1. Trang chủ
  2. » Tất cả

So sánh các motif trong truyện Trạng Quỳnh của Việt Nam và Th’Mênh Chây của Campuchia

41 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Các Motif Trong Truyện Trạng Quỳnh Của Việt Nam Và Th’Mênh Chây Của Campuchia
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn Học So Sánh
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 765,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Ở TRANG 41 LỜI MỞ ĐẦU Đến với môn Nhập môn văn học so sánh, nhất là khi tiếp cận với đề tài nằm trong dòng chảy văn học dân gian bộ phận văn học được xem là cái nôi, là di sản của nền văn chươ. Khái niệm truyện trạng Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII tình hình các nước Đông Nam Á, tiêu biểu là các nước Đông Dương đều rơi vào tình trạng suy thoái, những cuộc nội chiến diễn ra liên miên và giặc ngoại xâm đe doạ. Nhân dân sống lầm than, cơ cực dưới sự áp bức bóc lột của các nhà cầm quyền. Từ đấy, khát vọng tự do và tình yêu chính nghĩa của nhân dân được dấy lên. Truyện trạng ra đời như một vũ khí chiến đấu, đánh thẳng vào giai cấp thống trị. Truyện trạng là một trong những sản phẩm đặc sắc của văn học dân gian các nước Đông Nam Á như Việt Nam có Trạng Quỳnh, Campuchia có Th’Mênh Chây, Lào có Xiêng Miệng,... Truyện trạng là kiểu truyện kể có kết cấu chuỗi. Hay nói cách khác, truyện trạng là một chuỗi những mẩu chuyện được kể xuyên suốt xoay quanh một nhân vật chính. Về nội dung, phần lớn là những cuộc đấu trí không khoan nhượng với cái xấu, cái ác nhằm mục đích đề cao trí tuệ, sự khéo léo của nhân vật chính. Nhân vật này thường là người xuất chúng, dũng cảm, có trí thông minh, óc sáng tạo và nhiều mưu mẹo. Đồng thời không hề ngần ngại khi đối diện với những thói hư tật xấu, sẵn sàng châm biếm, đả kích dù đó là lực lượng cường quyền hay thần quyền. “Những người đại diện cho bộ máy nhà nước, từ đỉnh cao là đức vua cho đến hàng thấp là quan lại ở các làng xã, thôn xóm, đều bị truyện trạng lôi ra tố cáo, vạch trần bộ mặt giả dối” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.10). Có nhiều ý kiến cho rằng truyện trạng là truyện kể về những ông trạng có thật, người thật, việc thật. Danh xưng trạng xuất phát từ Trạng nguyên, là người đỗ đầu trong các kỳ thi Đình thời phong kiến. Họ được định danh một cách rõ ràng, có tên tuổi, quê quán và danh phận. Đồng thời có tiểu sử đặc sắc, học cao, đỗ đạt, tên tuổi được ghi chép trong sử sách. Tuy vậy nhưng theo Trương Sỹ Hùng thì đó cũng chỉ “là những giai thoại, nhiều khi mang tính hư cấu, nhằm mục đích tôn vinh những nhân vật có danh tiếng” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.19). Bên cạnh đó cũng có những truyện trạng kể về những ông trạng không có thật hay còn gọi là trạng dân phong. Họ là những người do nhân dân sáng tạo, những người dù không đỗ đạt vẫn được xưng là trạng, “từ một con người gặp thời đại loạn bùng lên khắp chốn nhân gian như thế, mỗi dân tộc lại tự lưu truyền, sáng tạo thêm rồi gán cho một nhân vật” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.8). Mặc dù vậy nhưng họ vẫn là nhân vật trung tâm và có những tài lẻ xuất chúng. Như vậy, truyện trạng nhìn chung chứa đựng những giá trị giải trí và giáo dục, phê phán, lên án giai cấp thống trị đương thời. “Nhân vật trạng là tâm điểm nghệ thuật phản ánh một thực trạng xã hội đã và đang có những biểu hiện suy đồi về đạo đức, tha hóa về bản chất của tầng lớp trung lưu” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.21). Các nhân vật trạng dù là nhân vật có thật hoặc chỉ đơn thuần là sản phẩm tinh thần được nhân dân đúc kết đều được xem như là biểu trưng cho trí tuệ, tính lạc quan, sự thông minh, sắc sảo. Truyện trạng như là một sản phẩm tinh thần đem đến cho người đọc những phút giây thú vị, vui vẻ nhưng đồng thời cũng là vũ khí của nhân dân trong việc chống lại những thế lực thống trị. Tiếng cười trong truyện trạng có thể là tiếng cười hài hước bắt nguồn từ những hình ảnh tinh nghịch, những trò chơi xỏ của nhân vật trung tâm cho đến những tiếng cười châm biếm, mỉa mai những giai cấp thống trị trong xã hội. Mỗi quốc gia đều “sở hữu” riêng cho mình một hay nhiều ông trạng và mỗi ông trạng sẽ có những phong cách, lối sống, nếp nghĩ riêng theo từng tộc người và là biểu tượng cho tính cách của dân tộc. 2.Sơ nét về truyện Trạng Quỳnh và truyện Th’Mênh Chây 2.1. Truyện Trạng Quỳnh Theo cuốn Truyện trạng, Tinh hoa văn học dân gian người Việt, quyển 1, truyện Trạng Quỳnh gồm 66 mẩu truyện, phần lớn là những cuộc đấu trí mà ở đó, Trạng Quỳnh bằng trí thông minh của mình đã giành được chiến thắng trước các thế lực to lớn. Cũng trong tác phẩm vừa kể trên, Trạng Quỳnh được biết là người lớn lên ở vùng đất Thanh Hóa, là một cậu bé thần đồng, “người nhà trời xuất thế”, giỏi từ trong bụng mẹ. Từ khi lên sáu, lên bảy, Quỳnh đã nổi tiếng là tinh khôn, nhanh trí. Những nét tính cách này đã theo Quỳnh từ nhỏ đến lớn. Khi còn nhỏ, ông hay bày ra những trò mẹo vặt để chơi xỏ những đứa trẻ trong làng. Đến lúc lớn, ông không nao núng khi đối diện với những người có quyền chức, những kẻ luôn được xem là đối tượng bài xích của ông. Những hành động của Trạng Quỳnh đều nhằm mục đích vạch trần bộ mặt thật đầy hống hách, tham lam và dốt nát của họ như việc ông trực tiếp xỉ vả Tú Cát, một người hợm hĩnh và hay khoe khoang; chơi xỏ, chọc ghẹo bọn quan lại hay có thói xu nịnh, đả kích. Có nhiều giai thoại cho thấy Quỳnh đã nhiều lần thành công đánh lừa chúa Liễu một vị thần được thờ phụng và chưa kể đến những cuộc đấu trí với sứ giả kiêu ngạo bên Tàu. Trạng Quỳnh gồm chuỗi những truyện nhỏ được xâu chuỗi với nhau, với những màn chơi khăm nhằm tố cáo những thói hư tật xấu trong xã hội một cách công khai. Bên cạnh đó, truyện cũng đã đem lại tiếng cười thông qua sự dí dỏm, thông minh và đầy khéo léo của Trạng Quỳnh.

Trang 2

MỤC LỤC Ở TRANG 41

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Đến với môn Nhập môn văn học so sánh, nhất là khi tiếp cận với đề tài nằmtrong dòng chảy văn học dân gian - bộ phận văn học được xem là cái nôi, là di sản củanền văn chương dân tộc Chúng tôi không chỉ mong muốn tìm hiểu về sự giống - khác

giữa hai tác phẩm Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, mà còn muốn tìm một manh mối

nào đó giải thích cho việc hai quốc gia Đông Nam Á là Việt Nam và Campuchia là haiquốc gia có nền văn học dân gian được thừa hưởng chung một nguồn cội, một di sản

Có thể nói motif là nền tảng và các nhà folklore học lấy đó làm cơ sở phân tích chuyênsâu để từ đó chỉ ra những ý nghĩa được ẩn dấu trong các tác phẩm văn học dân gian.Motif còn mang đặc trưng của biểu tượng văn hóa, ở mỗi quốc gia motif sẽ được thểhiện một cách khác nhau Và dựa trên motif giữa các thể loại tự sự dân gian, chúng ta

có thể thấy được sự giao thoa văn hóa và văn học dân gian của hai nước

Dựa trên nền tảng những motif sẵn có và những thành quả nghiên cứu đã có từtrước của các bậc tiền bối về chủ đề liên quan đến nghiên cứu motif và motif trong vănhọc dân gian, trong truyện trạng, chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát và thao tác

so sánh để làm rõ sự giống và khác nhau trong truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây

trên phương diện motif Qua đó, làm nổi bật lên điểm tương đồng và khác biệt trongmỗi motif được bàn luận và tìm nguyên nhân lý giải cho sự giống - khác được tìmthấy, giải mã những đặc sắc và kiến thức nhất định về lịch sử, văn hoá, ở hai quốcgia Đồng thời, ta học được từ ngàn xưa một ý chí và tinh thần, một giá trị nào đó vìsức hấp dẫn còn tồn tại mà khiến truyện trạng có giá trị đến ngày nay

Trên tinh thần tiếp thu có chừng mực những thành quả đi trước và vận dụngnhững hiểu biết đã được học Nên dù đã hoàn thành bài nghiên cứu với dung lượng và

Trang 4

nhóm còn tồn tại những sai sót, hạn chế và còn những dữ kiện, những luận điểm có thểphát triển thêm Kính mong các độc giả có thể cùng chúng tôi góp thêm ý kiến để hoànthiện thêm phần nghiên cứu của nhóm.

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỆN TRẠNG VÀ MOTIF

1 Khái niệm truyện trạng

Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII tình hình các nước Đông Nam Á, tiêu biểu là các nước Đông Dương đều rơi vào tình trạng suy thoái, những cuộcnội chiến diễn ra liên miên và giặc ngoại xâm đe doạ Nhân dân sống lầm than, cơ cực dưới sự áp bức bóc lột của các nhà cầm quyền Từ đấy, khát vọng tự do và tình yêu chính nghĩa của nhân dân được dấy lên Truyện trạng ra đời như một vũ khí chiến đấu, đánh thẳng vào giai cấp thống trị

Truyện trạng là một trong những sản phẩm đặc sắc của văn học dân gian các

nước Đông Nam Á như Việt Nam có Trạng Quỳnh, Campuchia có Th’Mênh Chây, Lào

có Xiêng Miệng, Truyện trạng là kiểu truyện kể có kết cấu chuỗi Hay nói cách khác,

truyện trạng là một chuỗi những mẩu chuyện được kể xuyên suốt xoay quanh một nhânvật chính Về nội dung, phần lớn là những cuộc đấu trí không khoan nhượng với cáixấu, cái ác nhằm mục đích đề cao trí tuệ, sự khéo léo của nhân vật chính Nhân vật nàythường là người xuất chúng, dũng cảm, có trí thông minh, óc sáng tạo và nhiều mưumẹo Đồng thời không hề ngần ngại khi đối diện với những thói hư tật xấu, sẵn sàngchâm biếm, đả kích dù đó là lực lượng cường quyền hay thần quyền “Những ngườiđại diện cho bộ máy nhà nước, từ đỉnh cao là đức vua cho đến hàng thấp là quan lại ởcác làng xã, thôn xóm, đều bị truyện trạng lôi ra tố cáo, vạch trần bộ mặt giả dối”(Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.10)

Trang 5

Có nhiều ý kiến cho rằng truyện trạng là truyện kể về những ông trạng có thật,người thật, việc thật Danh xưng trạng xuất phát từ Trạng nguyên, là người đỗ đầutrong các kỳ thi Đình thời phong kiến Họ được định danh một cách rõ ràng, có têntuổi, quê quán và danh phận Đồng thời có tiểu sử đặc sắc, học cao, đỗ đạt, tên tuổiđược ghi chép trong sử sách Tuy vậy nhưng theo Trương Sỹ Hùng thì đó cũng chỉ “lànhững giai thoại, nhiều khi mang tính hư cấu, nhằm mục đích tôn vinh những nhân vật

có danh tiếng” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.19) Bên cạnh đó cũng có những truyệntrạng kể về những ông trạng không có thật hay còn gọi là trạng dân phong Họ lànhững người do nhân dân sáng tạo, những người dù không đỗ đạt vẫn được xưng làtrạng, “từ một con người gặp thời đại loạn bùng lên khắp chốn nhân gian như thế, mỗidân tộc lại tự lưu truyền, sáng tạo thêm rồi gán cho một nhân vật” (Trương Sỹ Hùng,

2018, tr.8) Mặc dù vậy nhưng họ vẫn là nhân vật trung tâm và có những tài lẻ xuấtchúng

Như vậy, truyện trạng nhìn chung chứa đựng những giá trị giải trí và giáo dục,phê phán, lên án giai cấp thống trị đương thời “Nhân vật trạng là tâm điểm nghệ thuậtphản ánh một thực trạng xã hội đã và đang có những biểu hiện suy đồi về đạo đức, thahóa về bản chất của tầng lớp trung lưu” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.21) Các nhân vậttrạng dù là nhân vật có thật hoặc chỉ đơn thuần là sản phẩm tinh thần được nhân dânđúc kết đều được xem như là biểu trưng cho trí tuệ, tính lạc quan, sự thông minh, sắcsảo Truyện trạng như là một sản phẩm tinh thần đem đến cho người đọc những phútgiây thú vị, vui vẻ nhưng đồng thời cũng là vũ khí của nhân dân trong việc chống lạinhững thế lực thống trị Tiếng cười trong truyện trạng có thể là tiếng cười hài hước bắtnguồn từ những hình ảnh tinh nghịch, những trò chơi xỏ của nhân vật trung tâm chođến những tiếng cười châm biếm, mỉa mai những giai cấp thống trị trong xã hội Mỗi

Trang 6

quốc gia đều “sở hữu” riêng cho mình một hay nhiều ông trạng và mỗi ông trạng sẽ cónhững phong cách, lối sống, nếp nghĩ riêng theo từng tộc người và là biểu tượng chotính cách của dân tộc.

2.Sơ nét về truyện Trạng Quỳnh và truyện Th’Mênh Chây

Trạng Quỳnh gồm chuỗi những truyện nhỏ được xâu chuỗi với nhau, với những

màn chơi khăm nhằm tố cáo những thói hư tật xấu trong xã hội một cách công khai

Trang 7

Bên cạnh đó, truyện cũng đã đem lại tiếng cười thông qua sự dí dỏm, thông minh vàđầy khéo léo của Trạng Quỳnh.

2.2 Truyện Th’Mênh Chây

Truyện Th’Mênh Chây là truyện trạng dân gian của Campuchia, bao gồm 34 mẩu

truyện Mở đầu truyện chủ yếu tập trung vào cuộc đối đầu giữa nhân vật chính làTh’Mênh Chây với chúa Sétthây Tiếp theo đó là những cuộc xử trí với vua và giải đốvới quan sứ Trung Quốc Mỗi lời nói và hành động của Th’Mênh Chây đều cho thấyđược trí thông minh và bằng trí thông minh đó, chiến thắng luôn nghiêng về cậu

Sự ra đời của Th’Mênh Chây mang yếu tố kì ảo khi trong thai kỳ, mẹ của cậu cónhững giấc mơ kì diệu và cậu được tiên đoán sẽ có kiếp sống nô lệ Th’Mênh Chây từ

bé đã kháu khỉnh, lanh lợi nhưng trong một lần bị chúa đất Sétthây lừa, Th’Mênh Chây

đã quyết tâm đánh bại chúa đất Cậu đã xin mẹ đến làm nô lệ cho nhà Sétthây Trongthời gian làm người ở, Th’Mênh Chây luôn làm theo mọi mệnh lệnh mà Sétthây đưa

ra Cũng chính sự vâng lời “tuyệt đối” như vậy đã khiến cho Sétthây năm lần bảy lượtphải tức giận nhưng suy cho cùng thì ông cũng chẳng thể làm gì cậu vì cậu luôn làmtheo lời ông dặn Cho đến một hôm vì không chịu nổi được nữa, Sétthây bèn đemTh’Mênh Chây đến dâng cho vua, vua thấy được sự thông minh của Th’Mênh Châynên quyết định giữ cậu lại để giúp việc Tiếp đó là một chuỗi những mẩu truyện vềcuộc đấu trí kéo dài khi Th’Mênh Chây bảy tuổi cho đến lúc lớn Th’Mênh Chây lúcnào cũng bản lĩnh, tự tin trước những thử thách Trước những lần bị nhà vua thử tàihay trong cuộc đấu trí với sứ giả Trung Quốc, cậu rất nhanh nhạy song cũng thật điềmtĩnh nắm bắt vấn đề rồi xoay chuyển nó khiến đối phương không thể xoay sở kịp

Trang 8

Truyện Th’Mênh Chây đã đề cao trí tuệ, sự khôn khéo, lém lỉnh của Th’Mênh

Chây Mặt khác, phản ánh được thực trạng xã hội, nơi mà những thế lực lớn ra sức đedọa và đàn áp những kẻ yếu thế

3.Khái quát về motif

Theo La Mai Thi Gia trong nghiên cứu Motif trong nghiên cứu truyện kể dân gian: Lý thuyết và ứng dụng thì motif được hiểu là một trong những thuật ngữ văn học

dân gian, là đơn vị tham gia vào việc xây dựng cốt truyện Bên cạnh đó tác giả cũngđưa ra những quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu khác khi đề cập về khái niệm motif.Theo Veselovsky, “Motif là một công thức sơ khởi, một đơn vị trần thuật đơn giảnnhất không thể chia cắt được” (La Mai Thi Gia, 2014, tr.57) Với Meletinsky thì

“Motif là hạt nhân của hành động” (La Mai Thi Gia, 2014, tr.48) Còn nhà phân tâmhọc Jung, “Motif cũng như cổ mẫu là những hình ảnh, những biểu tượng, những hànhđộng… đặc trưng được lặp đi lặp lại trong nhiều tác phẩm khác nhau” (La Mai ThiGia, 2014, tr.71) Khi nghiên cứu về motif, có rất nhiều nhận định được đưa ra nhưngnhìn chung thì motif là thành tố nhỏ nhất, hình thành ổn định và được lặp đi lặp lạitrong một hay nhiều tác phẩm nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó

Motif là hạt nhân chính, thành phần của cốt truyện, giữa motif và cốt truyện cũng

có mối liên quan với nhau “Một cốt truyện có thể có nhiều sự kết hợp của các motif vàmột motif có thể di chuyển trong nhiều cốt truyện khác nhau”(Lê Diễm Quỳnh, 2019,tr.25) Bên cạnh đó, motif còn là những biểu tượng văn hóa của mỗi cộng đồng nênviệc tìm hiểu motif sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về những triết lý, quan niệm, tín ngưỡngdân gian trong đời sống

Trang 9

Để rõ hơn, dưới đây là ví dụ về một số kiểu motif trong kho tàng văn học dângian Việt Nam Những motif quen thuộc và thường thấy có thể kể đến motif sinh đẻthần kỳ, motif báo ứng, motif tái sinh,

Motif sinh đẻ thần kỳ nói về việc một người được sinh ra theo một cách khácthường Motif này thường nằm ở phần đầu truyện kể, mở đầu cho sự ra đời củanhân vật Từ thời xưa người ta quan niệm vạn vật hữu linh nên việc mang thaicủa con người có thể bắt nguồn từ nhiều sự vật, sự việc khác nhau, đó có thể làtiếp xúc với một vật hoặc ăn uống phải thứ gì Như mẹ của Thánh Gióng ướmchân vào vết chân khổng lồ và thụ thai, mẹ của Sọ Dừa thì uống nước đựngtrong sọ dừa và sinh ra chàng

Motif báo ứng chỉ về quy luật nhân quả, thể hiện sự xung đột gay gắt giữa cáithiện và cái ác, kết thúc thường có hậu khi chiến thắng thuộc về cái thiện.Nhân vật chính diện là kiểu nhân vật hiền lành nhưng bất hạnh, chịu đựng sựtàn nhẫn của những kẻ không có nhân tính Nhưng “ở hiền gặp lành” nên họđều có cuộc sống hạnh phúc sau này, còn những kẻ phản diện đều nhận lấy

hình phạt thích đáng với những gì mình đã gây ra Có thể lấy Tấm Cám, Thạch Sanh, làm ví dụ điển hình cho kiểu motif này.

Motif tái sinh được hiểu đơn giản là sự đầu thai của nhân vật sau khi đã chết.Nhân vật sống lại trong hình dạng cũ hoặc trong một diện mạo hoàn toàn mới,

có thể là người hoặc vật và việc tái sinh có thể diễn ra trong một hoặc nhiềulần Kiểu motif này thể hiện ý nghĩa nhân sinh cao cả về sức sống mãnh liệt,chân lý và công bằng trong đời sống dân gian Tiêu biểu có thể thấy qua bốn

lần tái sinh của Tấm trong Tấm Cám Mỗi một lần tái sinh thành những vật

khác nhau như chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, quả thị Cũng chính

Trang 10

mỗi lần tái sinh là mỗi lần hình thành nên một nàng Tấm ngày càng mạnh mẽ,đấu tranh đòi lại công bằng cho chính mình.

Còn ở truyện trạng, nội dung truyện xoay quanh đời sống của một nhân vật chính,

họ là những con người thông minh nên kiểu motif thường thấy là những cuộc đấu tríhay còn gọi là motif câu đố, kiểu motif này đề cao trí tuệ của nhân vật Phần lớn đốitượng đả kích mà các ông trạng hướng tới là các thế lực vua quan Điều này đã hìnhthành nên motif chống lại các thế lực lớn, họ sẵn sàng phơi bày những thói hư tật xấu,thể hiện tinh thần đấu tranh của mình Truyện trạng có mặt hầu hết ở các nước trên thếgiới nói chung và trong khu vực Đông Nam Á nói riêng, có thể có những kiểu motiftương đồng giữa các truyện nhưng “cùng một motip truyện, nhưng mỗi nhân vật đềugắn với tính cách riêng của dân tộc mình và mỗi soạn giả, mỗi bản sưu tầm đều cónhững dị biệt, in đậm” (Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.15)

Để hiểu rõ hơn về motif trong truyện trạng mà cụ thể ở đây là motif trong hai tác

phẩm Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, chúng tôi đã khảo sát hai chuỗi truyện trạng kể

trên bằng cách đi vào từng tác phẩm một, từ đó thấy được sự giống - khác về motif và tìm cách lý giải những điểm giống - khác đó

II SO SÁNH MỘT SỐ MOTIF XUẤT HIỆN TRONG TRUYỆN TRẠNG

QUỲNH VÀ TH’MÊNH CHÂY

Trong quá trình so sánh hai tác phẩm ở phương diện motif, chúng tôi nhận thấy

truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây đều có những nét tương đồng và khác biệt,

trong motif xuất thân, motif thử tài, motif lừa bịp, motif gậy ông đập lưng ông và motifchống lại thế lực lớn

Trang 11

1 Motif xuất thân của nhân vật

Motif xuất thân của nhân vật là motif thường thấy trong các truyện kể dân gian,đặc biệt, motif này được xem là vấn đề nghiên cứu quan trọng bởi đây chính là bướcđầu để ta có thể tìm hiểu, tiếp cận nhân vật Motif xuất thân sẽ lý giải cho nguồn gốcnhân vật, và thường thì những nhân vật trung tâm luôn được gắn liền với một yếu tốhuyền ảo hay một sứ mệnh nhất định trong sự ra đời của họ Trong các truyện kể nhânvật thông minh trong dân gian chúng ta thường bắt gặp motif mang thai, đây là motifphổ biến, thường được thể hiện ở đầu một tác phẩm

Với Th’Mênh Chây và Trạng Quỳnh, motif xuất thân từ việc mang thai cũng

được đề cập đến Trong hai tác phẩm, chuyện mang thai không chứa yếu tố thần kì siêu

nhiên như trong Sọ dừa, Thánh gióng… (người phụ nữ mang thai do phép lạ mà họ

hấp thụ được từ thiên nhiên tạo nên cái thai thần kì, quái lạ, ) mà được mở đầu bằngnhững điềm báo đến mẹ của hai nhân vật - một người phụ nữ bình thường có đời sốngbình thường Chi tiết điềm báo sự tương đồng duy nhất khi nhắc đến quá trình hai nhânvật Chây và Quỳnh đang được thai nghén trong bụng mẹ Khi xét đến điểm khác, cónhững điểm đáng lưu ý như sau

Điềm báo cho sự ra đời của Th’Mênh Chây là “giấc mơ” Trong truyện kể,motif được thể hiện rõ và theo tính hệ thống bằng việc: mang thai - nằm mộng và sau

đó là những lý giải Đây cũng là yếu tố kì ảo tạo nên một dấu hỏi lớn về xuất thân của

nhân vật trong lòng độc giả Tuy là người mẹ đã có một giấc mơ thật đẹp: “đi lạc vào giữa rừng dừa xanh tốt, cây sai cành trĩu quả…chim chích nhởn nhơ vui chơi…”

(Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.83), nhưng khi nhờ thầy bói xem vận mệnh của đứa trẻ thìlại được ấn định rằng “nó lớn lên là phải làm nô lệ” Một đứa trẻ kháu khỉnh, thông

Trang 12

minh nhưng lớn lên phải làm nô lệ và thực hiện những thử thách, tự hỏi đây có thể gọi

là “sứ mệnh” của nó chăng?

Còn với Trạng Quỳnh, ngay từ đầu tác phẩm xuất thân nhân vật được giới thiệu

“là người nhà trời xuất thế”, giai thoại thần kỳ về việc Quỳnh đã biết đối đáp khi còntrong bụng mẹ chính là điềm báo cho sự phi thường về sau Ở văn bản khác, TrạngQuỳnh còn được biết đến với một nhân vật có thật tên là Nguyễn Quỳnh, là một trạngViệt nổi tiếng thông minh, hài hước nhưng lại hay chọc phá quan lại triều thần nên conđường tiến thân cũng khá gập ghềnh

Thông qua motif xuất thân mang màu sắc kì ảo, những câu chuyện kể muốn gửigắm đến chúng ta một thông điệp về trí tuệ, về phẩm hạnh và cả ý chí của nhân vật Sự

kì ảo được lồng ghép để nhân dân bày tỏ khát vọng về việc những vấn đề nan giải sẽđược các ông trạng giải quyết thỏa đáng bằng những pha xoay chuyển tình thế thần kì

và có cả sự may mắn, mà dường như nếu xét trên hiện thực thì khó mà giải quyết bằngcách đó được Vì nhân dân, hơn ai hết họ là những người đại diện cho tầng lớp laođộng, chịu nhiều sự đàn áp, bất công… nhưng đây cũng chính là những con người tốtđẹp, mang nhiều hoài bão luôn hướng mình đến một cuộc sống tự do Vì thế, xuất thânmang yếu tố thần kỳ sẽ giúp những ông trạng của nhân dân đẹp hơn, có vị thế hơn và

sự chống trả, phê phán của trạng trước những cái xấu phải chăng là sự giúp đỡ của thếlực siêu nhiên luôn bảo vệ nhân dân trước cái xấu - một niềm tin lâu đời của nhân dân

về sự bảo vệ của ông trời, các vị thần, đức Phật,

2 Motif thử tài

Motif thử tài là một trong những motif phổ biến trong truyện dân gian Khi “bênyêu cầu” đưa ra một nhiệm vụ nào đó buộc bên còn lại phải thực hiện Và bất cứ khinào, “bên yêu cầu” cũng không quên kèm theo một câu điều kiện: nếu làm tốt thì được

Trang 13

thưởng nếu không làm được thì sẽ bị phạt thậm chí là bị mất mạng Còn “bên thựchiện” chỉ có một cách là chấp nhận và tìm cách để hoàn thành nhiệm vụ được giao, và

đó được gọi là thử tài Motif thử tài có tính phổ biến không chỉ ở truyện dân gian ViệtNam mà còn có mặt ở trong nhiều truyện dân gian của các dân tộc trên thế giới Cụ

thể, trong truyện Trạng Quỳnh của Việt Nam và Th’Mênh Chây của Campuchia đều

xuất hiện motif này Chính motif thử tài làm nổi bật sự thông minh, tài trí của nhân vậtchính và làm phẩm chất của họ tỏa sáng Mà sự xuất hiện, cách thể hiện của motif nàytrong hai truyện trên có những điểm giống và khác nhau

Motif thử tài xuất hiện trong Trạng Quỳnh qua các truyện: Dòm nhà quan bảng; Đối đáp với Thị Điểm; Đằng gốc, đằng ngọn; Thơ trống vần thiên; Thi vẽ rồng; Đánh

vỡ chai nước của sứ Tàu; Trạng chọi trâu; Chiếc vòng ngọc độc nhất vô nhị của Trung Quốc Trong Th’Mênh Chây thì qua các truyện: Thắng lợi rồi; Bí mật của sứ Tầu; Thịt lợn để hai năm không ôi; Xin dao làm cỗ; Mời các ngài đến nhận; Chỉ còn một người cũng đánh; Hai cách giải thích; Kính tặng hoàng đế Trung Hoa.

Điểm giống nhau đầu tiên, về đối tượng đưa ra những câu đố cả hai truyện

Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây đều có những cuộc thử tài đấu trí từ những câu đố hóc

búa của sứ giả và vua Tàu Và các câu đố từ xứ Tàu đưa ra đều là những câu đòi hỏikiến thức, vốn sống, có thể giải quyết bằng những mẹo dân gian Ví dụ như trong

truyện Đằng gốc, đằng ngọn kể về việc khi Quỳnh đi sứ, thì có vị quan Tàu mang đến một cây gỗ bằng đầu bằng đuôi và yêu cầu Quỳnh: “ cho biết cây gỗ này đằng nào đằng gốc, đằng nào là ngọn” (Viện nghiên cứu văn hóa, 2009, tr.130) Hay trong Thơ trống vần thiên vua Tàu nghĩ ra một kế hiểm để thử tài Quỳnh Đó là cho Quỳnh thi

cùng các quan hàn lâm hay chữ nhưng giấu đề thi Nhờ trí thông minh, Quỳnh vượtqua được những sự thách đố và khiến vua qua xứ Tàu khâm phục sứ An Nam Trong

Trang 14

Thi vẽ rồng Quỳnh tuy không biết vẽ thật nhưng Quỳnh dùng cách nhúng mười ngón

tay vào nghiên mực để vẽ rồng Sự nhanh nhẹn và biết thách đố ngược lại người Tàukhiến vua Tàu và triều thần phải chịu thua vì không tài nào tìm ra được rồng thật để so

Hay Trạng chọi trâu sứ phương Bắc mang sang một con trâu đực to lớn, mà Quỳnh thì

chỉ mang đến một con nghé để cùng thi Kết quả là nghé con lại thắng trâu đực to lớn,

khiến sứ phương Bắc tức lộn ruột Và trong Chiếc vòng ngọc độc nhất vô nhị của Trung Quốc, Quỳnh nhờ sự mách nước của Thị Điểm mới áp dụng được mẹo vặt dân gian để thắng câu đố hiểm Tương tự như thế, motif thử tài trong Th’Mênh Chây cũng làm nổi bật sự nhanh nhẹn và thông minh của nhân vật này Phải kể đến các truyện Bí mật của sứ Tầu khi sứ giả mang đến ba quả dưa và yêu cầu Th’Mênh Chây phải cho biết số hạt trong mỗi quả Hay trong Thịt lợn để hai năm không ôi sứ giả yêu cầu chàng

cho biết làm thế nào để giữ được thịt lợn tươi trong hai năm mà không dùng muối ướp,

không được đun khói bếp Trong Xin dao làm cỗ thì lại yêu cầu Th’Mênh Chây chỉ với

một con chim nhỏ làm thế nào để làm được cỗ cho mọi người ăn thỏa thích Và với tríthông minh của mình Th’Mênh Chây đều thắng sứ giả và vua Tàu, sự thông minh tài

trí ấy còn được thể hiện qua những cuộc đấu trí từ các truyện: Mời các ngài đến nhận; Chỉ còn một người cũng đánh; Hai cách giải thích; Kính tặng hoàng đế Trung Hoa.

Điểm giống nhau tiếp theo là sự kịch tính trong những cuộc thử tài với sử giả TrungHoa Mà sự kịch tính đó góp phần làm tăng sự hồi hộp và hấp dẫn cho người đọc

Chẳng hạn như trong Trạng Quỳnh, ở truyện Chiếc vòng ngọc độc nhất vô nhị của Trung Quốc, lúc đầu tưởng chừng như Quỳnh sẽ không vượt qua được “Quỳnh về nhà liên tiếp mấy ngày mất ăn, mất ngủ vì không nghĩ ra được cách gì để xỏ được sợi tơ mềm nhuyễn kia qua ruột chiếc vòng xoáy trôn ốc”(Viện nghiên cứu văn hóa, 2009,

tr.139); rồi lúc sực nhớ đến nàng Thị Điểm, đi đến nhà nàng, lại được gia nhân báo

Trang 15

nàng không có ở nhà Nhưng chỉ với bài hát ru của Thị Điểm mà Quỳnh đã hiểu ra và

giải được câu đố khó Hay trong Th’Mênh Chây ở truyện Bí mật của sứ Tầu cũng

khiến người đọc hồi hộp, sau khi nghe sứ giả yêu cầu giải được câu đố thì êm đẹpkhông thì Th’Mênh Chây phải chết Chàng liền ra sông định tự tử, tưởng rằng chàng tự

tự thật nhưng thật ra là đi xem tình hình lính trên các thuyền Trung Hoa có tiết lộ điều

gì không Nhờ vậy mà hôm sau chàng giải được câu đố ba quả dưa, mỗi quả bên trong

có mấy hạt

Bên cạnh đó ta còn thấy được sự giống nhau ở tiến trình của motif thử tài

Những truyện có motif thử tài trong Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây đều có tiến trình

là mở đầu, diễn biến và kết thúc tương tự nhau Ở phần mở đầu thường là sứ giả, nhàVua ra một câu đố mang tính thách thức buộc Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây phảihoàn thành nếu không sẽ bị phạt hoặc thậm chí là phải chết Chẳng hạn như trong

Th’Mênh Chây: “Hoàng đế Trung Hoa cho mang đến cho ngươi một số câu đố, nếu ngươi đoán đúng thì vạn sự tốt đẹp, nếu người nói sai, ta sẽ bắt tội chết” (Trương Sỹ

Hùng, 2018, tr.120) Kế đến là phần diễn biến: ở giai đoạn này Trạng Quỳnh vàTh’Mênh Chây sẽ tiến hành thực hiện các bước theo mưu kế của mình để thắng sứ giả

và nhà Vua Ở phần diễn biến này thể hiện rõ phẩm chất, tài năng, trí thông minh của

cả Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây Cuối cùng trong tiến trình của motif này là phầnkết thúc, trong phần này cả hai nhân vật chính đều giành được thắng lợi khiến sứ giả,nhà vua nước Tàu phải khâm phục mà về nước, không lăm le xâm chiếm nước nhà của

cả Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây nữa

Nhìn chung sự giống nhau về đối tượng, về sự kịch tính và tiến trình của motifthử tài trong hai truyện trên có thể lí giải như sau: Thứ nhất, về đối tượng đưa ra nhữngcâu đố thử tài là sứ giả, nhà vua Trung Hoa Có sự giống nhau này là do bối cảnh thời

Trang 16

đại lúc bấy giờ nước phong kiến Trung Hoa cổ đại có âm mưu xâm chiếm các nướcphương Nam, mà An Nam (Việt Nam) và Khơ-me (Campuchia) là những nước trongtầm ngắm Bước đầu sứ giả nước Tàu sang đưa ra những câu hỏi hóc búa để thử tháchdân tộc Nếu dân tộc thất bại, sẽ lộ ra cái yếu ớt, sơ hở, từ đó họ sẽ lấy cớ để đánhchiếm Thứ hai, về sự kịch tính có sự giống nhau này là do mục đích muốn tạo sự hồihộp, hấp dẫn cho người đọc, người nghe trong motif thử tài Thứ ba, về tiến trình có baphần: mở đầu, diễn biến, và kết thúc; đây chính là kết cấu của một truyện nhỏ trongchuỗi những truyện lớn về trạng, làm sự hấp dẫn và những tài năng của nhân vật trạngđược thể hiện hết lần này đến lần khác, dù với thử thách nào thì trạng cũng vượt quađược Sự đảm bảo kết cấu ba phần còn là một biểu hiện cho việc có thể xem truyệntrạng là một kiểu truyện khung, trong một câu chuyện lớn về người tài trí có những câuchuyện nhỏ lẻ khác và có sự liên kết với nhau, tạo nên một cốt truyện và hình ảnh nhânvật hoàn chỉnh.

Ngoài những điểm giống nhau kể trên, như giống về đối tượng là sứ giả Trung

Hoa thì Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây còn có sự khác nhau như sau: Ở Trạng Quỳnh

còn có những cuộc thử tài đối đáp thơ ở nhà Quan Bảng, hay con gái của quan là Thị

Điểm thông qua các câu chuyện như: Dòm nhà quan bảng, khi quan bảng ra câu đối:

“Thằng quỷ ôm cái đấu đứng cửa khôi nguyên” (Viện nghiên cứu văn hóa, 2009, tr.115); Quỳnh đáp: “Con mộc tựa cây bàng dòm nhà bảng nhãn” (Viện nghiên cứu văn hóa, 2009, tr.116) Hay trong Đối đáp với Thị Điểm, có một số câu đối đáp như sau: Thị Điểm:“Lên phố mía gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo, lại hỏi thăm đường”(Viện nghiên cứu văn hóa, 2009, tr.116); Quỳnh đáp: “Da trắng vỗ bì bạch” (Viện nghiên

cứu văn hóa, 2009, tr.116) Còn ở Th’Mênh Chây tuy không có những cuộc thử tàiđối đáp bằng thơ nhưng có những cuộc thử tài về sử dụng từ đồng âm, về trí, để chơi

Trang 17

xỏ Chúa đất Sétthây ví dụ như được nhà vua thử tài qua truyện Thắng lợi rồi Ngoài ra

còn những truyện Th’Mênh Chây được chúa Sétthây và vua thử tài (liên quan đếnmotif gậy ông đập lưng ông, motif lừa bịp, motif chống lại thế lực lớn, mà chúng tôi sẽtrình bày trong những phần tiếp theo) Có thể nói sự khác nhau về thử tài đối đáp thơnêu trên là do đất Việt lúc bấy giờ còn tồn tại chế độ khoa cử và bản thân nhân vậtQuỳnh cũng là người có học thức, hiểu biết chữ nghĩa nên trong Trạng Quỳnh cónhững cuộc thử tài bằng đối đáp thơ cũng là lẽ đương nhiên

Tóm lại từ motif thử tài trong Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, ta có thể thấy

được sự thông minh và trí tuệ hơn người của Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây - sựthông minh và trí tuệ từ nhân dân; họ đại diện cho tinh thần tự lực, tự cường; tinh thầnyêu nước đấu tranh bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân Đông Dươngtrước thế lực lớn lăm le xâm lấn bờ cõi nước nhà lúc bấy giờ

3 Motif lừa bịp

Motif lừa bịp là dạng motif thường xuất hiện trong các chuỗi truyện trạng, motifnày có thể hiểu một cách đơn giản chính là việc dùng các mánh khóe, mánh lới để chegiấu sự thật, hoặc để đánh lừa người khác khiến họ không nhận ra sự thật Trong các

chuỗi truyện trạng, cụ thể là Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, motif lừa bịp được biểu

hiện qua hai phương thức chính: tạo ra những câu nói trùng hợp để đánh lạc hướng và

sử dụng từ đồng âm Với phương thức thứ nhất, nhân vật sẽ sử dụng những câu nóitrùng hợp để có thể đánh lạc hướng đối phương, nghĩa là tạo ra những tình huống giả

để đối phương có thể buông lơi cảnh giác, che khuất đi tình huống thật, từ đó nhân vật

có thể đạt được mục đích của mình, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại cóthể xảy ra cho mình Với phương thức thứ hai, phương thức này dựa vào việc sử dụng

Trang 18

nhưng khi xét về từ loại và về nghĩa thì lại khác nhau, chính vì vậy, nhân vật có thể sửdụng từ đồng âm để tạo nên những ngữ cảnh khác nhau cho lời nói, hay nói cách khác,đồng âm có thể giúp ta hiểu được từ theo nghĩa nước đôi Có thể xem việc sử dụng các

từ đồng âm nhưng khác nghĩa này là một hiện tượng chơi chữ vô cùng độc đáo, thú vị,vừa khiến đối phương lơ là phòng bị vì nghĩa rằng mình sẽ chiến thắng, vừa giúp chonhân vật mà cụ thể ở đây là các trạng có thể dễ dàng chiến thắng thuyết phục mà đốiphương không thể phản bác

Sau khi tiếp xúc với hai chuỗi truyện Trạng Quỳnh và Th’Mênh Chây, có thể thấy motif lừa bịp chiếm một số lượng không nhỏ ở cả hai truyện Với Trạng Quỳnh, motif lừa bịp có ở các truyện Trả nợ anh lái đò ngang; Sướng đời ông nọ, bà kia; Cúng thành hoàng làng; Lại trả lễ thành hoàng; Tạ chúa Liễu ba bò và Thi mâm ngũ quả Trong Th’Mênh Chây, motif này xuất hiện ở các truyện Ruộng đất vẫn còn nguyên; Hình ảnh con ngựa; Ô! Hô! Hô và Ngân sách quốc gia Dù xuất hiện ở nhiều

truyện khác nhau, tuy nhiên, có thể thấy các truyện trên vẫn đi theo hai phương thức đã

được nêu Ở phương thức đầu tiên, ta có các truyện: Trả nợ anh lái đò ngang, Ô! Hô!

Hô Trả nợ anh lái đò ngang xuất phát từ việc trạng Quỳnh thường đi đò ngang nhưng

hay “khất chịu tiền”, mỗi lần đi là một lần khất, lâu dần thì số tiền nợ đã quá nhiều,

nhưng khi anh lái đò đến đòi thì Quỳnh lại bảo “Ừ, đợi đấy, vài hôm nữa, sẽ trả đầy đủ” (Viện nghiên cứu văn hóa, 2009, tr.106) Không thất hứa, Quỳnh bắt đầu dựng

một cái nhà nhỏ trên cồn cát giữa sông khiến người dân tò mò muốn sang xem, màmuốn sang đó thì phải đi bằng đò của anh chàng kia, ra đến nơi thì họ thấy cái biển

được Quỳnh viết: “Cha đứa nào kể với đứa nào” (Viện nghiên cứu văn hóa, 2009,

tr.106), tất nhiên khi về sẽ chẳng ai nói rằng ở ngoài cồn cát kia thật sự có gì, họ cứbảo nhau rằng muốn biết thì ra đấy mà xem, thế là cứ hết người này đến người khác

Trang 19

sang bên cồn, anh lái đò cũng tất bật chèo đò, thu lại một số tiền không nhỏ, thế là nhờcái mẹo của Quỳnh mà anh kiếm bộn tiền, đồng thời đó cũng là cách mà Quỳnh trả nợ

cho anh Sang đến Th’Mênh Chây của Campuchia, ta có truyện Ô! Hô! Hô, vì quá tức

tối với Th’Mênh Chây, đức vua quyết định đem Chây ra xử tử, tuy nhiên, khi gần đến

giờ hành quyết thì Chây lại xin với tay đao phủ rằng: “….Biết rằng giờ chết của tôi sắp đến, nhưng tôi vẫn muốn được vui đùa hát ca cùng các bạn dù chỉ một vài phút…”

(Trương Sỹ Hùng, 2018, tr.129), thế rồi các tay đao phủ cởi trói cho Chây, cùng nhau

cất lên khúc hát say sưa “A! Ha! Ha! Ô! Ô! Hô”, trong lúc vui ca ấy, chẳng ai còn nhớ

nhiệm vụ được giao là gì, tận dụng thời cơ, Chây nhảy xuống nước trốn thoát lúc nàokhông ai biết, thế là thoát chết

Đến với phương thức sử dụng các từ đồng âm, về phía Trạng Quỳnh ta có các truyện:

Sướng đời ông nọ, bà kia; Cúng thành hoàng làng; Lại trả lễ thành hoàng; Tạ chúa Liễu ba bò và Thi mâm ngũ quả, với Sướng đời ông nọ, bà kia - câu chuyện này nói về

việc các chức sắc trong làng do thấy Quỳnh hay được chúa gọi vào hầu nên muốn đếnnhờ cậy Quỳnh giúp đỡ, mong có được cuộc sống sung túc hơn Vì thế một ngày kia,Quỳnh cho gọi họ đến và hỏi họ có muốn làm “ông nọ bà kia” không, nếu muốn thì tốinay đến nhà Quỳnh đánh chén rồi sáng mai cùng nhau lên kinh sớm Thế là họ tất bậtquay về kêu vợ chuẩn bị đầy đủ cho mình, tối đó, trạng đãi các ông một bữa linh đình,đến nửa đêm, ai cũng say bí tỉ, trạng mới sai người mang võng tới, đưa ông này đi vềnhà của bà kia và nói rằng ông bị cảm cần chữa trị gấp Trong đêm khuya các bà lại tấtbật, sốt sắng cứu chữa cho “chồng” đến rạng sáng thì mới nhận ra đây không phảichồng mình, còn ông kia khi tỉnh dậy thì cũng không ngờ mình lại ở chỗ vợ của ngườikhác, thẹn hóa nên đành ra về nhanh Hóa ra ai cũng bị mắc mưu của trạng, “ông nọ bà

Trang 20

“ông nọ bà kia” tức là muốn thăng quan tiến chức, thế nhưng trạng Quỳnh đã lợi dụngyếu tố đồng âm để nói lên một hàm ý khác, “ông nọ bà kia” theo trạng chính là ôngnày ở chỗ của bà kia, nghĩa là ở đây có một sự tráo đổi tưởng như vô lý nhưng lại rất

thuyết phục, vì vậy mà các ông không thể nào tranh cãi được Hay truyện Cúng thành hoàng làng cũng tương tự như thế, nhưng lần này đối tượng là thành hoàng - một vị

thần thường được thờ trong các làng xã của Việt Nam, chịu trách nhiệm cai quản đìnhlàng hay cả một khu vực làng, xã Truyện xuất phát từ việc vợ của Quỳnh bị ốm, thầybói phán rằng phải cúng thành hoàng thì mới khỏi bệnh, vì vậy, trạng mới ra đình khấnxin, nếu vợ khỏi bệnh Quỳnh sẽ làm gà đến tạ lễ Mấy hôm sau thì vợ Quỳnh khỏibệnh, đến lúc sửa soạn lễ tạ thành hoàng thì nhà lại không có gà, thấy thế Quỳnh mớilấy lễ khác là hai quả trứng gà vừa nhảy ổ được luộc sẵn, bởi theo Quỳnh thì khi khấnQuỳnh chỉ khấn là sẽ lấy gà tạ lễ, thế nhưng trứng gà thì cũng giống như con gà thôi

Tiếp nối câu chuyện trên, Lại trả lễ thành hoàng cũng kể về một lần khác vợ Quỳnh lại

bị ốm, Quỳnh lại ra chỗ thành hoàng khấn xin cho vợ khỏi bệnh:

“Trẻ nhà tớ đau

Lần này giúp nhau

Xin hai con gà,

Đem ra hậu tạ”

(Viện nghiên cứu văn hóa, 2009, tr.112)

Thành hoàng nghe thế thì cho vợ của Quỳnh khỏi bệnh, đến ngày trả lễ, Quỳnhmới mang hai con gà con mới nở đã được làm thịt rất tử tế đến cho thành hoàng với lý

Ngày đăng: 03/04/2023, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Bắc. (1984). Tìm hiểu văn hóa nghệ thuật Campuchia. Hà Nội: NXB Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa nghệ thuật Campuchia
Tác giả: Nguyễn Bắc
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1984
4. Triều Nguyên. (2016). Tìm hiểu về truyện trạng Việt Nam. Hà Nội: NXB Sân khấu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về truyện trạng Việt Nam
Tác giả: Triều Nguyên
Nhà XB: NXB Sân khấu
Năm: 2016
5. Trương Sỹ Hùng (Biên soạn). (2018). Truyện Trạng Đông Nam Á. Hà Nội: NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Trạng Đông Nam Á
Tác giả: Trương Sỹ Hùng
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2018
6. Viện nghiên cứu văn hóa. (2009). Truyện Trạng, quyển 1. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Trạng, quyển 1
Tác giả: Viện nghiên cứu văn hóa
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2009
(1987). Truyện dân gian Campuchia. Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện dân gian Campuchia
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1987
7. Vũ Tuyết Loan, Nguyễn Sĩ Tuấn, Nguyễn Thị Hiệp (Sưu tầm và tuyển dịch) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w