THẢO LUẬN :tài chính công (phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập công. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến thu nhập công ở Việt nam hiện nay )
Trang 1Đề tài: phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập công Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến thu nhập công ở Việt nam hiện nay.
Mở bài
I, Lý luận chung về thu nhập công
1.1Khái niệm, đặc điểm, phân loại
1.1.1 Khái niệm về thu nhập công
- Thu nhập công là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận của cải xã hội để hình thành nên các quỹ tài chính nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước
- Thu nhập công là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành các quỹ tài chính của nhà nước
Thu nhập công được xây dựng trên nền tảng kinh tế đó là sự trao đổi giữa các nghĩa vụ: các cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ trích một phần thu nhập vào nngaan sách nhà nước để hình thành nên các quỹ tài chính, đổi lại, nhà nước có nghĩa vụ
sử dụng hiệu quả nguồn thu nhập này vào các mục đích kinh tế xã hội
1.1.2 Đặc điểm của thu nhập công
- Đặc điểm nổi bật nhất của thu nhập công là phần lớn các khoản thu nhập công được xây dựng trên nền tảng nghĩa vụ vông dân, điển hình là thuế Ngoài ra, thu nhập công còn bao gồm các khoan thu dựa trên cơ sở trao đổi như phí và lệ phí,các khoản thu do thỏa thuận như vay mượn nước ngoài, các khoản thu do người dân tự nguyện đóng góp chiếm tỷ trọng không đáng kể
- Phần lớn các khoản thu nhập công không mang lại tính bồi hoàn trực tiếp,
do đa số các khoản thu nhập công được lấy từ thuế, mà các cá nhân và tổ chức nộp
Trang 2nhà nước Tuy nhiên nhà nước sẽ dùng thuế nhằm tạo ra các hàng hóa và dịch vụ công sẽ được thụ hưởng bởi chính người dân.Như vậy, các khoản thu nhập công sẽđược chuyển trở lại cho dân chúng một cách gián tiếp
- Thu nhập công gắn chặt với việc thực hiện các nghĩa vụ của nhà nước.Nhà nước thu để tài trợ cho mọi hoạt động của nhà nước, tức là thu để chi tiêu công chứ không phải thu để tìm kiếm lợi nhuận Do đó, thu nhập công được phát triển theo các nhiệm vụ của nhà nước Không thể đòi hỏi nhà nước gia tăng hoạt động của mình trên cơ sở giảm mức động viên từ GDP
-Thu nhập công khó kiểm soát và đánh giá một cách hiệu quả Phần lớn chi tiêu của nhà nước tạo ra hàng hóa, dịch vụ công là những sản phẩm được tiêu dùngcông cộng, nên không có người thụ hưởng cụ thể để kiểm soát quá trình chi tiêu Mặt khác, nhà nước không phải là một doanh nghiệp nên không thể lấy tiêu chí lợi nhuận làm thước đo hiệu quả hoạt động Phần lớn các khoản chi tiêu công của nhà nước mang tính chất công cộng, không đòi hỏi người thụ hưởng phải trả phí nên không thể so sánh doanh thu, chi phí như một doanh nghiệp bình thường
1.1.3 Phân loại thu nhập công
Phân loại thu nhập công nhằm quản lý và sử dụng các nguồn lực công một cách phù hợp với pháp luật và có trách nhiệm trước công chúng
a, Căn cứ theo tính chất của thu nhập công:
-Các khoản thu từ thuế: là các khoản thu mang tính chất bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp, xây dựng trên nghĩa vụ của công dân Thuế chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước
- Các khoản thu không phải thuế: bao gồm phí, lệ phí, quyên góp, vay
mượn là các khoản thu không mang tính đối giá và được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận giữa dân chúng và chính phủ Mặc dù chiếm tỷ trong nhỏ nhung đây là các
Trang 3b,Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ
-Thu trong nước: Thuế, phí, lệ phí, vay mượn trong nước, khai thác và bán tài nguyên, thu khác Thu trong nước là nguồn nội lực cơ bản giúp Chính phủ xây dựng một ngân sách nhà nước chủ động , mọi sự dựa dẫm vào bên ngoài đều để lại những hậu quả lâu dài, nền tài chính chỉ lành mạnh và bền vững khi nguồn thu dựa chủ yếu vào nội lực của nền ki00000000bnh tế quốc dân
- Thu ngoài nước: Bao gồm các khoản thu từ đầu tư nước ngoài, viện trợ nước ngoài, vay nước ngoài Đây là các nguồn ngoại lực giúp nhà nước tích tụ và tập trung vốn đầu tư vào nhiều công trình then chốt, từ đó tạo ra các bước chuyển đang kể trong tiến trình phát triển
c, Căn cứ vào nội dung kinh tế:
- Khoản thu không mang nội dung kinh tế bao gồm:
Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn được xây dựng trên cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân và nhà nước
Quyên góp và viện trợ nước ngoài là những khoản thu hình thành trên cơ sở tự nguyện nhỏ dần về mặt tỷ trọng Đây là những khoản thu không mang tính chất đôúi ứng với việc thụ hưởng các hàng hóa dịch vụ công của chủ thể
-Khoản thu mang nội dung kinh tế: bao gồm lệ phí, phí, vay nợ, cho thuê công sản,bán tài nguyên thiên nhiên
Phí và lệ phí là những khoản thu mang tính chất đối giá, có tỷ trọng nhỏ hơn son với thuế nhưng góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả cung cấp và sử dụng hàng hóa dịch vụ công, đảm bảo phân phối một cách công bằng phúc lợi công cộng cho mọi công dân trong xã hội
Trang 4Vay nợ nước ngoài mang tính chất bồi hoàn, đẩy nhanh tốc độ tích tụ và tập trung vốn tạo từ những công trình lớn khi các khoản thu từ phí, lệ phí, thuế chưa đáo ứng
đủ nhu cầu chi đầu tư phát triển của nhà nước
Cho thuê công là khoản thu tương đối hấp dẫn nhưng cái giá phải trả cho sự tổn hại
về thiên nhiên và tài nguyên sau thời hạn cho thuê là tương đối lớn
Thu từ bán tài nguyên thiên nhiên là các khoản thu do bán quặng, dầu thô, than tài nguyên thiên nhiên là nguồn lợi do thiên nhiên ban tặng và đa phần không thể tái tạo được nên cần phải khai thác một cách hợp lý
d, Căn cứ vào tính chất phát sinh:
-Thu thường xuyên: bao gồm thuế, phí, lệ phí là các khoản thu phát sinh đều đặn và ổn định liên tục về số lượng và thời gian thu
-Thu không thường xuyên: vay nợ, vay viện trợ nước ngoài, là các khoản thumang tính chất thời điểm, không thường xuyên, không ổn định về lượng và thời gian thu
II, Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập công và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến thu nhập công ở Việt Nam hiện nay.
2.1 Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay
a, Thu NSNN trước khi Việt Nam gia nhập WTO
( Tỉ lệ % )
2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Thu trong nước 50.59 51.29 51.67 54.77 52.49 52.03 55.17 55.13Thu từ dn nhà nước 21.7 20.24 18.88 16.85 17.12 16.58 15.94 16.43Thu từ dn có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài
5.22 5.87 6.53 7.91 8.36 9.25 9.94 10.52
Thu khác 17.64 18.91 19.46 23.06 19.59 18.3 19.42 17.74
Trang 5Thu từ hải quan 20.89 25.49 22.23 18.29 16.7 15.32 19.11 21.82Thu viện trợ k hoàn lại 2.23 1.82 1.95 1.51 1.66 2.83 1.35 1.74
Bảng: Cơ cấu thu NSNN Việt Nam từ năm 2000 đến 2008 (Nguồn Niên giám thống
kê Bộ Tài chính)
Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, dầu thô là khoản thu có đóng góp lớn nhất vào tổng thu ngân sách nhà nước hàng năm (29% tổng thu ngân sách nhà nước vào các năm 2005- 2006) Nhưng đây là khoản thu không vững chắc vì còn phụ thuộc giá dầu thế giới và nguồn dự trữ dầu Thu xuất nhập khẩu chiếm tỉ trọng tương đối lớn (khoảng 18-23%/ năm) trong tổng thu ngân sách nhà nước tuy nhiên đang có xu hướng giảm về tỷ trọng, năm 2001 đạt 25,49% nhưng đến năm 2006 giảm còn 15,32% Thu từ thành phần kinh tế nhà nước có xu hướng giảm trong khi khi thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực ngoài quốc doanh có
xu hướng tăng lên
b, Thu NSNN từ khi Việt Nam gia nhập WTO đến nay
Sau khi gia nhập WTO, thu NSNN Việt Nam có những thay đổi đáng kể: Thu ngân sách nhà nước không chỉ tăng về tổng số thu mà nguồn thu cũng đã dần
ổn định với việc tăng tỷ trọng thu trong nước, giảm thu từ tài nguyên thiên nhiên, trong đó: Thu trong nước vẫn chiếm phần lớn đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước và đang có xu hướng tăng Trong đó khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá mạnh với 10,52% năm 2008, gấp đôi tỷ trong khu vực này năm
2000 với 5.22% Thu từ dầu thô có xu hướng giảm từ 29,82% năm 2006 xuống còn 24,37% năm 2007 và 21,31% vào năm 2008 Thu từ xuất nhập khẩu có xu hướng tăng cả về hai chỉ tiêu: thuế xuất nhập khẩu, tiêu thu đặc biệt; và thuế Giá trị gia
Trang 6tăng Nhưng nhìn chung số thu NSNN từ nội lực nền kinh tế vẫn còn thấp, thu NSNN còn chứa nhiều yếu tố đột biến, bất ổn định
Năm 2011, với những diễn biến thăng trầm kinh tế, Việt Nam còn phải chịu khủng hoảng tài chính thế giới, trong điều kiện khó khăn đó với tinh thần chủ độngthích ứng với tình hình, Chính phủ đã có nhiều cố gắng áp dụng nhiều biện pháp quản lý, nuôi dưỡng nguồn thu và xử lý các vi phạm , ban hành và triển khai quyết liệt Nghị quyết 11nên công tác thu chi ngân sách trong thế chủ động Theo Báo cáothẩm tra của Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, năm 2011, tổng thu
NSNN đạt 962.982 tỷ đồng, Thu ngân sách năm 2011 vượt kế hoạch 21,3% Trong
đó, thu nội địa từ sản xuất kinh doanh vượt trên 30% Thu từ dầu thô tăng 40.905
tỷ đồng, thu nội địa từ sản xuất kinh doanh tăng 35.812 tỷ đồng, thu cân đối từ xuấtnhập khẩu tăng 17.065 tỷ đồng, thu về nhà đất tăng 25.918 tỷ đồng
Theo Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, số thu NSNN vượt dự toán chủ yếu từ yếu tố khách quan, nhất là do giá cả tăng (chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 tăng 18,13% so với năm 2010, giá dầu thô tăng 28 USD/thùng so với giá dự toán,
tỷ giá tính thuế thực tế cao hơn tỷ giá khi xây dựng dự toán)
Bên cạnh đó, tăng thu còn nhờ việc điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và tăng thu các khoản về nhà đất Thu từ sản xuất kinh doanh chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số tăng thu Điều này phản ánh thu NSNN tuy tăng cao nhưng chưa bắt nguồn từ nội lực kinh tế và chưa thực
sự vững chắc
Năm 2012, thu ngân sách nhà nước đạt 607.844 tỷ đồng, tăng 12,3% Theo
số liệu được Tổng Cục thuế công bố, kết quả thu ngân sách nhà nước năm 2012 do ngành Thuế quản lý ước đạt 607.844 tỷ đồng, bằng 104,5% so với dự toán, tăng 12,3% so với thực hiện năm 2011 Trong đó, thu dầu thô ước đạt 140.107 tỷ đồng, bằng 161% so với dự toán (vượt 53.107 tỷ đồng) và tăng 27,1% so với thực hiện
Trang 7năm 2011.Tuy nhiên, thu nội địa ước đạt 467.737 tỷ đồng, chỉ bằng 94,6% so với
dự toán và tăng 8,6% so với thực hiện năm 2011
Theo lãnh đạo Tổng Cục thuế, những khoản thu từ khu vực kinh tế đều không đạt dự toán và có mức tăng trưởng thấp so với cùng kỳ như khu vực doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc
doanh…Trong 14 khoản thu, sắc thuế được ngành thuế quản lý, chỉ có 6 khoản thu vượt dự toán pháp lệnh, 7 khoản thu tương đương cùng kỳ Nếu không kể thu từ dầu thô, tiền đất, chỉ có 37/63 địa phương hoàn thành nhiệm vụ năm 2012
Đánh giá về thành công của ngành thuế năm 2012, Tổng Cục thuế cho biết
đã mở rộng việc kê khai thuế qua mạng Internet, đến nay đã triển khai được 50 tỉnhthành phố với gần 203 nghìn doanh nghiệp tham gia Hiện Tổng Cục thuế đang triển khai giai đoạn 2 để tích hợp tự động Thuế - Hải quan – Kho bạc – Tài chính, bước đầu thí điểm tại Quang Ninh Trong tháng 3/2013, ngành thuế sẽ triển khai rộng việc áp dụng chữ ký số trong toàn hệ thống
Thực trạng thu ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2013 được đánh giá rất cam go, do tình hình kinh tế khó khăn, nhiều doanh nghiệp báo lỗ hoặc đóng cửa trước kết quả kinh doanh thấp
Tổng thu ngân sách nhà nước từ đầu năm đến 15/11/2013 ước tính đạt 657,6 nghìn tỷ đồng, bằng 80,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa 432,6 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3%; thu từ dầu thô 97 nghìn tỷ đồng, bằng 97,9%; thu cân đối ngân sách
từ hoạt động xuất, nhập khẩu 123,1 nghìn tỷ đồng, bằng 73,9%
Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước 130,7 nghìn tỷ đồng, bằng 75% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(không kể dầu thô) 94,4 nghìn tỷ đồng, bằng 88%; thu thuế công, thương nghiệp vàdịch vụ ngoài nhà nước 92,2 nghìn tỷ đồng, bằng 76,6%; thuế thu nhập cá nhân
Trang 841,6 nghìn tỷ đồng, bằng 75,9%; thuế bảo vệ môi trường 10 nghìn tỷ đồng, bằng 70,4%; thu phí, lệ phí 8,3 nghìn tỷ đồng, bằng 79,6%.
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập công và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến thu nhập công ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1 Trình độ phát triển kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân đầu người trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thayđổi về lượng của nền kinh tế
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi
xã hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ) Phát triển kinh tế là mộtquá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn
Thu nhập công chủ yếu được hình thành từ những giá trị do nền kinh tế tạo
ra, nhà nước không thể dùng quyền lực của mình để ép buộc các cá nhân và tổ chức kinh tế đóng góp nhiều hơn phần thu nhập của mình nhiều hơn để tăng thu nhập công Do vậy muốn thu nhập công tăng lên một cách bền vững thì phải thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, như vậy sẽ tạo ra nhiều giá trị gia tăng.GDP là cơ sở duy nhất và bền vững nhất của thu nhập công Mối qua hệ
giữa GDP và thu nhập công được mô tả theo công thức sau:
Thu nhập công = f(GDP)
Trang 9Từ công thức trên ta thấy rằng, nếu hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế càng cao, tỷ suất doanh lợi càng lớn thì giá trị sản phẩm thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều, tạo điều kiện tăng tỷ lệ thu nnsn
Các nguồn vay mượn hay viện trợ từ nước ngoài chỉ đáp ứng được nhu cầu tạm thời và đều phải trích từ thuế để trả nợ nên nó sẽ để lại nhưng gánh nặng về mặt kinh tế cho tương lai, làm cho nền kinh tế bị phụ thuộc.Vì vậy, chăm lo phát triển kinh tế chính là chăm lo nguồn thu nhập công cho tương lai
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quyết định dặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay Nó là tiền đề tạo ra các giá trị vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo, giảm sự khoảng cách tụt hậu về kinh tế với các nước phát triển, giúp củng cố quốc phòng, an ninh chính trị, tạo niềm tin cho cộng đồng quốc
tế Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết việc làm, tăng thu nhập và phúc lợicho nhân dân Từ đó tạo đà cho nhà nước thu ngân sách nhà nước Của cải xã hội làm ra ngày càng nhiều thì thu nhập công cũng ngày càng tăng mà không tăng gánh nặng nợ cho xã hội
Mặt khác, khi thu nhập công tăng, nhà nước sẽ có điều kiện phát triển cơ sở
hạ tầng, đầu tư cho các công trình sự nghiệp, các công trình phúc lợi xã hội, nhân dân được hưởng lợi nhiều hơn, tạo cơ sở vật chất cho xã hội phát triển Từ đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng Đó chính là mối quan hệ tác động qua lạichặt chẽ với nhau, cùng tạo đà cho nhau cùng phát triển Và ngược lại, nếu nền kinh tế kém phát triển thì của cải vật chất làm ra ít, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu của ngân sách nhà nước Khi đó, Nhà nước nếu muốn ổn định nền kinh tế thì phải tăng chi tiêu công, nguồn thu ngân sách không đủ để bù đắp các khoản chi tiêu công sẽ gây ra tình trạng thâm hụt ngân sách, mất cân đối ngân sách nhà nước Tình trạng này càng nghiêm trọng thì càng làm cho nên kinh tế mất ổn
Trang 10định, tụt hậu Thu ngân sách quá gắt gao lại gây ra tình trạng mất ổn định chính trị,nhân dân không tin tưởng vào nhà nước.
Chính vì vậy, một nên kinh tế phát triển là điều kiện tuyệt vời cho thu nhập công tăng trưởng, là tiền đề cần thiết để phát triển xã hội, là đòn bẩy cho nền kinh
tế quốc gia đi lên
Thực tiễn ở Việt Nam những năm gần đây cho thấy những ảnh hưởng mạnh smẽ của sự phát triển kinh tế đến thu nhập công Sau khi gia nhập WTO, nền kinh
tế Việt Nam có những bước chuyển mình đáng kể Tuy nhiên, một số dự báo cho rằng: gia nhập WTO Việt Nam buộc giảm thuế suất thuế nhập khẩu theo cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (số dòng thuế đã công bố cắt giảm là 1.812 với mức thuế suất giảm bình quân 14,5%) Thêm vào đó, hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài sẽ có mức giá thấp hơn trước đây khiến thị phần của hàng hoá sản xuất trongnước bị thu hẹp, làm giảm số thu thuế nội địa Điều này làm giảm đáng kể nguồn thu cho ngân sách Nền kinh tế tăng trưởng chậm với GDP dự đoán không vượt quá 5% là thách thức lớn đối với thu nhập công ở nước ta
Những tháng cuối năm 2008 Tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ nền kinh tế hùng mạnh như Mỹ và nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới Tác động bởi sự suy thoái toàn cầu, đã đảo lộn và ảnh hưởng đến các nước, rõ nhấtvẫn là hệ thống tài chính, ngân hàng của mỗi nước Tại Việt nam, phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnh vực xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn quy mô xuất khẩu đến Liên minh Châu Âu (là thị trường số một cùng với Hoa Kỳ) đã thay đổi từ mức tăng trưởng 60% trở thành giảm 30% (IMF, 2010) Lạm phát cũng là dấu hiệu báo động với tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng lên đến 28% vào tháng 9 năm 2008 và thậm chí còn lên đến 65% đối với nhóm mặt hàng lương thực (gạo vàngũ cốc) các thị trường lớn như : Mỹ, EU, Nhật là những thị trường truyền thống nhập khẩu hàng sản xuất từ Việt nam đang bị khủng hoảng, do mức sinh hoạt của
Trang 11người dân bị đảo lộn, đòi hỏi mọi người phải cắt giảm chi tiêu, thắt lưng buột bụng, mức độ mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu … có thời điểm nông sản xuất khẩu giảm mạnh so với thời điểm giá cao nhất trong năm : Gạo đã giảm 58%, Cao su giảm 48%, Cà phê giảm 24% cả những tháng đầu năm 2009 so với 2008 Tổng kim ngạch xuất khẩu Nông, Lâm ,Thủy sản… Việt nam giảm 15% Việt nam là một trong những nước ảnh hưởng nặng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa Điều đó ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt nam bị sụt giảm,
từ mức 8,48% năm 2007 xuống còn 6,23% năm 2008 và chỉ còn 5,32% năm 2009.( nguồn từ thông báo cục thống kê cuối tháng 12-2009)
Sự tác động khủng hoảng thế giới làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt nam gặp rất nhiều khó khăn một phần bị từ chối hợp đồng, sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng nhiều Phần thì chịu ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ, hạn chế tăng trưởng tín dụng ngân hàng làm lãi suất cho vay cao vượt
xa khả năng kinh doanh của doanh nghiệp (lãi suất đi vay không ngừng được nâng lên và lãi suất cho vay cũng tăng lên từ 14% năm (năm 2007) và đã tăng 20% và 24% năm ( năm 2010)
Tất cả những lý do trên, đã ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Tốc độ tăng GDP của cả năm đã giảm chậm lại từ 8,5% năm 2007 xuống còn 6,3% năm 2008
và tiếp đó là 5,3% năm 2009 trước khi hồi phục trở lại mức 6,5% năm 2010 Sự giảm nhịp tăng trưởng đặc biệt diễn ra vào khoảng thời gian giữa quý I năm 2008
và trong năm 2009 Trong khoảng thời gian này, tốc độ tăng GDP chỉ đạt được mộtnửa so với trước đó, giảm từ 8% xuống còn 4% Năm 2007, bội chi ngân sách nhà nước là 22 217 tỉ vnd Năm 2009, bội chi lên đến 106 487 tỉ vnd Thu ngân sách giảm mạnh Trong 6 tháng đầu năm 2009,ước tính đạt 14,9 nghìn tỷ đồng, lũy kế đến nửa đầu tháng 6 ước đạt 171 nghìn tỷ đồng, bằng 43,9% dự đoán cả năm Trong đó thu nội địa đạt 105 nghìn tỉ đồng, bằng 45,1% dự đoán cả năm Thu từ
Trang 12dầu thô đạt 23 nghìn tỉ đồng, bằng 36,1 % dự đoán cả năm, thu từ xuất nhập khẩu chỉ đạt 41,1 nghìn tỷ đồng, bằng 46,6% dự đoán cả năm Nhưng tổng chi cho ngân sách nhà nước lại đạt hơn 195 nghìn tỷ đồng, bằng 40,2 % dự toán năm cho thấy mức thâm hụt ngân sách ở nước ta trong những năm khủng hoảng kinh tế là rất lớn thu ngân sách đang bị đè nặng bởi khủng hoảng kinh tế và các chương trình phát triển nền kinh tế CHính phủ phải đưa ra 2 gói kích cầu để kích thích nền kinh
tế, kích thích tiêu dung trong xã hội và tăng thu nhập công lên Tuy nhiên, hiệu quảcủa 2 gói kích cầu này vẫn chưa thể giải quyết hết sức ép đè nặng lên thu nhập công Nền kinh tế tăng trưởng chậm với GDP dự đoán không vượt quá 5% là tháchthức với thu nhập công của nước ta Một khi dòng vốn FDI chảy vào yếu đi và mức giải ngân yếu kém như hiện nay, thì nhà nước lại càng phải đẩy mạnh chi tiêu công thêm để giải quyết các nhiệm vụ kinh tế chính trị của mình Cho thấy rằng, giải quyết tốt quan hệ giữa thu nhập công và sự phát triển kinh tế, tăng cường phát triển kinh tế chính là yếu tố tác động mạnh mẽ đến thu nhập công, làm cho ngân sách nhà nước bội chi quá mức, ổn định trong thời kì biến động
Như vậy có thể nói, tang trưởng kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến thu nhập công giải quyết tốt mối quan hệ giữa thu nhập công và sự phát triển kinh tế là vấn đề quan trọng, phức tạp, gặp nhiều khó khăn Nếu giải quyết tốt vấn
đề phát triển kinh tế, sẽ tạo điều kiện giải quyết tốt vấn đề thu nhập công, giúp thu nhập công tăng cao trong điều kiện phúc lợi xã hội đươc đảm bảo, k tạo ghánh nặng cho tương lai
2.2.2 Trình độ tổ chức thanh toán và hạch toán.
Trình độ tổ chức hoạt động thanh toán và hạch có ảnh hưởng không nhỏ đếnthu nhập công ở Việt Nam hiện nay.Trình độ tổ chức thanh toán và hạch toán ngày càng hiện đại và được hệ thống hóa một cách phù hợp sẽ làm cho các hoạt động