NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HCM TIỂU LUẬN DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG TRẠI CÀ PHÊ Môn học Quản trị dự án Giảng viên TS Nguyễn Văn Đạt Nhóm thực hiện 1 Phạm Tuyết Minh 2 Nguy[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
TIỂU LUẬN
DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÔNG TRẠI CÀ PHÊ
Trang 2TP.HCM, tháng 03/2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
I Sự cần thiết phải đầu tư 4
II Về thị trường tiêu thụ sản phẩm 5
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHỦ ĐẦU TƯ 7
I Chủ đầu tư 7
II Tổ chức và nhân sự 7
III Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 8
PHẦN II: CĂN CỨ LẬP DỰ ÁN 9
I Căn cứ pháp lý 9
II Tài liệu sử dụng 10
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM VÙNG DỰ ÁN 11
I Điều kiện tự nhiên vùng dự án 11
II Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội 12
III Kết quả điều tra đất đai 17
IV Kết quả điều tra hiện trạng tài nguyên rừng 19
V Kết quả rà soát đất quy hoạch trồng cà phê: 20
PHẦN IV: MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 21
I Mục tiêu đầu tư 21
II Quy hoạch sử dụng đất vùng dự án 22
III Các giải pháp thực hiện 22
PHẦN V: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH 33
I Vốn đầu tư 33
II Nguồn vốn đầu tư 34
III Tiến độ đầu tư 35
VI Phân tích tài chính 36
Trang 3I Hiệu quả kinh tế 41
II Hiệu quả xã hội 41
III Hiệu quả môi trường 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
I Kết luận 43
II Kiến nghị 43
III Cam kết của chủ dự án đầu tư 44
Trang 4MỞ ĐẦU
I Sự cần thiết phải đầu tư
Năm 2022 là một năm rất thành công đối với hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt
Nam Theo thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, Việt Nam đã xuất khẩu được 1,78
triệu tấn cà phê trong năm vừa qua với tổng kim ngạch đạt trên 4,06 tỷ USD, là mức
cao nhất trong hơn 1 thập kỷ trở lại đây Thành công này đến từ việc đẩy mạnh xuất
khẩu, khi giá cà phê trên thị trường đạt mức cao nhất kể từ năm 2011, kết hợp với việc
Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất 7 lần liên tiếp khiến tỷ giá USD/VND
tăng mạnh đột biến
Bên cạnh đó, trong năm 2023, Trung Quốc đang tích cực mở cửa nền kinh tế sau đại
dịch COVID-19 Điều này không chỉ thúc đẩy sự hồi phục về kinh tế của riêng Trung
Quốc mà còn có thể đóng góp vào sự phát triển chung của toàn cầu khi đây hiện là
quốc gia có quy mô kinh tế lớn thứ 2 thế giới và là đối tác thương mại hàng đầu của
nhiều quốc gia như Mỹ, Việt Nam, …
Cũng chính nhờ sự mở cửa này mà Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã có sự điều chỉnh lại
tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm 2023 Theo đó, mức tăng trưởng kinh tế toàn
thế giới được điều chỉnh từ 2,7% lên 2,9% Các nền kinh tế lớn như Mỹ và khu vực
đồng tiền chung châu Âu cũng có sự khởi sắc lần lượt từ 1,0% lên 1,4% và 0,5% lên
0,7% Sự tăng trưởng trở lại giúp thị trường kỳ vọng chi tiêu của người dân sẽ được
nới lỏng và nhu cầu đối với cà phê, mặt hàng phụ thuộc nhiều vào sức khỏe nền kinh
tế của các quốc gia sẽ có sự khởi sắc
Sự chênh lệch giá giữa cà phê Arabica và Robusta trong bối cảnh trong bối cảnh lo
ngại suy thoái kinh tế, khiến người dân có xu hướng chuyển từ tiêu dùng Arabica sang
Robusta để vẫn có thể sử dụng cà phê với chi phí giảm thiểu Điều này đồng nghĩa với
việc nhu cầu có thể sẽ suy yếu nhưng không tập trung vào Robusta, và là một thông
tin tích cực đối với cà phê Robusta ở thời điểm hiện tại
Ngoài ra, nguồn cung từ các quốc gia xuất khẩu lớn khác như Brazil và Indonesia
đang có dấu hiệu thu hẹp lại, giúp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị phần xuất khẩu Và
Trang 5theo dự báo của Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV), Việt Nam sẽ tiếp tục là
quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới trong giai đoạn 2023-2033
Tây Nguyên nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng là vùng có điều kiện tự nhiên, đất đai
và khí hậu rất thuận lợi cho việc phát triển của cây cà phê Thêm vào đó, Gia Lai cũng
có rất nhiều chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy sản xuất cà phê trong tỉnh như: đẩy
mạnh chương trình tái canh cây cà phê; xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất để nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ trong sản xuất, đổi mới công nghệ sơ chế, bảo quản, chế biến sâu nhằm
tăng giá trị cho sản phẩm Hơn thế nữa, tỉnh còn hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối
tác, mở rộng thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng hiệu quả công tác
thông tin, dự báo về các thị trường xuất khẩu; hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tối đa lợi
thế mà các hiệp định thương mại tự do mang lại
Đứng trước những thuận lợi trên, Công ty TNHH XD-TM Hương Việt đã tiến hành
nghiên cứu và đầu tư “Dự án đầu tư xây dựng nông trại cà phê” tại xã Hnol, huyện
Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai với quy mô 20 ha nhằm hướng đến mục tiêu mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty, góp phần nâng cao thu nhập của người dân
cũng như điều kiện kinh tế địa phương
II Về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Theo Bộ NN&PTNT, xuất khẩu cà phê tháng 12/2022 ước đạt 140 nghìn tấn với giá
trị đạt 314 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê năm 2022 đạt 1,72 triệu tấn và
3,94 tỷ USD, tăng 10,1% về khối lượng và tăng 28,3% về giá trị so với năm 2021 Giá
cà phê xuất khẩu bình quân năm 2022 ước đạt 2.293 USD/tấn, tăng 16,6% so với năm
2021 Như vậy, có thể nói, trong năm qua, nước ta đã có mùa vụ cà phê vừa được
mùa, vừa được giá
Thêm vào đó, theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam (VICOFA), niên vụ cà phê
2021-2022 đã kết thúc, nước ta xuất khẩu tổng khối lượng hơn 1,68 triệu tấn cà phê
các loại, trị giá trên 3,9 tỷ USD Đây là niên vụ cà phê đạt giá trị kim ngạch cao nhất
từ trước đến nay
Trang 6Về thị trường xuất khẩu, Đức là thị trường số 1 với 216.000 tấn, Ý đứng thứ 2 với gần
139.000 tấn, Hoa Kỳ thứ 3 với trên 126.000 tấn, Bỉ thứ đứng thứ 4 với 120.000 tấn,
Nhật Bản thứ 5 với 111.300 tấn
Về chủng loại sản phẩm, xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu vẫn là cà phê nhân
Mặc dù tỷ trọng cà phê chế biến sâu vẫn rất thấp, nhưng đã tăng so với các năm trước,
khẳng định vị thế cà phê Việt Nam
Xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan trên 92.000 tấn (chưa quy đổi ra cà phê nhân), với
kim ngạch 598,2 triệu USD, chiếm 5,5% về lượng và chiếm 15,3% kim ngạch/ tổng
các loại cà phê xuất khẩu trong niên vụ 2021-2022 Trong đó, doanh nghiệp FDI
chiếm thị phần 59,9% về tổng khối lượng xuất khẩu cà phê rang xay, hòa tan và chiếm
khoảng 66% về kim ngạch
Việt Nam và Ấn Độ là hai nước xuất khẩu đạt mức tăng trưởng nổi bật trong niên vụ
2021-2022 Trong đó, xuất khẩu cà phê nhân xanh của Việt Nam tăng 15,1% so với
niên vụ trước lên 26,8 triệu bao, còn Ấn Độ tăng 26,1% lên 5 triệu bao Ngược lại
Burundi và Uganda là hai nước xuất khẩu giảm mạnh nhất, giảm 62,1% và 10%
xuống còn 134.000 bao và 5,8 triệu bao
Từ các số liệu trên, ta có thể thấy được tiềm năng và dư địa tăng trưởng cho ngành cà
phê trong những năm tới là rất khả quan và hoàn toàn khả thi
Trang 7PHẦN I:
GIỚI THIỆU CHỦ ĐẦU TƯ
I Chủ đầu tư
1 Tên chủ đầu tư
Công ty TNHH XD-TM Hương Việt
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 7891234560 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh
Gia Lai cấp ngày 01/01/2020
Trụ sở chính: Huyện Đak Đoa , Gia Lai
Điện thoại: 0971.234.567
2 Ngành nghề kinh doanh
Xây dựng các công trình: dân dụng, công nghiệp, thủy lợi, cấp thoát nước, điện dân
dụng - công nghiệp - chiếu sáng; Lắp đặt trang thiết bị cho các công trình xây dựng;
Khai hoang xây dựng đồng ruộng San lấp mặt bằng Trang trí nội thất công trình;
Khai thác nước ngầm; Khai thác cát, đá làm vật liệu xây dựng; Tư vấn lập dự án đầu
tư các công trình xây dựng; Mua, bán: nông sản, vật liệu xây dựng (xi măng, sắt, thép,
nhựa đường); Mua, bán thiết bị cơ giới; Cho thuê thiết bị cơ giới; Trồng, khai thác,
chế biến cà phê
3 Năng lực tài chính của Công ty
Vốn điều lệ: 10.000.000.000 VNĐ (Mười tỷ đồng chẵn)
II Tổ chức và nhân sự
Tổng số CBCNV Công ty TNHH XD-TM Hương Việt là 30 người Trong đó:
Ban Giám đốc: 1 người
Phòng ban nghiệp vụ: 4 người
Lao động trực tiếp 25 người
Trang 8Đội ngũ CBCNV của Công ty có trình độ Đại học, trung cấp và sơ cấp thuộc nhiều
lĩnh vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Kinh tế, Xây dựng, Sinh học…
III Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Ngày nay, việc thúc đẩy du lịch dựa vào các sản phẩm nông sản nội địa được coi là rất
quan trọng và luôn được khuyến khích phát triển Nắm bắt tình hình đó, Công ty đã
không ngừng tìm hiểu và phát triển nhằm tạo ra những sản phẩm thực sự chất lượng
mà nằm trong lợi thế nông sản Việt Nam, đó là cây cà phê Bên cạnh đó, đi song song
cùng với lý tưởng trên, Công ty mong muốn mở rộng và phát triển chuyên sâu về một
lĩnh vực mà công ty theo đuổi nhằm đưa cà phê Việt Nam thêm sự vững mạnh trong
thị trường nội địa và quốc tế Không những vậy, việc thu hút và thúc đẩy ngành công
nghiệp không khói cũng là một trong những mục tiêu phát triển của công ty
Qua những thông tin, tài liệu liên quan và sự phân tích cặn kẽ tình hình phát triển nền
kinh tế nước ta hiện nay đồng thời là nhu cầu của thị trường trong tương lai, Ban giám
đốc công ty đã quyết định đầu tư vào dự án trồng cà phê tại xã Hnol, huyện Đăk Đoa,
tỉnh Gia Lai Dự án dự kiến sẽ được triển khai vào năm 2024
Trang 9PHẦN II:
CĂN CỨ LẬP DỰ ÁN
I Căn cứ pháp lý
Luật Đất đai năm 2013; Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Bảo vệ môi
trường năm 2020; Luật đầu tư 2020; Luật Doanh nghiệp 2020; Luật Thuế thu nhập
2008;
Nghị định số 73/1993/NĐ-CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết việc
phân hạng đất, tính thuế sử dụng đất;
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;
Nghị định 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về quy định hệ thống
thang lương, bảng lương và chế độ trợ cấp lương trong các công ty nhà nước;
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/ 03/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo
vệ và phát triển rừng;
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ về việc quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp;
Nghị định số 44/2022/NĐ-CP ngày 29/06/2022 của Chính phủ về xây dựng, quản lý
và sử dụng hệ thống thông tin nhà ở và thị trường bất động sản;
Quyết định số 399//QĐ-UBND, ngày 15/06/2022 của UBND tỉnh Gia Lai về việc ban
hành Kế hoạch trồng tái canh và ghép cải tạo cà phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai
đoạn 2022-2025;
Quyết định số 255/QĐ-TTg ngày 25/02/2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021 - 2025;
Trang 10Quyết định số 2085/QĐ-BNN-TT ngày 31/5/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn về việc ban hành Quy trình tái canh cà phê vối;
Quyết định số 1178/QĐ-BNN-TT ngày 31/3/2022 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn về phê duyệt Đề án tái canh cà phê giai đoạn 2021 - 2025;
Quyết định số 1392/QĐ-BNN-TT ngày 02/04/2021 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn về việc phê duyệt đề án phát triển cà phê đặc sản Việt Nam giai đoạn 2021
- 2030;
Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 09/12/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban
hành Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2021
- 2025;
Quyết định số 02/2015/QĐ-UBND ngày 20/01/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia
Lai về việc quy định các định mức hỗ trợ cho các hoạt động về phát triển sản xuất và
dịch vụ nông thôn trên địa bàn xã xây dựng nông thôn mới của tỉnh Gia Lai
II Tài liệu sử dụng
Quy trình trồng, chăm sóc cây cà phê của VietGap do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành;
Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng quản lý, sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn
tỉnh Gia Lai do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện ngày 12/7/2018;
Đánh giá thích nghi đất đai cho nhóm cây công nghiệp lâu năm tại tỉnh Gia Lai;
Đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp xã Đăk Krong, huyện Đăk
Đoa, tỉnh Gia Lai
Trang 11PHẦN III:
ĐẶC ĐIỂM VÙNG DỰ ÁN
I Điều kiện tự nhiên vùng dự án
1 Vị trí địa lý
Gia Lai là một tỉnh miền núi nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700
-800 mét so với mực nước biển Tỉnh Gia Lai nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ
12o58'40” đến 14o37'00" vĩ độ Bắc và từ 107o28'04" đến 108o54'40" kinh độ Đông
Phía đông giáp với các tỉnh là Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên Phía tây giáp tỉnh
Ratanakiri thuộc Campuchia, có đường biên giới chạy dài khoảng 90 km Phía nam
giáp tỉnh Đắk Lắk, và phía phía bắc của tỉnh giáp tỉnh Kon Tum
2 Khí hậu
Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm, có lượng
mưa lớn, không có bão và sương muối Khí hậu ở đây được chia làm 2 mùa rõ rệt là
mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào
tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 22 –
25 độ C Vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 – 1.750 mm, Tây Trường Sơn có lượng
mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500 mm Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích
hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và
kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao
Nhận xét: nhìn chung các yếu tố khí hậu – thời tiết trên cho thấy khá phù hợp với yêu
cầu sinh trưởng và phát triển của cây cà phê Các yếu tố giới hạn quan trọng về sinh
trưởng và phát triển cà phê đều nằm trong ngưỡng cho phép
3 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất: Tổng diện tích tự nhiên là 15.510,13 km2, có 27 loại đất, được hình
thành trên nhiều loại đá mẹ thuộc 7 nhóm chính: đất phù sa, đất xám, đất đen, đất đỏ,
đất mùn vàng đỏ, Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá Phần lớn đất đai màu mỡ, giàu chất
Trang 12dinh dưỡng, đất có tầng dày canh tác rất phù hợp với phát triển cây trồng mà đặc biệt
là cây công nghiệp lâu ngày Các vùng thung lũng và khu vực đất bằng có nhiều sông
suối chảy qua, thuận lợi cho việc mở rộng diện tích sản xuất đất nông nghiệp và phát
triển nuôi trồng thủy sản
- Tài nguyên nước: Gia Lai có tổng trữ lượng khoảng 23 tỷ m3, phân bố trên hệ thống
các con sông lớn như: sông Sê San, sông Ba, sông Xrê Pook Tiềm năng nước ngầm
có trữ lượng khá lớn, chất lượng tốt, phân bố chủ yếu trong phức hệ nước phun trào
bazan có tổng trữ lượng cấp A+B là 23.894m3/ngày, cấp C1/là 61.065 m3/ngày và
cấp C2 là 989.600 m3/ngày, cùng với hệ thống nước bề mặt đáp ứng được nhu cầu sử
dụng của người dân trong địa bàn tỉnh
- Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp là 728.279,30 ha, chiếm 46,87% tổng
diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Do trải rộng trên nhiều vùng khí hậu nên các hệ sinh
thái rừng Gia Lai phong phú Hệ động thực vật phong phú và đa dạng cả về giống,
loài và số lượng các thể có giá trị Đặc biệt, có nhiều loài thú quý hiếm
- Tài nguyên khoáng sản: tỉnh có tiềm năng khoáng sản phong phú và đa dạng Trong
đó có những loại có giá trị kinh tế cao như: Kim loại quý (quặng bôxít, vàng, sắt,
kẽm), đá granít, đá vôi, đất sét, cát sỏi xây dựng…
II Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
1 Các đơn vị hành chính
Gia Lai có 17 đơn vị hành chính, bao gồm: Thành phố Plieku, Thị xã An Khê, Thị xã
Ayun Pa và 14 huyện Thành phố Plieku là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và là
trung tâm thương mại của tỉnh, nơi hội tụ của 2 Quốc lộ chiến lược của vùng Tây
Nguyên là Quốc lộ 14 theo hương Bắc Nam và Quốc lộ 19 theo hướng Đông Tây; là
điều kiện thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế - xã hội với vùng Duyên hải Nam
Trung bộ, cả nước và Trung tâm khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào –
Campuchia
2 Dân số và lao động
Trang 13Dân số tính đến năm 2019 của tỉnh là 1,514 triệu người Trong đó, đồng bào các dân
tộc thiểu số chiếm 44,46% Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,68%/ năm
Mật độ dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thành phố, thị xã và các
trục đường giao thông như thành phố Plieku là 758 người/km2 , thị xã An Khê 330
người/km2 Còn các vùng sâu, vùng xa dân cư thưa thớt, mật độ thấp như: huyện
Kông Chro 27 người/ km2, huyện Krông Pa 40 người/ km2
Nguồn lao động có 711.680 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là
653.140 người chiếm 92% tổng nguồn lao động là điều kiện thuận lợi để phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh
3 Nông - Lâm nghiệp
Gia Lai có gần 500.000 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có hơn
291.000 ha đất cho trồng cây hàng năm và hơn 208.000 ha cây lâu năm nên có tiềm
năng rất lớn để phát triển sản xuất nông nghiệp
Do tính chất đặc trưng của đất đai và khí hậu, tỉnh Gia Lai có thể bố trí một tập đoàn
cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao; xây dựng các vùng sản
xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung có quy mô lớn với những sản phẩm hàng hóa
có lợi thế cạnh tranh Đặc biệt, trong 7 nhóm đất chính của tỉnh, nhóm đất đỏ bazan có
386.000ha, tập trung chủ yếu vùng tây Trường Sơn (thành phố Pleiku và các huyện
Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Sê, Chư Pưh, Chư Prông, Đức Cơ, Chư Păh, Ia Grai) có
thể canh tác các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều, bông vải Các
huyện, thị xã phía đông của tỉnh (An Khê, Kbang, Kông Chro, Đăk Pơ, Ayun Pa, Ia
Pa, Phú Thiện, Krông Pa), do chịu ảnh hưởng khí hậu của vùng đồng bằng giáp ranh
(Bình Định, Phú Yên) nên thích hợp cho các loại cây trồng ngắn ngày và là vùng
nguyên liệu mía chính cung cấp cho hai nhà máy đường An Khê và Ayun Pa với công
suất 4.000 tấn mía cây/năm Riêng huyện Đăk Pơ và thị xã An Khê còn là vựa rau,
hàng ngày cung cấp trên 100 tấn rau các loại cho các tỉnh thuộc khu vực miền Trung
và Tây Nguyên Các huyện phía đông nam của tỉnh như Phú Thiện, Ia Pa và thị xã
Ayun Pa, với lợi thế có hồ thuỷ lợi Ayun Hạ, là một trong vựa lúa của cả khu vực Tây
Nguyên Với diện tích 1.112.452,8 ha đất lâm nghiệp, trong đó, có 773.447,7 ha đất
Trang 14cho rừng sản xuất (chiếm 69,5% diện tích đất lâm nghiệp) nên tỉnh Gia Lai có tiềm
năng lớn phát triển lâm nghiệp
4 Công nghiệp
Dựa trên cơ sở nguồn tài nguyên nông - lâm nghiệp và khoáng sản, mở ra triển vọng
phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nông - lâm
sản với quy mô vừa và lớn
Trong sản xuất vật liệu xây dựng:
Trước hết với nguồn đá vôi tại chỗ có thể phát triển sản xuất xi măng phục vụ cho một
phần nhu cầu các tỉnh phía Bắc Tây Nguyên và các tỉnh Đông Bắc Campuchia Hiện
có hai nhà máy sản xuất xi măng với công suất 14 vạn tấn/năm, đến nay đã phát huy
vượt công suất Với nguồn đá granit sẵn có, phong phú về màu sắc có thể chế biến ra
các sản phẩm phục vụ nhu cầu trong tỉnh và xuất khẩu
Trong chế biến nông - lâm sản:
Với trữ lượng gỗ lớn trong tỉnh và khả năng nhập khẩu gỗ từ các nước Đông Nam Á
đảm bảo ổn định nguyên liệu cho sản xuất chế biến các mặt hàng gỗ lâu dài, chế biến
song mây, sản xuất bột giấy Chế biến cà phê xuất khẩu, chế biến đường, chế biến dầu
thực vật, chế biến sắn, chế biến hoa quả và súc sản đóng hộp Ngoài ra còn có thể phát
triển các ngành công nghiệp khai khoáng khi đã xác định được địa bàn và trữ lượng
cho phép
Khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu:
Khu công nghiệp Trà Đa: Có diện tích 124,5 ha với 30 dự án đầu tư, có tỷ lệ lấp đầy
100% diện tích với tổng số vốn đăng ký 818 tỷ đồng Đến nay có 21 nhà máy đã đi
vào hoạt động
Tỉnh cũng đã quy hoạch khu công nghiệp Tây Pleiku với diện tích 284 ha (tính đến
năm 2015 và mở rộng gần 400 ha tính đến năm 2020)
Trang 15Ngoài ra, trên mỗi địa bàn huyện, thị xã, thành phố của tỉnh cũng đang quy hoạch xây
dựng ít nhất một cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có vị trí, điều kiện thuận lợi
nhiều mặt cho các nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh với diện tích 110 ha và mở rộng đến 210 ha
(tính đến 2020), hiện đã có 3 doanh nghiệp và 20 hộ kinh doanh Đến nay cũng đang
được tiếp tục đầu tư xây dựng để hoàn thiện cơ sở hạ tầng
Thủy điện:
Với địa hình cao và nhiều sông suối, Gia Lai là một trong những nơi tập trung khá
nhiều các nhà máy thủy điện lớn nhỏ Trên địa bàn tỉnh hiện có 82 dự án thuỷ điện,
trong đó có 7 công trình do EVN đầu tư với tổng công suất 1.841 MW tiêu biểu như:
- Thuỷ điện Ia Ly: Công trình được xây dựng trên dòng sông Sê San, khởi công
năm 1993 và hoàn thành vào năm 2002, là công trình thuỷ điện lớn thứ 2 của
Việt Nam sau công trình thuỷ điện Hoà Bình trên sông Đà Địa điểm: huyện
Chư Păh, tỉnh Gia Lai Lòng hồ thuỷ điện Ialy phần lớn nằm trên địa phận
huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, thuộc lưu vực sông Pô Kô và Đắk Bla, công
suất thiết kế 720 MW Sản lượng điện bình quân hàng năm: 3,7 tỷ KWh
- Thủy điện Sê San 3: Công trình được xây dựng trên dòng sông Sê San thuộc
địa phận xã Ia Mnông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai và xã Ia Ly, huyện Sa
Thầy, tỉnh Kon Tum với công suất lắp đặt là 260 MW, sản lượng điện trung
bình hàng năm 1,127 tỉ KWh Thời gian thi công: 2002 - 2006
5 Du lịch - Dịch vụ
Xuất phát từ điều kiện địa lý, là vùng núi cao có nhiều cảnh quan tự nhiên cũng như
nhân tạo, nên Gia Lai có tiềm năng du lịch rất phong phú Gia Lai là đầu nguồn của hệ
thống sông Ba đổ về miền duyên hải Trung Bộ và hệ thống sông Sê San đổ về
Cam-pu-chia cùng nhiều sông, suối lớn nhỏ khác Gia Lai còn có nhiều hồ, ghềnh thác, đèo
và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ
mộng, mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên Đó là rừng
Trang 16nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Chư Răng nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung
Khoeng hoang dã ở huyện Chư Prông; thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê
Nhiều danh thắng khác như suối Đá, bến Mộng trên sông Pa ở Ayun Pa, Biển Hồ (hồ
Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng, được ví như là đôi mắt của thành phố
Pleiku Nhiều núi đồi như Cổng Trời Mang Yang, núi Hàm Rồng cao 1.092m ở Chư
Prông mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt Cảnh quang nhân tạo có các rừng cao
su, đồi chè, cà phê bạt ngàn Kết hợp với các tuyến đường rừng, có các tuyến dã ngoại
bằng thuyền trên sông, cưỡi voi xuyên rừng,
Bên cạnh sự hấp dẫn của thiên nhiên hùng vĩ, ở Gia Lai còn có nền văn hóa lâu đời
đầm đà bản sắc núi rừng của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Jrai và Bahnar thể hiện
qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc
cụ Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, trang phục
ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa xoang, múa dân
gian trên nền âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như
cồng chiêng, tù và, đàn Trưng, đàn đá Đến Gia Lai du khách còn được xem những
khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ loại và những nghi lễ theo tín ngưỡng đa
thần còn đậm nét nguyên thủy
Thêm vào đó, Gia Lai có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng hào hùng được thể
hiện qua các di tích lịch sử văn hóa như khu Tây Sơn thượng đạo, di tích căn cứ địa
của anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ; làng kháng chiến Stơr quê hương của anh
hùng Núp, nhà lao Pleiku Nhiều địa danh chiến trường xưa ca như Pleime, Cheo Reo,
Ia Răng, Đăk Pơ, Ka Nak đã đi vào lịch sử
Những điểm du lịch, khu vui chơi giải trí trong thành phố Pleiku có hồ Diên Hồng,
công viên Đồng xanh, khu du lịch và lễ hội Về Nguồn, công viên Lý Tự Trọng, quảng
trường 17/3, sân vận động, rạp chiếu phim và rất nhiều quán cà phê mà vô tình hay
hữu ý đã tập trung thành phố như phố cà phê trên đường Wừu Có rất nhiều thác
quanh thành phố như thác Phú Cường, thác Lồ Ô, thác Chín tầng, thuận lợi cho du
khách tham quan, thưởng ngoạn
Trang 17III Kết quả điều tra đất đai
Cà phê là một trong những cây trồng chính trên đất đỏ bazan tỉnh Gia Lai Tuy nhiên,
phát triển cà phê tại Gia Lai hiện nay đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó
có vấn đề diện tích cà phê già cỗi đang tăng nhanh Kết quả nghiên cứu một số tính
chất lý, hóa học đất ba zan tái canh cà phê tỉnh Gia Lai cho thấy đất có hàm lượng sét
khá cao và tăng dần theo chiều sâu phẫu diện Giá trị trung bình của dung trọng ở tầng
1 (0-20cm) là 0,84 g/cm3 và ở tầng 2 (21-50cm) là 0,89 g/cm3 Tỷ trọng dao động từ
2,19-2,69 và hầu như không thay đổi theo chiều sâu phẫu diện Độ xốp tại tầng 1 và 2
có giá trị trung bình tương ứng 66,53% và 64,55% Đất phản ứng ít chua đến chua (pH
KCl: 4,3-5,54) Hàm lượng chất hữu cơ, đạm tổng số trung bình đến giàu Lân tổng số
giàu và lân dễ tiêu giàu ở tầng 1, nghèo ở tầng 2 Ka li tổng số và ka li dễ tiêu nghèo
Hàm lượng Ca++, Mg++ trao đổi tương đối ít Khi giá trị pH KCl ≥ 4,72 ở tầng 1 và
pH KCl ≥ 4,69 ở tầng 2 thì không phát hiện nhôm di động trong đất
Kết quả nghiên cứu tính chất lý, hóa học của đất bazan tái canh cà phê vùng nghiên
cứu có thể rút ra một số nhận xét sau:
Đất bazan tái canh cà phê có hàm lượng sét biến động lớn giữa các mẫu phân tích và
giữa tầng 1 và tầng 2 vốn phát sinh từ đá mẹ bazan có hàm lượng sét cao Giá trị trung
bình ở tầng mặt là 39,58%, trong khi đó giá trị thấp nhất chỉ đạt 21,46% và cao nhất
52,93%; ở tầng 2 giá trị trung bình là 51,3% và dao động từ 31,01- 61,67% Các giá trị
cận dưới giá trị trung bình biểu hiện của sự thoái hoá đất nhưng không tìm thấy mối
quan hệ giữa các giá trị thấp nhất với tình trạng cây cà phê vàng lá hay chết
Giá trị trung bình dung trọng ở tầng mặt là 0,84 g/cm3 và ở tầng 2 là 0,89 g/cm3 Tỷ
trọng dao động từ 2,19-2,69 và thay đổi theo chiều sâu phẫu diện không nhiều Độ
xốp tầng đất mặt có giá trị trung bình 66,53% và dao động từ 60- 73,24%, tại tầng 2
độ xốp có giá trị trung bình 64,55% và dao động từ 55,39-70,77% Giá trị độ xốp nói
trên đều ở ngưỡng thích hợp đối với cây cà phê nói chung và cà phê tái canh nói riêng
Đất tái canh cà phê phát triển theo cả hai xu hướng vừa xấu đi, vừa được cải thiện Sự
xấu đi của đất do suy giảm rất lớn về hàm lượng chất hữu cơ (42%), các chất tổng số
như lân, đặc biệt là ka li không còn giữ nguyên nguồn gốc phát sinh từ sản phẩm
phong hoá của đá ba zan Giá trị dưới trung bình, thấp nhất là OM: 1,4%; P2O5:
Trang 180,13%; K2O: 0,01-0,41% Trong khi đó lân dễ tiêu có sự cải thiện đáng kể, giá trị
trung bình tầng 1 của lân đạt 18,9 mg/100g đất, tầng 2 cũng đạt 8,45 mg/100g đất
Cation trao đổi như Ca++, Mg++ phản ánh nguồn gốc phát sinh đất là nghèo cation
kim loại kiềm: dao động từ 0,23 - 8,20 mg/100g đất Hàm lượng Al+++ di động nhanh
chóng giảm xuống khi pH KCl tăng, khi giá trị pH KCl ≥ 4,72 ở tầng 1 và pH KCl ≥
4,69 ở tầng 2 thì không phát hiện nhôm di động trong đất
Trong các yếu tố vật lý, hoá học đã phân tích, chưa tìm thấy mối quan hệ với tình
trạng cây cà phê tái canh chết Tuy nhiên, có thể khẳng định kali và hữu cơ là hai yếu
tố hạn chế chính trong đất tái canh cà phê Các yếu tố này có thể là nguyên nhân xuất
hiện các hạn chế khác gây chết cây cà phê
Tổng lượng mưa tại khu vực địa lý lớn (2.000 – 2.400 mm/năm) Tuy nhiên, khu vực
địa lý lại có thời gian khô hạn 5 tháng từ đầu tháng 11 đến đầu tháng 4 năm sau với
tổng lượng mưa thấp (150 – 200 mm), tháng 1 và tháng 2 hầu như không có mưa, thời
kỳ này cà phê ra hoa, thụ phấn, hình thành quả, nếu mưa nhiều hoa sẽ thối và rụng,
quá trình thụ phấn bị hạn chế, tỷ lệ đậu quả thấp, quả bé, tỷ lệ khuyết tật nhiều, dẫn
đến năng suất giảm Khi kết thúc nở hoa cuối tháng 3 đầu tháng 4, quả tăng nhanh về
thể tích trọng lượng khô cần có lượng nước đủ cho cây hút nước giúp các khoang
chứa hạt phát triển tối đa, giai đoạn này rơi vào khoảng tháng 5 và 6, lúc này vùng cà
phê Gia Lai đã có mưa đều, lượng mưa tăng cao vào các tháng 6,7,8 với tổng lượng
mưa là (1.700mm) và giảm dần vào tháng 9, kết thúc vào tháng 10 với tổng lượng
mưa là (500mm) Đây là yếu tố quyết định đến kích thước hạt cà phê Gia Lai
Độ ẩm không khí là yếu tố quyết định đến hàm lượng protein thô và hàm lượng cafein
của cà phê Gia Lai Từ đầu tháng 10 đến cuối tháng 12 độ ẩm không khí giảm mạnh
chỉ còn khoảng 72-76%, thời điểm này cà phê đã chín, cần một nền độ ẩm không khí
thấp để giảm hoạt động các hormone sinh trưởng phục vụ việc chuyển hoá các hoạt
chất carbohydrate, protein, cafein trong hạt cà phê về trạng thái tích lũy chất khô
Đến cuối năm 2021, toàn tỉnh có trên 70.000 tổ chức và hộ gia đình trồng cây cà phê
với diện tích khoảng 98.400ha, sản lượng bình quân hàng năm đạt khoảng 257.000
Trang 19tấn Phần lớn diện tích cây cà phê được trồng tập trung tại cao nguyên Pleiku đất đỏ
Bazan ở trên độ cao từ 600m đến 800m so với mặt nước biển
Khu vực địa lý có điều kiện khí hậu lý tưởng cho cây cà phê phát triển với chế độ
nhiệt ổn định, không có tháng nào trong năm có nhiệt độ trung bình lớn hơn 26 độ C
và nhỏ hơn 20 độ C, không có gió mùa đông Bắc, không có hiện tượng sương muối
xảy ra thuận lợi cho cây cà phê sinh trưởng ra hoa kết trái Từ tháng 4 đến tháng 9 khi
cà phê Gia Lai bước vào giai đoạn hình thành quả và tích luỹ chất khô, gluxit và tinh
dầu, nhiệt độ giao động từ 22,3 - 24,8 độ C, biên độ nhiệt ngày và đêm từ 5-10 độ C
Ở giai đoạn này nhiệt độ là yếu tố quyết định đến chất lượng mùi thơm lừng lan tỏa
mạnh, lưu hương lâu và vị đắng đậm đà đặc trưng, hơi chát, hậu vị ngọt lâu nơi cổ
họng của cà phê Gia Lai
IV Kết quả điều tra hiện trạng tài nguyên rừng
Kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị
quyết số 45/NQ-HĐND ngày 10-8-2021 về việc điều chỉnh Nghị quyết số
100/NQ-HĐND ngày 7-12-2017 của 100/NQ-HĐND tỉnh Gia Lai và được UBND tỉnh phê duyệt tại
Quyết định số 527/QĐ-UBND ngày 23-8-2021
Theo đó, tổng diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp là 723.156,38 ha, chiếm 46,62%
tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, giảm 18.097,18 ha so với trước đây; cả 3 loại rừng
sản xuất, phòng hộ và đặc dụng có nhiều diện tích bị thay đổi Cụ thể, rừng đặc dụng
82.208,33 ha, chiếm 11,37% diện tích đất lâm nghiệp (tăng 23.007,32 ha so với Nghị
quyết số 100/NQ-HĐND); rừng phòng hộ 150.374,48 ha, chiếm 20,79% diện tích đất
lâm nghiệp (tăng 5.867,13 ha); rừng sản xuất 490.573,57 ha, chiếm 67,84% diện tích
đất lâm nghiệp (giảm 46.971,63 ha)
Trong lần rà soát, điều chỉnh quy hoạch này đã khắc phục được những hạn chế, thiếu
sót trước đây như: kết quả rà soát, điều chỉnh 3 loại rừng ở một số địa phương, đơn vị
có sai lệch hoặc không còn phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế-xã hội Thời
điểm thực hiện rà soát, điều chỉnh 3 loại rừng năm 2017 không đồng bộ với thời điểm
điều chỉnh kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất của tỉnh năm 2019 nên số liệu giữa ngành
Nông nghiệp và PTNT với ngành Tài nguyên và Môi trường có sự khác biệt Nhu cầu
Trang 20sử dụng đất của một số dự án phát triển kinh tế-xã hội cần sử dụng một số diện tích
đất chưa có rừng nằm trong quy hoạch đất lâm nghiệp
Theo lộ trình, ngay sau khi được phê duyệt, các đơn vị, địa phương sẽ tổ chức quản lý
theo quy hoạch đã phê duyệt, đặc biệt là các diện tích có chuyển đổi mục đích sử dụng
trong quy hoạch này; công khai công bố kết quả quy hoạch đến cấp xã và các chủ
rừng, làm căn cứ để quản lý các hoạt động liên quan đến quy hoạch đất lâm nghiệp
trên địa bàn
V Kết quả rà soát đất quy hoạch trồng cà phê:
Thời gian qua, tỉnh Gia Lai đã chú trọng thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
làm cơ sở khoanh định quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức thực hiện
giao đất, cho thuê đất và kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng đất trên địa bàn
Hoạt động thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Gia Lai dựa
vào quy hoạch, kế hoạch sử đất được phê duyệt đã phát hiện các hành vi vi phạm phổ
biến như: sử dụng đất không đúng tiến độ, chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính, cho thuê
tài sản gắn liền với đất không đúng quy định, sử dụng đất không đúng phạm vi ranh
giới được giao, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, sử dụng đất không có hiệu quả…
Nhờ đó, tỉnh Gia Lai đã kịp thời thực hiện thu hồi đất vi phạm để tạo quỹ đất sạch, thu
hút đầu tư; việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng cũng được thực hiện
nhanh chóng và đạt hiệu quả, hạn chế đơn thư, khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực
đất đai
Tuy nhiên quá trình tổ chức, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn
2013-2020 trên địa bàn tỉnh Gia Lai còn một số tồn tại, vướng mắc như: việc rà soát
điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch ngành, lĩnh vực có sử dụng đất đảm bảo phù hợp với
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được thực hiện tốt; công tác dự báo nhu cầu sử
dụng đất cho các ngành, lĩnh vực chưa sát với thực tiễn Do vậy, quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất chưa kịp thời đáp ứng được nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương
Trang 21PHẦN IV:
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
I Mục tiêu đầu tư
1 Mục tiêu chung:
Mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty nhằm đạt được hiệu quả kinh tế
Sử dụng hiệu quả đất trồng đang bị bỏ trống Tạo ra nguồn nguyên liệu cung cấp cho
hoạt động chế biến các sản phẩm từ hạt cà phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai, trong nước và
xuất khẩu
Tạo thêm công ăn việc làm, giúp nâng cao đời sống cho đồng bào địa phương Bên
cạnh đó, cùng với cán bộ địa phương làm tốt công tác định canh định cư, khắc phục
tình trạng bỏ hoang đất trồng
Mở rộng hoạt động nuôi trồng, sản xuất kinh doanh cà phê Giải quyết việc làm ổn
định, tăng thêm thu nhập cho cán bộ, công nhân viên Công ty và một số lao động khác
tại địa phương, góp phần ổn định kinh tế – xã hội trong vùng
Tăng độ che phủ, phủ xanh đất trống đồi trọc, hạn chế xói mòn, cải tạo môi trường đất
cũng như sinh thái khu vực
2 Mục tiêu cụ thể:
Sử dụng hiệu quả 23ha đất nông nghiệp đang bị bỏ trống, và đất đang cần được cải
tạo
Cung cấp hơn 100 tấn cà phê nhân/năm cho các doanh nghiệp cà phê chế biến các sản
phẩm từ hạt cà phê trên địa bàn tỉnh Gia Lai, trong nước cũng như xuất khẩu
Tạo thêm công ăn việc làm cho khoảng 200 hộ dân thuộc hộ đồng bào dân tộc thiểu số
đang thiếu việc làm tại xã Hnol, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai
Chung tay cùng cán bộ địa phương thực hiện tốt công tác định canh, định cư, phát
triển kinh tế vùng, tăng trưởng kinh tế 10% so với năm trước
Trang 22II Quy hoạch sử dụng đất vùng dự án
Trên diện tích 23ha, Công ty dự kiến bố trí trồng cà phê 20ha, bố trí các công trình
phụ trợ 1,5ha, hệ thống đường phân ô 0.5ha, diện tích vườn ươm 1ha Cụ thể các loại
đất được quy hoạch theo bảng sau:
Bảng 1: Quy hoạch sử dụng đất vùng dự án
(ha)
Tỷ lệ (%)
III Các giải pháp thực hiện
1 Giải pháp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
· Giao thông
Đảm bảo lưu thông được cả 2 mùa mưa – nắng, phục vụ cho việc trồng, chăm sóc,
khai thác vận chuyển cà phê, đồng thời thuận lợi cho việc đi lại của người dân trong
vùng Dự án sẽ đầu tư xây dựng một tuyến đường chính dài 2km và các đường trục
phụ bao các ô cà phê với chiều dài 1km
Bảng 2: Hạng mục đầu tư giao thông
lượng
Đơn giá(1.000 đ)
Thành tiền(1.000 đ)
Trang 232 Đường trục phụ 6m km 1 60.000 60.000
· Hệ thống điện nước
Khi dự án đi vào sản xuất kinh doanh sẽ đầu tư xây dựng đường điện nối với mạng
điện lưới quốc gia Đường điện sẽ được bố trí dọc theo các tuyến đường giao thông để
thuận tiện trong thi công và quản lý Đảm bảo đủ phục vụ cho tưới tiêu và sinh hoạt
của người dân trong vùng dự án
Cấp nước: Nước sử dụng cho vườn ươm chủ yếu là nước suối, và nước giếng dùng
bơm công suất 10 m3/h để phục vụ tưới tiêu
· Nhà cửa, kiến trúc
Các hạng mục đầu tư kiến trúc được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3: Các hạng mục đầu tư nhà cửa, vật kiến trúc
2 Nhà ở, sinh hoạt của công nhân viên m2 80