng kích thướt là đều hết sức quan trọng, nó sẽ quyết định năngsuất nuôi sau này

Nên chọn mua cá giống ở những nơi tin cậy, cá có nguồn gốc rỏ ràng, khỏe mạnhkhông dị hình, không bị trầy trụa, bơi lội nhanh nhẹn, không có chịu trứng bệnh.Con giống có kích thướct từ 8 – 10 cm là thích hợp cho thả nuôi thương phẩm

Mật độ:

Trang 35

Mật độ thả cá nuôi tùy vào quan điểm của từng người nuôi, tuy nhiên mật độ nuôikhoảng 20 -30 con/m2 là thích hợp Khi thả nuôi với mật độ cao, điều cần lưu ý làhàm lượng oxy trong ao thấp, đặc biệt vào lúc sáng sớm Bên cạnh đó nguồnnước trong ao thường xuyên bị ô nhiễm nặng do sự tích tụ của phân cá và thức ăn

dư thừa làm cá chậm lớn và dễ nhiễm bệnh Cần sử dụng Deocore A và Virkon Ađịnh kỳ

Thức ăn:

Có hai lọai thức ăn đang được sử dụng đó là thức ăn công nghiệp và thức ăn chếbiến Trong mô hình nuôi cá basa – cá tra thâm canh, thức ăn được sử dụng chủyếu là thức ăn chế biến Ưu điểm của loại thức ăn này là giá thành rẻ do sử dụngnguyên liệu tại chỗ

Thông thường thức ăn cho mô hình nuôi trong hệ thống nuôi thâm canh có hàmlượng đạm dao động từ 20 - 30 % Lượng thức ăn cho cá tra dao động từ 5 – 20 %/ngày/ tổng trọng lượng cá Lượng thức ăn còn lại được điều chỉnh dựa trên điềukiện thời tiết và tình trạng sức khỏe đàn cá trong ao

Số lần cho cá ăn sẽ tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của cá nuôi, thôngthường dao động từ 2 -4 lần/ngày

Supastock Power Fish Pack 300g

Dầu mực hoặc dầu ăn 100ml

Aqua C Fish 50 – 100g

Aquazyme (hoặc Ca – Omos) 100g

Công thức 1: nguyên liệu chế biến 100kg thứcăn cho cá tra

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

35

Trang 36

Tấm 10kg

Supastock Power Fish Pack 300g

Dầu mực hoặc dầu ăn 100ml

Aqua C Fish 50 – 100g

Aquazyme (hoặc Ca – Omos) 100g

Công thức 2: nguyên liệu chế biến 120kg thứcăn cho cá tra

Cá giống thả thường nhỏ nhất là loại lớn hơn hoặc bằng 1,2 cm: lúc đầu sử dụngloại thức ăn viên có độ đạm 30%

Cá lớn từ 3 -5 cm cho sử dụng thức ăn loại từ ( 26 – 28) % độ đạm

Cá lớn hơn hoặc bằng 6 cm cho sử dụng thức ăn loại từ (18 – 22)% độ đạm

Công thức 3: thức ăn viên công nghiệp

Chăm sóc và quản lí ao nuôi:

Hằng ngày nên kiểm tra cống bọng, bờ bao quanh ao, phát hiện những nơi rò rỉ

Chế độ thay nước là một trong những công việc hết sức quan trọng Không nênthay nước mỗi ngày vì chúng ta không biết chất lượng nước bên ngoài

Trong mùa mưa lũ, nước rất vẫn đục, mang theo nhiều mầm bệnh, thuốc trừ sâuvà ô nhiễm hữu cơ dễ lây bệnh cho cá trong ao Để phòng tránh, khuyến cáo nênthay nước mỗi tháng 2 đợt vào lúc thủy triều lớn nhất Mỗi đợt thay 4 ngày vàmỗi ngày 30% lượng nước trong ao.Một số chú ý khi nuôi cá tra thương phẩmtrong ao đất

Vấn đề thường gặp trong nuôi cá tra thương phẩm:

PH < 7 * Ao bị phèn

* Bón vôi chưa đủ *Thay nước*Thêm vôi CaCO3 100 –

150kg/ha

Trang 37

PH >9 *Bón quá nhiều vôi

*Taảo trong ao nhiều

*Cho ăn nhiều

*Thay nước mới trong 1tuần, mỗi ngày 20%.Giảm lượng thức ăn 20%mỗi ngày trong 3 ngàyliên tục

Nhiệt độ  27oC *Do thời tiết, mưa dài, mùa

đông, ao cạn

*Giảm lượng thức ăn 10%vài ngày

*Antistress 5g/1kg thứcăn, giữ nước ao

Nhiệt độ > 32oC *Trời nắng nóng, mức nước ao

cạn *Thay nước mới, giữ nướccao hơn

*Antistress 5g/1kg thứcăn, giảm thức ăn

Độ trong < 30 cm *tảo nhiều, đáy ao dơ, nhiều

chất lơ lửng *Thay bớt nước, giảm10% lượng thức ăn vài

ngày

*Sử dụng Deocare A500g/1.000m3

Độ trong >50 cm *Thay nước quá nhiều, cho ăn

thiếu, phiêu sinh ít *Bón phân, giảm thaynước

*Tăng thức ăn từ từ mỗingày

Oxy trong nước < 3mg/l *Thức ăn thừa, đáy ao dơ

*Mật độ quá cao *Thay bớt nước, giảm10% lượng thức ăn vài

ngày

*Deocare A 1kg/1.000m3,sang thưa cá ra

NH3 – N >0.1mg/l *Đáy ao quá dơ, thứcc ăn thừa

nhiều, tảo chất

*Cải tạo ao không kỉ

*Thay bớt nước, giảm10% lượng thức ăn vàingày

*Deocare A 1kg/1.000m3

*Đo độ PH và ammoniamỗi ngày vào 7h, 14h

Bảng 10: Vấn đề thường gặp trong nuôi cá tra thương phẩm

3.2.6 Kích thước một số loại bè, lồng nuôi cá

Loài Kích thước Dài (m) x rộng Lượng cá thả Loại cá thả

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

37

Trang 38

cá thả (m) x cao (m) (con)

Tra, Hú, lóc bông BasaBasa, Hú He Tra, chày

(Nguồn: Giáo trình thủy sản đại cương _ Đại Học An Giang, 2003)

3.2.7 Một số bệnh thường gặp của cá basa – cá tra

 Bệnh đốm đỏ Xuất hiện vào lúc giao mùa, nhiễm trên cả cá tra, basa vànhiều loài cá khác Bệnh gây do một số loài vi khuẩn như Aeromonashydrophila và Pseudomonas fluoresen Cá bị bệnh thường bơi lờ đờ trênmặt nước, trên thân xuất hiện điểm xuất huyết nhỏ li ti, nếu bệnh nặng thìcác gốc vây cũng xuất huyết Bụng cá trương to, thành ruột xuất huyết, cá

ít ăn hoặc bỏ ăn Các tia vây lưng, hậu môn và vây đuôi bị rách xơ xác.Cách phòng trị: Nếu cá còn ăn được thức ăn thì trộn thuốc vào thức ăn nhưsau: Nitrofurazon 2 gam (hoặc Oxytetracyclin) 2 gam + Vitamin C, 3gam/100kg cá Cho cá ăn liên tục 5-7 ngày, lưu ý thức ăn trộn thuốc nêngiảm đi một nửa

Trang 39

 Bệnh trắng da (hay bệnh mất nhớt) Bệnh dễ xuất hiện khi cá bị xây xáthoặc bị sốc do đánh bắt, vận chuyển hoặc do nhiệt độ môi trường nướcthay đổi đột ngột Tác nhân gây bệnh là do vi khuẩn Flexibactercolumnaris Cá nhiễm bệnh thường bỏ ăn, yếu dần, gốc vây lưng xuất hiệnmàu trắng, lan dần đến cuống đuôi và toàn thân Bệnh nặng xuất hiện cácvết loét ăn sâu vào cơ Vây cá rách xơ xác yếu ớt rồi chìm xuống đáy vàchết Cách phòng trị: Trộn vào thức ăn Oxytetracycline 5 gam/100kg cábệnh, hoặc Sulfadimezin 5 gam + Oxytetracycline 2 gam/100kg cá Cho cáăn liên tục 5-7 ngày

 Bệnh xuất huyết đường ruột Bệnh xuất hiện vào các tháng mùa khô, khinhiệt độ cao gây cho cá bị xuất huyết nội tạng (chủ yếu ở cá basa) và gâythiệt hại lớn cho nghề nuôi cá basa Tác nhân gây bệnh là vi khuẩnStaphylococcus sp Cá bị bệnh thì bụng bị trương to, hậu môn lồi, sưng đỏ,vây bụng xuất huyết, cá biếng ăn, bơi tách đàn Khi giải phẩu nội tạngthấy đường ruột bị xuất huyết, cơ xoang bụng cũng bị xuất huyết, đôi khimỡ cũng có màu hồng Để phòng bệnh, nhiều chủ bè đã dùng cây cỏ mựcbăm nhỏ, nấu chung với thức ăn, đã phòng bệnh cho cá vào đầu mùa khôrất tốt Lượng dùng: 1kg cỏ mực + 0,5g muối + 70kg cám Cứ cách mộttuần cho ăn một lần Cách trị bệnh Dùng Sulfathiazone 6 gam + Thiromin0,5gam/100kg cá bệnh Hoặc Sulfaguanin 5-10gam + 70kg cám/100kg cábệnh, cho ăn đến ngày thứ 3 thì giảm đi 1/2 liều, đến ngày thứ 5 cá sẽ hếtbệnh

 Bệnh do ký sinh trùng

 Bệnh giun tròn: do tác nhân thuộc giống Philometra ký sinh trong ruộtcá Chúng không gây thành dịch lớn, nhưng ảnh hưởng đến sức tăng

SVTH: HỒ PHƯỚC HIỆP

MSSV: 103108072

39

Trang 40

trưởng của cá, phá hoại niêm mạc ruột và gây viêm ruột, đôi khi tắcruột, thủng ruột hoặc tắt ống dẫn mật

 Bệnh sản lá 16 móc (Dactylogyrus): là loài sán có kích thước cơ thể dài0,5-1mm, thường ký sinh trên mang cá tra và basa Chúng bám chặt vàomang và niêm mạc của mang để hút máu, gây viêm loét mang cá Cáchphòng trị: Treo giỏ thuốc Sulfat đồng (CuSO4) 5-7ppm (1gam trên métkhối nước) hoặc Dipterex 1 5ppm ở đầu bè

3.2.8 Một số hóa chất dùng trong nuôi cá

1 Muối (NaCl):

Xử lý ngoại ký sinh trên cá nước ngọt

Liều lượng: Tắm với nồng độ 1 -3 % trong thời gian 30 phút đến 1 giờ

Lưu ý: Xử lý cá da trơn nồng độ 1-2% theo khả năng chịu đựng của cá, cá <5gnồng độ muối không vượt quá 1%, cá nhỏ hơn <100g nồng độ muối không vượtquá 10%

Ngày đăng: 30/04/2014, 00:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Bản đồ vị trí địa lí tỉnh An Giang - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Hình 1 Bản đồ vị trí địa lí tỉnh An Giang (Trang 13)
Hình 2: Bản đồ phân vùng tỉnh An Giang - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Hình 2 Bản đồ phân vùng tỉnh An Giang (Trang 17)
Bảng 1: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn tỉnh An Giang - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 1 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn tỉnh An Giang (Trang 18)
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang so với cả nước - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh An Giang so với cả nước (Trang 19)
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế theo ngành - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 3 Cơ cấu kinh tế theo ngành (Trang 20)
Bảng 6: Ngân sách đầu tư xã hội - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 6 Ngân sách đầu tư xã hội (Trang 22)
Bảng 7: Năng xuất lao động năm 2003 - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 7 Năng xuất lao động năm 2003 (Trang 23)
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam qua các thời kì - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 8 Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam qua các thời kì (Trang 28)
Bảng 9: Mục tiêu thủy sản đến năm 2010 - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 9 Mục tiêu thủy sản đến năm 2010 (Trang 30)
Bảng 12: Giá trị giới hạn cho phép của các thông số và chất ô nhiễm trong nước sông nơi đặt bè cá - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 12 Giá trị giới hạn cho phép của các thông số và chất ô nhiễm trong nước sông nơi đặt bè cá (Trang 44)
Bảng 13: Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành Thuỷ sản thời kỳ 1991 - -2000 - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 13 Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội ngành Thuỷ sản thời kỳ 1991 - -2000 (Trang 53)
Bảng 14: Giá trị xuất khẩu các lĩnh vực - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 14 Giá trị xuất khẩu các lĩnh vực (Trang 54)
Bảng 15: 5 Doanh nghiệp xuất khẩu cá tra - basa đạt kim ngạch cao của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2007 - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Bảng 15 5 Doanh nghiệp xuất khẩu cá tra - basa đạt kim ngạch cao của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2007 (Trang 58)
Sơ đồ các mối nguy tác động và ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn vệ sinh sản phẩm (nguyên liệu) trong nuôi trồng thủy sản - Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do gia tăng diện tích nuôi cá basa   cá tra và đề xuất biện pháp phát triển ngư nghiệp bền vững cho tỉnh an giang
Sơ đồ c ác mối nguy tác động và ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn vệ sinh sản phẩm (nguyên liệu) trong nuôi trồng thủy sản (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w