1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Quản lý của ban quản lý khu kinh tế tỉnh cao bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

97 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Của Ban Quản Lý Khu Kinh Tế Tỉnh Cao Bằng Đối Với Hàng Tạm Nhập Tái Xuất Qua Khu Kinh Tế Cửa Khẩu
Tác giả Hoàng Anh Định
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Và Quản Lý Thương Mại
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Cao Bằng
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu bao gồm: 1 Bối cảnh kinh tế xã hội, sự hội nhập, trình độ dân trí, sự phức tạp của các loại hàng hóa, 2

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HOÀNG ANH ĐỊNH

QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG ĐỐI VỚI HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT

QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HOÀNG ANH ĐỊNH

QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG ĐỐI VỚI HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT

QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ THƯƠNG MAI

MÃ NGÀNH: 8340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi xin cam đoan rằng, nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Cao Bằng, ngày tháng 12 năm 2019

Tác giả

Hoàng Anh Định

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong nhà trường cũng như các cán bộ của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Hương, giảng viên trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm khoa Sau đại học của trường Đại học Kinh tế Quốc Dân đã tạo điều kiện giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, viết luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các cán bộ Nhà trường tạo điều kiện giúp đỡ tôi, tôi xin chân thành cám ơn tất cả bạn bè, người thân giúp đỡ tôi thực hiện nhiệm vụ này

Xin chân thành cảm ơn!

Cao Bằng, ngày tháng 12 năm 2019

Tác giả

Hoàng Anh Định

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

TÓM TẮT LUẬN VĂN i

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 5

1.1 Hàng tạm nhập tái xuất và sự cần thiết phải quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 5

1.1.1 Tổng quan về khu kinh tế cửa khẩu 5

1.1.2 Tổng quan về hàng hóa tạm nhập tái xuất 11

1.1.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 17

1.2 Nội dung quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 19

1.2.1 Xây dựng, đề xuất ban hành pháp luật, chính sách quản lý hàng tạm nhập tái xuất 19

1.2.2 Quản lý thuế phí liên quan đến hàng tạm nhập tái xuất 20

1.2.3 Quản lý hồ sơ, số lượng, chất lượng hàng tạm nhập tái xuất 21

1.2.4 Quản lý về công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại 24

1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 25

1.3.1 Nhóm nhân tố thuộc bối cảnh kinh tế xã hội, sự hội nhập, trình độ dân trí, sự phức tạp của các loại hàng hóa 25

1.3.2 Nhóm nhân tố thuộc quy định, chủ trương, chính sách của nhà nước 26

1.3.3 Nhóm nhân tố thuộc doanh nghiệp hoạt động tạm nhập, tái xuất 26

1.3.4 Nhóm nhân tố về trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, kho tàng 27

1.3.5 Nhóm nhân tố về trình độ quản lý của cán bộ 27

1.3.6 Nhóm nhân tố về tổ chức bộ máy 28

1.3.7 Nhóm nhân tố về công tác kiểm tra, giám sát 28

Trang 6

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH

TẾ TỈNH CAO BẰNG ĐỐI VỚI HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 29 2.1 Đặc điểm của khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng và các loại hàng hóa tạm nhập tái xuất chủ yếu 29

2.1.1 Đặc điểm địa lý Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng 292.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 302.1.3 Phân tích thực trạng hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng 34

2.2 Phân tích thực trạng quản lý của ban quản lý khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 38

2.2.1 Giới thiệu về Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng 382.2.2 Phân tích thực trạng quản lý đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 44

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý của Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 57

2.3.1 Những kết quả đạt được 572.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 58

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG ĐỐI VỚI HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 61 3.1 Phương hướng phát triển Khu kinh tế cửa khẩu của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng 61

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đến 2020 và định hướng 2025 613.1.2 Phương hướng phát triển 63

3.2 Các giải pháp tăng cường quản lý của ban quản lý khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu 68

3.2.1 Nhóm giải pháp với cơ chế, chính sách áp dụng tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh 683.2.2 Nhóm giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 70

Trang 7

3.2.3 Nhóm giải pháp về đầu tư xây dựng hạ tầng, trang thiết bị phục vụ công tác QLNN đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất 723.2.4 Nhóm giải pháp về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hàngTNTX 753.2.5 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động TNTX trên địa bàn tỉnh Cao Bằng 763.2.6 Nhóm giải pháp xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư và các giải pháp khác 77

KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

I Viết tắt tiếng Việt

TT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ tiếng Việt

II Viết tắt tiếng Anh

TT Từ viết tắt Đầy đủ tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

2 WTO The World Trade Organization Tổ chức thương mại

thế giới

3 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương

mại tự do

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình KTXH tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016 – 2018 31Bảng 2.2 Thống kê tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa giai đoạn 2016 -2018 37Bảng 2.3: Biểu thu , nộp phí đối v ới xe sang tải , giao nhâ ̣n hàng hóa XNK ta ̣i các cửa khẩu, trên cửa khẩu tỉnh Cao Bằng (2016-2018) 51Bảng 2.4: Số vụ buôn lậu và gian lận thương mại tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2016 -2018 56Bảng 3.1 Dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu của Khu KTCK đến năm 2020 63

HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng 43

Trang 10

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HOÀNG ANH ĐỊNH

QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG ĐỐI VỚI HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT

QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ THƯƠNG MAI

MÃ NGÀNH: 8340410

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2019

Trang 11

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Theo quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2014 về việc thành lập khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng, Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng gồm diện tích (một phần hoặc toàn bộ) các xã biên giới từ xã Đức Long huyện Thạch An đến xã Cần Nông của huyện Thông Nông, với tổng diện tích tự nhiên là 30.130,34 ha, bao gồm 37 xã và 03 thị trấn Khu kinh tế cửa khẩu Cao Bằng được tổ chức thành khu phi thuế quan và các khu chức năng như: Khu cửa khẩu quốc tế, các khu công nghiệp, trung tâm tài chính, khu đô thị, khu trung tâm hành chính, khu dân

cư và các khu chức năng khác Kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động, khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế xã hội địa phương Quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng hóa là một trong những chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng

Bên cạnh những mặt tích cực, công tác quản lý hàng tạm nhạp tái xuất vẫn còn một số tồn tại như quản lý hồ sơ hàng hóa, quản lý số lượng, chất lượng hàng hóa cũng như quản lý thuế hàng hóa còn nhiều bất cập, không phản ánh đúng tình hình thực tế, phức tạp tại khu kinh tế cửa khẩu Hoạt động tạm nhập, tái xuất một số mặt hàng qua biên giới bị Trung Quốc coi là bất hợp pháp nên ngăn chặn quyết liệt Một số mặt hàng tạm nhập, tái xuất không kiểm soát được nguồn gốc xuất sứ, chất lượng, phát sinh tình trạng thẩm lậu, có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường và

an toàn thực phẩm trong nước Một số đối tượng lợi dụng cơ chế quản lý thông thoáng đối với hoạt động tạm nhập tái xuất để tiêu thụ trái phép vào nội địa, đặc biệt

là các mặt hàng có giá trị cao, thuế suất cao như thuốc lá điếu, rượu ngoại Cơ chế, chính sách quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất còn nhiều điểm chưa phù hợp, nhiều kẽ hở Biện pháp chế tài xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa ; công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát, giám sát, phát hiện,

xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu công tác quản lý

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối

Trang 12

với hàng tạm nhập tái xuất qua Khu kinh tế cửa khẩu

Trên cơ sở lý luận về quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu, tổng quan về khu kinh tế cửa khẩu tác giả đã tiếp cận đề tài là các nội dung quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu và các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

Với các tài liệu nghiên cứu tác giả đã xác định các nội dung quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu bao gồm: (1) Xây dựng, đề xuất ban hành pháp luật, chính sách quản lý hàng tạm nhập tái xuất, (2) Quản lý thuế, phí liên quan đến hàng tạm nhập tái xuất, (3) Quản lý hồ sơ, số lượng, chất lượng hàng tạm nhập tái xuất, (4) Quản lý về công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu bao gồm: (1) Bối cảnh kinh tế xã hội, sự hội nhập, trình độ dân trí, sự phức tạp của các loại hàng hóa, (2) Quy định, chủ trương, chính sách của nhà nước, (3) Nhân

tố thuộc doanh nghiệp hoạt động tạm nhập, tái xuất, (4) Trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, (5) Trình độ quản lý của cán bộ, (6) Tổ chức bộ máy, (7) Công tác kiểm tra, giám sát

Từ những lý luận, tác giả đi sâu đánh giá phân tích thực trạng quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu với các kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế như sau:

Những kết quả đạt được của công tác quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất tại Khu Kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng là:

Trong công tác thực thi các chính sách, thủ tục hành chính về hàng hóa TN-TX

đã có nhiều triển vọng tốt, đa số các doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ các tờ khai, nộp thuế theo quy định của hải quan, tăng đáng kể ngân sách nhà nước cho tỉnh

Thủ tục hành chính về hoạt động tạm nhập tái xuất được thực hiện nghiêm túc và theo công văn của Bộ Tài chính

Hoạt động thanh tra, kiểm tra tại Khu KTCK diễn ra thường xuyên, các CBCC phát huy vai trò và trách nhiệm của mình trong quá trình giám sát thực tế các doanh nghiệp đăng ký hàng hóa TNTX, các trường hợp vi phạm được xử lý nghiêm

Trang 13

minh theo quy định của ngành

Thực hiện nghiêm túc quy trình thủ tục hải quan hàng hóa tạm nhập, tái xuất tại cửa khẩu, thực hiện phân luồng tờ khai và có can thiệp kịp thời về hàng tạm nhập tái xuất khi thương nhân hoặc doanh nghiệp cố ý kê khai sai nhằm giảm thuế XK

Điều tiết hoạt động tạm nhập tái xuất có kế hoạch và sắp xếp hợp lý khi có ách tắc tại cửa khẩu đặc biệt là từ khi được nâng cấp lên thành cửa khẩu chính

Cửa khẩu tái xuất linh hoạt các loại hàng hóa, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu tăng qua các năm

Chi cục hải quan nâng cao trách nhiệm của chi cục Hải quan trong quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất; kết hợp với các cơ quan chức năng trên địa bàn nhằm tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý hàng hóa tạm nhập tái xuất

Công tác tổ chức CBCC khá tốt, qua các năm số lượng và chất lượng CBCC của chi cục hải quan được quan tâm cử đi tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn của ngành tăng đáng kể, nâng cao được khả năng xử lý các tình huống trong công việc, đặc biệt chi cục bám sát chủ trương của Nhà nước về chất lượng phục vụ hành chính hải quan

Các khu kinh tế cửa khẩu đã được đầu tư trang thiết bị, kho tàng và nâng cấp thành cửa khẩu chính nên đã góp phần tăng NSNN cho tỉnh Cao Bằng, giải quyết công ăn việc làm cho người dân tại khu KTCK, đời sống của họ ngày một nâng cao

hơn

Bên cạnh những kết quả đạt được thì quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu vẫn còn những tồn tại, hạn chế như sau:

Một là, xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, quy định pháp luật tao cơ sở

pháp lý cho công tác quản lý còn chậm và chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra

Trong những năm qua hoa ̣t động xuất nhâ ̣p khẩu hàng hóa qua đi ̣a bàn tỉnh với kim nga ̣ch TNTX năm sau cao hơn năm trước , tuy nhiên còn chưa ổn đi ̣nh về kim ngạch TNTX qua các tháng và tại các cửa khẩu , lối mở , nguyên nhân chủ yếu

là do chính sách biên mậu của phía Trung Quốc , gây nhiều khó khăn cho công tác

Trang 14

quản lý, giám sát của các lực lượng liên ngành tại cửa khẩu , lối mở d ẫn tới nguồn thu không ổn định Mặt khác cự ly vận chuyển từ Các tỉnh đến Cao Bằng và từ Cao Bằng đi các tỉnh rất xa làm tăng chí phí vận tải

Hai là, tuy có mức tăng trưởng cao song doanh thu hàng năm còn chưa tương

xứng với tiềm năng, điều kiện giao thông đi lại khó khăn nên chưa phát huy hết lợi thế cửa khẩu Các mặt hàng xuất khẩu có khối lượng lớn nhưng giá trị không cao, số lượng chủng loại đơn điệu hơn nhiều so với các tỉnh biên giới khác, chất lượng kém, hàng hóa xuất khẩu chủ yếu có thuế suất bằng không, hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là máy móc trang thiết bị có giá trị hàng hóa cao, cơ cấu hàng hóa còn chênh lệch về giá trị và chủng loại, dẫn đến thua thiệt về cán cân thương mại

Hiện tượng lách luật, lợi dụng chính sách cho chọn nơi thông quan để khai man về chủng loại, số lượng hàng hóa khi nhập vào Việt Nam vẫn xảy ra mà chưa có biện pháp ngăn chặn triệt để Ngoài ra, một số đối tượng lợi dụng chính sách tạm nhập – tái xuất để trà trộn hàng hóa xuất nhập khẩu “chui” trốn thu

Ba là, cách quản lý điều hành mậu dịch biên giới của Trung Quốc và Việt

Nam chưa hoàn thiện và thống nhất với nhau, đặc biệt là chính sách biên mậu Việt Nam chú trọng buôn bán chính ngạch, Trung Quốc lại khuyến khích mậu dịch biên giới (tương tự tiểu ngạch của Việt Nam)

Các dịch vụ thương mại, du lịch, dịch vụ thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu, dịch vụ bốc xếp, vận tải hiện chưa đồng bộ, chưa có sự phối hợp với các tổ chức thanh toán biên mậu qua ngân hàng để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, hiện tại chỉ thực hiện thanh toán bằng tiền mặt và trao đổi hàng hoá

Bốn là, công tác quản lý hoạt động xuất nhập khẩu đối với một số mặt hàng

xuất khẩu còn gặp nhiều khó khăn do cơ chế, chính sách quản lý còn nhiều bất cập gây thất thu cho ngân sách của tỉnh Bên cạnh đó, gần một nửa doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các doanh nghiệp đóng tại Hải Phòng, Quảng Ninh nên việc thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động quản lý TNTX gặp phải không ít khó khăn

Trang 15

Năm là, viê ̣c kiểm tra làm thủ tu ̣c cho hàng hoá TNTX có trường hơ ̣p còn

mang tính hình thức, sự phối hơ ̣p của lực lươ ̣ng chức năng ở cửa khẩu trong quá trình kiểm tra, làm thủ tu ̣c cho hàng hoá cũng còn nhiều bất cập , cùng với cơ chế chính sách chưa đồng bộ đã làm cho hoạt động TNTX ở vùng biên giới hiê ̣u quả chưa đạt được tương xứng với tiềm năng vốn có của các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh

Sự phối hợp giữa các lực lượng chống buôn lậu trên cùng địa bàn nhiều khi còn chưa tốt, có biểu hiện trông chờ ỷ lại, chồng chéo, một số có biểu hiện buông lỏng nhiệm vụ, thiếu trách nhiệm hoặc bị tha hoá, biến chất, tiếp tay cho bọn buôn lậu, làm cho tình hình ngày càng trở nên phức tạp Và hậu quả của tệ nạn này là thất thu thuế, ảnh hưởng đến sản xuất và nền kinh tế đất nước, gây thiệt hại cho người tiêu dùng…

Từ những tồn tại, hạn chế tác giả đã xác định nguyên nhân của những hạn chế gồm:

Một là, các quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, hoàn thiện, còn phức tạp,

chồng chéo gây khó khăn cho việc áp dụng, chưa phát huy được tối ưu giá trị điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh doanh tạm nhập, tái xuất

Hai là, năng lực, trình độ, nhận thức và ý thức trách nhiệm của một bộ phận

cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa sâu sát nắm tình hình, năng lực phân tích, đánh giá nhận định xu thế diễn biến tình hình để tham mưu, đề xuất; chưa mạnh dạn

đề xuất các giải pháp, cơ chế, chính sách quản lý, điều hành phù hợp Trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm có nơi, có lúc cán bộ, công chức còn có biểu hiện buông lỏng, nể nang

Lực lượng CBCC làm việc tại các cửa khẩu còn ít, hàng hóa phải chia nhỏ để tái xuất tại các đường mòn, lối mở… nên hầu hết chỉ kiểm tra được giấy tờ, chưa thể kiểm tra được hàng hóa thực tế Khi cơ quan quản lý vào cuộc, đã phát hiện nhiều sai phạm về hàng hóa thực xuất so với tờ khai hải quan

Ba là, điều kiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ công tác QLNN đối với

hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất còn khó khăn, hạn chế, nhất là tại các cửa

Trang 16

khẩu biên giới Thực tế này đã tác động bất lợi tới công tác quản lý, khó triển khai ứng dụng thông tin; công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất; việc kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin tình hình phục vụ công tác quản lý không kịp thời

Bốn là, công tác thanh tra, kiểm tra còn nhiều yếu kém Nhiều loại hàng kém,

hàng kém chất lượng được các cá nhân, doanh nghiệp lợi dụng hình thức kinh doanh tạm nhập tái xuất thẩm thấu vào thị trường trong nước để thu lợi bất chính, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế và quyền lợi người tiêu dùng

Năm là, năng lực đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động

kinh doanh tạm nhập, tái xuất còn hạn chế, đa số chỉ làm dịch vụ giúp cho doanh nghiệp nước ngoài để lấy tiền công dịch vụ vận chuyển Vì vậy, hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất không bài bản, không có tầm nhìn và tính chiến lược lâu dài, chỉ tranh thủ cơ hội thị trường và tận dụng quan hệ bạn hàng sẵn có nên thường

bị động, tiềm ẩn nhiều rủi ro và hiệu quả không cao

Qua đánh giá, phân tích nguyên nhân của tồn tại, hạn chế, tác giả đã đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý của ban quản lý khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu, gồm:

(1) Nhóm giải pháp với cơ chế, chính sách áp dụng tại các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh, (2) Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, (3) Đầu tư xây dựng hạ tầng, trang thiết bị phục vụ công tác QLNN đối với hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất, (4) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hàng TNTX, (5) Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động TNTX trên địa bàn tỉnh Cao Bằng,

(6) Các giải pháp xúc tiến đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư và các giải pháp khác

Trang 17

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

HOÀNG ANH ĐỊNH

QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ KHU KINH TẾ TỈNH CAO BẰNG ĐỐI VỚI HÀNG TẠM NHẬP TÁI XUẤT

QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ THƯƠNG MAI

MÃ NGÀNH: 8340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 18

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Việt Nam có vị trí địa lý thuận lợi cho việc trung chuyển hàng hóa nên trong những năm gần đây hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất phát triển mạnh mẽ cả

về quy mô và tốc độ Để khuyến khích hoạt động xuất xuất khẩu nhằm mục tiêu phát triển kinh tế đồng thời tạo công ăn việc làm cho người lao động, khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, từ những năm đầu của thập niên trước Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi đối với hoạt động xuất nhập khẩu Công tác quản lý đối với hoạt động xuất nhập khẩu luôn được cải tiến và tăng cường thể hiện vai trò qua các văn bản quy định và việc tổ chức thực hiện, tuy vậy hoạt động này vẫn còn nhiều bất cập Mới đây, ngày 18/02/2013, Bộ công thương đã ban hành thông tư số 05/2013/TT-BCT quy định về hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất một số loại hàng hóa đây là một văn bản hướng dẫn mới và có tính hướng dẫn cụ thể chi tiết kèm theo các danh mục hàng hóa được phép kinh doanh tạm nhập tái xuất Quản lý đối với loại hình kinh doanh tạm nhập, tái xuất hàng hóa tương đối thông thoáng, thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng hơn, đem lại những lợi ích kinh tế- xã hội nhất định Tuy nhiên, những kẽ hở trong quản lý, cơ chế chính sách và sự thông thoáng về thủ tục hải quan bị lợi dụng để thực hiện một

số hành vi gian lận thương mại làm phương hại nền kinh tế

Theo quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2014 về việc thành lập khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng, Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng gồm diện tích (một phần hoặc toàn bộ) các xã biên giới từ xã Đức Long huyện Thạch An đến xã Cần Nông của huyện Thông Nông, với tổng diện tích tự nhiên là 30.130,34 ha, bao gồm 37 xã và 03 thị trấn Khu kinh tế cửa khẩu Cao Bằng được tổ chức thành khu phi thuế quan và các khu chức năng như: Khu cửa khẩu quốc tế, các khu công nghiệp, trung tâm tài chính, khu đô thị, khu trung tâm hành chính, khu dân

cư và các khu chức năng khác Kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động, khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng đã đạt được những thành tựu đáng kể, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế xã hội địa phương Quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất hàng

Trang 19

hóa là một trong những chức năng, nhiệm vụ trọng tâm của khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng

Bên cạnh những mặt tích cực, công tác quản lý hàng tạm nhạp tái xuất vẫn còn một số tồn tại như quản lý hồ sơ hàng hóa, quản lý số lượng, chất lượng hàng hóa cũng như quản lý thuế hàng hóa còn nhiều bất cập, không phản ánh đúng tình hình thực tế, phức tạp tại khu kinh tế cửa khẩu Hoạt động tạm nhập, tái xuất một số mặt hàng qua biên giới bị Trung Quốc coi là bất hợp pháp nên ngăn chặn quyết liệt Một số mặt hàng tạm nhập, tái xuất không kiểm soát được nguồn gốc xuất sứ, chất lượng, phát sinh tình trạng thẩm lậu, có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường và

an toàn thực phẩm trong nước Một số đối tượng lợi dụng cơ chế quản lý thông thoáng đối với hoạt động tạm nhập tái xuất để tiêu thụ trái phép vào nội địa, đặc biệt

là các mặt hàng có giá trị cao, thuế suất cao như thuốc lá điếu, rượu ngoại Cơ chế, chính sách quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất còn nhiều điểm chưa phù hợp, nhiều kẽ hở Biện pháp chế tài xử lý các hành vi vi phạm chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa ; công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát, giám sát, phát hiện,

xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu công tác quản lý

Vì vậy, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất để nhằm phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, chống thất thu thuế, thẩm lậu hàng hóa tạm nhập, tái xuất vào thị trường trong nước, góp phần bảo vệ nền sản xuất trong nước, quyền lợi người tiêu dùng, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại

và phát triển kinh tế địa phương Chính vì lý do đó và qua quá trình nghiên

cứu, học viên đã lựa chọn đề tài “Quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh

Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu” có ý

nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua Khu kinh tế cửa khẩu

Trang 20

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá làm rõ một số cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa làm cơ sở luận cho việc phân tích thực trạng

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng, từ đó chỉ rõ yếu tố ảnh hưởng đến công tác này

- Đề xuất giải pháp quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa để công tác này được tốt và hiệu quả hơn trong thời gian tới với Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu lý luận và thực trạng vấn đề quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Tạm nhập, tái xuất có nhiều hình thức khác nhau Đây còn là đối tượng của kinh doanh, là hoạt động có tính phức tạp, có nhiều vi phạm và dễ bị lợi dụng Do đó, luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu với chủ thể quản lý là Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi thời gian: Thông tin số liệu liên quan đến các công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa tại Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng trong các năm từ 2016-2018, tầm nhìn đến 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tổng hợp, hệ thống hóa, thống kê,

so sánh, phân tích để đánh giá cả mặt chất và mặt lượng của kết quả nghiên cứu

Tác giả đã tiến hành thu thập, đánh giá các tài liệu liên quan đến quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng, lựa chọn

Trang 21

phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu để có được thông tin, số liệu có độ tin cậy và chính xác cao

- Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng lịch sử để nghiên cứu các vấn đề

lý luận và thực tiễn hoạt động tạm nhập, tái xuất và quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất; xem xét đối tượng và nội dung nghiên cứu theo quan điểm toàn diện, phát triển và hệ thống

- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình phân tích, đánh giá thực trạng và xây dựng định hương, hệ thống các giải pháp hoàn thiện quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất, tác giả có thảm khảo ý kiến của một số cán bộ lãnh đạo, chuyên viên công tác tại Sở Tài chính, Cục Hải quan, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh và các sở ngành, UBND các huyện biên giới có hoạt động tạm nhập tái xuất

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Số liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn: Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Cục Hải quan, Sở Công thương, UBND các huyện biên giới Ngoài ra, tác giả còn sử dụng số liệu của các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài luận văn

+ Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua nghiên cứu, tổng hợp từ hồ sơ, tài liệu lưu trữ liên quan đến công tác quản lý hoạt động tạm nhập tái xuất của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, Cục Hải quan…và từ nguồn thông tin, dữ liệu mà tác giả

đã thu thập, ghi nhận được trong thực tế quá trình công tác, làm việc tại Ban Quản

lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

Chương 2 Thực trạng quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

Chương 3 Giải pháp tăng cường quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

Trang 22

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HÀNG

TẠM NHẬP TÁI XUẤT QUA KHU KINH TẾ CỬA KHẨU

1.1 Hàng tạm nhập tái xuất và sự cần thiết phải quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

1.1.1 Tổng quan về khu kinh tế cửa khẩu

1.1.1.1 Khái niệm

Thuật ngữ khu kinh tế cửa khẩu mới được dùng ở Việt Nam trong một số năm gần đây, khi quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam - Trung Quốc đã có bước phát triển mới đòi hỏi phải có mô hình kinh tế phù hợp nhằm khai thác các tiềm năng, thế mạnh kinh tế của hai nước thông qua cửa khẩu biên giới Trong lịch sử, việc trao đổi hoạt động kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia có chung đường biên giới đã diễn ra từ rất lâu, song chủ yếu là các dạng thông thường như: xuất nhập khẩu (XNK) chính ngạch, tiểu ngạch, trao đổi, mua bán thông qua các chợ biên giới Nhưng, mô hình kinh tế trong đó chúng ta chủ động áp dụng một

số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả trao đổi kinh tế - thương mại giữa hai quốc gia thông qua cửa khẩu biên giới còn rất hạn chế, bao gồm các hoạt động trao đổi thương mại, trao dổi hàng hóa giữa các cư dân, các doanh nghiệp nhỏ đóng tại địa bàn biên giới xác định, thường là những nơi có các cửa khẩu biên giới Trên thực tế, những hình thức này có thể được thực hiện ở các dạng chợ biên giới, thậm chí ở các đường mòn biên giới với một khối lượng hàng hóa và giá trị theo quy định của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương Với nhiều mức độ khác nhau, giao lưu kinh tế biên giới theo nghĩa hẹp là hình thức diễn ra phổ biến ở tất cả các quốc gia có đường biên giới chung trong điều kiện hòa bình Tuy nhiên, có một điều

dễ thấy là quy mô, mức độ hoạt động kinh tế - thương mại diễn ra khác nhau giữa các vùng, miền, khu vực biên giới cả nước vì nó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau: trình độ phát triển kinh tế; điều kiện tự nhiên; vị trí địa lý; chính sách biên mậu; các tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; sự ổn định về an ninh chính trị Vì vậy,

Trang 23

xuất hiện một nội dung rộng hơn, bao quát hơn trước tức giao lưu kinh tế qua biên giới là tất cả các hoạt động kinh tế - thương mại, đầu tư khoa học và công nghệ qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đường biên giới chung Nội dung của giao lưu kinh tế qua biên giới theo nghĩa rộng không chỉ đơn thuần là buôn bán, trao đổi hàng hóa thông thường, mà còn bao hàm cả các hoạt động về hợp tác khoa học - công nghệ, đầu tư lẫn nhau, hoạt động XNK, liên doanh phát triển kết cấu hạ tầng,

du lịch qua biên giới Chúng ta thấy rõ rằng, giao lưu kinh tế qua biên giới được phát triển từ hình thức trao đổi hàng hóa đơn giản trở thành các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng

Khái niệm khu KTCK được hình thành trên cơ sở hàng loạt các khái niệm có liên quan Trước hết là khái niệm: "Giao lưu kinh tế qua biên giới" Theo nghĩa hẹp, khái niệm này bao gồm “các hoạt động trao đổi thương mại, trao đổi hàng hóa giữa các cư dân, các doanh nghiệp nhỏ đóng tại địa bàn biên giới xác định, thường là những nơi có các cửa khẩu biên giới” Trên thực tế, những hình thức này có thể được thực hiện ở các dạng chợ biên giới, thậm chí ở các đường mòn biên giới với một khối lượng hàng hóa và giá trị theo quy định của Nhà nước hoặc chính quyền địa phương Với nhiều mức độ khác nhau, giao lưu kinh tế biên giới theo nghĩa hẹp là hình thức diễn ra phổ biến ở tất cả các quốc gia có đường biên giới chung trong điều kiện hòa bình

Trong lịch sử, các hình thức kinh tế song phương hoặc đa phương giữa các quốc gia có đường biên giới chung, hoặc giữa các quốc gia trong khu vực đã có nhiều hình thức liên kết thông thường, với những cấp độ khác nhau như: Khu vực thương mại tự do; liên minh thuế quan; thị trường chung; liên minh kinh tế; liên minh tiền tệ Bên cạnh đó, ở những vùng, địa phương có những điều kiện khác nhau

đã xuất hiện nhiều hình thức, mô hình kinh tế cụ thể, bao gồm:

+ Các vùng tăng trưởng kinh tế, là hình thức hợp tác kinh tế giữa các vùng nằm kề nhau về địa lý của các nước láng giềng thậm chí ở một số địa phương trong cùng một quốc gia, cho phép khai thác những thế mạnh và hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh hơn về thời gian, thấp hơn về chi phí Hơn nữa, chúng còn cho phép tận dụng những ưu điểm, bổ sung lẫn nhau trong mỗi thành viên để đạt hiệu quả kinh tế với quy mô lớn

Trang 24

+ Các thỏa thuận về thương mại miễn thuế giữa các quốc gia, thực hiện các quy định miễn trừ thuế quan cho một số loại hàng hóa được trao đổi giữa các nước thành viên, là cơ sở để phát triển tới hình thức liên kết kinh tế cao hơn, đó là liên minh thuế quan

+ Các đặc khu kinh tế như khu công nghiệp, khu chế xuất

Tính đa dạng trong các loại hình và yếu tố quyết định cho sự lựa chọn một

mô hình cụ thể phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, những điều kiện cần và đủ

để quyết định những loại hình phù hợp, có hiệu quả Thông qua các hình thức, các cấp độ phát triển khác nhau của liên kết kinh tế, căn cứ theo đặc điểm của một loại hình KTCK cho phép áp dụng những chính sách riêng trong một phạm vi không gian, thời gian xác định mà ở đó đã có giao lưu kinh tế biên giới phát triển sẽ hình thành khu KTCK Qua những phân tích trên, chúng ta có thể hiểu: Khu kinh tế cửa khẩu là một không gian kinh tế xác định gắn với cửa khẩu, có dân cư hoặc không có dân cư sinh sống và được thực hiện những cơ chế, chính sách phát triển riêng phù hợp với đặc điểm ở đó nhằm đưa lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

Tuy nhiên, có một điều dễ thấy là quy mô, mức độ hoạt động kinh tế - thương mại diễn ra khác nhau giữa các vùng, miền, khu vực biên giới cả nước vì nó phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân khác nhau: trình độ phát triển kinh tế; điều kiện

tự nhiên; vị trí địa lý; chính sách biên mậu; các tiềm năng, thế mạnh tại chỗ; sự ổn định về an ninh chính trị Vì vậy, xuất hiện một nội dung rộng hơn, bao quát hơn trước tức giao lưu kinh tế qua biên giới là tất cả các hoạt động kinh tế - thương mại, đầu tư khoa học và công nghệ qua các cửa khẩu biên giới, giữa các quốc gia có đường biên giới chung Nội dung của giao lưu kinh tế qua biên giới theo nghĩa rộng không chỉ đơn thuần là buôn bán, trao đổi hàng hóa thông thường, mà còn bao hàm cả các hoạt động về hợp tác khoa học - công nghệ, đầu tư lẫn nhau, hoạt động XNK, liên doanh phát triển kết cấu hạ tầng, du lịch qua biên giới Chúng

ta thấy rõ rằng, giao lưu kinh tế qua biên giới được phát triển từ hình thức trao đổi hàng hóa đơn giản trở thành các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng Kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, Thái Lan cho thấy, đây chính là một

Trang 25

hướng phát triển quan trọng để thành lập các khu mậu dịch tự do biên giới, khu hợp tác kinh tế tiểu vùng, khu KTCK

Khái niệm về khu KTCK cho thấy có những điểm giống và khác so với các

mô hình kinh tế: Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao Để rõ hơn về khu KTCK, chúng ta xem xét nó trong sự so sánh với các mô hình kinh tế khác:

- Khu công nghiệp, là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên của Chính phủ hay địa phương, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

- Khu chế xuất, là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu với hoạt động xuất khẩu,

có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống, được hưởng một số chế độ ưu tiên đặc biệt của Chính phủ, do Chính phủ hay Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

- Khu công nghệ cao, là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, gồm nghiên cứu, triển khai khoa học - công nghệ, đào tạo các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác định, được hưởng chế độ ưu tiên nhất định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập

Theo luật đầu tư số 59/2005/QH quy định tại điều 3 về giải thích từ ngữ thì Khu kinh tế được định nghĩa: “Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ”

1.1.1.2 Vai trò của sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu

- Thúc đẩy mở rộng thị trường và lưu thông hàng hóa

Khu KTCK phát triển tạo điều kiện để tỉnh Cao Bằng và các địa phương khác trong nước mở rộng thị trường XNK, giảm chi phí trung gian do đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trao đổi Khu KTCK sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền sản xuất hàng hóa, tạo ra sự phát triển ở các vùng, đặc biệt là các tỉnh biên giới để hình thành nên một khu vực thị

Trang 26

trường rộng lớn có khả năng thu hút và thâm nhập với các khu vực thị trường khác Sự phát triển của thị trường do khu KTCK tạo ra còn có tác động thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động xã hội, tạo thêm những ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn người lao động không chỉ ở khu vực cửa khẩu mà ở nhiều vùng lân cận Trao đổi thương mại thông qua khu KTCK đã góp phần tạo ra sự biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế của khu, vùng và cả nước, đặc biệt là các tỉnh biên giới với các nước từ tình trạng sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa

- Thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội vùng cửa khẩu

+ Thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn: Khu KTCK sẽ tạo điều kiện góp phần hiện đại hóa nông thôn và thúc đẩy nông nghiệp phát triển Thông qua hoạt động của khu KTCK, các sản phẩm nông nghiệp có được thị trường tiêu thụ, hạ giá thành, nâng cao chất lượng Mặt khác, chúng ta sẽ có điều kiện nhập từ nước khác nhiều thiết bị, vật tư, giống cây trồng, vật nuôi cần thiết, học hỏi được nhiều kinh nghiệm của họ để phát triển nông nghiệp Sự phát triển khu KTCK sẽ tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn, tạo thêm nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ thu hút lao động nông nghiệp, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh, của vùng và cả nước

+ Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp: Khu KTCK sẽ tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên và nhân lực để phát triển các ngành công nghiệp địa phương cũng như khả năng hợp tác để phát triển các ngành công nghiệp mới như bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, các ngành chế tạo, công nghiệp chế biến

+ Quá trình phát triển khu KTCK sẽ tạo điều kiện cải thiện đáng kể hệ thống kết cấu hạ tầng của tỉnh Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông, thông tin liên lạc sẽ từng bước được hiện đại hóa Điều kiện kết cấu hạ tầng được cải thiện sẽ góp phần làm cho thương mại phát triển, tăng sức đầu tư, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân

+ Mở rộng hoạt động du lịch: Phát triển khu KTCK sẽ tạo điều kiện để khai thác tốt hơn tiềm năng du lịch Khách du lịch nước ngoài sẽ có điều kiện tiếp cận

Trang 27

với các trung tâm du lịch của nhau, thông qua đó đến các khu du lịch khác trong tỉnh và cả nước

+ Góp phần tăng trưởng kinh tế: Trao đổi kinh tế thương mại ở khu KTCK góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, vùng theo hướng phát triển công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, khơi dậy tiềm năng thế mạnh của tỉnh, vùng, từ đó giảm bớt những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, giúp địa phương và vùng phụ cận cải thiện cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự ra đời trong tương lai một số trung tâm thương mại quan trọng

+ Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống vật chất, tinh thần, tạo thêm công ăn, việc làm cho nhân dân địa phương Việc hình thành và phát triển khu KTCK thúc đẩy trao đổi thương mại, phát triển ngành nghề sản xuất, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế do đó kích thích tăng trưởng kinh tế và thu nhập dân cư Buôn bán tại khu KTCK cũng làm giảm bớt tỉ lệ đói nghèo, đời sống nhân dân được nâng cao từng bước Sự phát triển khu KTCK còn tạo điều kiện hình thành các khu dân cư tập trung dọc biên giới, phát triển kết cấu hạ tầng, các tuyến đường giao thông, hệ thống bưu chính viễn thông, hệ thống chợ, mạng lưới cung cấp điện góp phần cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của dân cư, đẩy mạnh giao lưu kinh tế văn hóa, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng khu vực biên giới, thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

+ Thúc đẩy quan hệ hợp tác về khoa học, đào tạo và các lĩnh vực khác: Phát triển khu KTCK sẽ là cơ sở để thúc đẩy quan hệ hợp tác về khoa học, đào tạo Cùng với việc thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế hai bên sẽ có điều kiện trao đổi nghiên cứu khoa học, phối hợp đào tạo Trong quá trình phát triển khu KTCK trong những năm gần đây, việc hợp tác khoa học giữa các nước chung biên giới và Việt Nam đã được đẩy mạnh một bước trong các lĩnh vực kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật chế biến sản phẩm, công nghiệp khai thác tài nguyên và hương liệu thiên nhiên Hợp tác kinh tế tại khu KTCK tạo điều kiện để các nước tăng cường hợp tác văn hóa như tôn tạo, bảo tồn các khu di tích, thắng cảnh, phát triển kết cấu hạ tầng du lịch như đường sá, khách sạn, dịch vụ y tế, khu vui chơi giải trí Ngoài ra, hai nước

Trang 28

còn hợp tác trong việc bảo vệ môi trường, xã hội: sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, nước; ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường qua biên giới; hợp tác chống

ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại; bảo vệ sức khỏe cộng đồng, ngăn ngừa các dịch bệnh lây lan qua biên giới Tuy nhiên, đi kèm với những vai trò tích cực do khu KTCK đem lại là nhiều vấn đề xã hội nhức nhối như buôn lậu, ma túy, mại dâm, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng

- Xây dựng và hoàn thiê ̣n các cơ chế chính sách ưu đãi cho khu KTCK nhằm thu hút đầu tư phát triển khu KTCK

- Huy động nội lực, tăng cường thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để đầu

tư xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội trong vùng, đảm bảo phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất nhập khẩu, sản xuất và đời sống dân cư

- Khai thác những lợi thế, phát triển mạnh các ngành có tiềm năng nh ằm đáp ứng ngày càng cao hơn cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội

- Đẩy mạnh phát triển văn hóa- giáo dục, nâng cao chất lượng và hiệu quả của

sự nghiệp giáo dục đào tạo, đảm bảo sự đồng đều về chất lượng giáo dục trong toàn vùng, tăng cường công tác xóa mù chữ cho dân cư trong độ tuổi

- Giải quyết việc làm, nâng cao đờ i sống vâ ̣t chất, tinh thần của người dân

- Bảo vệ, đầu tư, cải thiện và phát triển môi trường bền vững

1.1.2 Tổng quan về hàng hóa tạm nhập tái xuất

1.1.2.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động tạm nhập - tái xuất

Hoạt động xuất nhập khẩu là sự mở rộng của các quan hệ mua bán trong nước và ngoài nước Trước đây, khi chưa có quan hệ trao đổi hàng hoá, cá nhân mỗi con người cũng như mỗi quốc gia đều tự thoả mãn lấy các nhu cầu của mình, lúc đó mọi nhu cầu của con người cũng như của quốc gia bị hạn chế Quan hệ mua bán trao đổi hàng hoá xuất hiện khi có sự ra đời cuả quá trình phân công lao động xã hội

và chuyên môn hoá, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và tác động của những quy luật kinh tế khách quan, phạm vi chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội ngày càng rộng, nó vượt ra khỏi một

Trang 29

nước và hình thành nên các mối quan hệ giao dịch quốc tế Chuyên môn hoá và phân công lao động quốc tế càng sâu sắc, các mối quan hệ quốc tế càng được mở rộng, các nước càng có sự phụ thuộc lẫn nhau và hình thành các mối quan hệ buôn bán với nhau

Xuất nhập khẩu là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Kinh doanh xuất nhập khẩu là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước

Ngày nay, khi quá trình phân công lao động quốc tế đang diễn ra hết sức sâu sắc, xuất nhập khẩu được xem như là một điều kiện tiền đề cho sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia Thực tế cho thấy, không một quốc gia nào có thể tồn tại chứ chưa nói gì đến phát triển nếu tự cô lập mình không quan hệ kinh tế với thế giới Xuất nhập khẩu đã trở thành vấn đề sống còn vì nó cho phép thay đổi cơ cấu sản xuất và nâng cao mức tiêu dùng cuả dân cư một quốc gia Bí quyết thành công trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước là mở rộng thị trường quốc tế và tăng nhanh xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua chế biến có hàm lượng kỹ thuật cao

Sự ra đời và phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với quá trình phân công lao động quốc tế Xã hội càng phát triển, phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc Điều đó phản ánh mối quan hệ phụ thuộc kinh tế ngày càng tăng lên Xuất nhập khẩu cũng vì thế mà ngày càng mở rộng và phức tạp

Hoạt động xuất nhập khẩu xuất hiện từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên và

xã hội giữa các quốc gia Chính sự khác nhau đó nên đều có lợi là mỗi nước chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng cụ thể phù hợp với điều kiện sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hoá của mình để xuất nhập khẩu những hàng hoá cần thiết khác Điều quan trọng là mỗi nước phải xác định cho được những mặt hàng nào mà nước mình có lợi nhất trên thị trường cạnh tranh quốc tế Sự gia tăng của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu xét về kim ngạch cũng như chủng loại hàng hoá đã làm cho vấn đề lợi ích của mỗi quốc gia được xem xét một cách đặc biệt chú trọng hơn

Trang 30

Tạm nhập tái xuất là việc thương nhân Việt Nam mua hàng của một nước để bán cho một nước khác, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam [Bộ thương mại, 1998] Ngoài ra, theo Nghị định 12/2006/NĐ- CP, hàng TNTX phải làm thủ tục hải quan khi nhập khẩu vào Việt Nam và chịu sự giám sát của hải quan cho tới khi thực xuất khẩu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.Thông thường ở VN là tạm nhập tái xuất (TNTX), hàng hóa làm thủ tục theo loại hình tạm nhập cảnh tạm thời vào một nước Sau đó, doanh nghiệp đã làm thủ tục tạm nhập sẽ tiến hành làm thủ tục tái xuất tại hải quan cửa khẩu, để tái xuất hàng đi 1 nước thứ ba nào đó, trong suốt quá trình từ khi nhập vào đến khi tái xuất hết sang nước thứ ba phải chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan

Tóm lại, “Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam”.[Luật Hải quan, 2001]

Tạm nhập - tái xuất là hoạt động kinh doanh để đem lại lợi nhuận lớn, là phương tiện thúc đẩy kinh tế Mở rộng tạm nhập - tái xuất để tăng thu ngoại tệ, nâng cao kinh tế tạo điều kiện cho phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần hiện đại hoá đất nước Cụ thể:

Thứ nhất, TNTX góp phần thúc đẩy các ngành dịch vụ liên quan Tận dụng vị trí địa lý, phát huy năng lực nghiệp vụ chuyên môn, quan hệ bạn hàng ngoài nước, nhanh nhạy về thông tin kinh tế, thị trường, giá cả các thương nhân tạm nhập khẩu

từ thị trường ngoài nước này những mặt hàng trong nước không có hoặc chưa cần để tái xuất khẩu sang thị trường ngoài nước khác có nhu cầu, hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá, sau khi tính đủ chi phí Ngoài hiệu quả kinh tế doanh nghiệp thu được, hoạt động TNTX góp phần thúc đẩy phát triển nhiều dịch vụ trong nước liên quan như hậu cần, kho bãi, cảng, vận tải đường bộ, đường thủy, hàng không, bốc xếp, bảo hiểm thu được phí và tạo thêm việc làm Mấy năm qua, phương thức kinh doanh TNTX tăngtrưởng tốt, giá trị kim ngạch hằng năm đạt hàng chục tỷ USD Mặt hàng TNTX

Trang 31

rất phong phú như xăng, dầu, các loại nguyên vật liệu, khoáng sản, phân bón, thực phẩm, nông sản, rượu bia, thuốc lá Tỷ trọng các mặt hàng thay đổi từng năm theo tín hiệu thị trường

Thứ hai, TNTX góp phần hạn chế nạn buôn lậu và vi phạm thương mại, trốn thuế Thực tế hoạt động TNTX thời gian qua bộc lộ nhiều bất cập và đang được cơ quan quản lý nhà nước từng bước chấn chỉnh Đó là có quá nhiều DN tham gia KD theo phương thức này, trong đó không ít DN không đủ năng lực chuyên môn về mặt hàng, thị trường, tài chính, cơ sở vật chất, v.v dẫn đến hiện tượng tranh mua, tranh bán, cạnh tranh không lành mạnh cả tại thị trường NK và thị trường XK, tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài ép giá và TNTX nhiều mặt hàng tiềm ẩn nguy

cơ làm ô nhiễm môi trường trong nước Hành vi gian lận thương mại trong KD TNTX, như có tạm nhập nhưng không tái xuất diễn ra không phải ít, như vụ bắt giữ hàng xăng dầu tạm nhập được bán sang mạn tàu tại vùng biển miền trung mới đây Các cơ quan chức năng, nhất là lực lượng hải quan cần thường xuyên siết chặt quy trình công tác, giám sát lượng hàng tạm nhập, luồng tuyến hàng đi nhằm bảo đảm hàng thực xuất đúng khối lượng, chủng loại Một hành vi buôn lậu, gian lận thương mại khác là hàng tạm nhập, sau khi tái xuất lại thẩm lậu trở lại trong nước, chủ yếu qua đường bộ các nước chung biên giới Theo quy định, địa điểm và cửa khẩu tái xuất là các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và các cửa khẩu, điểm thông quan trong khu kinh tế cửa khẩu Các lô hàng này (trong đó có nhiều mặt hàng không khuyến khích tiêu dùng như rượu, bia, thuốc lá) sau khi tái xuất được chia nhỏ, xé lẻ thẩm lậu trở lại trong nước qua đường mòn, lối mở, hai bên cánh gà cửa khẩu biên giới, lợi dụng chính sách của Nhà nước ta tạo thuận lợi cho việc qua lại, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới Để từng bước hạn chế, đẩy lùi tình trạng tiêu cực này, vai trò của lực lượng biên phòng, công

an, quản lý thị trường hết sức quan trọng

Thứ ba, góp phần tạo môi trường kinh doanh lành mạnh Phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực, lành mạnh hóa nhằm phát triển bền vững loại hình kinh doanh TNTX là công việc thường xuyên của các cơ quan quản lý nhà nước, nhằm tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch

Trang 32

1.1.2.2 Các hình thức tạm nhập tái xuất

- Tạm nhập tái xuất theo hình thức kinh doanh

+ Hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất Trừ trường hợp hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu và danh mục hàng hóa tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu quy định tại Phụ lục I, II ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 của Bộ Công thương quy định về hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu hàng hoá và hàng hoá kinh doanh tạm nhập tái xuất có điều kiện quy định tại Phụ lục III, IV, V ban hành kèm theo Thông tư 05/2014/TT-BCT, doanh nghiệp Việt Nam thành lập theo quy định pháp luật (sau đây gọi là doanh nghiệp) được quyền kinh doanh tạm nhập, tái xuất không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh và không cần giấy phép của Bộ Công thương

Kinh doanh tạm nhập tái xuất hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp kinh doanh phải có Giấy phép tạm nhập, tái xuất của Bộ Công Thương theo quy định của pháp luật

+ Thời hạn lưu hành hàng hóa trong lãnh thổ Việt Nam Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định 12/2006/NĐ-CP thì hàng hóa tạm nhập tái xuất được lưu lại tại Việt Nam không quá một trăm hai mươi ngày, kể từ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tạm nhập Trường hợp cần kéo dài thời hạn thương nhân có văn bản gửi Cục hải quan tỉnh, thành phố nơi làm thủ tục đề nghị gia hạn; thời hạn gia hạn mỗi lần không quá ba mươi ngày và không quá hai lần gia hạn cho mỗi lô hàng tạm nhập tái xuất

- Xuất hàng hoá theo hợp đồng thuê, mượn hoặc để tái chế, bảo hành Hàng hoá là đối tượng tạm nhập tái xuất theo hợp đồng thuê, mượn hoặc để tái chế, bảo hành không thể là hàng hoá thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu Thời hạn tạm nhập tái xuất được thực hiện theo thoả thuận của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài và phải đăng kí với Bộ Công thương

Trang 33

1.1.2.3 Đặc điểm của hoạt động tạm nhập tái xuất

Dưới góc độ một phương thức cụ thể trong hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất luôn liên quan đến 3 nước

(nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu) Vì vậy, giao dịch tạm nhập, tái xuất còn được gọi là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác Quan hệ này diễn ra giữa các chủ thể kinh tế khác nhau nên chịu sự điều tiết của các nước khác nhau và

hệ thống luật điều chỉnh phức tạp hơn nhiều só với buôn bán trong nước, ngoài ra, còn chịu sự điều tiết chính của các điều ước, quy tắc, thông lệ quốc tế Đặc thù này đòi hỏi việc xây dựng, ban hành các quy định pháp luật liên quan và công tác QLNN phải phù hợp với những cam kết quốc tế của nước có thương nhân hoạt động tạm nhập, tái xuất với các nước xuất khẩu, nước nhập khẩu và cơ chế quản lý hoạt động thương mại quốc

tế của các nước liên quan Đồng thời đòi hỏi thương nhân hoạt động tạm nhập, tái xuất ngoài việc phải hiểu rõ và nắm bắt thường xuyên các cơ chế, chính sách liên quan hiện hành và những thay đổi của pháp luật và chính sách của quốc gia còn phải nắm rõ những vấn đề cơ chế, chính sách quản lý liên quan của nước ngoài, nhất là phải hiểu rõ những quy định cụ thể của nước đối tác về mặt hàng, lĩnh vực mà mình kinh doanh cũng như hiểu và sử dụng tốt những quy định mang tính quốc tế

Thứ hai, hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở

hai hợp đồng riêng biệt: hợp đồng mua hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng do thương nhân Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu Hợp đồng mua hàng có thể được ký trước hoặc sau hợp đồng bán hàng và hai giao dịch này về nguyên tắc là độc lập với nhau, không liên quan đến nhau Như vậy, theo đúng nghĩa của nó, trong hoạt động này, hàng hóa đi từ nước xuất khẩu đến nước tái xuất, rồi lại được xuất khẩu từ nước tái xuất sang nước nhập khẩu Ngược chiều với sự vận động của hàng hóa là sự vận động của đồng tiền xuất phát từ nước nhập khẩu sang nước tái xuất và được chuyển sang nước xuất khẩu Bản chất của tạm nhập, tái xuất là thương nhân mua hàng hóa với giá thấp ở nước này rồi bán sang nước khác với giá cao hơn (xuất khẩu ra nước ngoài chính những hàng hóa đã nhập về, chưa qua chế biến) để thu lợi nhuận

Trang 34

Thứ ba, bản chất của hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất là mua hàng

hóa với giá thấp ở nước này rồi bán với giá cao hơn ở nước khác (xuất khẩu ra nước ngoài chính những hàng hóa đã nhập khẩu trước đó, chưa qua chế biến ở nước tái xuất) để thu về số ngoại tệ lớn hơn số ngoại tệ đã bỏ ra ban đầu trên cơ sở chênh lệch giá cả của hàng hóa tạm nhập, tái xuất giữa các quốc gia Ưu điểm của hoạt động này là thương nhân có thể thu được lợi nhuận mà không phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng máy móc, thiết bị, khả năng thu hồi vốn nhanh hơn Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất đòi hỏi thương nhân phải bí mật thông tin về các đối tác, khách hàng và có sự nhạy bén tình hình thị trường và giá

cả, sự chính xác và chặt chẽ trong các giao dịch hợp đồng mua bán ngoại thương và phải có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm chuyên môn

1.1.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản

lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đích đúng ý chí của con người quản lý và phù hợp với quy luật khách quan

Dưới góc độ quản lý một hệ thống xã hội, quản lý được hiểu là quá trình lập

kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động Quá trình quản lý gồm các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát

Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế QLNN về kinh tế được thể hiện qua chức năng kinh tế và quản lý kinh

tế của Nhà nước Nhà nước định hướng, dẫn dắt sự phát triển kinh tế, bảo đảm

Trang 35

thống nhất các lợi ích cơ bản trong toàn xã hội và khắc phục những hậu quả do nền kinh tế thị trường gây ra Thành công của mỗi quốc gia khi chuyển sang nền kinh tế thị trường chủ yếu phụ thuộc vào sự kết hợp giữa khả năng điều tiết của thị trường

và sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Vai trò của nhà nước được thực hiện qua các chức năng kinh tế của nó

Từ những phân tích trên, có thể hiểu QLNN đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật của cơ quan QLNN để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm soát hoạt động tạm nhập, tái xuất trong nền kinh tế thị trường và bối cảnh hội nhập quốc tế về kinh tế

Tạm nhập, tái xuất là hình thức của thương mại quốc tế, là quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của các nước khác nhau, liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau giữa các nước Điều này làm cho hoạt động tạm nhập, tái xuất nói riêng phức tạp hơn rất nhiều so với các quan hệ thương mại, buôn bán trong nước Quản lý ngoại thương không thể không quản lý hoạt động tạm nhập, tái xuất Ở đây thực hiện nguyên tắc quản lý theo ngành kinh tế quốc dân của Nhà nước

Bối cảnh hội nhập quốc tế về kinh tế cũng làm phát sinh những hiện tượng tiêu cực như lợi dụng cơ chế, chính sách, kẽ hở trong quản lý hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất để buôn lậu và gian lận thương mại Các tổ chức tội phạm quốc tế cũng tận dụng các cơ hội từ hạn chế trong công tác quản lý ở các nước đang phát triển như Việt Nam để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật

Do đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động tạm nhập, tái xuất là tất yếu và ngày càng phải được tăng cường

* Chức năng quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng đối với hàng tạm nhập tái xuất hàng hóa qua Khu kinh tế cửa khẩu:

- Là cơ quan chủ trì trong việc thống nhất sự phối hợp các lực lượng chuyên ngành tại cửa khẩu, các cơ quan liên quan triển khai thực hiện Quy chế quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua Khu kinh tế cửa khẩu Đề xuất UBND tỉnh thành lập các đoàn, tổ kiểm tra, giám sát cấp tỉnh để tiến hành kiểm tra, giám sát thường xuyên hoặc đột xuất về hoạt động TNTX;

- Tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng hướng dẫn quy trình điều tiết hàng

Trang 36

hóa TNTX, thể hiện rõ biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương và tổ chức thực hiện quy trình điều tiết hàng hòa TNTX trên địa bàn tỉnh;

- Tham mưu cho UBND tỉnh công tác quản lý hoạt động TNTX hàng hóa trong phạm vi được giao; công bố các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới trong khu kinh tế cửa khẩu đủ điều kiện để tái xuất hàng hóa và thực hiện nhiệm vụ do chủ tịch UBND tỉnh ủy quyền;

- Thực hiện tiếp nhận, thẩm định hồ sơ của Thương nhân, trình UBND tỉnh xem xét lựa chọn, công bố thương nhân thực hiện TNTX hàng hóa qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng;

- Phối hợp với các lực lượng chuyên ngành tại cửa khẩu, các doanh nghiệp hoạt động TNTX hàng hóa qua địa bàn tỉnh để chủ động tham mưu cho UBND tỉnh trong việc điều tiết, tránh việc ách tắc hàng hóa xảy ra;

- Chỉ đạo các Ban quản lý cửa khẩu (hoặc văn phòng đại diện, tổ công tác) phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng tại cửa khẩu quản lý, giám sát tình hình XNK, tái xuất hàng hóa, số lượng hàng hóa tồn đọng tại các cửa khẩu để làm

cơ sở cho việc điều tiết hàng hóa

1.2 Nội dung quản lý hàng tạm nhập tái xuất qua khu kinh tế cửa khẩu

1.2.1 Xây dựng, đề xuất ban hành pháp luật, chính sách quản lý hàng tạm nhập tái xuất

Tham gia ý kiến với các Bộ , ngành, địa phương trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch liên quan đến hoạt động quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa qua Khu kinh tế cửa khẩu

Trình UBND tỉnh dự thảo các quyết định, các văn bản khác về QLNN đối với lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đã ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi QLNN của Ban

Các cơ chế, chính sách, quy định pháp luật được xây dựng, ban hành tập trung điều chỉnh, định hướng hoạt động tạm nhập, tái xuất về điều kiện kinh doanh, chủ thể kinh doanh, các loại hình và danh mục hàng hóa cụ thể, thể chế hóa các công cụ quản lý, điều tiết, quy định về cửa khẩu, cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát,

Trang 37

quy định các hành vi vi phạm và xử lý vi phạm

1.2.2 Quản lý thuế phí liên quan đến hàng tạm nhập tái xuất

1.2.2.1 Đối với thuế giá trị gia tăng (GTGT)

Thông tư số 06/2012 của Bộ Tài Chính có quy định cụ thể đối tượng không chịu thuế GTGT như sau: “Hàng hóa chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu, tái nhập khẩu; nguyên liệu, nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất, gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài” sẽ không chịu thuế GTGT Theo hướng dẫn nêu trên, hàng tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu không tiêu dùng ở Việt Nam thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT Hồ sơ, thủ tục để xác định và giải quyết việc không thu thuế GTGT trong trường hợp này được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

1.2.2.2 Đối với thuế nhập khẩu

Căn cứ Điều 1 Luật Thuế xuất khẩu-nhập khẩu thì: "Hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ thị trường trong nước đưa vào khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước, đều là đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu" Theo Điều 12 Nghị định 87/2010 của Chính phủ quy định các hàng hóa là tài sản di chuyển của tổ chức,

cá nhân Việt Nam hoặc nước ngoài mang vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam mang ra nước ngoài trong mức quy định thì sẽ được miễn thuế xuất - nhập khẩu, gồm:

- Hàng hóa tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập để tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm; máy móc, thiết bị, dụng cụ nghề nghiệp tạm nhập, tái xuất hoặc tạm xuất, tái nhập để phục vụ công việc trong thời hạn nhất định Như vậy, khi hết thời hạn hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm thì đối với hàng hóa tạm xuất phải được nhập khẩu trở lại Việt Nam và đối với hàng hóa tạm nhập phải tái xuất ra nước ngoài

- Hàng hóa là tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc nước ngoài mang vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam mang ra nước ngoài trong mức quy định, gồm: (a) Hàng hóa là tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân người nước ngoài

Trang 38

khi được phép cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc chuyển ra nước ngoài khi hết thời hạn cư trú, làm việc tại Việt Nam; (b) Hàng hóa là tài sản di chuyển của tổ chức, cá nhân Việt Nam được phép đưa ra nước ngoài để kinh doanh làm việc, khi hết thời hạn nhập khẩu lại Việt Nam; (c) Hàng hóa là tài sản di chuyển của cá nhân người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài được phép về Việt Nam định cư hoặc mang ra nước ngoài khi được phép định cư ở nước ngoài; hàng hóa là tài sản di chuyển của người nước ngoài mang vào Việt Nam khi được phép định cư tại Việt Nam hoặc mang ra nước ngoài khi được phép định cư ở nước ngoài Như vậy, hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam vẫn sẽ phải đóng thuế Nếu trong trường hợp hàng tạm nhập khẩu để tái xuất thì sẽ được miễn thuế khi thực hiện việc tái xuất ra nước ngoài.Nếu hàng hóa không tái xuất mà tiêu thụ nội địa hoặc tiến hành thủ tục thanh

lý thì không được miễn thuế mà phải nộp thuế lại

1.2.3 Quản lý hồ sơ, số lượng, chất lượng hàng tạm nhập tái xuất

1.2.1.1 Hồ sơ hải quan tạm nhập

Khi làm thủ tục hải quan tạm nhập, ngoài những chứng từ như đối với hàng nhập khẩu thương mại, thương nhân thực hiện:

- Đăng ký cửa khẩu tái xuất hàng hoá trên ô “ghi chép khác” của tờ khai hải quan mẫu HQ/2012-NK ban hành kèm theo Thông tư số 15/2012/TT-BTC ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mẫu tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tờ khai hải quan điện tử nhập khẩu ban hành kèm Thông tư số 196/2012/TT-BTC hoặc chỉ tiêu thông tin số 1.68 - Phần ghi chú, Phụ lục II Thông tư số 22/2014/TT-BTC;

- Hợp đồng xuất khẩu: Nộp 01 bản chụp có ký tên, đóng dấu xác nhận của người khai hải quan; Khi làm thủ tục tạm nhập, công chức hải quan kiểm tra, đối chiếu hợp đồng xuất khẩu với bộ hồ sơ tạm nhập, ghi rõ số tờ khai tạm nhập, ký tên, đóng dấu công chức trên hợp đồng xuất khẩu và trả cho người khai hải quan để làm thủ tục tái xuất

Trường hợp có sự thay đổi về hợp đồng xuất khẩu hàng hoá, thương nhân phải có thông báo cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục tạm nhập trước khi làm thủ tục tái xuất; cơ quan hải quan thu hồi hợp đồng xuất khẩu cũ để huỷ bỏ nội dung

Trang 39

xác nhận, đồng thời xác nhận trên hợp đồng xuất khẩu mới và trả cho người khai hải quan để làm thủ tục tái xuất

- Nộp vận đơn đường biển theo quy định tại Điều 7 Thông tư số BCT: 01 bản chụp có ký tên, đóng dấu xác nhận của người khai hải quan;

05/2014/TT Nộp Giấy chứng nhận mã số kinh doanh tạm nhập tái xuất do Bộ Công Thương cấp đối với hàng hoá phải có giấy phép tạm nhập tái xuất theo quy định tại Thông tư số 05/2014/TT-BCT: 01 bản chụp có ký tên, đóng dấu xác nhận của người khai hải quan và xuất trình bản chính để đối chiếu;

- Nộp Giấy phép tạm nhập, tái xuất hàng hoá do Bộ Công Thương cấp đối với mặt hàng theo quy định phải được Bộ Công Thương cấp phép: 01 bản chính Trường hợp tạm nhập nhiều lần thì Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tạm nhập lần đầu thực hiện việc cấp Phiếu theo dõi trừ lùi theo hướng dẫn của Tổng cục Hải quan

1.2.1.2 Hồ sơ hải quan tái xuất

Khi làm thủ tục tái xuất, ngoài những chứng từ như đối với hàng hoá xuất khẩu thương mại, người khai hải quan phải khai cụ thể hàng hoá tái xuất thuộc tờ khai tạm nhập nào trên ô “chứng từ đi kèm” của tờ khai hải quan mẫu HQ/2012-XK ban hành kèm theo Thông tư số 15/2012/TT-BTC ngày 08 tháng 02 năm 2012 của

Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mẫu tờ khai hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc tờ khai hải quan điện tử nhập khẩu ban hành kèm Thông tư số 196/2012/TT-BTC hoặc khai vào chỉ tiêu thông tin số 2.3 - Số tờ khai tạm nhập tái xuất tương ứng, Phụ lục II Thông tư số 22/2014/TTBTC

Địa điểm làm thủ tục hải quan: Hàng hoá kinh doanh tạm nhập tái xuất thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư này phải làm thủ tục hải quan tạm nhập, tái xuất tại cửa khẩu tạm nhập hàng hoá; Hàng hoá tái xuất được vận chuyển qua các cửa khẩu theo quy định

1.2.1.3 Quản lý số lượng, chất lượng hàng tạm nhập tái xuất

Khi có hiện tượng hàng hóa ách tắc tại cảng, cửa khẩu và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ quan liên quan thông báo cho Bộ Công Thương biết để xem xét thực hiện việc điều tiết hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất Việc điều

Trang 40

tiết hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất được thực hiện như sau:

- Bộ Công Thương áp dụng việc cấp Giấy phép tạm nhập, tái xuất đối với một số loại hàng hóa Hồ sơ, thủ tục cấp Giấy phép thực hiện như quy định tại Chương III Thông tư số 05/2013/TT-BCT ngày 18 tháng 02 năm 2013 của Bộ Công thương

- Trường hợp cần thiết, Bộ Công Thương có văn bản yêu cầu doanh nghiệp tạm ngừng đưa hàng về Việt Nam

- Hàng thực phẩm đông lạnh thuộc Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư (Thông tư số 05/2013/TT-BCT ngày 18 tháng 02 năm 2013 của Bộ Công thương) được tái xuất qua cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính và cửa khẩu, điểm thông quan trong khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập đã có đủ các cơ quan kiểm soát chuyên ngành theo quy định

- Hàng hóa thuộc Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này được tái xuất qua cửa khẩu quốc tế và cửa khẩu, điểm thông quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập đã có đủ các cơ quan kiểm soát chuyên ngành theo quy định Hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa đã qua sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Thông tư này chỉ được tái xuất qua cửa khẩu quốc tế.[Luật thương mại, 2006]

Trách nhiệm của chi cục hải quan trong quản lý hoạt động TN-TX - Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập thực hiện kiểm tra, rà soát tình trạng các lô hàng tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập quá thời hạn chưa làm thủ tục tái xuất, tái nhập (sử dụng nghiệp vụ ITI) để xử lý theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Thông tư số 38/2015/TTBTC Trường hợp hết thời hạn tái xuất thì Hệ thống sẽ cảnh báo bằng dấu *;

- Chi cục Hải quan nơi mở tờ khai tái xuất theo dõi các lô hàng đã làm thủ tục tái xuất nhưng chưa qua khu vực giám sát hải quan tại cửa khẩu xuất (sử dụng nghiệp vụ ITF và/hoặc chức năng “H Theo dõi trạng thái tờ khai” trên Hệ thống e-Customs), ngay sau khi quá thời hạn đăng ký vận chuyển của người khai hải quan

và đã được cơ quan hải quan chấp nhận mà chưa có thông tin xác nhận hàng đã vận chuyển đến điểm đích của Chi cục Hải quan cửa khẩu tái xuất thì hai bên phối hợp

Ngày đăng: 03/04/2023, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng (2016-2018) Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động thương mại biên giới, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động thương mại biên giới, Cao Bằng
Tác giả: Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Cao Bằng
Năm: 2016-2018
2. Bộ Công thương (2010) Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam, Nhà xuất bản Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: Nhà xuất bản Công thương
Năm: 2010
5. Bộ Công thương (2018), Thông tư số 12/2018/TT-BCT ngày 15/6/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2018/TT-BCT ngày 15/6/2018 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương và Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương
Nhà XB: Bộ Công thương
Năm: 2018
6. Bộ Tài chính (2015), Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
8. Chính phủ (2013), Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
9. Chính phủ (2015), Nghị định số 124/2015NĐ-CP ngày 19/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 124/2015NĐ-CP ngày 19/11/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2015
10. Chính phủ (2018), Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
11. Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân (2012), Giáo trình Kinh tế thương mại, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế thương mại
Tác giả: Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2012
12. Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2008), Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế
Tác giả: Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
13. Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà (2013), Giáo trình Quản lý học, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý học
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Huyền, Đoàn Thị Thu Hà, Đỗ Thị Hải Hà
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2013
14. Nguyễn Văn Tuấn, Trần Văn Hòe (2009), Giáo trình Thương mại quốc tế, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, NXB ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thương mại quốc tế
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn, Trần Văn Hòe
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
15. Nguyễn Minh Hiếu. 2011. Một số vấn đề về kinh tế cửa khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập, Nhà xuất bản Giáo dục: Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về kinh tế cửa khẩu Việt Nam trong quá trình hội nhập
Tác giả: Nguyễn Minh Hiếu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2011
20. Thủ tướng Chính phủ (2012), Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 07/92012 về việc tăng cường công tác QLNN đối với hoạt động kinh doanh TNTX, chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 07/92012 về việc tăng cường công tác QLNN đối với hoạt động kinh doanh TNTX, chuyển khẩu và gửi kho ngoại quan
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
21. Thủ tướng Chính phủ (2018), Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
22. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 thành lập Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng, Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 thành lập Khu kinh tế cửa khẩu tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2014
23. Tỉnh ủy Cao Bằng (2016), Sáu chương trình thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVIII, Công ty cổ phần in Việt Lập Cao Bằng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáu chương trình thực hiện nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVIII
Tác giả: Tỉnh ủy Cao Bằng
Nhà XB: Công ty cổ phần in Việt Lập Cao Bằng
Năm: 2016
24. Trần Thu Nga (2016) “Phát triển hoạt động thương mại biên giới trong tình hình mới”, Tạp chí tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hoạt động thương mại biên giới trong tình hình mới
Tác giả: Trần Thu Nga
Nhà XB: Tạp chí tài chính
Năm: 2016
3. Bộ Công thương (2014), Thông tư số 05/2014/TT-BCT ngày 27/01/2014 quy định về hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất một số loại hàng hóa, Hà Nội Khác
4. Bộ Công thương (2017), Thông tư số 11/2017/TT-BCT ngày 27/7/2017 quy định về hoạt động kinh doanh tạm nhập, tái xuất một số loại hàng hóa, Hà Nội Khác
7. Bộ Tài chính (2016), Công văn số 18371/BTC-TCHQ ngày 26/12/2016 gửi Thủ tướng chính phủ báo cáo đánh giá công tác QLNN, đấu tranh phòng, chống buôn lậu đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w