1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD

40 990 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 815,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD nêu trong phạm vi kinh tế, giả định phân cấp tài khoá mang lại lợi ích chủ yếu xuất phát từ hai quan điểm. Đầu tiên, từ lý thuyết phân cấp nổi tiếng của Oates 1972, Tiebo ut 1956, nói rằng phân quyền cung cấp hàng hoá công có khả năng giải quyết vấn đề sở thích khác nhau giữa các cư dân khác nhau về địa lý và văn hóa; và thứ hai, từ truyền thống lựa chọn công, lập luận rằng sự phân chia của nhà nước vào nhiều cấp và sự tồn tại của thể chế cạnh tranh hạn chế khả năng độc quyền của các chính phủ Leviathan đánh thuế quá mức lên công dân (Brennan và Buchanan năm 1980).

Trang 1

Tiểu luận

MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHÂN CẤP TÀI KHÓA VÀ NỢ CÔNG

Ở CÁC NƯỚC OECD

Trang 2

MỤC LỤC

TÓM TẮT 4

1 GIỚI THIỆU 4

2 T ỔN G QUA N LÝ TH UYẾT .5

3 DỮ LIỆU 11

3.1 Đo lường mức độ phân cấp 11

3.2 Biến p hụ thuộc và độc lập 14

3.3 Mối quan hệ hai chiều 20

4 MÔ TẢ CHI TI ẾT 23

4.1 Tính dừng 23

4.2 Mô hình kinh tế lượng 24

5 KẾT QUẢ 25

5.1 Kết quả cơ bản 25

5.2 K iểm tra tính vững 28

5.2.1 Kiểm tra tính vững cơ bản (chung) 28

5.2.2 Yếu tố ngoại sinh 32

5.2.3 Các yếu tố nội sinh 35

6 KẾT LUẬN .39

Trang 3

BẢNG B IỂU

Bảng 1: Định nghĩa và nguồn của đo lường phân cấp 12

Bảng 2: Tó m tắt thống kê cho đo lường phân cấp 13

Bảng 3: Tương quan chéo giữa các đo lường phân cấp 13

Bảng 4 – Định nghĩa và nguồn các biến 15

Bảng 5 : Tó m tắt thống kê cho biến độc lập và phụ thuộc (mô hình cơ bản) 16

Bảng 6 – Tóm tắt thống kê cho các biến sử dụng mô hình tính vững và GMM 17

Bảng 7 - Kiể m định nghiệm đơn vị 22

Bảng 8 : Đo lường hồi quy s ự thay đổi của tỷ lệ nợ trên GDP theo phân cấp giai đoạn 1975 - 2001 26

Bảng 9 – Hồi quy s ự thay đổi của tỉ lệ nợ trên GDP trên đo lường phân cấp, giai đoạn 1975-2001, kiể m tra tính vững .30

Bảng 10 – Hồi quy sự thay đổi của tỉ lệ nợ trên GDP trên đo lường phân cấp, giai đoạn 1975-2001, các ngoại lệ 33

Bảng 11 – H ồi quy sự thay đổi của tỉ lệ nợ trên GDP trên phân cấp đo lường, giai đoạn 1975-2001, ước lượng GM M 36

Trang 4

MỐI LIÊN HỆ GIỮ A PHÂN C ẤP TÀI K HÓA VÀ NỢ C ÔN G

Ở C ÁC NƯỚC O EC D

TÓM TẮT

Việc vay nợ quá mức của chính quyền địa phương được coi là một trong những nguy hiểm của việc ph ân cấp trong quản lý tài chính Mặt khác, phân cấp quản lý tài chính có thể đảm bảo s ự ổn định tài chính của khu vực công bằng cách hạn chế quyền chi phối thái qu á của chính phủ Bởi vì tác động của phân cấp quản lý trên kết quả tài chính là mơ hồ từ góc độ lý thuyết nên chúng tôi tìm đáp án cho câu hỏi này theo kinh nghiệm bằng việc nghiên cứu theo dữ liệu bảng của 17 nước trong kh ối OECD trong

giai đoạn 1975-2001 Phát hiện của chúng tôi cho thấy rằng: Phân cấp chi tiêu làm

giảm đáng kể n ợ côn g, tron g k hi phân cấp thuế và sự mất cân bằng tài chính theo chiều dọc là kh ôn g đáng kể

Keywords: Phân cấp tài khóa – Nợ công – Giới hạn ngân s ách

JEL Classification H71 · H77 · H30

1 GIỚI THIỆU

Phân cấp khu vực công đã trở thành một mục tiêu chính s ách quan trọng của các tổ chức quốc tế lớn Ví dụ Ngân hàng thế g iới cho rằng, phân cấp tài khóa, khi thực hiện đầy đủ, có thể làm giảm sự mất ổn định chính trị, nâng cao hiệu quả của chính phủ, và đóng góp vào tổng mức phúc lợi (Ngân hàng Th ế giới 2000), và vì thế

nó đã hỗ trợ p hân cấp các d ự án trong nước của các quốc gia trong suốt hai thập kỷ qua (theo Nhóm đánh giá độc lập của Ngân hàng Thế giới năm 2008)

Tron g phạm vi kinh tế, giả định phân cấp tài khoá mang lại lợi ích chủ yếu xuất

phát từ hai quan điểm Đ ầu tiên, từ lý thuyết phân cấp nổi tiếng của Oates 1972,

Tiebo ut 1956, nói rằng phân quyền cung cấp hàng hoá công có khả năng giải quyết

vấn đề s ở thích khác nhau giữa các cư dân khác nhau về địa lý và văn hóa; và th ứ hai,

từ truyền thống lựa chọn công, lập luận rằng s ự phân chia của nhà nước vào nhiều cấp

và s ự tồn tại của thể chế cạnh tranh hạn chế khả năng độc qu yền của các chính phủ Leviathan đánh thuế quá mức lên công dân (Brennan và Buchanan năm 1980)

Trang 5

Cái nhìn này về phân cấp tài khoá bị nhiều chỉ trích, và một số nhược điểm tiề m tàng đã được xác đ ịnh trong các nghiên cứu Ví dụ, phân cấp quản lý tài chính có thể làm giả m khả năng thực hiện các chính sách ổn định và p hân phối lại thu nhập của chính phủ (Musgrave 1959) Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nhận thức cho rằng, phân cấp tài khóa có thể bóp méo các ưu đãi của các chính trị gia địa p hương và liên bang nếu nó bị thiết kế kém Nguyên nhân của nhược điểm này là do các quốc gia thực hiện phân cấp dễ bị mất ổn định kinh tế vĩ mô, thâm hụt ngân s ách cao hơn, và mức độ nợ cũng không ổn định (Goodspeed 2002)

Tuy nhiên, cả hai lý thuyết nghiên cứu chỉ đưa ra rằng phân cấp quản lý tài khóa dẫn đến kết quả tài chính và kinh tế gần như tối ưu, còn bằng chứng kinh tế có hệ thống vẫn còn khan hiếm Do đó bài viết này nhằm mục đích khám phá thực nghiệm hiệu lực của tuyên bố này v ới dữ liệu bảng cho 17 quốc g ia trong khối OECD trong giai đoạn 1975-2001 Vì mục đích này, chúng tôi xem xét trong phần 2 nghiên cứu thực nghiệm và lý thuyết về phân cấp quản lý tài chính và tài chính công kỹ lưỡng hơn Trong phần 3, chúng tôi mô tả cách triển khai các quan điểm chu ng về phân cấp quản lý tài khóa, và thảo luận về các biến phụ thuộc và các biến độc lập được s ử dụng trong ph ân tích kinh tế Tron g phần 4, chúng tôi thảo luận về đặc điểm kỹ thuật và giới thiệu các mô hình thực nghiệm.Trong phần 5 trình bày kết quả và trong phần 6, chúng tôi đưa ra kết luận

2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

Một trường phái lý thuyết quan trọng về tài khóa liên bang cho rằng phân cấp

đe dọa đ ến sự ổn định tài chính của khu vực công bằng cách thực hiện "ràng buộc ngân sách mềm".1Trong những lý thuyết liên quan, giả đ ịnh có một mối quan hệ phân phối chính giữa chính phủ liên bang và địa phương, và điều kiện rủi ro đạo đức có thể thắng thế trên một phần s au này

Ví dụ, Goodspeed (2002) phát triển một mô hình bao gồm hai giai đoạn Trong giai đoạn đầu tiên, chính quyền địa phương cung cấp hàng hoá công bằng nguồn thu thuế hoặc đi vay Mục tiêu của chính phủ liên bang là tối đa hóa khả năng tái tranh cử của mình Khả năng này được mô phỏng như một chức năng của các cấp chi tiêu ròng trong mỗi thẩm quyền Kể từ giai đoạn thứ hai, chi tiêu ròng trong một thẩm quyền bị

1

Xem Kornai et al (2003) v ề tr anh cãi rộng rãi xung quanh các khái ni ệm ràng buộc ngân sách mềm

Trang 6

giảm do nợ giai đo ạn đầu tiên bởi vì chính quyền địa phương phải trả nợ g ốc v à lãi, chính phủ liên bang có thể tăng chi tiêu ròng và khả năng tái tranh cử của mình bằng cách cho phép chuyển giao tài trợ tài chính thích hợp Những ưu đãi của chính phủ liên bang được đưa vào tài khoản của chính quyền địa phương trong giai đoạn đầu tiên, tức

là, khi chúng tôi quyết định mức vay, s ẽ làm cho việc đi vay của địa phương không có hiệu quả cao. 2

Ngoài các khái niệ m ràng buộc ngân sách mềm, có thay thế, tại sao phân cấp tài khóa lại có thể liên quan đến sự mất cân bằng tài khóa.Một trường phái lý thuyết liên quan đến tác động của các chương trình chuyển giao liên chính phủ Ý tưởng cơ b ản đằng sau những phương pháp tiếp cận là chuyển giao theo chiều dọc có thể đóng góp vào các vấn đề chung Nếu ch ính phủ liên bang phân bổ tài trợ cho khu vực pháp lý địa phương, sau này có động cơ xuất hiện như thể chúng tôi thiếu thốn: Chúng tôi có thể đưa ra mức thâm hụt cao để "chứng minh" rằng chúng tôi đang được tài trợ Bởi vì chi phí cận biên của các quỹ liên bang được phân phối trên toàn liên bang trong khi những lợi ích tập trung trong mỗi thẩm quyền cá nhân, hành vi như vậy là hợp lý từ quan điểm của từn g chính quyền địa phương (Weingast et al 1981)

Một trường phái lý thuyết liên quan đến "kỹ thuật" phối hợp các chính sách của các cấp khác nhau của chính phủ Nếu có một s ố chính phủ độc lập có thể chi tiêu và đánh thuế theo quyết định của riêng mình, một chính s ách tài khóa phối hợp có thể không được duy trì, và thể hiện trong một thâm hụt ngân sách thiên vị ở tất cả các cấp chính quyền (De Mello, 1999)

Tron g khi một s ố lượng đáng kể các nghiên cứu liên quan giải quyết vấn đề các quốc gia được phân cấp biểu hiện một xu hướng thâm hụt, ch ỉ có vài nghiên cứu cố gắng cho rằng phân cấp tài khóa có thể gây ra bởi các chính trị gia địa phương và liên bang để giảm mức độ nợ nần Do đó, lập luận gián tiếp hơn, thực chất là giải quyết vấn

đề khác nhau, phải được rút ra

Lý thuyết lựa chọn công đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này Tron g lý thuyết này, các chính phủ tối đa hóa các khoản thu, và phân cấp quản lý tài khóa được cho là đ ể buộc các chính phủ kiềm chế thuế việc chiếm thuế vì người dân

có thể rời khỏi khu vực pháp lý mà chính phủ hoạt động để tối đa hoá doanh thu

2

Wildasin (1997) phát triển một mô hình có li ên q uan để nghi ên cứu hậu q uả của ràng buộc ngân s ách mềm trong quan h ệ li ên chính phủ cho phúc lợi xã hội

Trang 7

(Hayek 1939, Brennan và Buchanan 1980).3 Ngoài ra, trái với quan điểm truyền thống rằng thỏa thuận chia sẻ thuế và s ự mất cân bằng tài chính theo chiều dọc dẫn đến không hiệu quả bằng cách cho phép các chính phủ "thông đồng" và do đó tránh được những áp lực cạnh tranh tạo ra bởi phân cấp tài khóa, có một số tranh luận trong tài liệu này gợi ý rằng chúng tôi có thể được nâng cao phúc lợi xã hội Ví dụ, Köthenbürger (2005) cho thấy rằng các chương trình cân bằng có thể bổ s ung cho cạnh tranh thuế trong việc đạt được hiệu quả hơn bằng cách gián tiếp "đánh thuế" nguồn thu

từ thuế bởi chính phủ Leviathan độc quyền khu vực công

Nhữn g tranh luận sự lựa chọn công có thể được điều chỉnh thẳng thắn để g iải thích nợ công, bằng cách cho rằng mức nợ nên thấp hơn khi công dân có gánh nặng thuế trong tương lai vào tài khoản trong quyết định có thể thay đổi của chúng tôi, hoặc nếu chúng được vốn hóa vào giá tài sản sở hữu

Câu hỏi về cách phân cấp tài khóa có liên quan đến s ự tích tụ nợ chưa được khám phá trong nghiên cứu thực nghiệm.Thay vào đó, tác động của phân cấp tài khóa theo quy mô của chính phủ dường như đ ã khơi dậy sự quan tâm của các nhà kinh tế

ứn g dụng.4 Oates (1985), ví dụ, Brenn an và Buchanan khám phá giả thuyết Leviathan với dữ liệu cấp nhà nước Mỹ và với các d ữ liệu quốc tế, nhưng không tìm thấy một mối quan hệ quan trọng Mặt khác, sử dụng dữ liệu chu ỗi thời gian ở cấp liên bang, Marlow (1988) thấy rằng phân cấp tài khóa có liên quan tiêu cực với tổng quy mô chính phủ tại Hoa Kỳ

Tron g một nghiên cứu với dữ liệu bảng trên 32 quốc gia công nghiệp và đang phát triển, Jin và Zou (2002) đưa đến những kết luận khác biệt hơn bằng cách phân tách các khái niệm chung của phân cấp tài khóa vào "đại diện" khác nhau Có nghĩa là,

3

Ý t ưởng cho rằng cạnh t ranh gi ữa các t ổ chức công có t hể cải thi ện chức năng của chính phủ không chỉ áp dụng cho các cơ quan t hu t huế ngang giữa chính quyền địa phương Ví dụ, Eichenberger và Schel ker (2007) cho t hấy các bang Thụy Sĩ tồn t ại Ủy ban Tài chính, được bầu ri êng rẽ với các chính phủ đ ánh giá độc l ập của các quyết định ngân s ách, dẫn đến gánh nặng thuế nh ỏ hơn Tuy nhi ên, cũng cần phải nói rằng có một số đóng góp cho rằng nếu chỉ có s ự cạnh tranh củ a các tổ chức công là không đủ để t ạo ra kết quả hi ệu quả, ví dụ như, Apolt e (2001).

4

Ngoài ra còn có một s ố nghiên cứu đi ều t ra về tác động củ a phân cấp t ài khoá bằng biến số thực nghiệm phi t àichính Ví dụ, Fi sman và Gatti (2002) cho t hấy các b ang của nước Mỹ chuyển g iao li ên bang có li ên quan đến tỉ lệ k ết án lạm dụng ch ức vụ công Chúng tôi kết luận trên cơ sở s ự mất cân bằng t ài chính theo chiều dọc và ràng buộc ngân sách m ềm có thể dẫn đến t ỷ lệ cao hơn của tham nhũng.

Trang 8

chúng tô i nhận ra rằng phân cấp tài khóa hoặc có thể liên hệ đến chi tiêu hoặc doanh thu của ngân s ách, và rằng những tác động có thể thay đổi tùy theo mặt ngân sách được xe m xét Thật vậy, chúng tôi phát hiện ra s ự tồn tại của hiệu ứng xung đột Kết quả của chúng tôi xác nhận rằng điều quan trọng là nhận thức được phân cấp tài khóa như một khái niệm chun g trong đó bao gồm các khía cạnh khác nhau Đó là, ch i tiêu công, phân cấp nguồn thu, và s ự mất cân bằng tài chính theo chiều dọc (ví dụ, s ự khác biệt giữa chi phí địa phương và tự chủ thu) phải được coi là đại diện khác nhau và độc lập với phân cấp quản lý tài chính, và phân tích như vậy

Thực tế là chỉ có một s ố ít nghiên cứu về tác động của phân cấp quản lý tài khóa về nợ chính phủ, không có nghĩa là các nhà nghiên cứu đã không cố gắng phân tích các yếu tố quyết định của nợ công nói chung Ngược lại, có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, và có sự công nhận những đóng góp trong đó là quan trọng đối với các đặc điểm kỹ thuật chính xác của các mô hình kinh tế dưới đây

Bởi vì phương pháp tiếp cận truyền thống giải thích các mức độ khác nhau của

nợ giữa các quốc gia không đầy đủ,5 các tài liệu gần đây có xu hướng tập trung vào giải thích mang tính chính trị (Ales ina và Perotti 1995) Một hướng nghiên cứu tìm hiểu xe m liệu có s ự khác biệt về ý thức hệ trong chính sách cho vay của chính phủ Hai nghiên cứu đáng chú ý là Neck và Getzner (2001), n gười đã tiến hành một nghiên cứu về các yếu tố kinh tế - chính trị của tăng trưởng nợ công tại Áo và Seitz (2000), đã phân tích các yếu tố quyết định thâm hụt ngân s ách địa phương ở Đức Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu, đều tìm thấy rằng các tác nhân kinh tế nói ch ung là có liên quan hơn là biến ý thức hệ

Một trường phái khác nghiên cứu về các yếu tố chính trị quyết định nợ công tìm hiểu sự phân tách của chính phủ (trong hệ thống nghị viện) hoặc, tương ứn g, phân chia chính phủ (trong hệ thống tổng thống) có ảnh hưởng đến kết quả tài chính Kỳ vọng lý thuyết là khi các chính phủ bao gồm nhiều đối tác liên minh (hệ thống nghị viện) hoặc khi các b ên khác nhau kiểm s oát nhiệm kỳ tổng thống và cơ quan lập pháp (hệ thống tổng thống) thì nghiêm trọng hơn Volkerink và d e Haan (2001) thực sự thấy rằng một

s ố hình thức của chính phủ bị phân tách dẫn đến thâm hụt ngân sách lớn hơn Tuy nhiên, Elgie và McMenamin (2008) cho thấy kết quả của chúng tôi không thể được

5

Có nghĩ a là, những đóng góp mà nhận thức s ự cần thiết phải "ổn định mứ c tiêu dùng" v à "ổn địnhkinh tế vĩ

mô " nh ư các y ếu tố quy ết định chính của chính sách vay nợ của chính phủ

Trang 9

nhân rộng theo cách thông thường khi một mẫu khác nhau được sử dụng

Tác động của các tổ chức tài chính vay công cũng được phân tích trong một số nghiên cứu Feld và Kirchgässner (2001), ví dụ, ch o rằng các tổ chức dân chủ trực tiếp như trưng cầu ngân s ách có thể ngăn chặn các hành động không hiệu quả và hoạt động ích kỷ của các chính trị gia, người hoạt động trong khuôn khổ chung của một nền dân chủ đại diện Trong phân tích thực nghiệm của chúng tôi với các dữ liệu bảng trên thành phố của Thụy Sĩ, chúng tô i thực sự thấy rằng thể chế dân chủ trực tiếp như vậy dẫn đến việc giảm nợ công Đối với Hoa Kỳ, Kiewiet và Szakaly (1996) đi đến kết luận tương tự cho "nợ được bảo lãnh"

Một tài liệu liên quan đến nghiên cứu tác động của quy trình hoạch định ngân

s ách trên tích lũy nợ Cả quy tắc số cũng như các thủ tục đã được phân tích Ví dụ về các quy tắc số là các yêu cầu cân đối ngân sách trong tiểu bang Hoa Kỳ hoặc các tiêu chuẩn Maas tricht quy định, giới hạn trên đối với nợ công và/hoặc thâm hụt Quy định thủ tục, mặt khác, liên quan đến nghiêm ngặt củ a các thủ tục chi phối các giai đoạn khác nhau mà tại đó ngân sách được xây dựng

Ví dụ Cabasés et al (2007), khá m phá những hiệu quả của hạn chế vay với các

dữ liệu trên thành phố Tây Ban Nha, và thấy rằng chúng tôi áp đặt một s ố kỷ luật về chính sách vay mượn của chính quyền địa phương Lagona và Padovano (2007) chỉ trích phương pháp luận với những tác động của quy tắc ngân sách thường được phân tích Chúng tôi cho rằng ứng dụng các chỉ số để đo nghiêm ngặt các quy tắc ngụ ý sự cần thiết phải phân loại tùy ý Thay vào đó, chúng tôi đề xuất một phương pháp tiếp cận chủ yếu phân tích thành phần phi tuyến Tuy nhiên, kết quả của chúng tôi cũng chỉ

ra rằng các quy tắc nghiêm ngặt hơn dẫn đến cân đối tài chính lớn hơn và kích thước nhỏ hơn ngân s ách Sử dụng dữ liệu trên tiểu bang Hoa Kỳ, Bohn và Inman (1996) cũng xác nhận việc phát hiện các kết quả tài chính có liên quan đáng kể đến các quy tắc ngân sách

Như đã nói ở trên, chỉ có một vài nghiên cứu thực nghiệm mà chủ yếu xem xét các tác động của phân cấp tài khóa trên cân bằng tài chính.6 De Mello (2000) tập trung

6

Có một số nghiên cứu có kiểm soát đối với các tác động của phân cấp quản lý tài chính giải quyết những vấn đề quan tâ m kh ác nhau Ví dụ, Singh và P lekhanov (2005) s ử dụng trong một nghiên cứu hiệu quả của phân cấp tài khoá dùng giới hạn trong vay địa phương l à một biến kiểm soát Chúng tôi tì m thấy trong một số mô hình phân cấp quản lý có xu hướng tăng đáng k ể thâm hụt ngân sá ch địa phư ơng Nhưng câu hỏi này không phải là trọng

tâ m chính của phân tích, kết luận này nên được xem là kết quả sơ bộ

Trang 10

vào tác động của phân cấp quản lý tài chính về thâm hụt của chính phủ liên bang và địa phương riêng biệt Ông th ấy rằng quyền tự chủ thuế địa phương thường dẫn đến sự gia tăng thâm hụt ngân s ách địa phương, trong đó hàm ý phân cấp có thể làm trầm trọng thêm các ràng buộc ngân s ách mềm và thất bại phối hợp

Fornasari et al (2000) tìm thấy trong nghiên cứu của chúng tôi trên 32 quốc g ia đang phát triển và công nghiệp, phân cấp chi tiêu n ói chung góp phần vào một khu vực chính phủ lớn hơn, nhưng mà thâm hụt ngân s ách địa phương là không liên quan đến

s ự cân bằng tài chính của chính quyền trung ương Tuy nhiên, khi một thước đ o thu phân cấp được sử dụng, phân hóa ra là tiêu cực liên quan đến thâm hụt ngân sách chính quyền trung ương Chúng tôi cũng phân biệt giữa một phân tích "dài hạn" sử dụng trung bình cắt ngang và phân tích "ngắn hạn" bằng cách s ử dụng biến dạng bảng,

và thấy rằng phân cấp ch i tiêu làm tăng thâm hụt ngân sách chính quyền trung ương trong khi biến nội tại được s ử dụng

Freitag và Vatter (2008) tìm thấy trong một nghiên cứu dữ liệu từ Thụy Sĩ rằng càng phân cấp nhiều càng có xu hướng có mức thâm hụt nhỏ hơn trong thời gian khủng hoảng kinh tế Tuy nhiên, chúng tôi thất bại khi quan s át s ự khác biệt đáng kể giữa các bang tập trung và phi tập trung khi nền kinh tế đang hoạt động tốt

Nghiên cứu thêm về đ iều này và liên quan đến câu hỏi là Stein (1998), những người quan sát phân cấp đó mở rộng kích thước của khu vực công nhưng không thâm hụt của ở quy mô chính phủ tại châu Mỹ Latinh; Rodden (2002) người kiể m s oát trong một s ố mô hình về mức đ ộ phân cấp thu và chi tiêu, và phát hiện ra rằng cả hai có xu hướng tăng tổng th âm hụt ngân s ách ch ính phủ, và Schaltegger và Feld (2009), người tìm thấy cho Thụy Sĩ là nơi càng ít bang tập trung càng có nhiều khả năng tiến hành điều chỉnh tài chính thành công

Đánh giá về các lý thuyết cho thấy rằng một s ố nghiên cứu phân cấp tài khóa đe dọa đến s ự ổn định tài chính của khu vực công, trong khi những người khác quan điểm theo hướng ngược lại Vì mỗi ng hiên cứu ước tính mô hình mang phong cách riêng và

s ử dụng bộ dữ liệu khác nhau, các nghiên cứu hiện có là không có ý nghĩa để kết luận vấn đề, điều này cho thấy nó có thể là đáng giá để tích lũy thêm bằng chứng về vấn đề này Chúng tôi có thể nghĩ về hai nhược điểm chính của nghiên cứu hiện tại Đầu tiên, hầu hết các nghiên cứu s ử dụng các biến có vấn đề để đo mức độ phân cấp quản lý tài

Trang 11

khóa và do đó có thể đi đến kết luận sai Th ứ hai, tập trung vào các địa phương thay vì vay mượn chính phủ hợp nhất có thể là vấn đề bởi vì phân cấp tài khóa, nếu nó thực sự dẫn đến sự thiếu hiệu quả, không nhất thiết phải làm xấu đi tài chính địa phương Nhữn g mô tả trong phần tiếp theo chúng tôi cố gắng giải quyết những hạn chế

3 DỮ LIỆU

Từ khi cả hai lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm ch o thấy phân cấp có thể có ảnh hưởng đến tài chính công nhưng không đưa ra một kết quả rõ ràng, chúng tôi khám phá n hững câu hỏi xa hơn với những cải tiến sau đây: Thứ nhất, bằng cách sử dụng một biện pháp mới, nắ m bắt được h iệu quả (hoặc “thực sự") mức độ phân cấp quản lý thuế tốt hơn s o với những biến được truyền thống được sử dụng, thứ hai, bằng cách sử dụng dữ liệu về nợ chính phủ hợp nhất thay vì trên nợ liên bang và nợ đ ịa phương hoặc thâm hụt ngân s ách riêng, thứ ba, bằng cách s ử dụng dữ liệu bảng và thứ

tư, bằng cách thực hiện một s ố kiểm tra tính vững

7 Những nghiên cứu về mức độ phân cấp sử dụng một số thước đo thay thế Vd phân cấp chính trị thường đ ược

sử dụng để đo lường bằng hệ thống hiến pháp củ a một nướ c như một liên b ang hoặc bang đơn nhất ho ặc b ằng chính quyền địa ph ương cấp dưới đư ợc bầu ra

Trang 12

s ự mất cân bằng tài chính theo chiều dọc được xây dựng bằng cách chia doanh thu địa phương từ tài trợ liên bang cho tổng doanh thu địa phương Trong khi thừa nhận rằng các biện pháp này không phải hoàn toàn không có lỗi, chúng tôi tin rằng chúng tôi cung cấp một cách xấp xỉ an toàn khía cạnh quan trọng của quyền tự chủ địa phương Hơn nữa, cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới đặc biệt này là các bộ dữ liệu duy nhất

mà chúng tô i nhận thức được rằng cung cấp các biện pháp đo lường (i) đối với tất cả các nước OECD , (ii) với một cấu trúc bảng, và (iii) một cách dễ dàng truy cập

Chúng tôi gọi là thước đo đầu tiên là phân cấp chi tiêu vì nó dựa ch i tiêu địa phương, thước đo thứ hai, là trợ cấp vì nó phụ thuộc số cổ phần của các khoản tài trợ nhận được chính quyền địa phương phân chia trợ cấp

Các đo lường chính xác h ơn từ Niên giám GFS của IMF về mức độ phân cấp quản lý thuế được cung cấp trong một cơ sở dữ liệu được xây dựng bởi Stegarescu (2005) Xây dựng trên một phân loại cụ thể về doanh thu thuế đ ưa ra trong OECD (1999), Steg arescu xuất phát ba chỉ số khác nhau về phân cấp quản lý thuế Những chỉ

s ố này được xây dựng bằng cách phân biệt các loại thuế địa phương liên quan đến các mức độ tự chủ chính quyền đ ịa phương có hơn chúng tôi Doanh thu thuế được phân loại có nguồn gốc từ: (i) các loại thuế mà chính quyền địa phương xác đ ịnh giá cả và các căn cứ (“thuế riêng "), (ii) các loại đầu tiên của thuế cộng với thuế chia s ẻ mà chính quyền địa phương có liên quan trong việc xác định phân chia doanh thu (“chia sẻ thuế "), và (iii) Hai loại đầu tiên của thuế cộng với các khoản thuế còn lại Các biện pháp đo lường phân cấp thuế s au đó được tính bằng cách chia doanh thu thuế trong mỗi một trong ba lớp với tổng doanh thu thuế của chính phủ

Mặc dù, ba cách đo lường khác nhau được p hân chia bởi Stegarescu (2005),

chúng tôi s ử d ụng chủ yếu là biến thứ nhất Tiếp nữa, chúng tôi gọi biến đó là phân cấp thuế

Bảng 1: Đ ịnh nghĩa và nguồn củ a đo l ườn g ph ân cấp

Trang 13

Bảng 2: Tóm tắt thống kê ch o đo lường phân cấp

Việc tóm tắt kết quả thốn g kê được tính toán cho tất cả quan sát có sẵn

Ch ú ý rằn g số lượn g quan sát được báo cáo ở trong bản g này thì lớn h ơn số lượn g quan sát trong bản g hồi quy bởi vì cách dùn g sai phân bậc 1 ước lượn g mô hình kinh tế và giá trị bị bỏ sót trong một vài biến

Bản g 3: Tươn g quan chéo giữa các đo lường phân cấp

Hệ số tương quan đư ợc tính toán với tất cả các biến quan sát

Chúng tôi giữ lại các biến quan s át này (ngoại trừ kiểm định tính vững8) vì 2 lý

do Đầu tiên, vì trong mẫu của chúng tôi về chính quyền địa phương có kiểm s oát vượt quá nguồn thu phân chia cho thuế chỉ trong 4 quốc gia (Áo, Bỉ, Đức, Tây Ban Nha), cách đo lường thứ hai thì cộng thêm ít thông tin hơn Hơn nữa, hai trong bốn quốc gia (Áo, Đức) cho thấy hầu như không có s ự thay đổi qua thời gian trong biến này Cách

đo lường thứ ba từ bộ dữ liệu của Stegarescu, mặt khác, bị loại bỏ đi bởi vì nó gom tất

cả các loại thuế với nhau Do đó, không có nhiều s ự khác nhau từ s ự đo lường phân cấp doanh thu được báo cáo trong niên g iám GFS cuả Quỹ tiền tệ thế giới

Một mô tả ngắn gọn về sự đo lường phân cấp tài khóa được dùng trong bài nghiên cứu này và nguồn của chúng tôi được cung cấp ở trong Bảng 1 Tóm tắt những phân tích được trình bảy trong Bảng 2 Mối tương quan ma trận chéo giữa chúng có

8 Chúng tôi kiểm soát trong phần thực nghiệm của bài viết này về kiể m tra tính vững việc phân cấp thuế đượ c đo lường ở biến th ứ hai, vd khi việc chia sẻ thuế đượ c xem xét Tuy nhi ên, chúng tôi tì m thấy trong vi ệc kiểm tra tính vững này là không k ết quả nào thay đổi

Trang 14

thể được tìm thấy ở Bảng 3 Trong hình số 1, chúng tôi cho thấy xu hướng tiến đến giá trị trung bình của các quốc gia trong mẫu qua thời gian

Hình 1: Sự phát triển của đo lường ph ân cấp, tru ng bìn h giữa các qu ốc

gia

Ma trận tương quan cho thấy rằng sự phân cấp trong chi tiêu và thuế thì có tính vững và tương quan thuận Kỳ vọng, tỷ lệ tài trợ và các biến trong phân cấp thuế thì có mối quan hệ tương quan nghịch Mối quan hệ của các biến trong phân cấp chi tiêu và phân chia trợ cấp cũng là nghịch biến, nhưng hơi yếu Tất cả những phát hiện này chỉ

ra rằng (i) ở các nước OECD chi tiêu thêm của chính quyền địa phương có xu hướng được tài trợ với “thuế riêng” và (ii) nguồn thu “thuế riêng” và nhận trợ cấp được thay thế trong khu vực của chính quyền địa phương

Cả hai số liệu tóm tắt thống kê và hình 1 gợi ý rằng chi tiêu có sự phân cấp nhiều hơn s o với các loại thuế trong suốt thời kỳ chúng tôi phân tích9

3.2 Biến phụ thu ộc và độc lập

Tron g phần này,chúng tôi thảo luận một cách tóm tắt về các biến phụ thuộc và biến kiểm s oát mà chúng tôi sử dụng trong mô hình kinh tế của mình Các biến với nguồn và định nghĩa của được liệt kê trong Bảng 4 Chúng tôi báo cáo những thống kê tóm tắt trên các biến được s ử dụng trongcác mô hình cơ bản trong Bảng 5 Thống kê tóm tắt về các biến được s ử dụng trong kiể m định tính vững và hồi quy các biến cụ thể được tìm thấy trong Bảng 6

9

Chuỗi được trình bày chỉ đến 1998 thay vì 2001 ở Bảng 1 bởi vì sau 1998, cả hai biến chi tiêu và tài trợ bị thiếu

ở nhiều nướ c

Trang 15

Chúng tôi s ử dụng các khoản nợ tài chính ròng của chính phủ nói chung như là thước đo chính của chúng tôi Các khoản nợ tài chính ròng được ưu tiên hơn tổng khoản nợ bởi vì chúng bao gồm cả tài s ản công và nợ phải trả Rõ ràng, nếu chính phủ

s ử dụng nợ để có được một s ố tài s ản tài chính hoặc tài sản hữu hình, thì tình hình tài chính ròng của quốc gia đó vẫn không thay đổi, có thể đ ược phản ánh vào dữ liệu Chúng tôi xem xét các khoản nợ của toàn bộ chính phủ thay vì chỉ xe m xét các khoản

nợ ở cấp trung ương hoặc đ ịa phương bởi vì sự vay mượn quá mức của địa phương không nhất thiết dẫn đến suy thoái tài chính địa phương khi trung ương tăng khoản chuyển nhượng (và ngược lại) Bỏ qua vấn đề này có th ể dẫn đến kết luận sai lầm về tác động của phân cấp tài khóa

Dữ liệu về nợ ròng cho giai đoạn 1975-2001 được cung cấp bởi các nước OECD, nhưng chuỗi thời gian cho một số quốc gia (chẳng hạn, Tây Ban Nha) khá ngắn và có thể một số giá trị bị thiếu

Bảng 4 – Định nghĩa và n guồn các biến

Trang 16

Bản g 5 : Tóm tắt thống kê cho biến độc lập và ph ụ thuộc (m ô hình cơ bản)

Trang 17

Tó m tắt thống kê đ ược tính cho tất cả các quan sát có sẵn

Lưu ý rằng số lượng q uan sát trì nh bày t rong bảng này l ớn hơn số lượng tr ong mô hình hồi quy vì (i)

sử dụng s ai ph ân bậc 1 để ước lượng mô hì nh kinh tế l ượng và (ii) vài biến t hi ếu gi á trị

Bảng 6 – Tóm tắt thống kê cho các biến s ử dụ ng mô hình tính vững và GMM

Tó m tắt thống kê đ ược tính cho tất cả các quan sát có sẵn

Lưu ý rằng số lượng q uan sát trì nh bày t rong bảng này lớn hơn số lượng tr ong mô hình hồi quy vì (i)

sử dụng s ai ph ân bậc 1 để ước lượng mô hì nh kinh tế l ượng và (ii) vài biến t hi ếu gi á trị

Tron g khi khoản nợ tài chính ròng là thước đo chính của chúng tôi về nợ của chính phủ, chúng tôi cũng tiến hành thêm kiể m đ ịnh tính vững với các đo lường thay thế Đặc biệt, chúng tôi xe m xét tổng các khoản nợ tài chính và nợ chính phủ được tính toán theo yêu cầu của hiệp ước Maastricht10

1 0 Nợ chính phủ tính theo yêu cầu của hiệp ước Ma astricht là đặc biệt hữu ích cho việc so sánh giữa cácquốc gia

vì nó được dựa trên các định nghĩa quốc tế phù hợp Tuy nhiên , chúng tôi không sử dụng biến đặc biệt này là m thước đo chính của nợ vì các quốc gia liên bang quan trọng nh ư Mỹ hay Úc lẽ ra bị loại bỏ (chỉ có dữ liệu cho các n ước thành viên EMU có sẵn) , và bởi vì chúng tôi không nằm trong giai đoạn khủng hoảng giá dầu lịch sử (chỉ có dữ liệu từ nă m 1990 trở đi có sẵn), nơi mà mức độ phân cấp quản lý tài chính có thểcó một tác dụng quan trọng vào sự t ăng tr ưởng của nợ

Trang 18

Chúng tôi s ử dụng một số biến kiểm soát kinh tế, nhân khẩu chúng tôic và chính trị, những biến mang yếu tố quyết định quan trọng đến kết quả tài chính, và đồng thời tương quan với phân cấp tài khóa Trong phần n ày, chúng tôi thảo luận các biến trong các mô hình cơ sở Các b iến được s ử dụng trong kiểm định tính vững s ẽ được thảo luận trong phần tiếp theo

Biến dân s ố được đưa vào để kiểm s oát quy mô và/hoặc hiệu ứng tắc nghẽn trong việc s ản xuất hàng hóa công Nếu các hàm s ản xuất giảm theo quy mô do sự khan hiếm của một số yếu tố (ví dụ, đất), thì các yêu cầu gia tăng chi tiêu có thể dẫn đến việc mở rộng các khoản nợ Mặc dù chúng tôi đo lường gánh nặng nợ nần theo quy mô của nền kinh tế bằng cách chia nó trên GDP , quy mô dân s ố của một quốc gia vẫn có thể có một tác động độc lập bổ sung, và bỏ qua nó có thể dẫn đến các ước tính thiên vị vì các quốc gia đông dân hơn có thể cũng phân cấp hơn (Treisman 2002)11 Tăng trưởng GDP và tỷ lệ thất nghiệp được tính vào để kiểm s oát cho các hiệu

ứn g chu kỳ kinh doanh Tỷ lệ lạ m phát được tính vào vì thâm hụt tài ch ính và mở rộng cung tiền là cách thay thế để tài trợ cho chi tiêu công Biến độ tuổi lao động, dùng để

đo lường phần đóng góp của dân số từ 15 đến 65 tuổi, được đưa vào để kiểm soát cho mức thu nhập đối với người có thể gánh vác gánh nặng thuế hiện tại và tương lai do các khoản nợ hiện hữu

Chúng tôi xác định tư tưởng của đảng cầm quyền ở cấp liên bang bằng cách thêm vào một chỉ s ố chạy từ 1 (về bên phải) đến 5 (về bên trái) Biến này được lấy từ

cơ s ở dữ liệu CPDSI xây d ựng bởi A rmingeon và cộng sự (2008) Một số đóng góp đã chứng tỏ rằng có thể có s ự khác biệt đáng kể trong các hành vi tài chính của các Đảng đối lập Ví dụ, trường hợp chính phủ cánh tả nhiều khả năng thực hiện chính sách mở rộng và thường làm tăng lạm phát (Hibbs 1977) Tuy nhiên, ảnh hưởng của ý th ức hệ

về nợ công là chưa rõ ràng Trong khi chính sách tài khóa mở rộng có thể một mặt dẫn đến chi tiêu nhiều h ơn, một s ố chúng tôi cho rằng đảng cánh tả cũng có khả n ăng tăng thuế, với ảnh hưởng không rõ ràng về mức độ nợ (Borrelli và Royed 1995) Do đó chúng tôi không có tiên nghiệm chắc chắn đến các dấu hiệu của hệ s ố ước tính

1 1 Trong khi các nghiên cứu khác tì m thấy yếu tố khu vực địa lý có ý nghĩa dự b áo về phân cấp tài khóa hơn là quy mô dân số (Treisman 2006) Chúng tôi không sử dụng khu vực địa lý như biến kiểm soát trong phân tích của chúng tôi vì nó thay đổi theo thời gian và không bao hàm trong mô hình tác động cố định

Trang 19

Chúng tô i cũng thêm vào chỉ số Herfindahl-Hirs chman, đo lường mức độ phân mảnh của chính phủ, vì một số nghiên cứu cho th ấy rằng các chính phủ bị ph ân mảnh hơn có xu hướng dễ bị ảnh hưởng hơn đối với các vấn đề vốn chung Chỉ s ố này giả định mang giá trị cao hơn khi chính phủ ít bị phân mảnh Nó được thực hiện từ bộ dữ

liệu DPI năm 2006 được cung cấp bởi Beck và cộng s ự (2001)

Biến độ mở được thêm vào để kiểm soát tác động của toàn cầu hóa lên kết quả tài chính Bỏ qua biến này có thể dẫn đến các ước tính chệch bởi vì toàn cầu hóa có thể tương quan với mức độ phân cấp tài khóa và tại cùng một thời điểm với nợ công (Sharma 2005) Tuy nhiên, các dấu hiệu dự kiến của hệ số kỳ vọng là không rõ ràng Một mặt, các quốc gia mở cửa hơn có th ể buộc phải thực hiện chính s ách tài khóa thận trọng hơn bởi vì các n hà đầu tư và các công ty có thể d ễ d àng rời khỏi các quốc gia không tiềm năng (De Mello2005) Mặt khác, toàn cầu hóa có thể hạn chế khả n ăng tăng thuế của các chính phủ, buộc chúng tôi, ít nhất là tạm thời, phải thay thế nguồn thu thuế bằng các khoản nợ (Razin vàSadka1991)

Biến lãi suất được đưa v ào để kiểm s oát cho chi phí đi vay Các dấu h iệu kỳ vọng của hệ số là không rõ ràng Một mặt, sự gia tăng lãi suất sẽ làm cho việc đi vay tiền từ một nguồn tài chính kém hấp dẫn hơn Mặt khác, nợ ngắn hạn thường được tái cấp vốn bằng cách mua lại các khoản nợ mới Kể từ thời điể m mà tại đó, một phần nào

đó của nợ đến hạn là ngoại lệ, lãi suất cao hơn chỉ đơn giản là có th ể thổi phồng s ố tiền phải trả của khoản nợ hiện hữu, từ đó ảnh hưởng nhiều hơn đến nợ công

Cuối cùng, chúng tôi thêm vào một biến giả cho trường hợp nước Đức trước năm 1991 để kiểm soát một thực tế là đất nước này được thống nhất vào tháng 10 nă m

1990 và vì vậy là m chuyển đổi, theo một cách nào đó, thành một quốc gia khác với một d ân số lớn hơn, GDP lớn hơn,và nhiều thay đổi khác riêng biệt12

Người đọc xem xét kỹ lưỡng sẽ nhận ra rằng một trong những yếu tố quan trọng quyết định nợ công là thiếu tập hợp các biến kiểm soát đo lường cách vay nợ đ ịa phương theo quy định, tức là, cho dù chính quyền địa phương được phép vay, và có áp đặt giới hạn đặc biệt bởi chính phủ liên bang Thiếu sót này cần giải thích thêm bởi các nghiên cứu trước đó, như là của Rodden (năm 2002), hướng đến tầm quan trọng của

1 2 Cũng lưu ý rằng vài số liệu tại Đ ức trư ớc 1991 không có t rong CSDL số 83 của viễn cảnh kinh tế OEC D Trong trường hợp này chúng tôi sử dụng phiên bản trước đó của CL DL viễn cảnh kinh tế để có được dữ liệu của Đức trước 1991

Trang 20

hạn chế vay địa phương đối với kết quả tài chính Chúng tôi không kiểm s oát được một cách rõ ràng cho hệ thống vay địa phương, vì dữ liệu có sẵn về các hạn chế vay cho các nước trong mẫu không thể hiện sự thay đổi biến theo thời gian cụ thể và do đó không thể đ ược tính đến trong các mô hình tác động cố định, mà chú ng tôi xác định thêm dưới đây như là đặc điểm kỹ thuật thích hợp (xe m phần 4.2)

Lưu ý rằng, chúng tôi cũng không kiểm s oát được một cách rõ ràng cho cấu trúc hiến pháp của các quốc gia bởi vì điểm đặc trưng của hiến pháp ít khi thay đổi theo thời gian và do đó đa cộng tuyến với các hiệu ứng cố định quốc g ia Có nghĩa là, chúng tô i không trực tiếp kiểm s oát cho dù một quốc gia có một hệ thống tổng thống hay quốc hội, cho dù quốc gia đó đưa ra một quy tắc bầu cử theo tỷ lệ hoặc đa số, và cho dù nó có thể chế dân chủ trực tiếp Chúng tôi cũng không trực tiếp kiểm soát cho các vị trí lập hiến của chính quyền địa phương, có nghĩa là, cho dù là một quốc g ia trung ương tập quyền hoặc một liên bang13.Tuy nhiên, cấu trúc của hiến pháp vẫn được kiểm soát một cách gián tiếp thông qua các hiệu ứng cố định quốc gia

Rõ ràng , chỉ có những quan sát mà tất cả các biến mang giá trị đầy đủ có thể được sử dụng trong các mô hình thực nghiệm Thật không may, yêu cầu này làm giảm đáng kể số lượng các quan s át có s ẵn, chủ yếu là do s ố liệu về khoản nợ tài chính ròng

và các biện pháp phân cấp không có s ẵn cho một số quốc gia OECD Các bộ dữ liệu cuối cùng bao gồm 17 quốc gia14, và do đó bao gồm trên một nửa các nước thành viên OECD

3.3 Mối quan hệ hai chiều

Đối với một đánh giá sơ bộ của các mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công, Sơ đồ hai chiều giữa các khoản nợ tài ch ính ròng trung bình (được đo lường chủ yếu bởi nợ chính phủ) và mức trung bình của một trong ba biện pháp phân cấp ở các nước trong mẫu của chúng tôi được cung cấp trong hình 2, 3 và 4

Nhữn g con số này cho thấy khoản nợ tài chính ròng trung bình có mối liên hệ nghịch chiều với cả chi tiêu và phân cấp quản lý thuế, và mối liên hệ cùng chiều với

1 3

Lưu ý rằng Bỉ không còn là một quốc gia đơn nhất và chính thức trở th ành một liên bang v ào năm 1994 Đôi khi cho rằngTây Ban Nha là một liên bang thì hiệu quả mặc dù nó vẫn chính thức thống nhất Dựa trên s ự thay đổi tại Bỉ (và có lẽ ở Tây Ban Nh a) một giả định liên bang có thể đư ợc về mặt lý thuyết tính đến trong các mô hình với các hiệu ứng cố định Tuy nhiên, chúng tôi phải căn cứ kết luận liên quan đến biến này trong phạm vi sự thay đổi hai quốc gi a tốt nh ất Do điều này có vẻ không hợp lý, chúng tôi không theo đuổi cách tiếp cận n ày thêm n ữa

1 4

Úc, Áo, Bỉ, Can ada, Đan Mạch , Tây Ban Nha, P hần Lan, Pháp, Anh, Đ ức, Aixlen, Ý, Hà Lan, Na Uy , Bồ Đào Nha, Thụy Đi ển, Mỹ

Ngày đăng: 28/04/2014, 16:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Đ ịnh nghĩa và nguồn  củ a đo l ườn g ph ân  cấp - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Bảng 1 Đ ịnh nghĩa và nguồn củ a đo l ườn g ph ân cấp (Trang 12)
Bảng 2: Tóm tắt thống kê ch o đo lường phân cấp - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Bảng 2 Tóm tắt thống kê ch o đo lường phân cấp (Trang 13)
Hình 1: Sự phát triển của đo lường ph ân cấp, tru ng bìn h giữa các qu ốc  gia - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Hình 1 Sự phát triển của đo lường ph ân cấp, tru ng bìn h giữa các qu ốc gia (Trang 14)
Bảng 6 – Tóm tắt thống kê cho các biến s ử dụ ng mô hình  tính vững và GMM - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Bảng 6 – Tóm tắt thống kê cho các biến s ử dụ ng mô hình tính vững và GMM (Trang 17)
Hình 2: Khoản nợ tài chính ròng và phân cấp chi tiêu - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Hình 2 Khoản nợ tài chính ròng và phân cấp chi tiêu (Trang 21)
Hình 3 : Kh oản  nợ  tài  chính  ròng và phân cấp thuế - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Hình 3 Kh oản nợ tài chính ròng và phân cấp thuế (Trang 21)
Hình 4 : Khoản nợ tài chính ròng và Tỷ trọng kh oản  trợ cấp - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Hình 4 Khoản nợ tài chính ròng và Tỷ trọng kh oản trợ cấp (Trang 22)
Bảng 8 : Đ o lườn g h ồi quy sự thay đổi của tỷ lệ nợ  trên GD P theo ph ân cấp gi ai  đoạn  1975 - 2001 - Tiểu luận: Mối liên hệ giữa phân cấp tài khóa và nợ công ở các nước OECD
Bảng 8 Đ o lườn g h ồi quy sự thay đổi của tỷ lệ nợ trên GD P theo ph ân cấp gi ai đoạn 1975 - 2001 (Trang 26)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w