1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài từ lý luận về mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất hãy vận dụng để lý giải cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của việt nam trong giai đoạn hiện nay

18 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ lý luận về mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất hãy vận dụng để lý giải cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Huy Tưởng
Người hướng dẫn Đỗ Thị Vân Hà
Trường học Trường Đại Học Mỏ - Địa Chất
Chuyên ngành Triết Học Mac-Lenin
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2021 - 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 45,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MAC LENIN Tên đề tài Từ lý luận về mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất hãy vận dụng để lý giải cho việc xây[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

-BÀI TIỂU LUẬN

TRIẾT HỌC MAC-LENIN

Tên đề tài: Từ lý luận về mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất hãy

vận dụng để lý giải cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?

Họ và tên : Nguyễn Huy Tưởng

Mã số sinh viên :1921050764

Giảng viên : Đỗ Thị Vân Hà

Năm học : 2021 - 2022

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1 Mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất 2

1.1 Khái niệm về cái chung, cái riêng và cái đơn nhất 2

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung” và “cái đơn nhất” 2 1.2.1 “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng” 2

1.2.2 “Cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung”. 2

1.2.3 “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung” 3

1.2.4 “Cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại 3

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 4

1.3.1 Phải xuất phát từ “cái riêng” để tìm “cái chung” 4

1.3.2 Cần nghiên cứu cải biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” vào từng trường hợp “cái riêng” 4

1.3.3 Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn đề riêng 5

1.3.4 Khi cần thiết, cần tạo điều kiện cho “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và ngược lại 5

2 Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay5 2.1 Nhận thức của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 7

2.2 Thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 9

Trang 3

2.3 Một số giải pháp tiếp tục xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 13 KẾT LUẬN 14 TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

LỜI MỞ ĐẦU

Đại đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được hun đúc trong quá trình dựng nước và giữ nước; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố

có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam Để thực hiện thành công, thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”, cần tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí, nghị lực và sức sáng tạo của con người Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Với sự nghiệp đổi mới đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xác định xây dựng con người là trọng tâm trong xây dựng và phát triển mọi mặt, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước Xã hội công nghiệp mà nhân dân ta xây dựng là con người được giải phóng, nhân dân lao động được làm chủ đất nước,

có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân Do đó, chúng ta phải khẳng định rằng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển xã hội

Đặt mỗi cá nhân vào mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội ta lại càng thấy tầm quan trọng giữa mối liên hệ chung – riêng Theo quan điểm triết học Mác – Lê nin : “ Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tạiở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại

ở nhiều cái riêng khác”

Trang 4

Do đó việc vận dung mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất vào việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết Để tìm hiểu về vấn đề trên, em chọn: “Từ lý luận

về mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất hãy vận dụng để lý giải cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?” làm đề tài tiểu luận của mình

NỘI DUNG

1 Mối quan hệ giữa cái riêng, cái chung, cái đơn nhất

1.1 Khái niệm về cái chung, cái riêng và cái đơn nhất

“Cái riêng” là phạm trù được dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định Ví dụ: 01 quả bưởi đang ở trong tủ lạnh là cái riêng A;

01 quả bưởi ở trên bàn là cái riêng B Cái riêng A khác với cái riêng B

“Cái chung” là phạm trù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không những có một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều

sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác Ví dụ: Giữa 02 quả bưởi A và B nêu trên có thuộc tính chung là đều có cùi dày, nhiều múi, mỗi múi có rất nhiều tép Cái chung này được lặp lại ở bất kỳ quả bưởi nào khác (Quả quýt khá giống quả bưởi nhưng lại có cùi mỏng và có khối lượng nhẹ hơn quả bưởi)

“Cái đơn nhất” là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính… chỉ có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất

cứ một kết cấu vật chất nào khác Về mặt ngữ nghĩa, “cái đơn nhất” gần giống với cái cá biệt Ví dụ: Đỉnh núi Everest cao nhất thế giới với độ cao 8.850 mét

Độ cao 8.850 mét của Everest là cái đơn nhất vì không có một đỉnh núi nào khác

có độ cao này

1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung” và “cái đơn nhất”

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, “cái riêng”, “cái chung” và

“cái đơn nhất” có mối quan hệ qua lại như sau:

Trang 5

1.2.1 “Cái chung” chỉ tồn tại trong “cái riêng”, thông qua “cái riêng”.

“Cái chung” không tồn tại biệt lập, tách rời “cái riêng” mà chỉ tồn tại trong “cái riêng” Ví dụ: Cùi dày, nhiều múi, rất nhiều tép là cái chung giữa các quả bưởi

Rõ ràng, cùi, múi, tép ở đây (cái chung) chỉ và phải tồn tại trong một quả bưởi nhất định (cái riêng)

1.2.2 “Cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa đến “cái chung”.

Điều này có nghĩa “cái riêng” tồn tại độc lập, nhưng sự độc lập này không có nghĩa là cô lập với những cái khác Thông qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn

sự chuyển hóa, “cái riêng” của loại này có liên hệ với những “cái riêng” của loại khác

Bất cứ “cái riêng” nào cũng tồn tại trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định, tương tác với môi trường, hoàn cảnh ấy, do đó đều tham gia vào các mối liên hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật, hiện tượng khác xung quan mình Các mối liên hệ qua lại này cứ trải rộng dần, gặp gỡ rồi giao thoa với các mối liên hệ qua lại khác, kết quả là tạo nên một mạng lưới các mối liên hệ mới, trong

đó có những mối liên hệ dẫn đến một hoặc một số “cái chung” nào đó

Bất cứ “cái riêng” nào cũng không tồn tại mãi mãi

Mỗi “cái riêng” sau khi xuất hiện đều tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định rồi biến thành một “cái riêng” khác “Cái riêng” khác này lại biến thành

“cái riêng” khác thứ ba…v.v., cứ như vậy đến vô cùng tận Kết quả của sự biến hóa vô cùng tận này là tất cả “cái riêng” đều có liên hệ với nhau

Thậm chí, có những cái tưởng chừng như hết sức xa lạ, hoàn toàn không dính dáng gì đến nhau, nhưng qua hàng ngàn mối liên hệ, hàng ngàn sự chuyển hóa,

ta vẫn thấy chúng liên quan nhau

1.2.3 “Cái chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cái chung”.

Do “cái chung” được rút ra từ “cái riêng”, nên rõ ràng nó là một bộ phận của

“cái riêng” Mặt khác, bên cạnh những thuộc tính (cái chung) được lặp lại ở các

sự vật khác, bất cứ “cái riêng” nào cũng còn chứa đựng những đặc điểm,

Trang 6

thuộc tính mà chỉ “cái riêng” đó mới có Tức là, bất cứ “cái riêng” nào cũng chứa đựng những “cái đơn nhất”

1.2.4 “Cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại.

Sự chuyển hóa “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và “cái chung” biến thành

“cái đơn nhất” sẽ xảy ra trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều kiện nhất định

Sở dĩ như vậy là do trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng “cái đơn nhất”, cái cá biệt Nhưng theo quy luật, cái mới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng hoàn thiện, tiến tới hoàn toàn thay thế cái cũ và trở thành “cái chung”

Ngược lại, “cái cũ” ngày càng mất dần đi Từ chỗ là “cái chung”, cái cũ biến dần thành “cái đơn nhất”

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận

Từ việc phân tích mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung”, ta rút

ra ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn như sau:

1.3.1 Phải xuất phát từ “cái riêng” để tìm “cái chung”.

Vì “cái chung” chỉ tồn tại trong và thông qua “cái riêng”, nên chỉ có thể tìm hiểu, nhận thức về “cái chung” trong “cái riêng” chứ không thể ngoài “cái riêng”

Để phát hiện, đào sâu nghiên cứu “cái chung”, ta phải bắt đầu nghiên cứu từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ cụ thể chứ không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người

1.3.2 Cần nghiên cứu cải biến “cái chung” khi áp dụng “cái chung” vào từng trường hợp “cái riêng”.

Vì “cái chung” tồn tại như một bộ phận của “cái riêng”, bộ phận đó tác động qua lại với những bộ phận còn lại của “cái riêng” mà không gia nhập vào “cái chung”, nên bất cứ “cái chung” nào cũng tồn tại trong “cái riêng” dưới dạng đã

bị cải biến

Trang 7

Tức là, luôn có sự khác biệt một chút giữa “cái chung” nằm trong “cái riêng” này và “cái chung” nằm trong “cái riêng” kia Sự khác biệt đó là thứ yếu, rất nhỏ, không làm thay đổi bản chất của “cái chung”

Do đó, bất cứ “cái chung” nào khi áp dụng vào từng trường hợp riêng lẻ cũng cần được cải biến, cá biệt hóa Nếu không chú ý đến sự cá biệt hóa, đem áp dụng nguyên xi “cái chung”, tuyệt đối hóa cái chung thì sẽ rơi vào sai lầm của những người giáo điều, tả khuynh

Ngược lại, nếu xem thường “cái chung”, tuyệt đối hóa “cái đơn nhất”, thì lại rơi vào sai lầm của việc chỉ bảo tồn cái vốn có mà không tiếp thu cái hay từ bên ngoài Đó là sai lầm của những người xét lại, bảo thủ, trì trệ, hữu khuynh

1.3.3 Không được lảng tránh giải quyết những vấn đề chung khi giải quyết những vấn đề riêng.

Vì “cái riêng” gắn bó chặt chẽ với “cái chung”, không tồn tại bên ngoài mối liên

hệ dẫn tới “cái chung”, nên nếu muốn giải quyết những vấn đề riêng một cách hiệu quả thì không thể bỏ qua việc giải quyết những vấn đề chung

Nếu không giải quyết những vấn đề chung – những vấn đề mang ý nghĩa lý luận – thì sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tùy tiện Nếu bắt tay vào giải quyết những vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung thì ta sẽ không có định hướng mạch lạc

1.3.4 Khi cần thiết, cần tạo điều kiện cho “cái đơn nhất” biến thành “cái chung” và ngược lại.

Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại, nên trong hoạt động thực tiễn, ta cần hết sức tạo điều kiện thuận lợi cho “cái đơn nhất” phát triển, trở thành “cái chung” nếu điều này có lợi

Ngược lại, phải tìm cách làm cho “cái chung” tiêu biến dần thành “cái đơn nhất” nếu “cái chung” không còn phù hợp với lợi ích của số đông mọi người

Trang 8

2 Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Hiện nay, sự nghiêp‘ đổi mới ở nước ta đã thu được những thành tựu cơ bản Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Việt Nam đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa sẵn sàng là bạn là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển

Trong những năm đổi mới, nền kinh tế của đất nước tiếp tục phát triển với nhịp

độ cao so với các nước khác trong khu vực Tình hình chính trị của đất nước luôn luôn giữ được ổn định Tình hình xã hội có tiến bộ Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện Vị thế của đất nước không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế Thế và lực của đất nước ta mạnh lên rất nhiều

so với những năm trước đổi mới cho phép nước ta tiếp tục phát huy nôi‘ lực kết hợp với tranh thủ ngoại lực để phát triển nhanh và bền vững Phấn đấu đến năm

2020 về cơ bản làm cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Mặt khác, nước ta đang đứng trước cơ hội lớn và thách thức lớn đan xen nhau

Sự nghiệp đổi mới trong những năm tới có nhiều cơ hội để phát triển Những cơ hội tạo cho đất nước ta có thể đi tắt, đón đầu, tiếp thu nhanh những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới Mặt khác, chúng ta rút ra được nhiều bài học từ cả những thành công và yếu kém của gần hai chục năm tiến hành sự nghiệp đổi mới để đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng Những thành tựu và thời cơ đã cho phép nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp, tiếp tục ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy hơn nữa nội lực

Trang 9

Tuy vậy, chúng ta cũng đang đứng trước những thách thức, nguy cơ hay những khó khăn lớn trên con đường phát triển của đất nước Ví như nạn tham nhũng, tệ quan liêu cũng như sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một

bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã và đang cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và làm giảm niềm tin trong nhân dân Các thế lực phản động không ngừng tìm mọi cách thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mặt khác, các thế lực thù địch ra sức phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tôc,‘ lợi dụng các vấn đề “nhân quyền”, “ dân tộc”, “tôn giáo” hòng li gián, chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" đang đòi hỏi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc ở chiều sâu Khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước

2.1 Nhận thức của Đảng về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Kế thừa, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết toàn dân tộc, trong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo, thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, trí thức, văn nghệ sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài nhằm khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu trong tiến trình xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Quan điểm này được Đảng đề ra từ Đại hội VI (năm 1986) và không ngừng được bổ sung, phát triển qua mỗi kỳ Đại hội Đảng Bốn bài học lịch sử

mà Đại hội VI chỉ ra đã bao hàm tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó nổi bật là bài học lấy dân làm gốc và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức

Trang 10

mạnh của thời đại, thực hiện đoàn kết quốc tế Dân là gốc, là nền tảng của xã hội, là động lực phát triển của đất nước Quan điểm này đã trở thành linh hồn của đường lối đổi mới, là gốc của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc đã được nâng lên một bước phát triển mới, trong Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17-11-1993 của Bộ Chính trị (khóa VII)

về đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất Nghị quyết đã thể hiện sự kế thừa và phát triển tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định yếu tố dân tộc là một “đặc điểm cực kỳ quan trọng”, đồng thời chỉ rõ phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố và

mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, đưa khối đại đoàn kết toàn dân tộc lên tầm cao mới

Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng ta luôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân Đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” vì mục tiêu cao đẹp “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Đại hội X nhấn mạnh: “Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của

cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế là một bài học kinh nghiệm của cách mạng nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một đất nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc;

đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ

Ngày đăng: 04/04/2023, 09:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w