CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây hội nhập kinh tế thế giới nói chung và ASEAN nói riêng là những vấn đề mà Việt Nam quan tâm hàng đầu, thể hiệ[.]
Trang 1CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
MỞ ĐẦU:
Trong những năm gần đây hội nhập kinh tế thế giới nói chung và ASEAN nói riêng là những vấn đề mà Việt Nam quan tâm hàng đầu, thể hiện ở việc chúng ta đang tích cực gia nhập các Tổ chức kinh tế trên thế giới, kí kết các hiệp định , hiệp ước song phương, đa phương và đặc biệt là những hoạt động chuẩn
bị cho sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN ( AEC)
AEC ra đời đánh dấu cho sự hội nhập một cách toàn diện của các nước trong khu vực,hướng tới mục tiêu xây dựng một cộng đồng kinh tế-an ninh-xã hội theo kiểu Liên minh Châu Âu(EU),đồng thời đây là sự hòa trộn nền kinh tế của 10 nước thành viên một khối sản xuất, thương mại và đầu tư Tạo ra một thi trường chung cho khu vực, việc hình thành AEC vừa là cơ hội và là thách thức đối với các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng
Đối với việt nam trách nhiệm và nghĩa vụ trong việc tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN không phải là công việc của từng Bộ, ngành, địa phương
mà đó là công việc mang tính tầm cỡ quốc gia, thế nên phải trang bị được một nền tảng am hiểu về mặt lí luận và thực tiễn,và đưa ra những nội dung cơ bản,những điều kiện cần thiết cho chính quốc gia mình.Nhận thức được vai trò lớn lao mà AEC mang lại nhóm đã chọn đề tài : “ Cộng đồng kinh tế ASEAN – những vấn đề lý luận là thực tiễn” làm bài thuyết trình hôm nay
NỘI DUNG:
I CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN.
Giới thiệu chung:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nên kinh tế ngày càng gia tăng đòi hỏi các quốc gia phải hợp tác tích cực hơn, trong đó các thành viên ASEAN Từ khi ra đời năm 1967 đến năm
1997 phần lớn các quyết định của ASEAN chủ yếu liên quan đến chính trị, có quyết định thành lập khu vực mậu dịch từ do được đưa ra từ năm 1993, là quyết định liên quan đến kinh tế Tính đến năm 1997, ASEAN là tổ chức thành công
và có uy tín nhờ thực hiện nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và giữ gìn bản sắc dân tộc trong sự đa dạng về trình độ phát triển và thể chế chính trị Những cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 ở khu vực đã gây ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của ASEAN Tổ chức này có ảnh hưởng về uy tín không lớn, cơ chế hợp tác lỏng lẻo,họp hành quá nhiều (khoảng 700 cuộc họp
Trang 2mỗi năm) nhưng các quyết định nhiều thì không được thực hiện, ASEAN không mạnh vì các nền kinh tế phân mảnh, không liên kết với nhau
Nhìn lại lịch sử, ASEAN chỉ là một tổ chức khu vực thiên về chính trị, chưa có tư cách pháp nhân ở Liên Hợp Quốc cũng như các tổ chức quốc tế và khu vực khác vì chưa có Hiến chương, điều lệ, pháp lý Vì vậy ý tưởng hình thành cộng đồng ASEAN đã đưa ra trong bối cảnh thế giới và khu vực phát triển đặt ASEAN trước vấn đề là phải liên kết các quốc gia thành một thể thống nhất
2.1 Lịch sử hình thành:
Năm 1992: khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore Hiệp định này nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông
Năm 1992: Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN 2010
Năm 1995: Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN được ký kết
Năm 1998: Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012
Năm 2003: Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu tiên tuyên bố mục tiêu hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Mục tiêu này cũng phù hợp với Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua vào năm 1997 với mục tiêu phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN
Năm 2006: Tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) đã được đưa ra với các mục tiêu
và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC
Năm 2007: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì 2020 như kế hoạch ban đầu
Ngày 22/11/2015: Các nhà lãnh đạo các nước thành viên ASEAN đã đi đến
ký kết và tuyên bố thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Theo tuyên bố này, kể từ ngày 1/1/2016, 10 quốc gia thành viên trong khối sẽ cùng chung một nền tảng thị trường và sản xuất, cũng như việc di cư lao động tự do hơn
Trang 3Cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành không phải là đích cuối cùng của liên kết ASEAN, mà là sự khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới của Hiệp hội
Dưới mái nhà chung này, các dân tộc ở Đông Nam Á sẽ cùng gắn kết, chia
sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đường mới Đánh một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế giữa các nước ASEAN Mục tiêu tổng quát của Cộng đồng ASEAN là xây dựng hiệp hội thành một tổ chức hợp tác liên chính phủ ở mức sâu rộng và nhiều ràng buộc hơn trên cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN
2.2 Khái niệm cộng đồng kinh tế ASEAN.
Cộng đồng kinh tế ASEAN trong tiếng Anh gọi là: ASEAN Economic Community – AEC.
Chúng ta đã quá quen thuộc khi nhắc tới cộng đồng kinh tế ASEAN đây là một trong 3 trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020, và được khẳng định lại trong Tuyên bố Hòa hợp ASEAN tạo dựng một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng
và cạnh tranh cao, nơi có sự di chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, di chuyển tự do hơn của các luồng vốn, phát triển kinh tế đồng đều và giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về kinh tế-xã hội
Có thể nói một trong 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN cụ thể là Cộng đồng Kinh tế-AEC, Cộng đồng An ninh và Chính trị và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội
và với sự hình thành của Cộng đồng Kinh tế ASEAN là kết quả của quá trình liên kết kinh tế, chính trị lâu dài của ASEAN ban đầu với ý tưởng thiết lập AEC chỉ là một hoạt động tiếp nối, mở rộng các cam kết tự do hóa mà ASEAN đã thực hiện trong khuôn khổ Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ năm 1993
2.3 Đặc điểm của Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề Một Khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử
Trang 4Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO)
I.4 Mục tiêu và bản chất Cộng đồng kinh tế ASEAN
1.1 Mục tiêu:
Từ lâu ASEAN với 10 nước thành viên đã nhận thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy tự do hóa thương mại nội khối và đẩy nhanh quá trình gắn kết các thành viên trong một sân chơi chung, nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng của từng thành viên
Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA, thành lập năm 1993) vẫn đang từng bước tiến tới thực hiện những cam kết cuối cùng Một bước tiếp theo, với nhiều tham vọng và kỳ vọng hơn, là AEC, hoặc như một số nước muốn gọi chung chung hơn, là Cộng đồng ASEAN (AC), chính thức được thành lập vào năm 2015
Mục tiêu của AEC là tạo dựng một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên, thúc đẩy dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch
vụ, đầu tư, và lao động có tay nghề trong khối
Bốn mục tiêu, cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC, bao gồm:
Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung
Tự do lưu chuyển hàng hoá
Tự do lưu chuyển dịch vụ
Tự do lưu chuyển đầu tư
Tự do lưu chuyển vốn
Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề
Lĩnh vực hội nhập ưu tiên
Thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp
Một khu vực kinh tế cạnh tranh
Các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh
Trang 5Bảo hộ người tiêu dùng
Quyền sở hữu trí tuệ
Phát triển cơ sở hạ tầng
Thuế quan
Thương mại điện tử
Phát triển kinh tế cân bằng
Các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)
Sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN
Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác kinh tế
Nâng cao năng lực tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu
I.4.2 Bản chất.
Mặc dù được gọi với cái tên "Cộng đồng kinh tế", AEC thực chất chưa thể được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng châu Âu (EC) bởi AEC không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những điều lệ, qui định có tính chất ràng buộc cao và rõ ràng như EC
AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần 04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các Hiệp định và thỏa thuận ràng buộc đã kí kết, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ trình, khuôn khổ, thực hiện một số chương trình và sáng kiến khu vực)
AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay một Hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Chương trình, Sáng kiến, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu này
Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mục tiêu hướng tới (không bắt buộc) của các nước ASEAN
Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã
kí kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới
Trang 6(tiếp tục thực hiện theo lộ trình các Hiệp định, Thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có)
I.5 Các nguyên tắc Cộng đồng kinh tế ASEAN.
Hiến chương ASEAN khẳng định lại các nguyên tắc cơ bản của ASEAN (gồm 13 nguyên tắc) về: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, bản sắc dân tộc; Không xâm lược hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giải quyết hòa bình các tranh chấp; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau…, đồng thời bổ sung một số nguyên tắc mới như: Tăng cường tham vấn về những vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của ASEAN; Không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên
đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định kinh tế của các nước thành viên khác…
Cụ thể, Điều 2 Hiến chương ASEAN nêu rõ: ASEAN và các Quốc gia
Thành viên hoạt động theo các Nguyên tắc dưới đây:
a) Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các Quốc gia thành viên;
b) Cùng cam kết và chia sẻ trách nhiệm tập thể trong việc thúc đẩy hòa bình,
an ninh và thịnh vượng ở khu vực;
c) Không xâm lược, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hay các hành động khác dưới bất kỳ hình thức nào trái với luật pháp quốc tế;
d) Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình;
e) Không can thiệp vào công việc nội bộ của các Quốc gia thành viên ASEAN;
f) Tôn trọng quyền của các Quốc gia Thành viên được quyết định vận mệnh của mình mà không có sự can thiệp, lật đổ và áp đặt từ bên ngoài; g) Tăng cường tham vấn về các vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của ASEAN;
h) Tuân thủ pháp quyền, quản trị tốt, các nguyên tắc của nền dân chủ và chính phủ hợp hiến;
i) Tôn trọng các quyền tự do cơ bản, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, và đẩy mạnh công bằng xã hội;
j) Đề cao Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế bao gồm cả luật nhân đạo quốc tế mà các Quốc gia Thành viên đã tham gia;
k) Không tham gia vào bất kỳ một chính sách hay hoạt động nào, kể cả việc
sử dụng lãnh thổ của một nước, do bất kỳ một Quốc gia Thành viên ASEAN hay ngoài ASEAN hoặc đối tượng không phải là quốc gia tiến hành, đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự ổn định chính trị và kinh tế của các Quốc gia Thành viên ASEAN;
Trang 7l) Tôn trọng sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo của người dân ASEAN, đồng thời nhấn mạnh những giá trị chung trên tinh thần thống nhất trong đa dạng;
m) Giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội với bên ngoài, đồng thời vẫn duy trì tính chủ động, hướng ra bên ngoài, thu nạp và không phân biệt đối xử; và n) Tuân thủ các nguyên tắc thương mại đa biên và các cơ chế dựa trên luật lệ của ASEAN nhằm triển khai có hiệu quả các cam kết kinh tế, và giảm dần, tiến tới loại bỏ hoàn toàn các rào cản đối với liên kết kinh tế khu vực, trong một nền kinh tế do thị trường thúc đẩy
Chương II : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Những vấn đề lí luận:
1.1 Những đặc trưng của liên kết kinh tế quốc tế
Khái niệm liên kết kinh tế quốc tế
Là một hình thức trong đó diễn ra quá trình xã hội hóa mang tính chất quốc
tế, gắn kết nền kinh tế và thị trường của một quốc gia với nền kinh tế và thị trường khu vực/thế giới thông qua các biện pháp tự do hoá và mở cửa thị trường
ở các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương Do hai hay nhiều chính phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ pháp lý chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa các nước
Cấp độ liên kết: Khu vực và quốc tế.Các chủ thể kinh tế quốc tế: Cấp quốc gia hoặc các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau Liên kết giữa các chủ thể kinh tế quốc tế dựa trên các các hợp đồng kinh tế
Đặc trưng của liên kết kinh tế quốc tế
Là một hình thức phát triển tất yếu và cao nhất của phân công lao động quốc tế
Là sự tham gia tự nguyện của mỗi quốc gia thành viên trên cơ sở những điều khoản đã thỏa thuận trong hiệp định
Là sự phối hợp mang tính chất liên quốc gia giữa các nhà nước độc lập có chủ quyền
Là giải pháp trung hòa cho hai xu hướng tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại
Trang 8Là bước quá độ để thúc đẩy nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa góp phần giảm bớt những cuộc xung đột cục bộ, giữ gìn hòa bình, ổn định trong khu vực thế giới
1.2 Cộng đồng kinh tế là một cấp độ của quá trình liên kết kinh tế quốc tế
Liên kết kinh tế quốc tế có nhiều hình thức khác nhau như là
Căn cứ vào các chủ thể tham gia : có liên kết nhỏ và liên kết lớn 1) Liên kết nhỏ: Liên kết giữa các công ty hay các tập đoàn với nhau theo từng giai đoạn của quá trình tái sản xuất
- -Liên kết trước sản xuất: Nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm;
- Liên kết trong quá trình sản xuất: Chuyên môn hóa và hợp tác hóa;
- Liên kết sau sản xuất: tiêu thụ sản phẩm, quảng cáo,
2) Liên kết lớn: Liên kết giữa các quốc gia trong đó các chính phủ ký với nhau các hiệp định để tạo nên khuôn khổ chung cho sự phối hợp
và điều chỉnh quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước thành viên
Căn cứ theo phương thức điều chỉnh : Liên kết giữa các nhà nước và Liên kết siêu nhà nước
(1) Liên kết giữa các nhà nước: Là loại hình liên kết quốc tế mà các cơ quan lãnh đạo là đại biểu của các nước thành viên tham gia với những quyền hạn hạn chế
(2) Liên kết siêu nhà nước:Là loại hình liên kết quốc tế mà cơ quan lãnh đạo chung là đại biểu của các nước thành viên có quyền hạn rộng lớn hơn so với liên kết giữa các nhà nước
Căn cứ vào đối tượng và mục đích của liên kết: gồm
(1)Khu vực mậu dịch tự do hay khu buôn bán tự do (free trade area hay trade zone) (Ví dụ: ASEAN, NAFTA, EFTA )
(2)Liên minh thuế quan (Custom Union);
(3)Thị trường chung (Common Market) vd:EEC được coi là một thị trường chung từ 1992
(4)Liên minh tiền tệ (monetary union)
(5)Liên minh kinh tế (Economic Union) vd EU từ năm 1994 được coi
là liên minh Kinh tế; liên minh kinh tế Benelux (được thành lập năm
1960 bao gồm Bỉ, Hà Lan và Luých Xăm Bua)
(6)Liên kết thương mại BTA:
(7)Liên kết đầu tư : VD : Trong khuôn khổ ASEAN, các nước thành viên đã nhất trí thành lập khu vực đầu tư ASEAN (AIA), và Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN đã được ký kết vào tháng 10/1998
Trang 91.3 Các điều kiện để hình thành cộng đồng kinh tế
Việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ tiếp tục mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân và các nước thành viên, như tạo điều kiện thuận lợi
để tiếp cận thị trường, giảm giá thành hàng hóa, dịch vụ nhờ việc xóa bỏ thuế quan, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo thuận lợi đi lại Theo đó, các quốc gia tham gia AEC đặt ra mục tiêu là hài hòa chiến lược kinh tế, công nhận trình độ chuyên môn của nhau, và tham vấn chặt chẽ hơn về các chính sách kinh tế vĩ mô và tài chính Bên cạnh đó, môi trường mới các ngành tạo điều kiện tốt hơn cho giao dịch điện tử, kết hợp công nghiệp để thúc đẩy nguồn cung ứng khu vực và tăng cường sự tham gia của tư nhân trong nền kinh tế
Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là sự hội nhập của các quốc gia thành viên ASEAN thành một khối sản xuất, thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực Trong tinh thần này,
AEC sẽ thực hiện tự do luân chuyển năm yếu tố căn bản: vốn liếng, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động lành nghề
1.3.1 Tự do di chuyển hàng hóa, dịch vụ
Để đạt đến cấp độ cộng đồng kinh tế, mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp loại bỏ hàng rào thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác, đồng thời thiết lập một biểu thuế quan chung cho các nước thành viên với phán còn lại của thế giới, tức là thực hiện chính sách căn đối mậu dịch với các nước không phải là thành viên, hay nói cách khác, các nước thành viên phải có
sự hoà hợp nhất định về chính sách kinh tế nói chung và chính sách thương mại nổi riêng
Từ đó, tạo điều kiện đẩy mạnh di chuyển hàng hoá và tăng mức trao đổi thương mại, dịch vụ nói khỏi
Đối với tự do hoá dịch vụ, các quốc gia thành viên cũng phải xoá bỏ các hạn chế về thương mại dịch vụ; thực hiện tự do hoá bằng cách mở rộng chiều sâu và phạm vi theo những cảm kết nhất định Không chỉ dừng lại ở biển pháp xoá bỏ hàng rào thuế quan mà còn yêu cầu dỡ bỏ những rào cản khác đối với thương mại Điều này liên quan đến thủ tục hải quan, quy định hành chính và tiêu chuẩn hoá sản phẩm Các nước thành viên phải xác lập được hệ tiêu chuẩn khay hoa thống nhất, hoặc đạt được thoả thuận về công nhân tiêu chuẩn của nhau (MRA) Theo thoả thuận như vậy, việc ghim định và cấp chúng nhận của một quốc gia trong cộng đồng kinh tế đối với mặt hàng cụ thể nào đó sẽ được các quốc gia còn lại mặc nhiên công nhận Ngoài ra, yếu tố khác biệt về lợi thế
so sánh giữa các quốc gia thành viên, hay nói cách khác là tính bổ sung cho
Trang 10nhau mạnh mẽ cũng hết sức cẩn thiết để thúc đẩy trao đổi hàng hoá dịch vụ trong cộng đồng kinh tế
1.3.2 Tự do di chuyển khách du lịch và lao động tay nghề
Cộng đồng kinh tế được hình thành như một trung tâm sản xuất đơn nhất
từ đó hàng hóa ra thế giới trên cơ sở lợi thế so sánh về tính bổ sung lẫn nhau giữa các thành nền kinh tế thành viên.Một trung tâm sản xuất như thế sẽ khai thác tốt lợi thế so sánh của các nước thành viên,phát huy hiệu quả và tăng cường sức cạnh tranh
Yếu tố con người luôn là then chốt, đóng vai trò quan trọng, một trung tâm sản xuất như hình dung của cộng đồng kinh tế đòi hỏi có dòng chảy tự do của lao động có tay nghề.Việc tự do di chuyển của chuyên gia lao động có tay nghề phần lớn theo các dự án đầu tư, theo luồng di chuyển vốn sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh, tiếp thu công nghê của các nước với nhau và giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm nước khác nhau trong cộng đồng Việc tự do di chuyển lao động có tay nghề, công dân nội khối sẽ một mặc tăng cường sức mạnh cạnh tranh của cơ sở sản xuất đơn nhất, mặt khác là chất keo dính tăng cường tình đoàn kết, nâng cao ý chí chính trị và sự tin tưởng lẫn nhau giữa các quốc gia thành viên Điều này đặc biệt quan trọng có ý nghĩa bổ trợ sâu sắc cho các điều khác để cộng đồng kinh tế ra đời và phát triển
ASEAN không đặt ra vấn đề tự do di chuyển đối với mọi đối tượng lao động mà chỉ tiến hành đối với lao động có trình độ, tay nghề cao ASEAN đã ký kết nhiều văn kiện pháp lý ở các cấp độ khác nhau nhằm tạo ra hành lang pháp lý khu vực hiện thực hóa vấn đề này
Bên cạnh đó, việc tăng cường xâm nhập, hài hòa đời sống xã hội, văn hóa trong một cộng đồng thống nhất cũng hết sức cần thiết.Việc tự do đi lại của công dân các nước thành viên với vai trò du khách du lịch, cũng là yếu tố quan trọng để cộng đồng kinh tế nhanh chống hình thành và hoàn thiện
1.3.3: Tự do di chuyển vốn
Vốn là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình sản xuất,vốn đặc biệt quan trọng đối với một trung tâm sản xuất khu vực hiệu quả với giá thành thấp.Vốn được di chuyển giữa các quốc gia thông qua luồng đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp trong cộng đồng kinh tế, việc mở cửa mạnh mẽ các ngành nghề của các quốc gia thành viên nhằm tạo một khu vực đầu tư để thu hút dòng chảy tự do của vốn trực tiếp và gián tiếp là một điều kiện cần thiết.Các quốc gia phải tạo