˗ Trục đàn: dùng để làm căng dây hoặc làm chùn dây để tạo các âm sắc khác nhau.. - Kỹ thuật bàn tay trái: + Ngón rung: là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dâ
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN SÁO Nhạc cụ dân tộc truyền thống của Việt Nam
GV hướng dẫn: Nguyễn Văn Quyết
Trang 2PHỤ LỤC
PHẦN MỘT: NHẠC CỤ DÂN TỘC TRUYỀN THỐNG 3
1 – ĐÀN TRANH 3
1.1 – Cấu tạo của Đàn tranh 3
1.2 – Cách chơi Đàn tranh 4
1.2.1 – Tư thế khi chơi Đàn tranh 4
1.2.2 – Một số kỹ thuật chơi Đàn tranh 4
1.2.3 – Nguyên tắc phát âm Đàn tranh 5
2 – ĐÀN TỲ BÀ 6
2.1 – Cấu tạo của Đàn tỳ bà 6
2.2 – Cách chơi Đàn tỳ bà 7
2.2.1 – Tư thế khi chơi Đàn tỳ bà 7
2.2.2 – Một số kỹ thuật chơi Đàn tỳ bà 7
3 – ĐÀN NGUYỆT 8
3.1 – Cấu tạo của Đàn nguyệt 9
3.2 – Cách chơi Đàn nguyệt 10
3.2.1 – Tư thế khi chơi Đàn nguyệt 10
3.2.2 – Một số kỹ thuật chơi Đàn nguyệt 10
3.2.3 – Nguyên tắc phát âm Đàn nguyệt 11
4 – ĐÀN CÒ 12
4.1 – Cấu tạo của Đàn cò 12
4.2 – Cách chơi Đàn cò 13
4.2.1 – Tư thế khi chơi Đàn cò 13
4.2.2 – Một số kỹ thuật chơi Đàn cò 14
4.2.3 – Nguyên tắc phát âm Đàn cò 15
5 – ĐÀN TAM 15
5.1 – Cấu tạo của Đàn tam 16
5.2 – Cách chơi Đàn tam 16
5.2.1 – Tư thế khi chơi Đàn tam 16
5.2.2 – Một số kỹ thuật chơi Đàn tam 17
5.2.3 – Nguyên tắc phát âm Đàn tam 18
6 – SÁO TRÚC 18
6.1 – Cấu tạo của Sáo trúc 19
6.2 – Cách chơi Sáo trúc 19
6.2.1 – Tư thế khi chơi Sáo trúc 19
6.2.2 – Một số kỹ thuật chơi Sáo trúc 20
6.2.3 – Nguyên tắc phát âm Sáo trúc 20
PHẦN HAI: CẢM NGHĨ CỦA BẢN THÂN VỀ TÁC DỤNG CỦA ÂM NHẠC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI 21
Trang 3PHẦN MỘT: NHẠC CỤ DÂN TỘC
1 – ĐÀN TRANH
Đàn tranh - còn được gọi là đàn thập lục hay đàn có trụ chắn, là nhạc cụ truyền thống của người phương Đông, có xuất xứ từ Trung Quốc Đàn thuộc họ dây, chi gảy; ngoài ra họ đàn tranh có cả chi kéo và chi gõ Loại 16 dây nên đàn còn có tên gọi là đàn Thập lục Nay đã được tân tiến thành 21 - 25, 26 dây (cổ tranh của Trung Quốc)
( Nguồn: Tạ Thâm )
Lịch sử của đàn tranh kéo dài từ lịch sử Trung Quốc thời kỳ đầu Đó là một trong những nhạc cụ có dây quan trọng nhất được tạo ra ở Trung Quốc, trước khi đàn cổ tranh ra đời, người Hoa đã chế tạo ra đàn sắt (sắt
cầm hoặc cổ sắt) , có âm vực rộng tới 5 quãng tám
1.1 – Cấu tạo của đàn tranh
Đàn tranh Việt Nam có dạng hình hộp dài:
30cm, có lỗ và con chắn để mắc dây đàn Đầu nhỏ rộng 15 – 20cm
0,05cm
được đục 16 lỗ nhỏ để luồn dây đàn qua và giúp cố định dây đàn
Trang 4˗ Ngựa đàn (con nhạn): nằm ở khoang giữa, dùng để gác các dây Con nhạn có thể di chuyển để điều chỉnh cao độ của mỗi dây đàn Thường được làm bằng gỗ, nhựa hoặc xương, ngà
˗ Trục đàn: dùng để làm căng dây hoặc làm chùn dây để tạo các âm sắc khác nhau
˗ Dây đàn: dây đàn ngày xưa là dây làm bằng tơ Ngày nay
đa số làm bằng dây kim loại như đồng, sắt, inox, với các kích cỡ khác nhau
1.2 – Cách chơi đàn tranh
1.2.1 – Tư thế khi chơi đàn tranh:
Ta có thể ngồi hoặc đứng khi chơi đàn tranh Các nghệ sĩ thường ngồi khi diễn tấu Đàn tranh Vị trí ngồi cũng là một điều rất quan trọng trong chơi Đàn tranh Ngồi trên ghế cao vừa phải, hai chân phải chạm đất, hai cánh tay mở ra vừa phải từ vai xuốn khủy tay đến bày tay
( Nguồn: tatham.vn )
1.2.1 – Một số kỹ thuật chơi đàn tranh:
- Kỹ thuật bàn tay phải:
Trước đây thường dùng 2 ngón gẩy, ngày nay phổ biến là
3 ngón, cá biệt sử dụng 4 hoặc 5 ngón Đàn được gẩy bằng móng
đồi mồi ở miền Bắc và móng inox ở miền Nam
là cách gảy lướt trên hàng dây xen kẽ các câu nhạc, thường ngón
Trang 5Á hay ở vào phách yếu để chuẩn bị vào một phách mạnh đầu hay cuối câu nhạc
+ Á xuống: theo lối cổ truyền, Á xuống là gảy liền các âm
liền bậc, từ một âm cao xuống các âm thấp, tức là sử dụng ngón cái của tay phải lướt nhanh và đều qua các hàng dây, từ cao xuống thấp
+ Á lên: là kỹ thuật lướt qua hàng dây, nhưng vuốt bằng
ngón 2 hoặc ngón 3 từ một âm thấp lên các âm cao
+ Á vòng: kết hợp Á lên và Á xuống, Á vòng thường chuẩn
bị cho mở đầu hoặc kết thúc một câu nhạc, có trường hợp nó được
sử dụng để tả cảnh sóng nước, gió thổi, mưa rơi và có thể sử dụng ngón Á vòng liên tiếp với nhiều âm hơn
+ Song thanh: 2 nốt cùng phát ra một lúc, song thanh truyền
thống chỉ dùng quãng 8, các nhạc sĩ hiện đại còn kết hợp dùng các quãng khác
+ Ngón vê: dùng ngón tay phải, ngón 2 hoặc kết hợp ngón 1
– 2 – 3, 1 – 3
- Kỹ thuật bàn tay trái:
+ Ngón rung: là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung
nhẹ trên sợi dây đàn (bên trái hàng nhạn đàn) mà tay phải vừa
gảy
+ Ngón nhấn: là ngón sử dụng để đánh thêm được những âm
khác có thể là 1/2 âm, 1/3 âm, 1/4 âm mà hệ thống dây đàn Tranh không có Cách nhấn là sử dụng ba đầu ngón tay trái nhấn xuống tùy theo yêu cầu của bài (nửa cung nhấn nhẹ, 1 cung nhấn nặng hơn) nghệ nhân dùng tai nghe để điều chỉnh tay nhấn
+ Ngón nhấn luyến: dùng ngón nhấn để luyến 2 – 3 âm có cao
độ khác nhau
1.2.2 – Nguyên tắc phát âm của đàn tranh:
Tiếng đàn tranh trong trẻo, sáng sủa Tầm âm của đàn rộng 3 quãng 8, từ Sol 1 lên Sol 3 hoặc Đô
1 lên Đô 3, tùy thuộc vào cách lên dây đàn
Khi chơi đàn tranh, người ta thường dùng 2, 3, 4 hoặc cả 5 ngóng tay gảy vào các dây để tạo ra âm thanh
Trang 6Đàn tranh thể hiện rõ nhất ngũ cung của Việt Nam, được lên dây theo kiểu cổ nhạc:
– Dây 1 là dây Hò tương ứng nốt Sol 3, có khi thấp hơn là Fa 3 – Dây 2 là day Xự tương ứng với La 3
– Dây 3 là dây Xang tương ứng với Đô 4
2 – ĐÀN TỲ BÀ
Đàn tỳ bà là một nhạc cụ dây gảy của người phương Đông được phổ biến nhất ở Trung Quốc, qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa khác nhau tuỳ theo từng vùng hoặc từng quốc gia Á Đông
số ghi chép là khoảng hơn 2000 năm lịch sử, qua thời gian dài sử dụng
nó đã được bản địa hóa khác nhau tuỳ theo từng vùng hoặc từng quốc gia: Nhật Bản với tên gọi Biwa, ở Triều Tiên là Bipa,…
Trang 7˗ Thân đàn: Đàn Tỳ Bà không có dọc (cần đàn) biệt lập mà
dọc đàn gắn liền mang thân đàn, xưa kia vẫn có phím nhưng là phím giả Ngày nay đàn Tỳ Bà có gắn 3 phím trên phải đàn và 11 phím gắn trên mặt đàn, ngoài ra còn thêm 2 phím cho 2 dây cao Các phím đều phải chăng và gắn ngay lập tức kề nhau dựa theo thang âm bảy cung chia đều
˗ Dây đàn: Có 4 dây bằng tơ se nay thay bằng dây nylon
˗ Bộ phận lên dây: Có 4 trục gỗ để lên dây, ở phía cuối thân
đàn với ngựa đàn (để mắc dây) phòng ban lên dây được cải tiến để dây ko bị chùng xuống
˗ Phím gảy đàn: nghệ nhân gảy đàn bằng miếng gảy nhựa
hay đồi mồi mang các ngón tay, ngón hất, ngón vê, đặc biệt đàn Tỳ
Bà sử dụng các ngón tay vẩy đuôi trên dây đàn gọi là ngón phi
2.2 – Cách chơi đàn tỳ bà:
2.2.1 – Tư thế chơi đàn tỳ bà:
˗ Ngồi thấp: xếp chân trên chiếu
˗ Ngồi thẳng trên ghế, đàn được đặt gần như thẳng đứng
(Nguồn: Wikipedia )
2.2.2 – Một số kỹ thuật chơi đàn tỳ bà:
˗ Ngón phi: Ngón phi của đàn Tỳ Bà có thể đánh trên cả 4
dây hoặc phi trên từng cặp dây (dây1+2; dây 2+3 và 3+4) hoặc phi
trên từng dây 1 hoặc 4 dễ dàng hơn
˗ Ngón nhấn: Các phím đàn gắn bí quyết nhau ko xa lắm,
mỗi phím lại ko cao như đàn Nguyệt nên các loại ngón nhấn (nhấn, nhấn luyến lên, nhấn láy…) đều sở hữu các hạn chế, thường chỉ nhấn
từ nửa cung tới 1 cung ngay tắp lự bậc, hiệu quả ngón nhấn thấp nhất
là khoảng âm trầm và 1 phần khoảng âm giữa
Trang 8˗ Ngón vuốt: Được tiêu dùng rộng rãi ở đàn Tỳ Bà, trong
những tác phẩm cổ truyền ngón vuốt được dùng phổ biến như ngón nhấn của đàn Nguyệt Ký hiệu ngón vuốt không vê dùng gạch chéo nối giữa hai nốt Vuốt với vê dùng gạch chéo nối giữa hai nốt song song gạch hai gạch chéo ở nốt nhạc sở hữu đuôi, nếu nốt nhạc ko sở
hữu đuôi thì gạch hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt
˗ Vuốt xuống: Là bí quyết vuốt dây của tay trái trong khi tay
nên ko gảy, không vê, ko phi, âm thanh các ngón vuốt xuống phát
ra nhỏ, yếu nhưng ko thể dùng trong hòa tấu Do vậy các âm vuốt thường xen kẽ có những âm gảy, vê hay phi để sở hữu thể thừa
hưởng dư ba của những âm ấy
˗ Ngón mổ: Gần giống như ngón luyến, nhưng tay phải
không gảy dây mà ngón tay trái cứ mổ vào những cung phím để phát
ra âm thanh, âm thanh ngón mổ nghe nhỏ, yếu và sở hữu màu âm riêng biệt Không nên dùng ngón mổ trong bản nhạc sở hữu tốc độ nhanh và trong hòa tấu vì hiệu quả ngón mổ nghe siêu nhỏ Ký hiệu
ngón mổ ghi như dấu hỏi đặt trên nốt nhạc
˗ Vuốt rộng rãi dây: Có thể vuốt hai, ba dây 1 khi trong lúc
tay buộc phải gảy, vê hay phi, kỹ thuật nầy ít dùng trong diễn tấu
3 ĐÀN NGUYỆT
Đàn Nguyệt (hay Đàn Kìm) là nhạc khí loại có dọc (cần đàn)
Khác với đàn Nguyệt Trung Quốc, đàn Nguyệt Việt Nam ta có dọc đàn dài hơn và hàng phím cao Đàn Nguyệt có 8 phím, sau này gắn thêm 2 phím là 10 phím theo hệ thống âm nhạc Ngũ cung của Việt Nam ta
Theo truyền thống, nhạc cụ được phát minh ở Trung Quốc trong triều đại Tần thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 5 Tổ tiên của đàn nguyệt là đàn nguyễn
Trang 9( Nguồn: Wikipedia )
3.1 – Cấu tạo đàn nguyệt
˗ Bầu vang: Bộ phận hình tròn ống dẹt (riêng Trung Quốc
còn có phần bầu đàn hình bát giác), đường kính mặt bầu 30 cm, thành bầu 6 cm Nền mặt bầu vang có bộ phận nằm phía dưới gọi là ngựa đàn (phím) dùng để mắc dây Bầu vang không có lỗ thoát âm
˗ Cần đàn (hay dọc đàn): làm bằng gỗ cứng, dài thon mảnh,
bên trên gắn 8-11 phím đàn Những phím này khá cao, nằm xa nhau với khoảng cách không đều nhau
˗ Đầu đàn: hình lá đề hay mặt ngọc tròn chạm khắc hoa hay
rồng (thường là của Trung Quốc), gắn phía trên cần đàn, nó có 4 hóc luồn dây và 4 trục dây, mỗi bên hai trục Một số dân tộc thiểu số của Trung Quốc có đàn nguyệt với đầu cần đàn khắc đầu rồng, con dơi xoè cánh,
˗ Dây đàn: có 4 dây, trước đây làm bằng dây tơ, ngày nay
thường làm bằng dây nylon hay dây thép Tuy có 4 dây nhưng sau rút đi còn 2 trục 2 dây (một dây to một dây nhỏ) để phân biệt giữa đàn nguyệt Việt Nam, đàn nguyệt và đàn nguyễn Trung Quốc Cách chỉnh dây thay đổi tùy theo người sử dụng Có khi 4 dây cách nhau quãng 4 đúng, có khi cách quãng năm đúng hoặc quãng bảy hay quãng tám đúng Song cách thông dụng nhất vẫn là lên dây theo quãng năm đúng Đàn nguyệt là nhạc cụ gảy dây, được dùng thường
Trang 10xuyên trong ban nhạc chầu văn, tài tử, kinh kịch Trung Quốc và trong nhiều dàn nhạc dân tộc khác
3.2 – Cách chơi đàn nguyệt:
3.2.1 – Tư thế khi chơi đàn nguyệt:
– Tư thế ngồi: có 3 kiểu, tư thế ngồi phải tự nhiên, thoải mái,
thành đàn phía dưới tỳ sát lên đùi phải Lưng đàn áp sát vào cạnh sườn, nách tì nhẹ lên thành đàn trên, tay trái đỡ cần đàn, đầu đàn chếch lên phía trên sao cho cao hơn vai 1 chút
+ Ngồi xếp chân trên chiếu
+ Ngồi vắt chéo chân trên ghế
+ Ngồi tì gót chân phải vào thang ghế
– Tư thế đứng: tư thế đứng ít dùng hơn hơn tư thế ngồi, thường
dùng để vừa đi vừa đàn Khi đánh đàn ở tư thế này phải đeo đàn bằng một sợi dây Cánh tay phải đè vào mặt đàn, giữ cho mặt đàn áp sát vào người, tay trái nâng cần đàn chếch lên phía trên
(Nguồn:vietthuong.edu.vn)
3.2.2 – Một số kỹ thuật chơi đàn nguyệt
– Ngón phi: lối đánh cổ truyền, không dùng miếng gảy mà
sử dụng những ngón tay để vẩy liên tiếp nhanh trên dây đàn, ngón phi có 2 cách diễn:
+ Phi lên: thường sử dụng trên một dây đàn, bắt đầu từ ngón út rồi lần lượt những ngón khác hất vào dây đàn
+ Phi xuống: sử dụng trên cả 1 dây đàn hoặc trên
cả 2 dây Phi xuống là vẫy nhanh các ngón vào dây đàn, bắt đầu từ ngón út, rồi lần lượt những ngón khác khảy dây đàn
– Ngón vê: ngón cái và ngón trỏ tay phải cầm móng gảy,
các ngón khác khum tròn lại, cổ tay kết hợp với ngón tay điều khiển móng gảy đánh xuống, hất lên điều đặn, liên tục trên dây đàn
Trang 11– Ngón gõ: dùng những ngón tay phải gõ vào mặt đàn
– Ngón bịt: làm âm thanh vừa vang lên liền tắt đột ngột
– Ngón rung: là ngón tạo độ ngân dài của tiếng đàn và làm
tiếng đàn mềm đi ở những âm cao, âm thanh đỡ khô khan, tình cảm hơn
– Ngón nhấn: bấm và ấn mạnh lên dây đàn, làm cho tiếng
đàn cao lên
– Ngón nhấn luyến: tạo cho 2 âm nối liền nhau, luyến với
nhau nghe mềm mại như như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm
– Ngón nhún: là cách nhấn liên tục trên một cung phím nào
đó, nhấn nhiều hay ít, nhanh hoặc chậm tùy theo tình cảm của đoạn nhạc
– Ngón vỗ: thường dùng ngón 1 bấm cung phím, tay phải
gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón
2 và 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ngay ở dưới cần đàn, âm mới sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc
– Ngón chụp: tay phải ngón 1 bấm cung phím, tay phải gảy
dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác, âm thanh từ cung phím này vang lên mà không phải gảy đàn
– Ngón láy rền: là tăng cường động tác của ngón láy cho
nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải
– Ngón giật: là cách nhấn trên dây như ngón nhấn luyến
nhưng tính chất âm thanh khác
– Ngón vuốt: dùng tay trái vuốt lên hay đi xuống theo chiều
dọc của dây khi tay phải chỉ vầy 1 lần hay kết hợp với ngón vê hay ngón phi
Ngoài ra còn có nhiều kỹ thuật khác nữa
3.2.3 – Nguyên tắc phát âm đàn nguyệt:
Khi chơi đàn Nguyệt, ta dùng miếng gảy khảy vào dây đàn, kết hợp với bấm phím tạo ra âm thanh của đàn
Ngoài ra thì tùy vào tính chất âm nhạc mà ta quyết định cách lên dây khác nhau, có 3 kiểu lên dây chính:
– Dây Bắc: dây trầm cách dây cao một quãng 5 đúng (Fà – Đô) Dây bắc thích hợp với âm nhạc vui tươi, hùng tráng
Trang 12– Dây Oán: dây trầm cách dây cao một quãng 6 đúng (Mì – Đô) Dây oán thích hợp với âm nhạc nghiêm trang, sâu lắng
– Dây Tố Lan: dây trầm cách dây cao một quãng 7 thứ (Rề – Đô) Dây tố lan thích hợp với âm nhạc dịu dàng, mềm mại
Đàn Nguyệt có tầm âm rộng hơn hai quãng 8 từ Đô 1 đến
Rê 3, nếu dùng ngón nhấn sẽ có thêm hai âm nữa Tầm âm có thể chia ra 3 khoảng âm với đặc điểm như sau:
– Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm áp, mềm mại, biểu hiện tình cảm trầm lặng, sâu lắng
– Khoảng âm giữa: là khoảng âm tốt nhất của đàn Nguyệt, tiếng đàn thanh thót, vang đều, diễn tả tình cảm vui tươi, linh hoạt
– Khoảng âm cao: tiếng đàn trong sáng nhưng ít vang
4 ĐÀN CÒ ( ĐÀN NHỊ )
Đàn nhị còn được gọi là đàn cò, là 1 nhạc cụ thuộc bộ dây Đàn có 2 dây cần có tên gọi là đàn nhị Xuất hiện ở nước ta vào khoảng thế kỷ X, được người Kinh, Tày, Thái, Nùng, Dao, Mường, Khmer… tiêu dùng nhiều
( Nguồn: admmuzic.vn )
4.1 – Cấu tạo đàn cò:
– Ống nhị (bát nhị): là một bầu cộng hưởng nhằm khuếch đại
âm thanh của đàn Ống nhị có hình dạng giống như một bông hoa rau muống Một đàu được bịt bằng da rắn hay da kỳ đà, còn đầu kia thì xòe
ra như hoa rau muống đang nở và không bị bịt gì Ống nhị thường được làm bằng gỗ cứng, dài 13,8cm
– Cần nhị (cán nhị): cần nhị cắm xuyên qua ống nhị, dài khoảng 75,5cm Cần nhị có dáng thẳng, đến gần đầu cán thì uốn mềm
Trang 13mại như ngã về phía ngược hướng với ống nhị, trong bóng dáng uyển chuyển như một chú cò lã
– Trục dây: có 2 trục nhị, gắn xuyên qua cần nhị và nằm cùng hướng với ống nhị Vặn trục làm dây căng hay chùn mà cho âm thanh ra cao hay trầm
– Dây nhị: chính là 2 dây đàn, thường làm bằng tơ, nilong hoặc kim loại Dây bằng kim loại cho ra âm thanh rõ ràng Dây tơ và nilong cho ra âm thanh mềm mại, dịu dàng hơn Trong 2 dây, có 1 dây nhỏ nằm ở ngoài, và dây lớn nàm ở trong
– Cử nhị (cái suốt, khuyết nhị): là một vòng bằng đồng hoặc bằng tơ, đặt giữa cần đàn, có thể trượt lên xuống Hai dây đàn sẽ xuyên qua vòng này trước khi buộc vào ngựa đàn trên bát nhị Hai dây đàn không chạy song song, thẳng từ trục nhị tới ngựa đàn mà sẽ bị cử nhị này bóp lại gần sát nhau Cử nhị càng kéo lên phía đầu cần nhị thì âm thanh càng trầm và ngược lại
– Cung vĩ: có hình dạng như cung nỏ Phần cứng uốn cong làm từ tre, gỗ Phần dây dùng để cọ xát với dây đàn tạo ra âm thanh làm bằng tơ, lông đuôi ngựa Vì 2 dây đàn khá sát nhau, nên phải luồng cung
vĩ vào giữa 2 dây đàn
( Nguồn:
admmuzic.vn)
4.2 – Cách chơi đàn cò:
4.2.1 – Tư thế chơi đàn cò:
– Tư thế ngồi: hai ống chân dựng thẳng, úp hai bàn chân xuống,
bầu cộng hưởng để ngang, mặt bầu cộng hưởng lể lọt xuống giữa 2 đùi khoảng