1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Chu kỳ kinh tế chính trị: Mối quan tâm về ngân sách

18 480 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 413,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Chu kỳ kinh tế chính trị: Mối quan tâm về ngân sách nêu những biến động theo chu kỳ trong chính sách tài khóa của chính phủ gây ra bởi các sắc lệnh hiến pháp trong các cuộc bầu cử định kỳ xảy ra được mô tả thông qua thuật ngữ chu kỳ kinh tế chính trị. Sự xuất hiện của những chu kì này là do hành vi cơ hội của những người đương nhiệm trước khi bầu cử.

Trang 1

ĐẠI HỌ C KIN H TẾ TP.HC M KHOA T ÀI CH ÍNH D OANH N GHIỆP



Chu kỳ kinh tế chính trị: Mối quan tâm về

ngân sách

Giáo viên hư ớ ng d n : PGS T S Sử Đình T hà n h

Si nh viên thực h i ện : Nhó m 9

TP.HCM, 09/2012

Trang 2

Tóm tắt

Chúng tôi xem xét mối quan hệ giữa bầu cử và các dạng điều hành k hác nhau của 30 nền kinh tế OECD từ năm 1993 đến 2007 Chúng tôi tập trung vào các chỉ tiêu điều hành bao gồm các ngành công nghiệp năng lượng, giao thông vận tải và thông tin liên lạc mà có nhiều sự đóng góp củ a khu vực công Chúng tôi chỉ ra bằng chứng cho thấy rằng bầu cử có tác động tích cực đến nhữ ng hoạt động điều hành tổng thể của các lĩnh vực trên K ết quả này được giải thích như là chiến lược thao túng trước bầu cử trên danh nghĩa của các nhà cầm quyền Lợi ích kinh tế được duy trì thông qua các t ác động tích cực đóng vai trò như các công cụ chính sách thay thế cho việc chuyển giao tài khóa trư ớc khi bầu cử N hững phát hiện trên là tồn t ại và bền vững ngay cả ở các quốc gia có thể chế dân chủ lâu đời nơi mà chu kỳ ngân sách chính trị ít có khả n ăng xảy ra

1 Giới thiệu:

N hững biến động theo chu kỳ trong chính sách tài khóa của chính phủ gây ra bởi các s ắc lệnh hiến pháp trong các cuộc bầu cử định kỳ xảy ra đư ợc mô tả thông qua thuật ngữ chu kỳ kinh tế chính trị Sự xuất hiện của những chu kì này là do hành vi cơ hội của những người đương nhiệm trước khi bầu cử Các chính trị gia trong chính phủ thông qua việc thao túng có chiến lư ợc trong các công cụ chính sách và đặc biệt là mở rộng tài chính nhằm nỗ lự c t ạo ra các lợi thế kinh tế cho các cử tri N ghiên cứu thực nghiệm gần đây đ ã xác định thao tú ng có chiến lư ợc các chính sách tài khóa trư ớc khi bầu cử, thay mặt Chính phủ, trong các nền dân chủ m ới thành lập (Brender và

D razen,2008) Một số các đ ặc điểm thể chế khác, như tham nhũng và không minh bạch đã được kiểm định thực nghiệm và tìm thấy ý nghĩa thống kê trong việc giải thích chu kỳ ngân sách chính trị và cũng có thể đúng cho những quốc gia có cơ chế chính trị còn non trẻ Dưới sự s áng tỏ của những phát hiện này, một câu hỏi đư ợc đặt ra là liệu

có là nhữ ng công cụ khác ngoài chính s ách tài khóa có thể được áp dụng cho các thao túng bầu cử trư ớc cử tri mà không có rối loạn quá mứ c trong cân đối ngân sách của chính phủ và nó có tồn t ại trong nền dân chủ cũ hay không Chúng tôi cho rằng quy định kinh tế và các lợi ích kinh tế theo s au được tạo ra thông qua sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế có th ể là một công cụ Alesina et al (2008) cung cấp bằng chứng yếu cho 21 quốc gia m à các cuộc cải cách xảy ra vào lúc bắt đầu của một nhiệm

kỳ mới, kết quả là nó bị giới hạn trong các lĩnh vực nhất định của nền kinh tế và không liên hệ được với chu kỳ ngân sách chính tr ị H ọ gán các ph át hiện của họ với hiệu ứng tuần trăng mật trong cải cách những năm qua đã gặp sự phản đối mạnh mẽ Tron g bài báo này, chúng tôi cung cấp bằng chứng m ạnh mẽ cho 30 nền kinh tế OECD trong đó

xu hướng tổng thể tiến t ới bãi bỏ quy định làm k iềm hãm các hoạt động kinh tế trong những năm bầu cử và đ ó là sự lựa chọn mang t ính chiến thuật của nhữ ng nhà cầm quyền H ơn nữa chúng tôi kiểm định điều này có phải là do cơ chế chính trị còn non trẻ và t ác động của nền dân chủ như m ô tả của B render & Drazen (2008) hay không

Trang 3

K ết quả của chúng tôi cho thấy sự kìm hãm các hoạt động kinh t ế cũng có mặt trong nền dân chủ đã đư ợc thành lập lâu đời một kết quả kiểm định giả thuyết những quy định của chính phủ đư ợc xem như là m ột công cụ thay thế cho những thao túng trư ớc bầu cử

D razen & Eslava (2006) và K atsimi & Sarantides (2010) xem xét các h ình thức vận động bầu cử thông qua thao túng t ài khóa mà không ảnh hư ởng đến thâm hụt tổng thể củaquốc gia nhưng chủ yếu nhắm vào các thành phần chi tiêu của chính phủ Các chính trị gia có thể không làm như vậy để tránh sự trừng phạt trong bầu cử của n hững

cử tri N hư Drazen và Es lava (2006) cho rằng "chi tiêu ngân s ách cho thịt lợn trong 'năm bầu cử như vậy có nghĩa làchính sách, pháp luật nhắm mục t iêu vào các nhóm cử tri cụ thể để đạt đư ợc sự ủng hộ chính trị của họ và được xem như là một thành phần đặc biệt quan tr ọng của việc thao túng trong bầu cử"(p.1) Họ phát triển một mô hình tập trung vào các thao túng bầu cử thông qua các khoản chi t iêu mục tiêu của chính phủ mặc dù họ đã xác định từ trước trư ờng hợp các hành động pháp lý đặc biệt thiên

về ủng hộ cho một số nhóm lợi ích Quy định đối với cáchoạt động kinh tế là một ví

dụ của m ột hành động pháp lý đặc biệt mà chính phủ nhắm mục tiêu vào một nhóm cử tri nào đó với chi phí của người khác Quy định như một quá trình tạo ra lợi ích cho một số ít với toàn bộ chi phí củatoàn xã hội và không chỉ bằng ngân sách của chính phủ Blanchard & Giavazz i(2003) cho ví dụ liên quan đến lợi ích được tạo ra bởi quy định s ản xuất m à cả hai bên là nhà cầm q uyền và liên đoàn lao động đều thích bởi vì liên đoàn lao động là m ột trở ngại trong quá trình bãi bỏ quy định

H ơn nữ a, như Hillamn & Riley (1985) lập luận "chính sách của chính phủ có thể tạo ra lợi ích và đư ợc bảo đảm, ví dụ các yếu tố đặc biệt trong ngành công nghiệp được hư ởng lợi từ sự bảo hộ của chính phủ, hoặc nhữ ng nhà sản xuất đòi thặng dư sản xuất là nhữngngư ời đượchư ởng lợi từ chính sách bảo hộ và điều chỉnh "(p.17) Mô hình giới thiệu khái niệm định giá phần thưởng bất đối xứ ng (trong khái niệm tranh dành lợi ích chính trị) của các đại lý cạnh tranh Một giá trị lớn hơn cho phần thưởng chính trị bởi hành động của ngư ời tham gia nào đó đư ợc xem như một rào cản gia nhập cho những người tranh cử này chỉ nhận một giá trị thấp hơn cho nó Vì vậy, theo các tác giả các nhà cầm quyền có lợi thế rõ rệt hơn các ứng cử viên tiềm năng của họ

M ột kết luận nổi bật quan trọng là " bảo vệ chuy ển giao thu nhập từ nhóm này s ang nhóm khác, và người thua cuộc từ một chính s ách bảo hộ phải chịu m ột mất mát ngay

cả khi họ đã không hoạt động tích cự c trong việc chống lại vận động hành lang của những người hưởng lợi từ việc bảo hộ"(p.188) N guyên do như vậy mà chu kì điều chỉnh1 trong bối cảnh mô hình Drazen & Eslava (2006) không có thâm hụt tổng thể

1

Chu kỳ trong quy định là chỉ là m ột trong số lợi ích có thể được tạo ra trong thời gian trước bầu cử Th uế quanvà hạn chế thư ơng mại thay đổi theo chu kỳ bầu cử

có mặt trong các tài liệu như biến động chính s ách theo chu kỳ

Trang 4

làm gia tăng vận động bầu cử Tron g bài báo này chúng tôi kiểm định sự tồn t ại của các hành vi thao túng trư ớc bầu cử trong 30 nền kinh tế O ECD cho giai đoạn

1991-2007 bằng cách sử dụng mộtphương pháp tiếp cận dữ liệu bảng biến động Chúng tôi kiểm tra giả thuyết rằng quá trình bãi bỏ quy định làm kiềm hãm các hoạt động kinh tế trong năm bầu cử do chính phủ sử dụng các kĩ thuật thao túng theo chiến lược2

2 C ác n ghiên cứu trướ c đây

Bài nghiên cứ u này t ập trung vào thuật ngữ chu kỳ ngân s ách chính trị bắt nguồn từ các tài liệu về chu kì kinh t ế chính trị xuất hiện vào giữa những năm bảy mươi Các giả định trước đ ây của những tài liệu này là tác động của khái niệm bỏ phiếu kinh tế Đ ó là biến kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định của cử tri trước cuộc bầu cử M ột số nghiên cứu thự c n ghiệm đã xác định rằng điều kiện trước bầu cử này đã có ảnh hưởng lớn đến cuộc b ầu cử trong một loạt các quốc gia Kramer (1971) tập trung vào cuộc b ầu cử quốc hội từ 1896 đến 1964 cho thấy rằng tổng s ố phiếu bầu cử cho đảng cầm quyền bị ảnh hư ởng tiêu cự c bởi tỷ lệ lạm phát như ng ảnh hư ởng tích cực bởi tốc độ t ăng trư ởng thu nhập thực tế bình quân đầu người St igler (1973) đặt vấn đề tính bền vữ ng của những kết quả này cho cuộc bầu cử quốc hội một lập luận đư ợc giải thích bởi Crain, D eat on và T ollison (1978) như là m ột dấu hiệu cho th ấy rằng các cử tri không chịu trách nhiệm trước đại biểu quốc hội về hiệu suất kinh tế vĩ m ô Fair (1978) (được cập nhật trong Fair 1982, năm 1988) lập luận rằng nếu một liên k ết nhân quả giữa hiệu suất kinh t ế và đảng cầm quyền đư ợc thành lập thì điều này có thể được phát biểu trong bầu cử tổng t hống3 Fair phát hiện ra rằng những thay đổi trong GNP thực bình quân đầu người hoặc tỷ lệ thất nghiệp đã t ác động đến bầu cử tổng thống Một số nghiên cứu khác đã m ở rộng phân tích này cho các quốc gia khác và đã chứ ng minh thự c n ghiệm rằng bầu cử theo lợi ích kinh tế không chỉ xuất hiện trong cuộc bầu cử Mỹ M adsen (1980) tìm thấy kết quả tương tự cho các nước Bắc Âu (Na Uy, Th ụy Điển và Đ an Mạch), Lewis -Beck (1988) cho Anh, Pháp, Tây Đức, Ý và T ây Ban N ha

2 Ales ina et al (2008) thông qua ước lư ợng G LS đã cung cấp bằng chứng yếu (chỉ có 2 trong số 6 ngành theo nghiên cứ u cho kết quả có ý nghĩa thống kê ở mức 10%) cho 21 quốc gia trong đó nhữ ng cuộc cải cách diễn ra vào đầu m ột nhiệm kì m ới

Ô ng cho rằng kết quả này là do sự lo s ợ rủi ro mất mát trong bầu cử vì kết quả của tự

do hóa hoặc cải cách t ài chính bảo thủ

3 Mueller (2003) kết luận sau khi có t ính đến một số nghiên cứu thực nghiệm rằng "kinh tế vĩ mô điều kiện chỉ ảnh hưởng đến công dân bỏ phiếu như thế nào khi các công dân khá có thể giữ một người hoặc một bên chịu trách nhiệm về những điều kiện "(p.437)

Trang 5

Chúng t a p hải thừ a nh ận rằng hoạt động kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong cuộc bầu cử đã cung cấp khuyến khích các chính trị gia sử dụng các chiến thuật để thao túng nền kinh tế trư ớc khi bầu cử Việc thao túng như vậy có mục t iêu chính là cải thiện phúc lợi của người dân và được xem như là một sản phẩm phụ làm t ăng cường khả năng t ái tranh cử M ô hình đầu tiên về chính trị cơ hội là của Nordhaus (1975) và Lindbeck (1976) Trong mô hình N ordhaus, cũng như những mô hình gần đây về chu kì kinh tế chính trị cơ hội, các công cụ chính s ách đư ợc áp dụng là chính sách tiền tệ và các điều kiện kinh t ế có lợi cho cử tri đư ợc bắt nguồn thông qua khai thác đường cong P hillips ngắn hạn Đ ó là với những kỳ vọng về lạm phát quá k hứ những nhà cầm quyền cơ hội có động cơ kích thích nền kinh tế giả tạo bằng cách gây

ra một sự bùng nổ kinh tế trong giai đoạn trước bầu cử

Các mô hình cơ hội của chu kỳ kinh tế chính trị thì dựa vào chính sách tiền tệ

đã đư ợc kiểm định thự c nghiệm rộng rãi Các nghiên cứ u thực nghiệm đã kiểm tra cả hai công cụ chính sách và kết quả kinh t ế với kết quả không đủ mạnh để hỗ trợ cho

mô hình này M ột loạt các n ghiên cứu thự c nghiệm kiểm tra sự tồn tại của P BC trong hoạt động kinh t ế thong qua đo lường GNP và biến động thất nghiệp ở Mỹ và các quốc gia khác trư ớc khi tới cuộc b ầu cử Alesina, Roubini và C ohen (1997) cung cấp m ột bản tóm tắt các kết quả về sự thao túng t ình trạng thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế và kết luận rằng nghiên cứu thự c nghiệm cho thấy thiếu bằng chứng t hực n ghiệm để ùng

hộ cho lý thuyết vì thế không có bằng chứng cho sự gia tăng các h oạt động kinh tế trước bầu cử Lew is-Beck (1988) và P aldam (1979) mở rộng phân tích ra bên ngoài nước M ỹ một lần nữa không có kết quả có ý nghĩa để xác minh sự gia tăng trong hoạt động kinh tế Lạm phát s au bầu cử m à các mô hình dự đoán đã m ở rộng mặc dù thiếu tính phổ biến đem lại tính bền vững cho lý thuyết Ales ina et al (1997) tìm thấy dấu hiệu của lạm phát cao hơn sau bầu cử ở các nước OECD và cho rằng lạm phát sau bầu cử ở M ỹ là một hiện tượng có thể đư ợc nhận thấy trong cuộc bầu cử trư ớc năm 1979 Bằng chứng về các công cụ chính sách tiền tệ phù hợp với những phát hiện

về lạm phát s au bầu cử Một số nghiên cứu đã điều tra cung t iền bằng cách

đo lư ờng thay đổi về khối lượng M1 M ột lần nữa Alesina et al (1992) tìm thấy bằng chứng như vậy cho 18 nền kinh tế O ECD, Berger và Wo itek (1997) cho Đức, và Allen (1986) cho Mỹ G rier (1989) và Beck (1987) đã đư a ra p hản chứng lên sự gia t ăng cung tiền M 1 và tranh luận rằng việc lựa chọn trong khoảng thời gian khảo s át thì quan trọng đối với mứ c ý nghĩa thống kê của kết quả Ông kết luận rằng việc thao t úng như vậy được thể hiện trong dữ liệu cho khoảng thời gian từ năm 1960 và 1980 Frans ese (2006) đã quy kết cho việc thiếu các bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ các ý tưởng của P BC trong kết quả thực được xem như là một bằng chứng cho thấy các nhà chính trị ưu tiên cho chính sách mục tiêu và đúng thời điểm (của những nhà ầm quyền đối với cử tri) chính s ách có thể thao túng đư ợc (của những nhà cầm quyền), rõ ràng (cho cử tri) và có thể quy kết (bởi cử tri đối với người đư ơng nhiệm) (p.549)

Trang 6

Các thiếu sót về thực n ghiệm trong nghiên cứu về các thao túng hoạt động tiền

tệ để tăng cường khả năng t ái tranh cử kết hợp với việc xác định rằng các chính trị gia

ưu ái cho các chính s ách nhắm mục tiêu và rõ ràng được kết hợp với việc thao t úng chính sách tài khóa tạo ra chu kỳ kinh tế theo sự biến động chính trị Tuft e (1978) xác định một số rắc r ối của các thao tác mang tính cơ hội trong các chính sách tài khóa trước bầu cử T heo Tuft e những chính sách này bao gồm chuy ển giao t ài khóa trong thanh toán an s inh xã hội, phúc lợi cựu chiến binh, thuê mướn hay s a thải công, t ăng chi tiêu, trì hoãn cắt giảm Tr ái ngược với các mô hình trư ớc của chu kỳ kinh doanh chính trị mang tính cơ hội, nay đường cong Phillips trở nên không thích hợp khi lợi ích kinh t ế của nhữ ng cử tri cũng đư ợc được cải thiện thông qua chuyển giao t ài chính trực tiếp và nhắm mục tiêu đến anh ta Thu ật ngữ chu kỳ ngân sách chính trị được dùng để

mô tả biến động m ang tính chu kỳ trong các chính sách tài khóa

và đư ợc xem như là một phần của chu kỳ bầu cử

Rogoff và Sibert (1988) m ở rộng mô hình chu kỳ kinh tế chính trị mang tính cơ hội ban đầu cho các cử tri lý trí Các mô hình lựa chọn đối nghịch, họ thể hiện dự a trên giả định rằng mỗi ứng cử viên đều biết mức năng lự c của anh t a (t hấp hoặc cao) Thông t in này là bất đối xứng vì những cử tri không biết được điều này và kỳ vọng hợp lý đối với ứng cử viên đư ợc đánh giá dựa trên quan s át kết quả chính sách tài khóa Trước bầu cử úng viên có năng lự c cao thư ờng phát ra tín hiệu về khả năng của

họ bằng cách tham gia vào m ở rộng chính sách tài khóa Cử tri nhận ra mứ c độ năng lực cao, vì thông qua những chính sách như vậy thì tốn kém n hiều chi ph í hơn những ứng cử viên có năng lự c thấp, và phần thư ởng dành cho họ là bằng cách bỏ phiếu ủng

hộ Rogoff (1990) lập luận rằng năng lực ra tín hiệu cũng có thể đạt được bằng cách thao túng các thành phần chi tiêu chính phủ Đó là bằng cách t hay đổi chi tiêu chính phủ hướng tới thiết lập các chính sách đáng chú ý Chuyển giao trực tiếp và chi tiêu tiêu dùng thường có kết quả ngay lập tức nên nó trở thành các chính sách được y êu thích của các chính trị gia có năng lực, hơn là đầu tư và những chính s ách khó quan sát

và cần nhiều thời gian để phát huy tác dụng M ặc dù có thể xảy ra lạm phát s au bầu cử, xuất phát từ việc mở rộng t ài khóa, cử tri có lý trí s ẽ phản ứng với nhữ ng thao t úng như vậy, vì vẫn còn tốt hơn là bầu cho ngư ời có năng lực về quản lý nền kinh tế

M ặc dù các yếu tố mới mà các mô hình nói trên đã kết hợp vào, đó là tính lý trí của cử tri và hành vi mang tính chiến lược của các chính tr ị gia v à toàn bộ cử tri, hạn chế nhất định về mặt lý thuyết được xác định Cả Shi & Svensonn (2003) và Draze (2000) đều phân biệt điểm nổi bật nhất của những m ô hình dự đoán của một nền kinh

tế bị bóp méo bởi các chính trị gia tài năn g H ơn nữ a, chỉ có anh ấy s ẽ được b ầu lại

N hưn g bên cạnh nhữ ng câu hỏi lý thuyết, một hạn chế nghiêm trọng về nghiên cứu thực nghiệm được thự c hiện là bổ s ung thông tin của các nhà chính trị cũng cần t hiết đưa vào để kiểm tra t ính dự báo của các mô hình

Trang 7

N hững hạn chế này đã đư ợc giải quy ết thông qua một loạt các m ô hình dự a trên lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đứ c P ers son & Tabellini (2000) và Shi & Svensson (2002) giới thiệu các mô hình như vậy để phân biệt các mô hình này với từ các mô hình lự a chọn đối nghịch trước đó với hai vấn đề lớn Thứ nhất mặc dù m ỗi chính trị gia đều có năng lự c r iêng, người ta cho rằng năng lực này không quan s át được kể cả toàn bộ cử tri và các chính trị gia đương thời Thứ hai là các mô hình mới đưa ra phạm vi cho các hành động chính sách tài chính ẩn m à cử tri không thể quan sát được ngay lập tức Vì vậy, các nhà cầm quyền có thể thay thế nhữ ng ngư ời thiếu năng lực bằng cách các công cụ t hao túng chính sách nhằm phát tín hiệu cho anh ta Ví dụ vay mượn trước bầu cử và tăng chuyển giao tài khóa và cung cấp hàng hóa công như một công cụ làm tăng thu nhập trong hoạt động kinh t ế Cuộc bầu cử diễn ra sau khi kết hợp các nỗ lực chìm của ngư ời đương nhiệm và cuộc sống trở nên sung túc hơn là kết quả của chính s ách tài khóa Tro ng trạng thái cân bằng và m ặc dù thực tế cử tri biết

ý định của những nhà cầm quyền và động cơ cho các thao túng, vay mượn quá mức có thể được thể hiện như là sự gia tăng thâm hụt ngân s ách trong thời gian trước khi bầu

cử Sự khác biệt đáng chú ý liên quan đến nghiên cứu thực nghiệm đó là sự tiên đoán của mô hình cho rằng sự thao túng tài khóa và sử dụng các công cụ chính sách liên quan không bị giới hạn bởi các ứng cử viên có thẩm quyền cấp độ cao nhưn g có thể được sử dụng bởi t ất cả các loại của các chính trị gia

Các kết quả thự c nghiệm ủng hộ chu kỳ kinh t ế chính trị không được tin cậy với các kết quả ít có ý nghĩa thông kê và nói chung là thao túng t iền tệ tác động đến kinh

tế thực thì không có mặt trong dữ liệu dưới sự kiểm định của mô hình Mặt khác, nghiên cứu thực nghiệm về chu kỳ ngân sách chính trị đã hiểu rõ trong nhiều năm qua, với sự trợ giúp đỡ đắc lực của các kỹ thuật kinh tế lư ợng tiên tiến đã đưa ra các kết quả bền vững và có ý nghĩa thống kê cho thấy sự hiện diện của các thao túng tài khóa trước bầu cử dưới hình thứ c tăng thâm h ụt ngân s ách

Tufte (1978) đưa ra bằng chứng đầu tiên về sự thao túng chính s ách tài khóa trong bối cảnh chuyển giao trực tiếp Frey & Schneider (1978a 1978b) đưa ra một số bằng chứng kinh tế lượng đầu tiên về sự gia t ăng chi tiêu chính phủ trước khi bầu cử cho cả H oa Kỳ và Vư ơng quốc A nh Đối với K eech & P ak (1989) tìm thấy chu kỳ bầu

cử trong các khoản chuyển giao cựu chiến binh nhưng chỉ trong m ột khoảng thời gian giữa năm 1961 và năm 1978 và Alesina (1988) thông qua hồi quy OLS kết luận rằng

có sự tồn t ại của chu kỳ bầu cử trong khoản chuy ển giao ròng tương đối so với GNP cho giai đoạn 1961 đến 1985 Bằng chứng về sự thao túng như vậy cũng là kết quả của nhiều nghiên cứ u ở m ột số quốc gia riêng rẽ Krueger & T uran (1993) tìm thấy bằng chứng về các thao tún g tài khóa trước bầu cử cho Thổ Nhĩ K ỳ trong những năm từ

1950 đến 1980, Gonzalez (2002) nhận thấy kết quả tương tự về chu kỳ trong chi tiêu chính phủ của Mexico cho giai đoạn 1958-1997

Trang 8

M ột lần nữa các nghiên cứ u về chu kỳ ngân s ách chính trị ở cấp độ đa quốc gia

có kết quả ủng hộ chiến lư ợc mở rộng t ài chính trước bầu cử thay mặt cho ngư ời đương nhiệm Ames (1987) đưa ra bằng chứ ng ủng hộ về sự gia tăng chi tiêu chính phủ ở 17 quốc gia Americal Lat in Block (2002) đã khẳng định chính s ách mở rộng tài khóa cho 44 nư ớc Châu Phi tiểu sa mạc Sahara4 Schuknecht (1996) đã tìm thấy kết quả tương tự về chu kỳ tài khóa cho 35 nư ớc đ ang phát triển Ô ng nhấn mạnh rằng cơ chế yếu kém và ít có sự kiểm tra và cân bằng cho thao túng tài chính ở quốc gia đang phát triển Sự khác biệt về độ lớn của chu kỳ tài khóa cũng như sự khác biệt lớn ở các quốc gia hoặc nhóm các quốc gia trong các nghiên cứ u đã tạo ra các kết quả khác nhau

đã chuyển sự chú ý đến việc từ nếu chu kỳ ngân sách chính trị tồn tại thì chu kỳ này xảy ra ở đâu và lý do tại s ao có sự khác biệt giữ a các nước

Trong bối cảnh này, Shi & Svesson (2002, 2006) tìm thấy bằng chứng về chu

kỳ ngân sách chính trị ở cả các nước phát triển và kém phát triển với độ lớn của hiện tượng này lớn hơn nhiều s o với trước đây Họ cũng chứ ng minh được sự khác biệt có thể là do sự khác biệt về cơ chế PBCs có liên quan tích cực với lợi ích kinh tế của các chinh trị gia trong quốc hội và tương quan nghịch với thị phần của cử tri Gonzales (2002) trong nghiên cứu ở 43 quốc gia trong giai đoạn này 1950-97 kết luận rằng có một mối tương quan dương giữa mức độ chu kỳ kinh doanh chính trị dân chủ và minh bạch là mạnh nhất trong các quốc gia có mức độ dân chủ vừa ph ải Cùng với nghiên cứu A lt & Lassen (2006) cho thấy rằng thao túng t ài chính tồn tại giữa các nền dân chủ tiến bộ trong cơ chế minh bạch ngân sách cũng như sư phân cực của các đảng phái chính trị Akhm edov & Zhuravsaya (2004) đư a ra kết luận tương tự về tính minh bạch trong một bối cảnh của một nền dân chủ "trẻ" với sự chuyển dịch lớn trong chi tiêu trước bầu cử tương ứng với các khu vự c N ga với tính minh bạch thấp hơn

Perss on & Tabellini (2003) trong một phân tích kết hợp 60 nền dân chủ từ

1960 đến 1998 nghiên cứ u làm thế nào chu kỳ ngân sách chính trị bị ảnh hưởng bởi các hình thứ c chính phủ, tổng thống hoặc quốc hội, và các quy tắc bầu cử , số đông hoặc tỷ lệ thuận H ọ cho rằng chính sách tài chính bị ảnh hưởng nặng nề bởi chính bản chất của hệ thống chính quyền như đặc trưn g bởi sự khác biệt cơ bản nói trên K ết quả của họ chứng minh rằng cắt giảm thuế trư ớc bầu cử là một hiện tượng phổ biến trong khi các điều chỉnh tài khóa sau bầu cử có thể được tìm thấy ở các nước có chế độ tổng t hống N goài ra họ thấy rằng quy tắc bầu cử t heo tỷ lệ tư ơng quan với sự gia tăng chi phí trong chi tiêu phúc lợi trong thời gian trước bầu cử

và s au bầu cử Quy tắc bầu cử theo số đông thì tư ơng quan với cắt giảm chi tiêu trư ớc bầu cử

4Ông ta cũng tìm thấy bằng chứng thiên về thao túng chính sách tiền tệ

Trang 9

Brender & D razen (2005) trong một bài báo có ảnh hưởng cũng xác nhận sự tồn tại của chu kỳ ngân sách chính trị, như ng họ kết luận rằng kết quả này là do tác động của nền dân chủ m ới Đó là bao gồm trong mẫu các nư ớc có nền dân chủ mới có ý nghĩa thống kê đối với chu kỳ ngân sách chính trị M ột khi các quốc gia này được loại

bỏ khỏi mẫu kết quả xuất hiện là không có ý nghĩa thống kê Trải qua nền dân chủ m ới

là điều không thể tránh khỏi cho cả hai nền kinh tế phát triển và kém phát triển hơn và phản ánh mức độ kinh nghiệm của cử tri đối với cơ chế dân chủ Cử tri nhiều kinh nghiệm hơn ít có khả năng tưởng thư ởng và các thao túng tài khóa trước bầu cử là

"điều ngạc nhiên" trong năm bầu cử đư ợc xử lý một cách tinh vi hơn Mặt khác cử tri thiếu kinh nghiệm ở các nền dân chủ m ới cũng nhiều khả năng có ít dữ liệu có s ẵn để rút ra những kết luận chính xác về chính sách có thể quan sát có thể sai lầm với những thao túng trư ớc bầu cử Brender & Drazen (2005) cẩn thận thừa nh ận thự c tế là các sự kiện trư ớc các t hao túng tài khóa đã có mặt trong các n ền dân chủ trư ởng thành chưa xảy ra ở các nền dân chủ mới thành lập đã lấy đi của cử tri kinh nghiệm hữ u ích và quan trọng cần thiết để xác định Họ cũng kết hợp kết quả của họ với nghiên cứu thực nghiệm trước đó nhấn mạnh tầm quan trọng của tính minh bạch về việc giảm các thao túng chính sách tài khóa trong bầu cử

D ưới ảnh hư ởng của nhữn g phát hiện này đã nêu lên hiện tượng chu trình ngân sách chính trị không xuất hiện ở những quốc gia đã phát triển và có nền dân chủ lâu dài D raz en & Eslava (2006) đề xuất m ột mô hình chu kỳ tiền của chính phủ (chi cho các công trình địa phương nhằm để giành phiếu bầu) Trong m ô hình của họ các nhà cầm quyền cố gắng ảnh hưởng đến cử tri bằng cách chi tiêu trực tiếp và có mục tiêu đối với nhóm người cụ thể với chi phí của các cử tri khác H ọ cho rằng một chiến lư ợc chi t iêu nhắm mục tiêu bằng cách cắt giảm một số các chi tiêu khác để không làm t ăng thâm hụt ngân s ách tổng thể Chiến lư ợc này trở nên tối ư u cũng như thâm hụt ngân sách vư ợt quá bị trừn g phạt bởi các cử tri làm giảm cơ hội tái đắc cử Các thao túng trong mô hình này diễn ra trong các thành phần chi phí với thông tin bất đối xứng không đư ợc giới thiệu về năng lực của các chính trị gia như trư ớc, nhưng trong sự ưu đãi của những ngư ời đư ơng nhiệm trên các nhóm cử tri khác nhau Vì vậy, chu kỳ ngân sách chính phủ có thể xuất hiện thậm chí khi có đầy đủ hiểu biết vế năng lự c của các nhà chính trị và hơn nữa là sự lựa chọn chính sách tài khóa của ngư ời

3 Dữ liệu và k ỹ thuật thực nghiệm

3.1 Dữ liệu

Chúng tôi sử dụng dữ liệu t heo năm cho 30 nư ớc O ECD từ năm 1999 đến

20075 D ữ liệu này đư ợc thu thập bởi Conway & Nicoletti (2006)6 và ban đầu chỉ bao

5

Chúng tôi hạn chế cỡ mẫu thời gian vì nhiều lý do khác nhau.Thứ nhất, trong thời kỳ hậu Xô Viết đã bãi bỏ những luồng tư tưởng đối nghịch nhau, do đó ảnh hưởng đảng phái bị hạn ch ế Thứ hai là vào thập kỷ thứ 1 9 là thập kỷ mà những quy định lạc

Trang 10

gồm 21 quốc gia O ECD trong khoảng thời gian từ năm 1975-2003 Cập nhật đến năm

2009, N icoletti et al 2009 đã m ở rộ ng lên đến 30 quốc gia v à kh oảng t hời gian đến năm 2007 Các quốc gia có s ẵn dữ liệu theo năm là: Australia, Áo, Bỉ, C anada, Cộng hòa Séc, Đan M ạch, P hần Lan, Pháp, Đức, H y Lạp, Hungary, Iceland, Ireland, Italy,

N hật Bản, H àn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Ba Lan,

Bồ Đ ào Nha,Slovak Republic, T ây Ban Nha, T hụy Đ iển, Thụy Sĩ, Thổ Nh ĩ K ỳ, Vương quốc Anh và H oa Kỳ

Các chỉ số về quy định phi sản xuất bao gồm các lĩnh vực năn g lượng, vận tải và thông tin liên lạc (ET CR)7 Các biến này được đo lư ờng theo thang điểm từ điểm 0 nghĩa là ho àn toàn không có sự điều chỉnh của chính phủ đến điểm 6 cho th ấy nhữn g quy định và hạn chế về kinh tế ở mứ c độ nghiêm khắc nhất Chỉ số ETCR đư ợc tập hợp dựa trên bảy lĩnh vự c của nền kinh tế có sự đ óng góp lớm của nh à nư ớc thông qua nhữn g doanh nghiệp sở hữ u công, doanh nghiệp độc quyền và khuôn khổ pháp luật quy định chặt chẽ ràng buộc Các lĩnh vực này là điện, khí đốt, vận t ải hành khách đường hàng không, vận tải đường s ắt, vận t ải hàng hóa đư ờng bộ, các dịch vụ bư u chính và viễn thông Các chỉ số ước tính được lấy nguồn từ các quốc gia và các ấn phẩm đư ợc xuất bản và các chỉ số có số điểm thấp đại diện những đo lường khách quan đư ợc xây dựn g trong bảng câu hỏi N hữn g chỉ số có s ố điểm thấp liên quan đến nhữn g quy định gia nhập ngành, sở hữ u công, hội nhập các thị trư ờng theo chiếu dọc

và cơ cấu thị trư ờng tùy thuộc vào từng ngành nghề cụ thể với nhữn g rào cản gia nhập ngành và quyền sở hữu công áp dụng hầu hết các ngành nghề8 Những điếu này đư ợc tổng hợp trong các chỉ số liên quan đến các lĩnh vực hoạt động kinh tế hoặc tr ên các chỉ s ố tổng hợp đại diện cho quy định trong "rào cản gia nhập", "Tất cả nhưng ngoài quyền sở hữ u công "," Quyền sở hữu công "và" ETC R tổng hợp "9 Vì chúng ta đang

hậu đã được bãi bỏ Trong những năm 80 diễn ra tiến trình xác định lại vùng ranh giới của một vài quốc gia với nhữ ng quốc gia còn lại theo từng bước chậm rãi đã trở thành lãnh t hổ chung vào những năm 90 Thứ ba, chúng tôi có thể kết hợp trong bộ dữ liệu nước cộng s ản cũ bây giờ là thành viên của O ECD và k iểm định thực nghiệm về t ác động của nền dân chủ mới

6 Các tác giả đã mô tả các chỉ số được phân tích

7 Những chỉ số ET CR của O ECD được sử dụng để thực hiện trong nghiên cứu thực nghiệm Ví dụ P otrafke (2010) sử dụng các chỉ số tổng hợp để nghiên cứ u tác động của đảng phái lên sự bãi bỏ quy định cho 21 quốc gia từ năm 1980 đến 2003

A lesina và cộng sự (2008) sử d ụng các chỉ số thành phần của từng khu vực để nghiên cứu tác động của việc t hông qua khu vực chung Euro trong cải cách cơ cấu

8

ngoại trừ ngành vận t ải hàng hóa đường bộ

9

dữ liệu Phụ lục cung cấp thêm t hông t in về các chỉ số.

Ngày đăng: 28/04/2014, 18:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chỉ số quy định O ECD  (1991-2007): Ph ương  pháp ước l ượng  Arellano-Bove r/Blun dell-Bond hệ thống 2 bướ c GMM - Tiểu luận: Chu kỳ kinh tế chính trị: Mối quan tâm về ngân sách
Bảng 1 Chỉ số quy định O ECD (1991-2007): Ph ương pháp ước l ượng Arellano-Bove r/Blun dell-Bond hệ thống 2 bướ c GMM (Trang 13)
Bảng 3 chỉ số điều chỉnh  ở các nước OECD  (1991-2007): ph ương  pháp ước  lượng  Arellano-Bove r/Blun dell-Bon d  hệ  thống  GM M  hai  bướ c - Tiểu luận: Chu kỳ kinh tế chính trị: Mối quan tâm về ngân sách
Bảng 3 chỉ số điều chỉnh ở các nước OECD (1991-2007): ph ương pháp ước lượng Arellano-Bove r/Blun dell-Bon d hệ thống GM M hai bướ c (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w