1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai của điều dưỡng tại khoa sản nhiễm khuẩn bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022

57 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai của điều dưỡng tại khoa sản nhiễm khuẩn bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022
Tác giả Cao Hồng Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Thanh Tùng
Trường học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Chuyên ngành Sản khoa
Thể loại Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH CAO HỒNG TRANG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ SAU MỔ LẤY THAI CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA SẢN NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TR

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CAO HỒNG TRANG

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH

NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ SAU MỔ LẤY THAI CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA SẢN NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2022

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

CAO HỒNG TRANG

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH NHIỄM KHUẨN VẾT MỔ SAU MỔ LẤY THAI CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA SẢN NHIỄM KHUẨN, BỆNH VIỆN PHỤ SẢN

TRUNG ƯƠNG NĂM 2022 Chuyên ngành: Sản khoa

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

PGS.TS Lê Thanh Tùng

NAM ĐỊNH - 2022

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp và khóa học này, tôi xin gửi lời cảm

ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học và quý Thầy/ Cô giáo các Khoa/ Trung tâm của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình dìu dắt, trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại Trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương

đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu, tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu

Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS

Lê Thanh Tùng, người thầy đã dành nhiều thời gian quý báu để truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên

đề tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các y bác sỹ, điều dưỡng khoa Sản nhiễm khuẩn - Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã tận tình giúp

đỡ và đã động viên khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành chuyên đề

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2022

Học viên

Cao Hồng Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp “Thực trạng chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai của Điều dưỡng tại khoa Sản nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả khảo sát sử dụng trong chuyên đề là hoàn toàn trung thực Kết quả khảo sát này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước tới nay Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2022

Học viên

Cao Hồng Trang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 19

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 22

2.1 Thông tin chung về Bệnh viện Phụ sản Trung ương 22

2.2 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh NKVM sau MLT tại khoa Sản nhiễm khuẩn - Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022 24

2.2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 24

2.2.2 Kết quả nghiên cứu 26

Chương 3: BÀN LUẬN 33

3.1 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh NKVM sau MLT tại khoa Sản nhiễm khuẩn - Bệnh viện Phụ sản Trung ương 33

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và tình trạng vết mổ 33

3.1.2 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh NKVM sau MLT 34

3.2 Những thuận lợi và khó khăn trong công tác chăm sóc người bệnh NKVM sau MLT 36

3.2.1 Thuận lợi 36

3.2.2 Khó khăn, tồn tại 37

3.2.3 Cách giải quyết/ khắc phục vấn đề 37

KẾT LUẬN 40

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: PHIẾU KHẢO SÁT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Đặc điểm về nhóm tuổi và nghề nghiệp của ĐTNC 26

Bảng 2.2 Đặc điểm về thời gian xuất hiện NKVM, triệu chứng lâm sàng của NKVM của ĐTNC 27

Bảng 2.3 Thời gian khâu lại vết mổ sau điều trị kháng sinh 28

Bảng 2.4 Công tác tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh 29

Bảng 2.5 Công tác chăm sóc hỗ trợ về tâm lý, tinh thần cho người bệnh 30

Bảng 2.6 Công tác chăm sóc theo dõi, đánh giá người bệnh 31

Bảng 2.7 Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác sĩ 32

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mổ lấy thai (MLT) là thai và phần phụ được lấy ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch ở thành bụng và thành tử cung [6] MLT là phẫu thuật phổ biến ở nước ta cũng như trên thế giới và có xu hướng ngày càng gia tăng Tỷ lệ MLT ở

Mỹ năm 1996 là 21% đến năm 2014 tỷ lệ này là 32,24% [13] Năm 2001, tỷ lệ MLT ở Anh là 21,4%, tăng gần gấp 5 lần so với năm 1971 [14] Tại Việt Nam,

tỷ lệ MLT ngày càng tăng cao, các nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương qua các năm: năm 2000 là 35,1% [4]; năm 2005 là 39,1% [11] và năm

2016 là 41,4% [5]

MLT là một trong những phẫu thuật có thể đi kèm với một số biến chứng, trong đó nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) sau MLT là một biến chứng nặng sau

mổ, nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ gây những hậu quả nặng

nề Có rất nhiều yếu tố liên quan đến NKVM sau MLT, bao gồm: béo phì, có tăng độ dày lớp mỡ dưới da, tăng huyết áp, tiền sản giật, đái tháo đường, các bệnh lý toàn thân trước phẫu thuật, nhiễm trùng trước phẫu thuật ở bộ phận khác, thời gian mổ kéo dài, không có kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật, mất máu trong quá trình phẫu thuật hay sự phát triển của khối máu tụ dưới da [15] NKVM sau MLT có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ [7], [8] Ngoài ra NKVM sau MLT có thể gây khó chịu cho người mẹ khi cố gắng hồi phục sau phẫu thuật và đồng thời chăm sóc trẻ sơ sinh Nó có thể kéo dài thời gian nằm viện của mẹ, tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và dẫn đến những tác động kinh tế xã hội khác [7] Tuy NKVM có thể gây ra những hậu quả nặng

nề nhưng nếu người bệnh được chăm sóc và điều trị tốt thì sẽ hạn chế rất nhiều những nguy cơ có thể xảy ra Do đó, việc điều trị và chăm sóc cho người bệnh NKVM sau MLT cần phải toàn diện Người điều dưỡng, hộ sinh có vai trò rất quan trọng trong chăm sóc người bệnh NKVM sau mổ lấy thai, giúp người bệnh nhanh phục hồi

Bệnh viện Phụ sản Trung ương là Bệnh viện đầu ngành về sản phụ khoa của cả nước về cả chuyên môn và số lượng người bệnh đến khám hàng ngày

Trang 10

Theo thống kê của Phòng Kế hoạch tổng hợp, trong năm 2021 Bệnh viện Phụ sản Trung ương có tỉ lệ mổ lấy thai chiếm gần 50% Vấn đề nhiễm khuẩn sau MLT được Bệnh viện đặc biệt quan tâm Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương chưa có nhiều nghiên cứu về công tác chăm sóc người bệnh NKVM sau MLT Xuất phát từ vấn đề trên, nhóm nghiên cứu tiến hành thực hiện chuyên đề:

“Thực trạng chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai của Điều dưỡng tại khoa Sản nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022” với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau

mổ lấy thai của Điều dưỡng tại khoa Sản nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022

2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai của Điều dưỡng tại khoa Sản nhiễm khuẩn, Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái quát về công tác chăm sóc của điều dưỡng

1.1.1.1 Định nghĩa điều dưỡng

Theo Florence Nightingale, 1860: Điều dưỡng là một nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ

Theo Hiệp hội điều dưỡng Hoa Kỳ (2003): Điều dưỡng là sự bảo vệ, nâng cao, tối ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và thương tích; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người, tăng cường chăm sóc các

cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội [12]

Tại Việt Nam, theo từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội

1999 định nghĩa “Y tá là người có trình độ trung cấp trở xuống và chăm sóc người bệnh theo y lệnh bác sĩ” Định nghĩa này chưa phản ánh đầy đủ vị trí và vai trò của người Điều dưỡng cũng như nghề Điều dưỡng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe hiện nay Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22/5/2005 của Bộ nội vụ: “Điều dưỡng là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế,

tổ chức thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và kỹ thuật điều dưỡng chuyên khoa tại các cơ sở y tế” [1]

1.1.1.2 Nhiệm vụ của người điều dưỡng

Theo thông tư 31/2021/TT-BYT ngày 28/12/2021 về Quy định hoạt động Điều dưỡng trong Bệnh viện, người điều dưỡng có các nhiệm vụ trong công tác chăm sóc người bệnh như sau [3]:

 Tiếp nhận và nhận định người bệnh:

- Tiếp nhận, phân loại, sàng lọc và cấp cứu ban đầu:

+ Tiếp nhận, phối hợp với bác sỹ trong phân loại, sàng lọc và cấp cứu người bệnh ban đầu; sắp xếp người bệnh khám bệnh theo thứ tự ưu tiên của tình trạng bệnh lý, của đối tượng (người cao tuổi, thương binh, phụ nữ có thai, trẻ em

và các đối tượng chính sách khác) và theo thứ tự đến khám; hướng dẫn hoặc hỗ

Trang 12

trợ người bệnh thực hiện khám bệnh và các kỹ thuật cận lâm sàng theo chỉ định của bác sỹ cho người bệnh đến khám bệnh;

+ Tiếp nhận, hỗ trợ các thủ tục và sắp xếp người bệnh vào điều trị nội trú

- Nhận định lâm sàng:

+ Khám, nhận định tình trạng sức khỏe hiện tại và nhu cầu cơ bản của mỗi người bệnh;

+ Xác định các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh;

+ Xác định chẩn đoán điều dưỡng, ưu tiên các chẩn đoán điều dưỡng tác động trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người bệnh;

+ Phân cấp chăm sóc người bệnh trên cơ sở nhận định tình trạng sức khỏe người bệnh của điều dưỡng và đánh giá về mức độ nguy kịch, tiên lượng bệnh của bác sỹ để phối hợp với bác sỹ phân cấp chăm sóc người bệnh;

+ Dự báo các yếu tố ảnh hưởng và sự cố y khoa có thể xảy ra trong quá trình chăm sóc người bệnh

 Xác định và thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng:

- Các can thiệp chăm sóc điều dưỡng bao gồm:

+ Chăm sóc hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt: theo dõi, can thiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt theo chẩn đoán điều dưỡng và chỉ định của bác sỹ; kịp thời báo bác sỹ và phối hợp xử trí tình trạng hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt bất thường của người bệnh;

+ Chăm sóc dinh dưỡng: thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện chế độ dinh dưỡng phù hợp theo chỉ định của bác sỹ; theo dõi dung nạp, hài lòng về chế

độ dinh dưỡng của người bệnh để báo cáo bác sỹ và người làm dinh dưỡng kịp thời điều chỉnh chế độ dinh dưỡng; thực hiện trách nhiệm của điều dưỡng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 13 Thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện;

+ Chăm sóc giấc ngủ và nghỉ ngơi: thiết lập môi trường bệnh phòng yên tĩnh, ánh sáng phù hợp vào khung giờ ngủ, nghỉ của người bệnh theo quy định; hướng dẫn người bệnh thực hiện các biện pháp để tăng cường chất lượng giấc

Trang 13

ngủ như thư giãn, tập thể chất nhẹ nhàng phù hợp tình trạng sức khỏe, tránh các chất kích thích, tránh căng thẳng, ngủ đúng giờ; theo dõi, thông báo kịp thời cho bác sỹ khi có những rối loạn giấc ngủ của người bệnh để hỗ trợ và phối hợp hỗ trợ người bệnh kịp thời;

+ Chăm sóc vệ sinh cá nhân: thực hiện hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện vệ sinh răng miệng, vệ sinh thân thể, kiểm soát chất tiết, mặc và thay đồ vải cho người bệnh theo phân cấp chăm sóc;

+ Chăm sóc tinh thần: thiết lập môi trường an toàn, thân thiện, gần gũi, chia

sẻ, động viên người bệnh yên tâm phối hợp với các chức danh chuyên môn trong chăm sóc; theo dõi, phát hiện các nguy cơ không an toàn, các biểu hiện tâm lý tiêu cực, phòng ngừa các hành vi có thể gây tổn hại sức khỏe cho người bệnh để kịp thời thông báo cho bác sỹ; tôn trọng niềm tin, tín ngưỡng và tạo điều kiện để người bệnh thực hiện tín ngưỡng trong điều kiện cho phép và phù hợp với quy định;

+ Thực hiện các quy trình chuyên môn kỹ thuật: thực hiện thuốc và các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo chỉ định của bác sỹ và trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng trên nguyên tắc tuân thủ đúng các quy định, quy trình chuyên môn kỹ thuật chăm sóc điều dưỡng;

+ Phục hồi chức năng cho người bệnh: phối hợp với bác sỹ, kỹ thuật viên phục hồi chức năng và các chức danh chuyên môn khác để lượng giá, chỉ định, hướng dẫn, thực hiện kỹ thuật phục hồi chức năng cho người bệnh phù hợp với tình trạng bệnh lý Thực hiện một số kỹ thuật phục hồi chức năng theo quy định

để giúp người bệnh phát triển, đạt được, duy trì tối đa hoạt động chức năng và giảm khuyết tật;

+ Quản lý người bệnh: lập hồ sơ quản lý bằng bản giấy hoặc bản điện tử và cập nhật hằng ngày cho tất cả người bệnh nội trú, ngoại trú tại bệnh viện; thực hiện bàn giao đầy đủ số lượng, các vấn đề cần theo dõi và chăm sóc người bệnh, đặc biệt giữa các ca trực;

+ Truyền thông, giáo dục sức khỏe: phối hợp với bác sỹ và các chức danh chuyên môn khác tư vấn, hướng dẫn các kiến thức về bệnh, cách tự chăm sóc,

Trang 14

theo dõi, hợp tác với nhân viên y tế trong chăm sóc, phòng bệnh; các quy định

về an toàn người bệnh, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, phục hồi chức năng; hướng dẫn hoặc hỗ trợ người bệnh thực hiện đầy đủ các quy định, nội quy trong điều trị nội trú, chuyển khoa, chuyển viện và ra viện

- Xác định các can thiệp điều dưỡng:

+ Trên cơ sở các can thiệp chăm sóc quy định tại khoản 1 Điều này, chẩn đoán điều dưỡng, phân cấp chăm sóc, nguồn lực sẵn có, điều dưỡng xác định can thiệp chăm sóc đối với mỗi người bệnh;

+ Xác định mục tiêu và kết quả can thiệp chăm sóc điều dưỡng mong muốn

- Thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng:

+ Thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng phù hợp cho mỗi người bệnh

+ Phối hợp với các chức danh chuyên môn khác theo mô hình chăm sóc được phân công gồm: mô hình điều dưỡng chăm sóc chính; mô hình chăm sóc theo đội; mô hình chăm sóc theo nhóm hoặc mô hình chăm sóc theo công việc trong triển khai thực hiện các can thiệp chăm sóc;

+ Đáp ứng kịp thời với các tình huống khẩn cấp hoặc thay đổi tình trạng người bệnh Dự phòng và báo cáo các sự cố ảnh hưởng đến chất lượng can thiệp chăm sóc điều dưỡng;

+ Tư vấn cho người bệnh về cách cải thiện hành vi sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật, kiến thức để tự chăm sóc bản thân và cùng hợp tác trong trong quá trình can thiệp chăm sóc điều dưỡng

- Ghi lại toàn bộ các can thiệp chăm sóc điều dưỡng cho người bệnh vào phiếu chăm sóc bản cứng hoặc bản điện tử theo quy định Bảo đảm ghi thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, rõ ràng, dễ đọc; sử dụng, bảo quản và lưu trữ phiếu chăm sóc theo quy định

 Đánh giá kết quả thực hiện các can thiệp chăm sóc điều dưỡng:

Trang 15

- Đánh giá các đáp ứng của người bệnh và hiệu quả của các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo mục tiêu, kết quả chăm sóc theo nguyên tắc liên tục, chính xác và toàn diện về tình trạng đáp ứng của mỗi người bệnh

- Điều chỉnh kịp thời các can thiệp chăm sóc điều dưỡng dựa trên kết quả đánh giá và nhận định lại tình trạng người bệnh trong phạm vi chuyên môn của điều dưỡng

- Trao đổi với các thành viên liên quan về các vấn đề ưu tiên, mục tiêu chăm sóc mong đợi và điều chỉnh các can thiệp chăm sóc điều dưỡng theo khả năng đáp ứng của người bệnh

- Tham gia vào quá trình cải thiện nâng cao chất lượng can thiệp chăm sóc điều dưỡng dựa trên kết quả đánh giá

1.1.2 Khái quát về mổ lấy thai

1.1.2.1 Định nghĩa

Mổ lấy thai là phẫu thuật để lấy thai và phần phụ của thai ra khỏi buồng tử cung qua đường rạch ở thành bụng và đường rạch ở thành tử cung Định nghĩa này không bao hàm mở bụng lấy thai trong trường hợp chửa trong ổ bụng và vỡ

tử cung khi thai đã nằm trong ổ bụng [6]

1.1.2.2 Các chỉ định mổ lấy thai [6]:

* Chỉ định mổ lấy thai chủ động:

- Khung chậu bất thường:

+ Khung chậu hẹp toàn diện là khung chậu có tất cả các đường kính giảm đều cả eo trên và eo dưới Đặc biệt đường kính nhô - hậu vệ nhỏ hơn 8,5 cm; + Khung chậu méo khi đo hình trám Michaelis không cân đối;

+ Khung chậu hình phễu là rộng eo trên, hẹp eo dưới Chẩn đoán dựa vào

đo đường kính lưỡng ụ ngồi Nếu đường kính lưỡng ụ ngồi < 9cm, nên có chỉ định MLT chủ động

- Đường xuống của thai bị cản trở:

+ U tiền đạo là khối u nằm trong tiểu khung làm cho ngôi không lọt hoặc không xuống được;

+ Rau tiền đạo trung tâm, bán trung tâm

Trang 16

+ Sẹo mổ cũ và ngôi thai bất thường;

+ Sẹo mổ cũ và thai to

- Nguyên nhân về phía mẹ:

+ Các bệnh tim ở giai đoạn mất bù trừ;

+ Bệnh tăng huyết áp, tai biến mạch não, tiền sản giật và sản giật;

+ Âm đạo chít hẹp bẩm sinh hoặc bị rách trong các lần đẻ trước không được khâu phục hồi tốt hoặc sau những trường hợp mổ có liên quan đến âm đạo như mổ rò bàng quang - âm đạo, mổ rò trực tràng - âm đạo;

+ Bảo tồn kết quả chỉnh hình phụ khoa: tiền sử mổ treo tử cung do sa sinh dục, sa bàng quang, làm lại âm đạo - tầng sinh môn;

+ Các dị dạng sinh dục: TC đôi, TC hai sừng,

- Nguyên nhân về phía thai và phần phụ:

+ Thai suy mãn tính, hết ối,

+ Thai to, không tương xứng với khung chậu, không có khả năng lọt qua eo trên phải MLT

* Các chỉ định mổ lấy thai trong quá trình chuyển dạ

- Chảy máu:

+ Rau tiền đạo: Rau tiền đạo bán trung tâm; Các thể rau tiền đạo khác sau khi bấm ối mà vẫn chảy máu thì MLT; Rau tiền đạo phối hợp với ngôi thai bất thường

+ Rau bong non thể trung bình và thể nặng: đối với rau bong non thể trung bình và thể nặng là phải mổ cấp cứu ngay

+ Dọa vỡ tử cung: Những trường hợp chuyển dạ lâu, ngôi chưa chưa lọt hoặc trong những trường hợp dùng oxytocin không đúng chỉ định hoặc quá liều lượng sẽ làm cho đoạn dưới TC phình to có nguy cơ vỡ, thai bình thường hoặc

Trang 17

thai đã suy nhưng không thể lấy thai bằng thủ thuật đường âm đạo sẽ mổ lấy thai

+ Vỡ tử cung: Vỡ tử cung tự nhiên trong thời kỳ thai nghén thường xảy ra trên những sản phụ có sẹo mổ cũ, đặc biệt là sẹo mổ ở thân tử cung; Vỡ tử cung trong chuyển dạ thường do bất tương xứng thai - khung chậu, sản phụ đẻ nhiều lần, vết mổ cũ ở tử cung, ngôi bất thường, Khi vỡ tử cung phải MLT càng sớm càng tốt đẻ cứu mẹ và thai nhi

+ Sa dây rau: Sa dây rau là tối cấp cứu sản khoa, cần lấy thai ra ngay khi còn tim thai

+ Nếu đủ điều kiện thì lấy thai ra bằng forceps;

+ Nếu không đủ điều kiện đặt forceps phải MLT ngay

+ Thai quá ngày sinh: khi chẩn đoán chắc chắn là thai già tháng cần phải đình chỉ thai nghén Nếu lượng nước ối còn nhiều thì gây chuyển dạ đẻ bằng cách truyền nhỏ giọt tĩnh mạch oxytocin và theo dõi chuyễn dạ bằng máy monitoring, nếu có biểu hiện bất thường phải MLT Nếu nước ối không còn hoặc nước ối xanh bẩn biểu hiện của suy thai hoặc thai kém phát triển đều phải MLT

+ Đa thai: Song thai hai ngôi đầu chèn nhau làm cho thứ nhất không lọt được; Song thai, thai thứ nhất là ngôi mông, thai thứ hai là ngôi đầu có thể mắc đầu vào nhau khi đẻ thai thứ nhất; Có thai từ ba thai trở lên; Khi có thêm một nguyên nhân đẻ khó

- Chỉ định về phía mẹ:

+ Tử cung có sẹo mổ cũ: tử cung có sẹo mổ dưới 24 tháng, sẹo mổ thân tử cung, sẹo mổ cũ kết hợp với những nguyên nhân đẻ khó khác

Trang 18

+ Con so lớn tuổi: thường là những người con so > 35 tuổi trong quá trình chuyển dạ có thêm một vài dấu hiệu bất thường cần phải MLT

+ Tình trạng bệnh lý của mẹ: Bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến cơ năng của người mẹ: Tim mạch, thiếu máu nặng, tiểu đường không được theo dõi

+ Các bệnh lý tại chỗ của người mẹ: Dị dạng sinh dục, rò niệu dục đã mổ, herpes sinh dục, papillome sinh dục nặng,…

- Chỉ định bất thường xảy ra khi theo dõi chuyển dạ:

+ Đẻ khó do cổ tử cung không tiến triển; CTC có sẹo cũ xấu; Khoét chóp hay cắt cụt CTC

+ Đẻ khó do nguyên nhân cơ học: bất tương xứng giữa thai nhi và khung chậu

+ Đẻ khó do nguyên nhân động lực: Do rối loạn cơn co TC không điều chỉnh được bằng thuốc

+ Thai suy cấp trong chuyển dạ: Phải MLT ngay nếu chưa đủ điều kiện để lấy thai ra ngay bằng thủ thuật qua đường âm đạo

- Lý do xã hội: Đó là những chỉ định mà nguyên nhân không phải là các yếu tố về chuyên môn gây đẻ khó mà việc MLT ở đây do những lý do về mặt xã hội liên quan đến sản phụ và gia đình sản phụ

1.1.3 Khái quát về nhiễm khuẩn vết mổ

1.1.3.1 Nhiễm khuẩn vết mổ

 Định nghĩa nhiễm khuẩn vết mổ:

Nhiễm trùng là sự xâm nhập của vi sinh vật vào cơ thể và sự đáp ứng của

cơ thể đối với thương tổn do vi sinh vật gây nên (vi sinh vật có thể là: vi khuẩn, siêu vi khuẩn hoặc ký sinh trùng) [16]

NKVM là những nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật trong thời gian từ khi

mổ cho đến 30 ngày sau mổ với phẫu thuật không có cấy ghép và cho tới một năm sau mổ với phẫu thuật có cấy ghép bộ phận giả (phẫu thuật implant) [2]

 Phân loại nhiễm khuẩn vết mổ, tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ theo CDC [16]:

Trang 19

+ Nhiễm khuẩn vết mổ nông: nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật và chỉ xuất hiện ở vùng da hay vùng dưới da tại đường mổ và có ít nhất một trong các triệu chứng (chảy mủ từ vết mổ nông, phân lập được vi khuẩn từ vết mổ, các dấu hiệu đau sưng nóng đỏ và cần mở bung vết mổ, bác sĩ chẩn đoán)

+ Nhiễm khuẩn vết mổ sâu: nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay 1 năm đối với đặt implant và xảy ra ở mô mềm sâu của đường

mổ và có ít nhất một trong các triệu chứng (chảy mủ từ vết mổ sâu nhưng không

từ cơ quan hay khoang nơi phẫu thuật, vết thương hở da sâu + dấu hiệu đau sưng nóng đỏ và sốt, 2 abces, bác sĩ chẩn đoán)

+ Nhiễm khuẩn vết mổ tại cơ quan/khoang phẫu thuật: nhiễm khuẩn xảy ra trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật hay 1 năm đối với đặt implant xảy ra ở bất kỳ nội tạng loại trừ da, cân, cơ và có ít nhất một trong các triệu chứng (chảy mủ từ dẫn lưu nội tạng, phân lập được vi khuẩn, abces, bác sĩ chẩn đoán)

Hình 1.1 Phân loại nhiễm khuẩn vết mổ theo CDC - mặt cắt ngang

 Các loại nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai:

- Nhiễm khuẩn nông: nhiễm khuẩn ở tầng sinh môn, âm hộ, âm đạo, tử cung

- Nhiễm khuẩn sâu/cơ quan: viêm nội mạc tử cung, viêm tử cung toàn bộ, viêm chu cung, viêm phúc mạc chậu, viêm phúc mạc toàn bộ

 Chẩn đoán nhiễm khuẩn vết mổ:

Trang 20

Bệnh cảnh của một nhiễm trùng ngoại khoa rất khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm của vi sinh vật, nguyên nhân gây ra, sức đề kháng của cơ thể người bệnh Ví dụ: Clostridium tetanie (gây bệnh uốn ván) sinh sôi trong mô cơ thể người bệnh, gây rất ít hoặc không có phản ứng tại chỗ nhưng lại tiết ra một ngoại độc tố (exotoxin) rất mạnh tác động lên tế bào thần kinh ở xa ổ nhiễm trùng; hoặc Salmonella typhi (gây sốt thương hàn) sinh sôi trong máu của người bệnh và gây ra triệu chứng toàn thân; Streptococcus (liên cầu khuẩn) qua vết thương da rất nhỏ như một vết xây xát hoặc chỗ đạp gai, thường xâm nhập vào

hệ thống bạch mạch gây viêm bạch mạch cấp tính, viêm hạch bạch huyết cấp tính hoặc viêm tấy lan tỏa

Nhiễm trùng ngoại khoa thường diễn biến qua 4 thời kỳ:

- Thời kỳ nung bệnh là thời gian từ lúc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể đến khi bắt đầu có triệu chứng lâm sàng

- Thời kỳ khởi đầu với những triệu chứng sớm như đau nhức, sốt, đỏ

- Thời kỳ toàn phát: Nhiễm trùng xuất hiện với đầy đủ triệu chứng chính Trong thời kỳ này có thể gặp các thể lâm sàng sau đây:

+ Ổ nhiễm trùng khu trú: áp-xe nóng và viêm tấy lan tỏa

+ Ổ nhiễm trùng di chuyển: viêm bạch mạch cấp tính, viêm hạch bạch huyết cấp tính

+ Nhiễm trùng toàn thân: nhiễm khuẩn huyết (septicemie), nhiễm khuẩn

mủ huyết (septico–pyohemie) với những ổ mủ rải rác và định cư ở các cơ quan nội tạng

- Thời kỳ diễn biến và kết thúc: diễn ra theo 1 trong 3 khả năng

Diễn biến tốt: Nhiễm trùng được giải quyết nhưng cơ thể người bệnh suy sụp và có khả năng nhiễm trùng tái phát (ví dụ: nhọt ở mông)

Cơ thể được miễn nhiễm (như trong bệnh uốn ván) hoặc ở trong tình trạng

dị ứng (do bị cảm ứng bởi vi khuẩn)

Diễn biến xấu: Có nhiều biến chứng nặng như nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn mủ huyết có thể dẫn đến tử vong

1.1.3.2 Điều trị nhiễm khuẩn vết mổ

Trang 21

* Áp xe nóng:

- Định nghĩa: Áp xe nóng là một ổ khu trú theo sau một viêm nhiễm cấp tính, như sau một chấn thương bị nhiễm trùng, mụn nhọt, vết mổ nhiễm trùng hoặc một viêm tấy

- Nguyên nhân: Áp xe nóng được tạo ra bởi sự xâm nhập dưới da của những vi khuẩn làm mủ như tụ cầu khuẩn (Staphylococcus epidermidis) hoặc tụ cầu khuẩn vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu khuẩn Trong đó, tụ cầu khuẩn vàng là hay gặp nhất Hiếm hơn như phế cầu, lậu cầu, trực khuẩn Coli, vi khuẩn kỵ khí (vi khuẩn yếm khí)

- Triệu chứng lâm sàng: Áp-xe nóng tiến triển qua 2 giai đoạn

- Giai đoạn lan tỏa: đau nhức, buốt ở một vùng cơ thể Có dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, ớn lạnh, uể oải, nhức đầu Khám có 4 triệu chứng

cơ bản: Khối u hoặc vùng sưng cứng ở trung tâm và đóng bánh ở viền ngoài, sờ ngay khối u thấy nóng Bề mặt khối u đỏ so với da xung quanh Ấn ngay khối u rất đau Khi điều dưỡng thăm khám và hỏi bệnh có thể phát hiện thấy một ngõ vào như một vết thương nhỏ, chỗ tiêm dưới da hoặc bắp thịt Những dấu hiệu lan ra lằn đỏ hoặc viêm bạch mạch, viêm hạch bạch huyết cấp tính Hỏi người bệnh có thể phát hiện những yếu tố thuận lợi cho bệnh phát sinh như tiểu đường, lao…

- Giai đoạn tụ mủ (sau vài ngày): đau nhói, buốt mất đi, nhường chỗ cho cảm giác căng nhức theo nhịp đập của tim làm người bệnh mất ngủ Dấu hiệu toàn thân nặng hơn: sốt dao động, thử máu bạch cầu tăng (tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính tăng) Khối u đóng bánh ở viền ngoài bây giờ sờ thấy mềm hơn trung tâm có thể phát hiện dấu chuyển sóng (fluctuation): hai đầu ngón tay đặt cách nhau vài cm ở hai cực của ổ mủ, khi ấn bên này ngón tay bên kia bị xô đẩy

- Diễn biến của áp-xe nóng

Ở giai đoạn lan tỏa nếu điều trị kháng sinh có thể khỏi sau vài ngày

Ở giai đoạn tụ mủ có 2 cách: nếu rạch áp-xe tháo mủ và dùng kháng sinh, vết rạch sẽ liền sẹo sau 5–7 ngày Nếu không được mổ rạch tháo mủ, áp-xe có thể tự vỡ và rò mủ kéo dài, hoặc có thể gây những biến chứng tại chỗ như viêm

Trang 22

bạch mạch cấp tính, viêm hạch mủ hay những biến chứng toàn thân như nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn mủ huyết có thể đưa đến tử vong

- Chăm sóc:

Điều dưỡng theo dõi nhiệt độ, nếu người bệnh sốt quá cao nên chườm mát

và cho thuốc giảm nhiệt theo y lệnh, nên ghi nhiệt độ thành biểu đồ để theo dõi Người bệnh rất đau, đây là đau thực thể, điều dưỡng đánh giá mức độ đau, tìm

tư thế giảm đau, thực hiện thuốc giảm đau và theo dõi tác dụng thuốc Để giảm đau cho người bệnh tư thế cũng rất quan trọng, tránh thăm khám thường xuyên, tránh đè cấn lên ổ áp-xe Kháng sinh theo y lệnh, thực hiện kháng sinh đúng giờ, đúng liều và theo dõi diễn tiến của bệnh Phụ giúp bác sĩ rạch ổ nhiễm trùng, khi rạch mủ nên có mẫu cấy giúp điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ Giúp người bệnh tìm tư thế giảm đau sau rạch, tránh đè cấn hay băng quá chặt lên vùng vết thương

Thay băng thực hiện ngày 2 lần hay có thể nhỏ giọt liên tục để rửa vết thương Dẫn lưu cần được theo dõi số lượng, màu sắc, tính chất dịch thường xuyên Trong khi thay băng điều dưỡng cần quan sát và nhận định tình trạng vết thương để giúp bác sĩ điều trị thích hợp Vệ sinh sạch sẽ tránh lây nhiễm từ ngoài vào nhất là vùng da xung quanh Cách ly tốt với những vết thương khác và những người bệnh xung quanh

* Áp-xe lạnh:

- Định nghĩa: Áp-xe lạnh là một ổ mủ hình thành chậm, thường chỉ có triệu chứng sưng, không có triệu chứng nóng, đỏ và đau Nguyên nhân thường do vi khuẩn lao, hiếm hơn có thể do nấm hoặc trực khuẩn thương hàn

- Triệu chứng lâm sàng:

+ Triệu chứng tại chỗ: Áp-xe lạnh diễn biến qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu: Có một khối u nhỏ cứng di động không đau, không đỏ, không nóng Khối u này có thể tồn tại khá lâu trong nhiều tháng mà không biến đổi gì

Trang 23

Giai đoạn có mủ: dần dần khối u mềm lại Khám có dấu hiệu chuyển sóng,

sờ ấn không đau Chọc dò ở chỗ da lành xa ổ áp xe sẽ rút ra được mủ loãng, váng, có chất lợn cợn như bã đậu

Giai đoạn rò mủ: ổ mủ lan dần ra làm da trên ổ mủ trở nên tím; sau đó da bị loét và vỡ mủ ra ngoài Khi áp xe lạnh vỡ ra ngoài da thì rất khó lành, các vi khuẩn sinh mủ có thể xâm nhập vào ổ áp xe gây bội nhiễm và lúc đó sẽ có triệu chứng sưng, nóng, đỏ, đau Như vậy, một ổ áp xe lạnh đã biến thành áp xe nóng + Triệu chứng toàn thân: vì áp xe lạnh là một biến chứng của bệnh lao, do

đó thường gặp trên người bệnh gầy, suy kiệt Cần khám toàn thân, phổi, xương, các hạch ở vùng lân cận Thử xét nghiệm máu VS tăng, bạch cầu có thể tăng hoặc bình thường, tỷ lệ tân bào tăng do tình trạng nhiễm trùng mạn tính Phản ứng trong da với tuberculin (+), BCG (+) X quang phổi có thể phát hiện lao phổi

- Điều trị: Chủ yếu là điều trị nội khoa, không rạch tháo mủ đối với áp-xe lạnh vì nó sẽ gây ra rò mủ kéo dài, trừ trường hợp lao cột sống có áp-xe lạnh chèn ép gây liệt chi dưới

- Chăm sóc:

Nhận định và lượng giá mức độ sưng Theo dõi dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau do những đợt viêm cấp Áp-xe lạnh chủ yếu là do bệnh lý mạn tính như lao, nấm… Vì thế, người bệnh thường được điều trị nội khoa lâu dài, điều dưỡng hướng dẫn người bệnh uống thuốc điều trị theo phác đồ hướng dẫn, đúng giờ, đúng liều, đúng thời gian Dinh dưỡng cho người bệnh rất quan trọng vì đây là một phần quan trọng trong sự hồi phục của bệnh Vừa thuốc vừa dinh dưỡng đúng giúp người bệnh chóng hồi phục Điều dưỡng hướng dẫn cách ăn uống, chất lượng dinh dưỡng cho người bệnh Cung cấp kiến thức về bệnh, cách chăm sóc, phòng ngừa, lây lan Người bệnh thường không điều trị nội trú mà được điều trị ngoại trú Vì thế việc theo dõi thường xuyên cần được quan tâm Người bệnh có thể là mầm lây cho cộng đồng, cho gia đình nên việc giáo dục người bệnh tự chăm sóc và tránh lây lan trong cộng đồng là nhiệm vụ quan trọng

* Viêm tấy lan tỏa (Phlegmon Diffus = Cellulite):

Trang 24

- Định nghĩa: Viêm tấy lan tỏa là tình trạng viêm cấp tính tế bào với 2 đặc điểm là xu hướng lan tỏa mạnh không giới hạn và hoại tử các mô bị xâm nhập

- Nguyên nhân: Vi khuẩn gây viêm tấy lan tỏa thường gặp nhất là loại liên cầu khuẩn (Streptococcus), tụ cầu khuẩn vàng (Staphylococcus aureus); thường gây bệnh trên người bệnh nghiện rượu, tiểu đường, suy thận…

- Triệu chứng: gồm 2 giai đoạn

+ Giai đoạn khởi đầu:Triệu chứng toàn thân: rét run, sốt cao, mệt nhọc, buồn nôn, mất ngủ

Khám: nơi viêm gần ngõ vào của vết thương sưng phồng lên và lan rộng,

da bóng đỏ, có những chỗ tái bầm, ấn đau

+ Giai đoạn trễ:Các mô viêm bị hoại tử, tự vỡ ra ngoài và được loại bỏ Nếu người bệnh không được điều trị kịp thời, tình trạng nhiễm độc nặng có thể khiến người bệnh tử vong trong vòng 24 – 48 giờ

- Biến chứng: Viêm khớp có mủ, viêm tắc tĩnh mạch sau nhiễm trùng lan

ra Viêm mủ màng phổi, viêm nội tâm mạc do ổ mủ di căn của nhiễm khuẩn mủ huyết

- Điều trị: Nội khoa: kháng sinh liều cao ở giai đoạn khởi đầu, mổ tháo mủ

và dẫn lưu ở giai đoạn hoại tử

- Chăm sóc:

Điều dưỡng lau mát khi người bệnh sốt cao, theo dõi nhiệt độ, thực hiện thuốc giảm sốt Cần theo dõi hô hấp, tri giác vì người bệnh rất dễ thiếu oxy do sốt cao Viêm tấy lan tỏa làm người bệnh đau nhiều, điều dưỡng nên giúp người bệnh tìm tư thế giảm đau, thực hiện thuốc giảm đau, giảm thăm khám Vì là nhiễm trùng rất nặng, vết thương rạch phức tạp và rộng nên cần thực hiện kháng sinh đúng liều, đúng giờ Đây là một vết thương rạch rộng nên điều dưỡng cần chăm sóc vết thương, thấm dịch một hay hai lần trong ngày Hầu hết thầy thuốc

sẽ dẫn lưu ổ mủ, điều dưỡng chăm sóc vết thương vô khuẩn, báo cáo chính xác

số lượng, màu sắc, tính chất dịch và rút từ từ dẫn lưu theo y lệnh Khi chăm sóc, điều dưỡng tránh vết thương lành từ bên ngoài da nhưng ổ mủ bên trong vẫn tiến triển và như thế tình trạng người bệnh có nguy cơ rò dịch Vết thương lành khi

Trang 25

có sự kết hợp giữa chăm sóc vết thương, kháng sinh và dinh dưỡng Việc nâng cao thể trạng người bệnh là một khâu quan trọng Người bệnh luôn được cung cấp đủ protide, vitamin như vitamin A, D, E, C, khoáng chất như Zn, Fe,…

* Viêm bạch mạch và viêm hạch bạch huyết cấp tính:

- Định nghĩa: Viêm bạch mạch cấp tính là nhiễm trùng cấp tính của các mạch bạch huyết do vi khuẩn Khi nhiễm trùng này lan đến các hạch bạch huyết

sẽ gây nên viêm hạch bạch huyết cấp tính

- Sinh lý bệnh: Khởi đầu qua vết thương vi khuẩn lọt vào những mạch bạch huyết nông ở da (viêm bạch mạch lưới), kế đến lan đến những mạch bạch huyết

ở sâu hơn, chạy song song với mạch máu

- Triệu chứng: Đau nhức một ngón tay hoặc ngón chân nơi bị thương, đau dọc lên theo chi Sốt 38,5 oC - 39 oC Khám thấy phần mềm vết thương sưng nề,

da phía trên nóng, sưng đỏ với những lằn chỉ đỏ kết thành mạng lưới, ấn đau, thốn (viêm bạch mạch lưới), phần chi phía trên vết thương có những lằn đỏ sẫm, song song nhau, sờ như sợ dây cộm, cứng, ấn rất đau (viêm thân bạch mạch) Hạch phía trên vùng khoeo và hang (nếu nhiễm trùng chi dưới), vùng nách (nếu nhiễm trùng chi trên) sung to, di động, ấn đau, sờ nóng (viêm hạch bạch huyết cấp tính) Hạch có thể dính chum nhau, cứng, đau, không di động được (viêm hạch bạch huyết cấp kèm viêm quanh hạch), có thể tiến triển thành viêm tấy hạch (adenophlegmon): đau nhiều hơn, sốt cao hơn, rét run, hạch sưng to, đỏ, nóng, Vài ngày sau sờ có dấu chuyển song (viêm hạch mưng mủ) cần phải xẻ dẫn lưu mủ

- Chăm sóc: Chăm sóc người bệnh sốt, ghi tình trạng sốt theo biểu đồ Ngoài các biện pháp giảm sốt như trên điều dưỡng còn chú ý tình trạng đau ở các hạch trên người bệnh Thực hiện y lệnh thuốc giảm đau, giảm sốt, kháng sinh Khi tháo mủ, điều dưỡng cần chăm sóc vết thương đúng kỹ thuật vô trùng 1.1.4 Chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai

Khi đã chẩn đoán NKVM thì vết mổ cần được mở, kiểm tra, dẫn lưu, rửa, cắt lọc mô hoại tử, và để hở Nếu nghi ngờ cân bị phá vỡ, nên đặt dẫn lưu trong phòng mổ Khi nhiễm trùng được làm sạch, mô hạt thấy rõ thì vết thương có thể

Trang 26

được đóng lại Điều trị kháng sinh là cần thiết khi có mặt các triệu chứng toàn thân và các bệnh đi kèm của người bệnh (như suy giảm miễn dịch, tiểu đường,…)

Rửa và dẫn lưu vết thương: Rửa vết mổ bằng dung dịch nước muối để loại

bỏ mô chết, dịch tiết và máu cục Nước muối được sử dụng vì nó là dung dịch đẳng trương và không ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương

Cắt lọc vết mổ được thực hiện với kẹp và dao mổ hoặc kéo Tất cả những

dị vật và mô yếu được cắt bỏ vì chúng làm chậm quá trình liền và thúc đẩy nhiễm trùng Cắt lọc vết mổ dừng lại khi mô hoại tử đã được lấy hết và mô hạt xuất hiện

Những vết thương sâu cần phải đắp gạc ẩm Gạc được làm ẩm với dung dịch nước muối sinh lý và đắp vào trong vết mổ và được phủ ở ngoài với những lớp gạc khô Khi gạc được lấy ra (tốt nhất là trước khi khô hẳn), mô hoại tử được lấy ra cùng với nó Thay băng 3 lần/ngày cho đến khi bề mặt vết mổ được phủ phần lớn bởi mô hạt

Băng vết mổ: Băng vết mổ giúp giữ độ ẩm và ấm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lành Khi mô hoại tử được lấy bỏ và vết mổ tạo hạt, có thể thay băng 1 lần/ ngày hoặc cách ngày để tránh làm xáo trộn quá trình lành

 Một số lưu ý khi chăm sóc người bệnh:

- Người bệnh sốt cao (39 - 40oC) thì cần giảm sốt bằng nhiều cách (tùy từng trường hợp cụ thể) như:

Trang 27

- Khi có nguy cơ nhiễm khuẩn kỵ khí cần tiêm phòng huyết thanh chống uốn ván SAT, theo dõi sát người bệnh, cắt lọc để hở vết thương, dùng kháng sinh theo y lệnh

- Dinh dưỡng, đảm bảo đủ nhu cầu năng lượng và bổ sung vitamin C Lượng nước uống: 2-3 l/ ngày

- Vệ sinh: Người bệnh cần tắm rửa, vệ sinh cá nhân sạch sẽ

- Vận động nhẹ nhàng

- Nghỉ ngơi, thư giãn và giữ tinh thần thoải mái

- Tái khám theo hẹn hoặc tái khám ngay khi có các triệu chứng bất thường như:

+ Đau bụng hoặc đau vết mổ tăng dần

+ Đỏ hoặc sưng tấy

+ Vết mổ trông có vẻ lớn hơn, sâu hơn

1865, Pasteur phát hiện ra loại liên cầu khuẩn gây nhiễm khuẩn hậu sản, người

ta đề ra phương pháp khử khuẩn và vô khuẩn Tỷ lệ tử vong đã giảm rõ rệt từ 9,5% xuống 1% và 0,3% Năm 1929, Fleming phát minh kháng sinh đầu tiên là penicilin và đến 1935 sulfonamid lần đầu tiên được dùng để điều trị các bệnh

Trang 28

nhiễm khuẩn Tiếp đến những tiến bộ trong gây mê hồi sức (1950) và những cải tiến trong kỹ thuật khâu làm cho phẫu thuật mổ lấy thai càng hoàn thiện hơn, đảm bảo an toàn tối đa cho sản phụ Nghiên cứu về nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai nổi bật qua 4 giai đoạn lịch sử: Thời kỳ trước thế kỷ XIX, tỷ lệ tử vong do mổ lấy thai rất cao Thời kỳ dự phòng và cách ly thai phụ Tarnier (1857, Pháp) và Semmelweiss (1884, Áo), dựa vào nhận xét lâm sàng cho rằng nhiễm khuẩn hậu sản có tính lây truyền, từ đó người đỡ đẻ phải rửa tay bằng nước pha vôi, cách ly thai phụ Thời kỳ vi khuẩn Pasteur phân lập được liên cầu khuẩn Phương pháp khử khuẩn, vô khuẩn trong ngoại khoa được đề xuất bởi Lister, Pasteur Thời kỳ kháng sinh: Fleming (1929) phát minh kháng sinh đầu tiên là penicilin, tiếp đến

1935 sulfonamid lần đầu tiên được dùng để điều trị các bệnh nhiễm khuẩn Sau

đó hàng loạt kháng sinh khác ra đời như ampixilin, gentamyxin, metronidazol,

đã làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn sau mổ đẻ giảm đi rõ rệt

Theo nghiên cứu của tác giả Margaret A Olsen và cộng sựu tiến hành trong 2 năm từ tháng 7 năm 1999 đến tháng 6 năm 2001 tại Bệnh viện Barnes-Jewish, tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ sau mổ lấy thai đường ngang trong 2 năm nghiên cứu là 5% Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng chỉ số BMI cao, phẫu thuật phục vụ giảng dạy, không điều trị kháng sinh cephalosporin trước hoặc trong phẫu thuật và sự phát triển của khối máu tụ dưới da làm tăng nguy cơ của nhiễm trùng vết mổ [15]

Các nghiên cứu của tác giả Schneid-Kofman (2005) và Johnson (2006) với

cỡ mẫu đủ lớn và phân tích đa biến được sử dụng để xác định các yếu tố nguy cơ độc lập của NKVM sau MLT, xác định các yếu tố sau liên quan đến tăng nguy

cơ của NKVM: tuổi trẻ, béo phì, tăng huyết áp hoặc tiền sản giật, đái tháo đường, nhiễm trùng ối, nhiễm trùng trước phẫu thuật ở cơ quan khác, bệnh nặng trước phẫu thuật, con so, khám thai ít hơn 7 lần trước khi sinh, thời gian vỡ ối kéo dài, vỡ ối sớm, mổ cấp cứu, không điều trị kháng sinh dự phòng, thời gian phẫu thuật kéo dài và sinh đôi [17], [18]

1.2.2 Tại Việt Nam

Ngày đăng: 04/04/2023, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nội vụ (2015). Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế điều dưỡng (Ban hành kèm theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22/5/2005 của Bộ trưởng Bộ nội vụ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế điều dưỡng
Tác giả: Bộ nội vụ
Nhà XB: Bộ Nội vụ
Năm: 2015
2. Bộ Y tế (2012). Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ, Ban hành kèm theo Quyết định số: 3671/QĐ-BYT ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Bộ Y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng ngừa nhiễm khuẩn vết mổ
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2012
3. Bộ Y tế (2021). Thông tư 31/2021/TT- BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về Quy định hoạt động Điều dưỡng trong Bệnh viện, ban hành ngày 28/12/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 31/2021/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về Quy định hoạt động Điều dưỡng trong Bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2021
4. Chủ Quanh Độ (2002). Góp phần nghiên cứu các hình thái lâm sàng và những yếu tố liên quan gây nhiễm khuẩn sau mổ đẻ tại Viện Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh (từ tháng 1/2001 đến tháng 6/2002), Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu các hình thái lâm sàng và những yếu tố liên quan gây nhiễm khuẩn sau mổ đẻ tại Viện Bảo vệ Bà mẹ Trẻ sơ sinh (từ tháng 1/2001 đến tháng 6/2002)
Tác giả: Chủ Quanh Độ
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2002
5. Nguyễn Thị Hiền (2017). Nghiên cứu các chỉ định mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2016, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các chỉ định mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2016
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2017
6. Nguyễn Đức Hinh (2006). Bài giảng sản phụ khoa dùng cho sau đại học, Nhà xuất bản y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng sản phụ khoa dùng cho sau đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Hinh
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2006
7. Nguyễn Thị Phương Liên (2005). Tình hình viêm nội mạc tử cung sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 6/2005-5/2005, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình viêm nội mạc tử cung sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ 6/2005-5/2005
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Liên
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
9. Nguyễn Thị Phương Thảo (2016). Nghiên cứu nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai được điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 11/2014 đến tháng 08/2015, luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhiễm khuẩn vết mổ sau mổ lấy thai được điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 11/2014 đến tháng 08/2015
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thảo
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2016
10. Quản Thanh Thuỷ (2020). Thwucj trạng công tác chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2020, chuyên đề chuyên khoa 1, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2020
Tác giả: Quản Thanh Thuỷ
Nhà XB: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Năm: 2020
12. Association A.N. (2003). What is Nursing? Availabe at: http://www.nursingworld.org/EspecciallyForYou/StudentNurses.aspx, Accessed: 20/11/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is Nursing
Tác giả: Association A.N
Năm: 2003
13. Hamilton BE, Martin JA, Osterman MJK, Curtain SC. Births: Preliminary Data for 2014. Natl Vital Stat Rep. 2015; 64 (6): 1-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Births: Preliminary Data for 2014
Tác giả: Hamilton BE, Martin JA, Osterman MJK, Curtain SC
Nhà XB: National Vital Statistics Reports
Năm: 2015
15. Olsen MA, Butler AM, Willers DM (2008). Risk factors for surgical site infection after low transverse cesarean section. Infect Control Hosp Epidemiol, 29 (6), 477-84, discussion 485-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors for surgical site infection after low transverse cesarean section
Tác giả: Olsen MA, Butler AM, Willers DM
Nhà XB: Infection Control & Hospital Epidemiology
Năm: 2008
17. Johnson A, Young D, Reilly J (2006). Caesarean section surgical site infection surveillance. J Hosp Infect, 64, 30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Caesarean section surgical site infection surveillance
Tác giả: Johnson A, Young D, Reilly J
Nhà XB: Journal of Hospital Infection
Năm: 2006
8. Vũ Duy Minh và Nguyễn Hoàng Long (2009). Tỷ lệ nhiễm khuẩn sau mổ lấy thai và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Từ Dũ. Bệnh viện Từ Dũ Khác
11. Phạm Thu Xanh (2006). Nhận xét tình hình sản phụ có sẹo mổ cũ được xử trí tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong 2 năm 1995 và 2005, Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II, Trường Đại học Y Hà Nội.* Tiếng Anh Khác
14. Mukherjee SN (2006). Rising caesarean section rate. J Obstet Gynecol India. 2006; 56 (4): 298-300 Khác
16. Opoien HK, Valbo A, Grinde-Andersen A, Walberg M. Post-cesarean surgical site infections according to CDC standards: rates and risk factors. A prospective cohort study. Acta Obstet Gynecol Scand. 2007;86(9):1097-1102 Khác
18. Schneid-Kofman N, Sheiner E, Levy A, Holcberg G (2005). Risk factors for wound infection following cesarean deliveries, Int J Gynaecol Obster, 90, 10-15 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm