Diffusion of Innovation Theory Lý thuyết Sự lan tỏa của Đổi mới June Kaminski, RN MSN PhD(c) CJNI Editor in Chief Tổng quan Lý thuyết Sự lan tỏa của Đổi mới (Diffusion of.Năm kiểu nhóm người chấp nhận có thể được mô tả trong bối cảnh áp dụng đổi mới khoa học công nghệ và ảnh hưởng của họ đối với quá trình đổi mới và áp dụng.Người đổi mới (innovators) (2.5%): đam mê công nghệ•Cần ít thời gian để đáp ứng với sự thay đổi nhất•Thích mạo hiểm, rủi ro•Hiểu và áp dụng các kiến thức kĩ thuật phức tạp để ứng phó với mức độ cao của sự không chắc chắn•Đánh giá cao công nghệ vì lợi ích riêng của chính nó•Bị thúc đẩy bởi ý tưởng làm nhân tố của sự thay đổi (change agent)•Là tấm gương cho nhóm người chấp nhận tiếp theo•Tuyển dụng để làm nhà giáo dục đồng đẳng (peer educator)
Trang 1Diffusion of Innovation Theory
Lý thuyết Sự lan tỏa của Đổi mới
June Kaminski, RN MSN PhD(c)
CJNI Editor in Chief
Người dịch: Nguyễn Viễn Thông
Tổng quan
Lý thuyết Sự lan tỏa của Đổi mới (Diffusion of Innovation Theory) lần đầu tiên được thảo luận trong lịch sử vào năm 1903 bởi nhà xã hội học người Pháp Gabriel Tarde, người đã vẽ
ra đường cong khuếch tán hình chữ S ban đầu (Toews, 2003) tiếp theo, Ryan và Gross (1943) đã đưa ra các kiểu chấp nhận (adopter categories) mà sau này được sử dụng rộng rãi trong lý thuyết hiện tại của Everett Rogers
Katz (1957) cũng được ghi nhận là người đầu tiên đưa ra khái niệm về quan điểm của lãnh đạo, quan điểm của cấp dưới và cách các phương tiện truyền thông tương tác để ảnh hưởng đến hai nhóm này Lý thuyết Sự lan tỏa của Đổi mới thường được coi là một mô hình thay đổi có giá trị để hướng tới đổi mới công nghệ trong đó bản thân sự đổi mới được điều chỉnh và thể hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng ở mọi cấp độ Nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của giao tiếp và mạng lưới đồng nghiệp (peer networking) trong quá trình đáp ứng
Nói một cách dễ hiểu, sự lan tỏa của đổi mới đề cập đến quá trình xảy ra khi mọi người
áp dụng một ý tưởng, sản phẩm, thực hành, triết lý mới, v.v Rogers đã vạch ra quá trình này, và nhấn mạnh rằng trong hầu hết các trường hợp, ban đầu chỉ một số ít sẵn sàng đón nhận ý tưởng mới và áp dụng nó Khi những nhà đổi mới ban đầu này ‘truyền bá thông tin’, ngày càng nhiều người trở nên cởi mở với nó, dẫn đến sự phát triển đáng kể Theo thời gian, ý tưởng hoặc sản phẩm sáng tạo trở nên phổ biến trong dân số cho đến khi đạt được điểm bão hòa Rogers đã phân biệt năm kiểu nhóm người chấp nhận cho một sự đổi mới: người đổi mới, người chấp nhận sớm,
số đông sớm, số đông muộn và tụt hậu Đôi khi, một nhóm thứ sáu được thêm vào: những người không chấp nhận Năm loại ban đầu được minh họa trong hình ảnh đường cong hình chuông bên dưới Rogers ước tính tỷ lệ của mỗi loại, trên thực tế rất giống với tỷ lệ được tìm thấy trong một đường cong phân phối chuẩn
Trang 2Năm kiểu nhóm người chấp nhận có thể được mô tả trong bối cảnh áp dụng đổi mới khoa học công nghệ và ảnh hưởng của họ đối với quá trình đổi mới và áp dụng
Người đổi mới (innovators) (2.5%): đam mê công nghệ
Cần ít thời gian để đáp ứng với sự thay đổi nhất
Thích mạo hiểm, rủi ro
Hiểu và áp dụng các kiến thức kĩ thuật phức tạp để ứng phó với mức độ cao của sự không chắc chắn
Đánh giá cao công nghệ vì lợi ích riêng của chính nó
Bị thúc đẩy bởi ý tưởng làm nhân tố của sự thay đổi (change agent)
Là tấm gương cho nhóm người chấp nhận tiếp theo
Tuyển dụng để làm nhà giáo dục đồng đẳng (peer educator) Người cấp nhận sớm (early adopter) (13.5%): nhìn xa trông rộng
Là người lãnh đạo quan điểm (opinion leader)
Có bản chấm mong muốn là người định hình trào lưu (trend setter)
Đóng vai trò mẫu (role model) trong hệ thống xã hội, được tôn trọng bởi đồng nghiệp, thành công
Muốn cách mạng hóa các quy tắc cạnh tranh trong ngành của mình (trở thành người đứng đầu)
Trang 3 Bị hấp dẫn bởi các dự án nguy hiểm cao/ lợi nhuận cao
Không quá nhạy cảm về chi phí (thường suy nghĩ ‘xài lớn’)
Cung cấp các đối tượng xuất sắc cho các thử nghiệm đổi mới
Số đông sớm (Early majority) (34%): thực dụng
Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp, liên hệ có chủ đích
Cũng là những người lãnh đạo quan điểm (opinion leader), nhưng trễ hơn trong quá trình
Thảo mái với những thay đổi trong thực tiễn nhằm nâng cao hiệu suất
Mong muốn những ứng dụng được kiểm chứng, thiết bị đáng tin cậy
Không thích sự phức tạp
Chỉ sử dụng khi có sự tham khảo của đồng nghiệp đáng tin cậy trong ngành
Mong muốn chọn giải pháp công nghệ được bảo chứng giống như của người khác (tránh mạo hiểm)
Cẩn trọng, sử dụng ngân sách khôn ngoan
Thay đổi chậm chạp, nhưng vững chắc, cần những buổi tập huấn đơn giản thân thiện với người dung (user-friendly training)
Số đông muộn (Late majority) (34%): bảo thủ
Chỉ phản ứng dưới áp lực của đồng nghiệp
Chỉ phản ứng đáp ứng nhu cầu kinh tế
Nghi ngờ, cẩn trọng
Thường e dè trước khoa học công nghệ
Tính toán chi phí chi ly
Cần giải pháp an toàn chắc chắn
Chỉ bị thúc đẩy khi phải cạnh trang sống còn với đối thủ hoặc các xu hướng đã được chứng minh trong ngành
Dựa dẫm vào những cố vấn duy nhất, đáng tin cậy
Dễ dàng bị ảnh hưởng bởi những kẻ tụt hậu
Người tụt hậu (16%) – đầy hoài nghi
Trang 4 Cách biệt với người lãnh đạo quan điểm
Thường liên hệ với quá khứ (cách thức họ đã thực hiện mọi việc)
Nghi ngờ các đổi mới, quá trinh đổi mới kéo dài, tài nguyên hạn hẹp, truyền thống
Mong muốn giữ mãi tình trạng hiện tại
Nghĩ rằng công nghệ là rào cản cho vận hành
Chỉ đầu tư vào công nghệ khi mọi phương án khác trở nên tồi tệ Trong lý thuyết này, mục tiêu không phải là thay đổi từ nhóm người chấp nhận này sang nhóm khác, mà là hợp lý hóa sự đổi mới để đáp ứng nhu cầu của cả năm nhóm kiểu người
Trang 5Hình 2: Quá trình lan tỏa
Mạng lưới đồng cấp (peer networks)
Khái niệm mạng đồng cấp rất quan trọng trong lý thuyết Sự lan tỏa của đổi mới Chính khối lượng quan trọng đạt được thông qua ảnh hưởng của những người đổi mới và những người sớm áp dụng đóng vai trò là nhà lãnh đạo quan điểm (opinion leader) đã tạo ra điểm ‘cất cánh’ ban đầu trong quá trình áp dụng đổi mới Những nhà lãnh đạo quan điểm này đóng vai trò là
Trang 6những tác nhân thay đổi không thể thiếu có giá trị ảnh hưởng đến đồng nghiệp của họ thông qua giao tiếp đồng cấp, mô hình hóa vai trò và tạo ra mạng lưới Quá trình này hoạt động tốt trong một tổ chức hoặc trong xã hội nói chung Một ví dụ điển hình là việc sử dụng mạng xã hội để tác động đến mọi người thông qua các chiến thuật dẫn dắt ý kiến
Năm giai đoạn chấp nhận sự thay đổi
Giai đoạn kiến thức hay nhận thức (knowledge or awareness stage)
Cá nhân thể hiện mong muốn cải tiến đổi mới nhưng thiếu thông tin hoàn chỉnh
Giai đoạn hứng thú hay thuyết phục (persuasion or interest stage)
Cá nhân hứng thú với các sáng kiến mới và tìm kiếm thông tin tham khảo
Giai đoạn đánh giá / quyết định (Decision or Evaluation Stage)
Cá nhân trên tinh thần áp dụng cải tiến vào thực tại, dự đoán tương lai Sau đó quyết đinh thực hiện hay không thực hiện
Giai đoạn ứng dụng hoặc thử nghiệm (Implementation or trial stage)
Cá nhân thực hiện toàn bộ cải tiến/ đổi mới
Giai đoạn xác nhận hoặc đáp ứng (Confirmation or Adoption Stage)
Cá nhân quyết định tiếp tục thực hiện toàn bộ cải tiến/ đổi mới
Rogers (2003) giải thích rằng sự lan tỏa của đổi mới là quá trình mà sự đổi mới được truyền đạt thông qua các kênh nhất định theo thời gian giữa các thành viên của một hệ thống xã hội
Điều quan trọng là phải xem xét lý do tại sao một số đổi mới lại thành công, trong khi một số đổi mới không bao giờ được chấp nhận rộng rãi Năm đặc điểm đổi mới khác biệt đã được Rogers xác định để giải thích bí ẩn này Những đặc điểm này bao gồm: khả năng quan sát, lợi thế tương đối, khả năng tương thích, khả năng dùng thử và độ phức tạp Theo Rogers, chúng chiếm 49 đến 87% mức độ thay đổi trong việc áp dụng trên tất cả các kiểu người chấp nhận Những đặc điểm này cũng cung cấp một danh sách giá trị để các nhà lãnh đạo dự án công nghệ
áp dụng khi lần đầu tiên xem xét các thay đổi sáng tạo
Đặc điểm của đổi mới
Trang 7Khả năng quan sát (Observability): là mức độ mà kết quả của sự thay đổi có thể được
dự đoán cho những người chấp nhận tiềm năng
Lợi thế tương đối (Relative Advantage): Mức độ mà đổi mới được coi là tốt vượt trội
so với thực tiễn hiện tại
Khả năng tương thích (Compatibility): Mức độ mà sự đổi mới được coi là phù hợp với
các giá trị văn hóa xã hội, các ý tưởng trước đây và / hoặc các nhu cầu được nhận thức
Khả năng dùng thử (Trialability): Mức độ mà sự đổi mới có thể được trải nghiệm trên
cơ sở nguồn lực hạn chế
Tính phức tạp (Complexity): Mức độ khó sử dụng hoặc khó hiểu của một đổi mới, tính
đơn giản của nó
Tái phát kiến (Re-invention): một xem xét quan trọng khác Về cơ bản, điều này đề cập
đến khả năng sự đổi mới có thể được thay đổi hoặc sửa đổi khi quá trình áp dụng và thực hiện được ban hành Nếu một sự đổi mới có thể phù hợp để tái phát triển theo nhu cầu của năm loại người chấp nhận, thì nó càng linh hoạt và có thể thay thế được Và nó càng có nhiều khả năng sẽ được áp dụng đầy đủ đến điểm bão hòa (saturation point)
Kênh thông tin liên lạc (Communication Channels)
Kênh truyền thông đề cập đến tỷ lệ và mức độ mà mọi người trao đổi và lan truyền tin tức về những đổi mới Hai kênh giao tiếp chính được Rogers mô tả:
Kênh truyền thông đại chúng (Mass Media Channels):
Điều này có hiệu quả trong việc tạo ra kiến thức về sự đổi mới, ví dụ như video hoặc DVD liên quan đến hệ thống, hoặc quảng cáo truyền hình trong các phương tiện truyền thông chính thống
Kênh giao tiếp cá nhân (Interpersonal Channels):
Giao tiếp giữa người với người rất hiệu quả trong việc thay đổi thái độ của mọi người về đổi mới Sau cùng, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận hay từ chối đổi mới của họ Những đánh giá chủ quan của bạn bè về một sự đổi mới có ảnh hưởng rất lớn
Thời kì: liên quan đến ba khía cạnh khác nhau của quá trình đổi mới
Trang 8Quy trình áp dụng đổi mới (Innovation Adoption Process): bao gồm khi tiếp thu kiến thức đầu tiên về sự đổi mới cho đến việc chấp nhận hoặc từ chối cuối cùng về tiện ích và cách triển khai toàn diện như đã thảo luận trước đó
Các kiểu người áp dụng đổi mới (Innovation Adopter Categories): thời gian cũng rất quan trọng trong năm kiểu chấp nhận và cách họ ảnh hưởng đến nhau để đạt đến mức bão hòa đầy đủ của đổi mới
Tỷ lệ chấp nhận (Rate of Adoption): thời gian cũng liên quan khi xem xét tỷ lệ chấp nhận cuối cùng Ví dụ, trong một tổ chức, từ gai đoạn đầu đến cuối và có bao nhiêu người trong tổng
số nhân viên đã áp dụng đổi mới Tỷ lệ chấp nhận này bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm đổi mới được giới thiệu ở trên
Hệ thống xã hội (Social System): Chiều kích thứ tư và cuối cùng đề cập đến các nhóm người tham gia vào quá trình áp dụng đổi mới Đây có thể là các nhân viên tại một tổ chức, một lãnh vực hoặc cả một quốc gia
Kết luận
Lý thuyết lan tỏa của đổi mới là một lý thuyết rất quan trọng dành cho các nhà quản trị, công nghệ thông tin, chuyên gia CNTT điều dưỡng và các tác nhân thay đổi Lý thuyết này cũng mang lại lợi ích cho các mục tiêu thay đổi, vì sự tôn trọng và cân nhắc đối với tất cả các bên liên quan gắn liền với các chiến lược mạnh mẽ để thực hiện thay đổi sáng tạo Lý thuyết phù hợp tốt với CNTT điều dưỡng và cung cấp phương thức giàn giáo (scaffold) để lập kế hoạch đổi mới liên quan đến tin học
Tài liệu tham khảo
Katz, E (1957) The Two-Step Flow of Communication: An Up-To Date Report on a Hypothesis The Public Opinion Quarterly, 21 (1) pp 61-78
Rogers, E (2003) Diffusion of Innovations Fifth edition Free Press: New York
Ryan & Gross (1943), The Diffusion of Hybrid Seed Corn in Two Iowa Communities, Rural Sociology 8 (March): 15
Toews, D (2003) The New Tarde: Sociology after the End of the Social Theory Culture
& Society 20 (5), 81-98