1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tiểu luận khủng hoảng tiền tệ châu á và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

19 1,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi các hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân hàng vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính thông qua ngân hàng quốc

Trang 1

I Nguyên nhân

Trên khía cạnh tài chính, cuộc khủng hoảng nổ ra do các nguyên nhân sau:

1 Một là duy trì Tỷ giá ổn định quá lâu so với đồng USD

Việc duy trì này của các nước có nền kinh tế kém phát triển hơn nền kinh tế Mỹ rất nhiều đã khiến cho các nước này thay vì để đồng tiền của nước mình tăng giảm theo đúng giá trị của nó lại phải tiêu tốn hàng chục tỷ USD để cố gắng duy trì mức cân bằng giả tạp tới mức k thể kìm giữ nổi

2 Hai là buông lỏng và bao che những yếu kém trong công tác điều phối kiểm tra giám sát hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng.

Trong khi các hoạt động của các cơ sở kinh doanh và các tổ chức tài chính ngân hàng vẫn dậm chân tại chỗ, thậm chí chính phủ đã can thiệp vào hệ thống tài chính thông qua ngân hàng quốc doanh hoặc chỉ thị cho những ngân hàng tư nhân cấp tín dụng với lãi suất thấp cho các công ty được chính phủ ưu đãi Khắp khu vực tràn lan tình trạng bao cấp và cắt giảm thuế cho những ngành công nghiệp có chọn lọc và những ngành độc quyền được chính phủ bảo hộ Lơi dụng kẻ hở này các doanh nghiệp

đã tìm cách vay ngắn hạn của nước ngoài (chủ yếu là đầu tư vào bất động sản với ý định trải các khoản nợ và sự thua lỗ trong sản xuất công nghiệp, nhưng thị trường bất động sản trong thời gian này lại có nhiều bất lợi) gây ra khoản nợ không có khả năng thanh toán trong khi thị trường biến động

3 Ba là cán cân vãng lai thâm hụt lớn và cơ cấu đầu tư nước ngoài đổ vào trong nước không hợp lý.

Đây chính là nguyên nhân gây mất ổn định trong hệ thống tài chính tiền tệ Sự suy giảm giá trị hàng xuất khẩu và nền kinh tế giảm sức cạnh tranh, nhưng hàng nhập khẩu lại tăng nhất là hàng xa xỉ ( đặc biệt là Thái Lan) Cơ cấu vốn nước ngoài đổ vào các nước chịu khủng hoảng nặng có sự mất an toàn cao do khối lượng nợ lớn tăng nhanh chủ yếu là vốn ngắn hạn (vốn vay thời hạn dưới 1 năm chiếm tới 70% tổng số

nợ khu vực tư nhân tại Thái Lan và Indonesia) Mặt khác, vốn huy động gián tiếp qua thị trường chứng khoán tăng nhanh trong khi dự trũ quốc gia không cao, vì kim ngạch xuất khẩu giảm dần, nghĩa là có sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài (mà nguồn này là chủ yếu dùng cho đầu tư bất động sản) dẫn tới việc cung tiền vượt quá cầu tiền,

Phần 1: Khủng hoảng tiền tệ

Châu Á 1997

Trang 2

tình trạng nợ đọng ra tăng và việc mua vét ngoại tệ để trả đáo hạn là không thể tránh khỏi

4 Các nguyên nhân khác

Sự lũng đoạn của các tổ chức tài chính và mối liên quan chặt chẽ giữa tổ chức này với chính phủ, đã gây nên tình trạng tham nhũng nặng nề ở các nước châu Á khiến cho chính phủ không thể mạnh tay trong việc xử lý những bê bối nội bộ của mình Hay

do hệ thống pháp luật không thích hợp với cơ chế mới hệ thống giáo dục kém phát triển, thiếu trầm trọng các lao động lành nghề, mức lương thực tế tăng nhanh trong lúc Trung Quốc và Ấn Độ tham gia vào thị trường xuất khẩu với chi phí thấp, giá thành hạ làm cho các nước bị khủng hoảng mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Hầu như, những lý do trên đây là những vấn đề còn tồn tại ở các nước bị khủng hoảng do mối quan hệ ràng buộc giữa Nhật Bản, Hàn Quốc với các nước ASEAN, nên khi cuộc khủng hoảng nổ ra ở một nước, nó lập tức lan truyền sang các nước khác theo mô hình phân tích ở trên, gây ảnh hưởng nặng nề cho các nước đó Vì vây, nước này không thể

đổ lỗi hoàn toàn những hậu quả của cuộc khủng hoảng là do nước kia

II Diễn biến cuộc khủng hoàng tiền tệ Châu Á

2.1 Thái Lan

Khi đã xuất hiện 4 nguy cơ khủng hoảng, những người có đầy đủ thông tin về các nguy cơ sẽ rất lo lắng Lo sợ các ngân hang và tổ chức tài chính sẽ phá sản, do đó thúc đẩy họ rút tiền ra khỏi các tổ chức này Lo sợ tỷ giá hối đoái tang, đồng Baht mất giá sẽ khiến họ đổ xô mua ngoại tệ mạnh, làm cho cầu ngoại tệ tang

Thực tế ở Thái Lan, từ đầu năm 1996 đến 1997, người dân và các nhà đầu tư bắt đầu rút vốn của mình ở dạng tiền mặt ra khỏi các ngân hang và các công ty tài

chính, buộc chính phủ phải đóng cửa thị trường chứng khoán một ngày 3/3/1997 và

yêu cầu mọi tổ chức tài chính phải tăng them dự trữ tiền mặt, và công bố 10 công ty tài chính đang ở trạng thái không bình thường (Unico Housing Co.Ltd; Thai – Fuji; Royal International; Sri Dhana; Eastern Finance;County v.v…)

Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản do thị trường nhà đất đóng băng, mất khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn

Ngày 4 và 5/3/1997, hơn 21,4 tỷ Baht (tương đương 820 triệu USD thời đó) đã

được rút khỏi ngân hang và các công ty tài chính

Sau đó 1 tháng, ngày 9/4/1997 tỷ giá hối đoái đã tang lên 26,08 Baht/USD, cao

nhất từ năm 1991, nguyên nhân do lực cầu ngoại tệ quá mạnh

Ngày 25/6/1997, chính phủ Thái Lan đã ra lệnh đóng cửa hàng loạt các công ty

tài chính trên cả nước, ước tính khoảng 64% bị đóng cửa Để giữ tỷ giá hối đoái trong điều kiện lượng ngoại tệ được đặt mua tăng vọt, chính phủ đã phải bán ngoại tệ, làm

dự trữ ngoại tệ giảm mạnh từ 38,78 tỷ USD trong tháng 6/1996 còn 37,7 tỷ USD trong

Trang 3

tháng 12/1996 và còn 31,4 tỷ USD vào 30/6/1997, và càng ngày lượng dự trữ ngoại tệ

của Thái Lan giảm xuống, khả năng bán ngoại tệ không còn, dãn đến không thể duy trì

tỷ giá hối đoái

Có lẽ thấy được nguy cơ này, ngày 2/7/1997, chỉnh phủ Thái Lan tuyên bô thả

nổi đồng Baht, kết quả tỷ giá từ 25 Baht(6/1997) tăng lên thành 53 Baht/USD (1/1998), tức là 112% trong vòng 6 tháng

Như vậy, nền kinh tế Thái Lan đã rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng trong lịch sử, và tai hại hơn đây chính là sự khởi đầu cuôc bùng nổ của khủng hoảng ở Châu Á

2.2 Philippines

Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3/7 ngân hàng trung ương

Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24%.Nhưng không

thành công, vào ngày 11/7/1997, Philippines tuyên bố thả nổi đồng Peso Khiến cho

đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm

2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng

Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liên quan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chính trị, vào năm

2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứng khoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000 điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá

Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Macapagal-Arroyo lên làm tổng thống

2.3 Malaysia

Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2/7/1997), đồng Ringgit của

Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bị sức ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuống còn 4,20 Ringgit/Dollar

Ngày 11/8/1997, Malaysia tuyên bố không can thiệp vào thị trường hối đoái

(thực chất là thả nổi đồng Ringgit), nguyên do là phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc buôn bán đồng tiền này trên thị trường tiền ở nước ngoài Những người tham gia thị trường tiền duy trì tài khoản bằng đồng Ringgit ở trạng thái bán ra nhiều hơn mua vào với dự tính về sử giảm giá của đồng Ringgit trong tương lai Kết quả là lãi suất trong nước của Malaysia giảm xuống khuyến khích dòng vốn chảy ra nước ngoài Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý ba năm 1997

2.4 Indonesia

Trang 4

Tháng 7, khi Thái Lan thả nổi đồng Baht, cơ quan hữu trách tiền tệ của

Indonesia đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar Mỹ

từ 8% lên 12% Tháng 8, đồng Rupiah bị giới đầu cơ tấn công và đến ngày 14 thì chế

độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý được thay thế bằng chế độ thả nổi hoàn

toàn(14/8/1997) Đồng Rupiah liên tục mất giá IMF đã thu xếp một gói viện trợ tài

chính khẩn cấp cho Indonesia lên tới 23 tỷ Dollar, nhưng Rupiah tiếp tục mất giá do

đồng Rupiah bị bán ra ồ ạt và lượng cầu Dollar Mỹ ở Indonesia tăng vọt Tháng 9, cả

giá Rupiah lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm xuống mức thấp lịch sử

Rupiah mất giá làm suy yếu bảng cân đối tài sản của các công ty Indonesia, đặc biệt là làm cho món nợ ngân hàng nước ngoài của các công ty tăng lên Trước tình hình đó, nhiều công ty đẩy mạnh mua Dollar vào (có nghĩa là bán Rupiah ra) khiến cho nội tệ thêm mất giá và tỷ lệ lạm phát tăng vọt

Lạm phát tăng tốc cùng với chính sách tài chính khắc khổ theo yêu cầu của IMF khiến chính phủ phải bỏ trợ giá lương thực và xăng đã khiến giá hai mặt hàng này tăng lên Tình trạng bạo động để tranh giành mua hàng đã bùng phát Riêng ở Jakarta đã có tới 500 người bị chết do bạo động Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng xã hội đã dẫn

tới khủng hoảng chính trị Giữa năm 1998, Suharto buộc phải từ chức tổng thống.

Trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái giữa Rupiah và Dollar vào khoảng 2000 : 1 Nhưng trong thời kỳ khủng hoảng, tỷ giá đã giảm xuống mức 18.000 : 1

Do thay đổi tỷ giá hối đoái và do nhiều nhân tố khác, GDP theo Dollar Mỹ của Indonesia đã giảm đi

2.5 Hàn Quốc

Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có một gánh nặng

nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, còn ngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy ra Khi thị trường châu Á

bị khủng hoảng

Năm 1996, tỷ giá bình quân đồng Won là 844,2 KRW/USD, ngày 30/9/1997 là

914,8 KRW/USD, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán ra chứng khoán của Hàn Quốc

ở quy mô lớn Ngày 28/11/1997, tổ chức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3, sau đó vào ngày 11/12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp

phần làm cho giá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá

Riêng trong ngày 7/11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24/11 lại

tụt 7,2% do tâm lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ

Ngày 14/12/1997, Chính phủ Hàn Quốc tuyên bố mất kiểm soát đồng Won, ngày 23/12/1997, tỷ giá đồng Won là 1200 KRW/USD và đạt kỷ lục là xấp xỉ 1700

KRW/USD

2.6 Hong Kong

Trang 5

Tháng 10/1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiền này vốn được

neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấn công Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đó tương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơ quan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền của mình Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ

đổ vỡ Từ ngày 20/10 đến 23/10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23%.

Ngày 15/8/1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành

23% và ngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắt đầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áp lực giảm giá cổ phiếu Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởng Tài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã công khai tuyên chiến với giới đầu cơ Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷ Dollar Hong Kong (tương đương 15

tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Sau này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lời khoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ)

Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứng khoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhà đầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủ Malaysia và bởi sự sụp

đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga

Tỷ giá giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ở mức 7,8 : 1

3 Hậu quả

Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồm mất

giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nước châu Á.

Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998 Những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan

Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đi của Suharto

ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan Tâm lý chống phương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào George Soros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triển mạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu

Cụ thể các nước như sau:

Hậu quả thứ nhất về tình trạng tăng tỷ giá hối đoái khá nhanh ở các nước

bị ảnh hưởng

Bảng 1: Tỷ giá hối đoái bình quân ở các nước thì hầu hết tăng khá mạnh

Tỷ giá bình quân 1996 1997

Trang 6

Baht/USD 25,61 47,25 Peso/USD 26,29 39,50 Ringgit/USD 2,52 3,88 Rupiah/USD 2.308 5.400 KRW/USD 844,2 1.695,8

Nguồn: IMF

Hậu quả thứ 2 là sự thua lỗ và phá sản với quy mô và tốc độ bất thường của hệ thống ngân hàng, tài chính quốc gia

Bảng 2: Tình trang thua lỗ và phá sản ở các hệ thống ngân hàng, TCTC

Năm tài chính từ 1/4/1997 đến 31/3/1998 Nước Tổng số

ngân hàng

Số ngân hàng bị đình chỉ

Số ngân hàng bị quốc hữu hóa

Số ngân hàng bị sáp nhập

Số ngân hàng bị bán cho nước ngoài

Tổng số ngân hàng

có vấn đề

(Nguồn : Trích “khủng hoảng kinh tế tài chính 1997-1999 – GS Nguyễn Thiện Nhân”)

Hậu quả thứ ba, sự phá sản có quy mô lớn của các doanh nghiệp

Bảng 3: Tình trạng thua lỗ và phá sản của các doanh nghiệp

Nước Thời gian Số doanh nghiệp phá sản

Thái Lan Tháng 1/1998 đến

tháng 5 năm 1998 3.961 doanh nghiệp ngừng hoạt động, trong đó có 582 phá sản Malaysia Năm 1996

Năm 1997

489 doanh nghiệp phá sản 6.583 doanh nghiệp phá sẩn (gấp hơn 13 lần

so với năm 1996) Indonesia Năm 1998 Khoảng 80% doanh nghiệp ngưng hoạt động Hàn Quốc Năm 1997

Năm 1998

14.000 doanh nghiệp phá sản 54.000 doanh nghiệp phá sản (gấp 3,8 lần năm 1997)

(Nguồn: Trích “khủng hoảng kinh tế tài chính 1997-1999 – GS Nguyễn Thiện Nhân”)

Hậu quả thứ tư, số người thất nghiệp tăng nhanh và tăng trưởng kinh tế giảm sút.

Trang 7

Bảng 4: Tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp

Nước Tăng trưởng kinh tế (%) Tỷ lệ thất nghiệp(%)

Philippine

s

(Nguồn: Trích “khủng hoảng kinh tế tài chính 1997-1999 – GS Nguyễn Thiện Nhân”)

Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng khác là là GDP và GNP bình quân đầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi Nội tệ mất giá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này Cuốn CIA World Fact Book cho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800 USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống 10.400 USD

Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phần dẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính

Brasil Một số nước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế

cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuất khẩu giảm và do FDI vào

giảm

4 Biện pháp khắc phục

Thực tế thì mỗi trong số các nước nói trên có một

cách đối phó với khủng hoảng và lộ trình tái cấu trúc khác

nhau cùng với những trải nghiệm khác nhau nhưng nghiên

cứu kỹ thì thấy một số điểm chung có thể đúc kết là:

Thứ nhất, ổn định hệ thống tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng đối

với khả năng quản lý kinh tế, ổn định vĩ mô của chính phủ

Thứ hai, áp dụng khẩn cấp các biện pháp ngăn chặn sự tháo chạy khỏi hệ thống

ngân hàng, duy trì hệ thống thanh toán, hạn chế sự hỗ trợ thanh khoản từ NHTW, hạn chế tối đa sự lệch lạc dòng chảy tín dụng, duy trì kiểm soát tiền tệ

và ngăn chặn dòng vốn rút ra nước ngoài

Thứ ba, hỗ trợ thanh khoản của NHTW lúc đầu là hết sức cần thiết nhưng sau

đó phải giảm dần kèm theo với việc đóng cửa một số tổ chức tài chính yếu kém khi điều kiện đã chín muồi tập trung xử lý những vấn đề cấp thiết như: tỷ giá, lãi suất ngắn hạn, dự trữ ngoại tệ hơn là tập trung vào xử lý những vấn đề tổng thể vốn đã bị mất cân đối nghiêm trọng

Thứ tư, thiết lập một hành lang pháp lý phù hợp làm cơ sở cho việc loại bỏ khỏi

hệ thống những tổ chức tài chính yếu kém, củng cố tiềm lực cho các tổ chức tài

Trang 8

chính thiết yếu đối với nền kinh tế, xử lý các khoản nợ xấu, tăng cường thể chế giám sát và minh bạch hóa các hoạt động của hệ thống tài chính

Thứ năm, cần có những quy định cụ thể về các phương pháp và tiêu chí định giá

phù hợp và tham chiếu kết quả của nhiều tổ chức định giá chuyên nghiệp khác nhau Việc thiết lập các tiêu chí đồng bộ, đầy đủ và công khai minh bạch đóng vai trò quan trọng nhất đối với quá trình tái cấu trúc

Thứ sáu, việc định giá tài sản, xác định thiệt hại của các khoản nợ xấu và việc

tái cấu trúc vốn là cần thiết và cũng phải được thực thi và giám sát một cách chặt chẽ Nếu số ngân hàng này không đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu thì bắt buộc phải tái cấu trúc vốn và nâng cao tỷ lệ an toàn vốn đồng thời phải được giám sát chặt của các cơ quan công quyền

Thứ bảy, chính phủ đứng ra mua lại, quốc hữu hóa một số ngân hàng hoặc

thành lập một công ty quản lý mua bán nợ trung gian sau đó sẽ tái vốn hóa những ngân hàng này hoặc bán lại cho một ngân hàng, tổ chức tài chính khác

Thứ tám, chi phí cho quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tài chính là vô

cùng lớn Ước tính chi phí thiệt hại ngân sách phải gánh chịu để đối phó với khủng hoảng tài chính và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tài chính của 4 nước Châu á năm 1997 – 1998 nằm trong khoảng từ 15 đến 45% GDP

Thứ chín, vai trò của nhà nước và sự quyết tâm chính trị cao là nhân tố quan

trọng giúp cho quá trình tái cấu trúc thành công

Thứ mười, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không thể tách rời với tái cấu trúc hệ

thống doanh nghiệp

Sau khi tái cấu trúc, những tiêu chuẩn, chuẩn mực nội địa của hệ thống ngân hàng – tài chính của tất cả các nước đều tiến gần hơn tới những chuẩn mực và thông lệ quốc tế Sự minh bạch hóa thông tin hệ thống tài chính, ngân hàng được cải thiện, khả năng giám sát và cảnh báo sớm của các cơ quan chức năng cũng hiệu quả hơn Đặc biệt, kỹ năng phân tích và dự báo từ những bài học trong quá khứ và các trường hợp điển hình trên thế giới được vận dụng sát với thực tiễn và hoàn cảnh điều kiện của mỗi nước cũng là những nhân tố đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng – tài chính của các nước trong suốt giai đoạn từ khi xảy ra khủng hoảng đến nay

I Nguyên nhân

Phần 2: Khủng hoảng tài chính thế giới 2008

Trang 9

1.1 Nguyên nhân sâu xa:

Chính phủ Mỹ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài.

Để phục hồi nền kinh tế sau cuộc suy thoái 2001 và khủng bố 11/9, FED đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuống 1,75%), chính sách nơi lỏng tiền tệ đã kích thích người dân vay tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạo hiểm

Sự buông lỏng trong cơ chế quản lý nhà nước.

Mỹ cho phép các ngân hàng thương mại hoạt động đa năng khắp cả nước, thay

vì hạn chế mỗi ngân hàng ở một bang Các ngân hàng thương mại hoạt động như công

ty đầu tư tài chính Mỹ còn còn cho mở cửa tự do cho mọi loại công cụ tài chính mới xuất hiện mà không có sự kiểm soát nào, cho phép các công ty bảo hiểm cả những gì gần như không thể bảo hiểm được như bảo hiểm giá trị chứng khoán, nhất là loại chứng khoán không có bảo chứng Khi thị trường xuống dốc, các công ty này phá sản

vì không có khả năng thanh toán Ngoài ra, Mỹ cũng cho phép các hành động đầu cơ, bán khống

1.2 Nguyên nhân trực tiếp

Nợ dưới chuẩn

Được hiểu là các khoản vay cho các đối

tượng có mức tín nhiệm thấp Những đối tượng

này là những người nghèo, không có việc làm

ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử

thanh toán tín dụng không tốt trong quá khứ

Những đối tượng này tiềm ẩn khả năng không

thanh toán được khi nợ đến hạn Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được thực hiện đối với các sản phẩm cho vay thế chấp mua nhà, trả góp ô tô, thẻ tín dụng v.v…

Sự bùng nổ của cho vay nợ dưới chuẩn bắt nguồn từ việc bất cân đối về nguồn vốn tín dụng toàn cầu, trong khi nguồn vốn tín dụng gia tăng từ các chính sách tiền tệ

mở, thì nhu cầu vốn của các doanh nghiệp sau các bê bối tài chính tại Mỹ như Enron, Worldcom v.v… lai suy giảm Sự bất cân dối này dẫn đến việc nguồn vốn sử dụng không hiệu quả Cho vay nợ dưới chuẩn là biện pháp giải quyết thừa vốn và tối đa hóa lợi nhuận nhưng việc cho vay dưới chuẩn thái quá làm cho việc mất kiểm soát tín dụng, đây chính là nguyên nhân tạo nên khủng hoảng

Chứng khoán hóa

Là quá trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản trở thành những chứng khoán có tính thanh khoản cao (cụ thể là chứng khoán hóa BĐS)

Trang 10

Khi nền kinh tế đi xuống, người vay tiền mua nhà không trả được các khoản vay mua nhà thì rủi ro tín dụng được chuyển sang các gói trái phiếu có các danh mục tín dụng bất động sản tài sản đảm bảo Khủng hoảng càng gia tăng thì việc phát mại tài sản càng tăng, làm cho bất động sản càng giảm Điều này có nghĩa là giá trị tài sản đảm bảo của trái phiếu càng giảm và rủi ro tín dụng càng tăng Vòng xoáy tiếp tục như vậy, làm cho giá chứng khoán sụt giảm mạnh Các ngân hàng đầu tư mặc dù không nắm giữ toàn bộ rủi ro nhưng cũng trực tiếp hoặc gián tiếp duy trì một số danh mục chứng khoán liên quan đến bất động sản Hậu quả, là hàng loạt ngân hàng đầu tư lần lượt báo cáo khoán lỗ kinh doanh

Các công ty định mức tín nhiệm

Là tổ chức đặc biệt đứng ra xếp hạng các rủi ro của các doanh nghiệp, các khoản vay tín dụng, có thế chấp Việc các công ty này đưa ra mức tín nhiệm đối với một doanh nghiệp, ngân hàng gây ra sức ì tâm lý đến các nhà đầu tư Mặc dù, các tổ chức định mức tín nhiệm luôn khẳng định rằng họ tuân thủ một cách chặt chẽ những quy tắc đạo đức nghề nghiệp, thực tế đã trả lời rằng hàng loạt những khoản vay được định giá AAA để thực hiện chứng khoán hóa là những khoản vay thứ cấp, người đi vay k trả được nợ, dẫn đến hiệu ứng domino trong hệ thống tài chính

CDS – hợp đồng hoán đổi tín dụng

CDS giống như hợp đồng bảo hiểm, vì chúng có thể được các chủ nợ mua để phòng nguy cơ bên vay không thanh toán được nợ Tuy nhiên, trên thực tế, do không

có yêu cầu cầm cố tài sản nào nên CDS cũng có thể được sử dụng cho các mục đích đầu cơ Do ngày càng có nhiều các công ty của Mỹ không thanh toán được số chứng khoán phát hành khi suy thoái kinh tế ngày một lún sâu nên sự đổ vỡ của các CDS là điều không thể tránh khỏi, và phản ứng dây chuyền sự đổ vỡ của CDS hoàn toàn có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính

Mua bán khống

Các giới đầu cơ ồ ạt vay những cổ phiếu sụt giảm của những tập đoàn vay dưới chuẩn rồi ồ ạt bán ra, tạo nên áp lực giảm giá lớn không gì cứu vãng nổi Sau khi giảm đến mức nào đó, họ sẽ mua và trả lại nơi cho vay cộng thêm ít phí, còn bao nhiêu tiền chênh lệch họ sẽ hưởng trọn

Khủng hoảng niềm tin

Các ngân hàng đánh độ lẫn nhau về mức độ cho vay và tín chấp tài sản Những giao dịch phức tạp được tạo ra để loại bỏ rủi ro và che giấu những trượt giá giá trị tài sản thực của ngân hàng Khi con người ta cảm thấy thua lỗ và nhìn vào hệ thống tài chính, khi đó thua lỗ xuất hiện, cả thị trường xuống dốc, tất cả mọi người đều bị thua

lỗ, độ tin cậy bị xói mòn, xuống cấp

2 Diễn biến khủng hoàng tài chính toàn cầu 2008

Ngày đăng: 29/04/2014, 23:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình trang thua lỗ và phá sản ở các hệ thống ngân hàng, TCTC - tiểu luận khủng hoảng tiền tệ châu á và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Bảng 2 Tình trang thua lỗ và phá sản ở các hệ thống ngân hàng, TCTC (Trang 6)
Bảng 3: Tình trạng thua lỗ và phá sản của các doanh nghiệp - tiểu luận khủng hoảng tiền tệ châu á và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Bảng 3 Tình trạng thua lỗ và phá sản của các doanh nghiệp (Trang 6)
Bảng 4: Tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp - tiểu luận khủng hoảng tiền tệ châu á và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Bảng 4 Tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp (Trang 7)
Bảng tăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro và EU 2006-2009 - tiểu luận khủng hoảng tiền tệ châu á và khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Bảng t ăng trưởng kinh tế của khu vực đồng Euro và EU 2006-2009 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w