Tác giả đề cập đến khái niệm hoạt động thương mại và thương mại biên giới; khái niệm về quản lý nhà nước; khái niệm quản lý nhà nước về thương mại biên giới, từ đó phân loại chính sách q
Trang 1“Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.“
“ Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017“
Tác giả
Nguyễn Đức Thắng “
“
Trang 2“Để có được kết quả nghiên cứu khoa học ngày hôm nay trước hết, tôi xin được tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Phan Tố Uyên, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, tìm kiếm tài liệu, xử lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn đề… nhờ đó tôi mới có thể hoàn thành luận văn cao học của mình Ngoài ra, trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi còn nhận được nhiều sự quan tâm, góp ý, hỗ trợ quý báu của thầy cô bộ môn Kinh tế và kinh doanh thương mại, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thành viên trong gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua, đặc biệt trong thời gian tôi theo học khóa thạc sĩ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Thầy cô Viện thương mại và Kinh tế Quốc tế; Thầy cô Viện đào tạo sau đại học – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt hai năm học vừa qua“
“Nguyễn Đức Thắng“
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI 7
1.1 Khái quát chung về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới 7
1.1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới 7
1.1.2 Mục tiêu và vai trò của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới 19
1.2 Nội dung của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới 24
1.2.1 Chính sách quản lý Nhà nước đối với hàng hóa 24
1.2.2 Chính sách quản lý Nhà nước đối với thương nhân và cư dân biên giới 26 1.2.3 Chính sách quản lý Nhà nước đối với cửa khẩu và chợ biên giới 27
1.2.4 Chính sách quản lý Nhà nước đối với thuế, phí, lệ phí 29
1.2.5 Chính sách quản lý Nhà nước đối với thanh toán, tiền tệ 30
1.2.6 Chính sách quản lý Nhà nước đối với kho bãi, kinh doanh, giao nhận, vận chuyển 31
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới 32
1.3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 32
1.3.2 Chính sách của các nước có chung biên giới 33
1.3.3 Quan hệ giữa hai nước có chung biên giới 34
1.3.4 Môi trường quốc tế và khu vực 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI CỦA VIỆT NAM 37
2.1 Khái quát chung về thực trạng thương mại biên giới của Việt Nam 38
2.1.1 Giới thiệu chung về biên giới của Việt Nam 38
2.1.2 Tình hình phát triển thương mại biên giới của Việt Nam 40
2.2 Phân tích thực trạng chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 45
2.2.1 Chính sách quản lý Nhà nước đối với hàng hóa 45
2.2.2 Chính sách quản lý Nhà nước đối với thương nhân và cư dân biên giới 48 2.2.3 Chính sách quản lý Nhà nước đối với cửa khẩu và chợ biên giới 51
2.2.4 Chính sách quản lý Nhà nước đối với thuế, phí, lệ phí 56
Trang 42.2.6 Chính sách quản lý Nhà nước đối với kho bãi, kinh doanh, giao nhận, vận chuyển 60 2.2.7 Chính sách quản lý Nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật và thủ tục hành chính 64
2.3 Kết luận đánh giá qua nghiên cứu thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 66
2.3.1 Kết quả đạt được về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 66 2.3.2 Những hạn chế về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 69 2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 71
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI BIÊN GIỚI CỦA VIỆT NAM 74 3.1 Định hướng phát triển thương mại biên giới và quan điểm về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 74
3.1.1 Định hướng phát triển thương mại biên giới 74 3.1.2 Quan điểm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 73
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam 78
3.2.1 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với hàng hóa 78 3.2.2 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với thương nhân và cư dân biên giới 80 3.2.3 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với cửa khẩu và chợ biên giới 81 3.2.4 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với thuế, phí và lệ phí 83 3.2.5 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với thanh toán tiền tệ 84 3.2.6 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với kho, bãi, kinh doanh, giao nhận, vận chuyển 87 3.2.7 Hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật và thủ tục hành chính 89
3.3 Một số kiến nghị với UBND Tỉnh Thành phố có biên giới và các Bộ ngành có liên quan 90
KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5CNXH Chủ nghĩa xã hội
Trang 6Bảng 2.1: Hệ thống cửa khẩu biên giới đất liền của Việt Nam với Trung Quốc,
Lào, Campuchia 39 Bảng 2.2: Kim ngạch lưu chuyển hàng hóa qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc 40 Bảng 2.3: Xuất nhập cảnh người và phương tiện qua biên giới Việt Nam –
Trung Quốc 41 Bảng 2.4: Kim ngạch lưu chuyển hàng hóa qua biên giới Việt – Lào 42 Bảng 2.5: Xuất nhập cảnh người và phương tiện qua biên giới Việt Nam – Lào 43 Bảng 2.6: Kim ngạch lưu chuyển hàng hóa qua biên giới Việt Nam – Campuchia43 Bảng 2.7: Xuất nhập cảnh người và phương tiện qua biên giới Việt Nam –
Campuchia 45 Bảng 2.8 Tổng hợp số lượng thương nhân tham gia vào thương mại biên giới giai
đoạn 2014 – 2016 49 Bảng 2.9 Thống kê số lượng cửa khẩu và chợ biên giới của Việt Nam tính đến
31/12/2016 52 Bảng 2.10: Danh mục mặt hàng là nguyên, nhiên vật liệu, vật tư phục vụ sản xuất
trong nước được nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới 53 Bảng 2.11: Danh mục mặt hàng là nguyên, nhiên vật liệu, vật tư phục vụ sản xuất
trong nước được nhập khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Công thương 53 Bảng 2.12: Quy hoạch phát triển kho bãi tại biên giới Việt – Trung 61
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu các loại mặt hàng xuất nhập khẩu qua biên giới năm 2016 47
Sơ đồ 2.2: Tỷ trọng % số lượng kho tại các tỉnh trên khu vực biên giới Việt Nan –
Lào và Việt Nam – Campuchia năm 2016 62
Sơ đồ 2.3: Tỷ trọng % số lượng bãi tại các tỉnh trên khu vực biên giới VN – Lào và
VN – Campuchia năm 2016 64
Trang 7“ TÓM TẮT LUẬN VĂN ”
“Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với nhịp độ tăng trưởng nhanh: đời sống nhân dân được cải thiện đáng
kể, uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao“
“Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, ngành thương mại đã trải qua một quá trình đổi mới toàn diện, kể cả đổi mới nhận thức và phương thức hoạt động Với quá trình đổi mới chính sách, cơ chế thương mại đã tạo ra những thay đổi căn bản trong hoạt động thương mại, tạo ra “hiệu ứng” tích cực, góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm vừa qua“
“Việt Nam có chung đường biên giới đất liền với Trung Quốc, Lào và Campuchia, chạy dài qua 25 tỉnh của Việt Nam Trên đó, các cửa khẩu quốc
tế, cửa khẩu song phương, cửa khẩu phụ, lối mở biên giới và chợ biên giới được mở cho hoạt động thương mại biên giới Khu vực biên giới và cửa khẩu hầu hết là những vùng còn nhiều khó khăn về tự nhiên, xã hội, kết cấu hạ tầng cũng như hoạt động kinh tế, hoạt đông quản lý còn nhiều khó khăn Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước xây dựng được cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và điều hành hoạt động thương mại biên giới Các chính sách quản lý về hàng hóa, về cư dân biên giới, về cửa khẩu, về thuế, phí, lệ phí,… đã đạt được những thành tựu nhất định Nhờ chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới, thương mại biên giới của Việt Nam với các nước được tăng lên nhanh chóng“
Trang 8“Luận văn :“Nghiên cứu chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam” đã chỉ ra những kết quả đạt được và hạn chế của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước đối với khu vực biên giới đất liền.“
“Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
“Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam Tác giả đề cập đến khái niệm hoạt động thương mại và thương mại biên giới; khái niệm về quản lý nhà nước; khái niệm quản lý nhà nước về thương mại biên giới, từ đó phân loại chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới gồm: Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân; chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới; chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu; chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới; chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập cảnh người và phương tiện trong hoạt động thương mại biên giới Ngoài ra, trong chương này tác giả còn đề cập đến mục tiêu và vai trò của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới Nội dung của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới gồm: chính sách quản lý nhà nước đối với hàng hóa; chính sách quản lý Nhà nước đối với thương nhân và cư dân biên giới; chính sách quản lý Nhà nước đối với cửa khẩu và chợ biên giới; chính sách quản lý Nhà nước đối với thuế, phí, lệ phí; chính sách quản lý Nhà nước đối với thanh toán, tiền tệ; chính sách quản lý Nhà nước đối với kho bãi, kinh doanh, giao nhận, vận chuyển Trong chương này tác giả cũng trình bày các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách quản lý nhà
Trang 9nước đối với thương mại biên giới“
“Chương 2: Thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam Tác giả phân tích khái quát chung về thực trạng thương mại biên giới của Việt Nam với các nước có chung biên giới đất liền
là Trung Quốc, Lào, Campuchia; đi sâu vào phân tích thực trạng các chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam thông qua các nghị định, quyết định, thông tư, ban hành và sửa đổi qua các năm từ đó đưa ra các kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với các chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới“
“Chương 3: Định hướng phát triển thương mại biên giới và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam Tác giả nêu lên định hướng phát triển thương mại biên giới của Việt Nam, cũng như quan điểm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam: Chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam gắn liền với chiến lược thương mại quốc tế; hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước tại các khu cửa khẩu thương mại biên giới; chính sách quản lý nhà nước tại khu vực của khẩu thương mại biên giới
đi đôi với việc bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; chính sách quản lý thương mại biên giới gắn liền với giải quyết các vấn đề về xã hội và môi trường khu vực biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa; chính sách quản lý nhà nước khu vực biên giới nhằm đưa hoạt động thương mại biên giới trở nên năng động và có sức cạnh tranh cao Từ thực trạng của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới nêu ở chương 2 và quan điểm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới tác giả đưa ra một
số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam cũng như một số kiến nghị với UBND Tỉnh Thành phố có
Trang 10“PHẦN MỞ ĐẦU“
“ 1 Lý do thực hiện đề tài “
“Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đang từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với nhịp độ tăng trưởng nhanh: đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, uy tín của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao“
“Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, ngành thương mại đã trải qua một quá trình đổi mới toàn diện, kể cả đổi mới nhận thức và phương thức hoạt động Với quá trình đổi mới chính sách, cơ chế thương mại đã tạo ra những thay đổi căn bản trong hoạt động thương mại, tạo ra “hiệu ứng” tích cực, góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm vừa qua“
“Việt Nam có chung đường biên giới đất liền với Trung Quốc, Lào và Campuchia, chạy dài qua 25 tỉnh của Việt Nam Trên đó, các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu song phương, cửa khẩu phụ, lối mở biên giới và chợ biên giới được mở cho hoạt động thương mại biên giới Khu vực biên giới và cửa khẩu hầu hết là những vùng còn nhiều khó khăn về tự nhiên, xã hội, kết cấu hạ tầng cũng như hoạt động kinh tế, hoạt đông quản lý còn nhiều khó khăn Trong những năm qua, Việt Nam
đã từng bước xây dựng được cơ chế, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và điều hành hoạt động thương mại biên giới Các chính sách quản lý về hàng hóa, về cư dân biên giới, về cửa khẩu, về thuế, phí, lệ phí,… đã đạt được những thành tựu nhất định Nhờ chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới, thương mại biên giới của Việt Nam với các nước được tăng lên nhanh
Trang 11chóng Nếu năm 2000, kim ngạch thương mại biên giới của Việt Nam chỉ đạt 1,2
tỷ USD, thì đến năm 2016, con số này đạt 30 tỷ USD Tuy nhiên, các chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam vẫn còn nhiều mặt hạn chế chưa thể đáp ứng như cầu phát triển thương mại trong nền kinh tế nhiều thành phần như hiện nay Một số tồn tại có thể kể đến như: chưa có chính sách về phát triển mặt hàng; chưa có chính sách hỗ trợ và quản lý hiệu quả thương nhân, cư dân biên giới; hạ tầng kỹ thuật khu vực cửa khẩu còn nhiều yếu kém; vấn đề bảo
vệ môi trường chưa được quan tâm“
“Từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu chính sách quản lý
nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam” cho luận văn cao học của
mình“
“ 2 “ Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài “
“Mục tiêu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cơ bản và thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam, luận văn đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
“Nhiệm vụ nghiên cứu:
- “Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới“
- “Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
- “Đề xuất quan điểm và một số giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
“ 3 “ Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu “
“ 3.1 “ Đối tƣợng nghiên cứu “
“Những vấn đề cơ bản và thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
“ 3.2 Phạm vi nghiên cứu “
Trang 12+ “Về không gian: Nghiên cứu chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“ “
+ “Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với
thương mại biên giới của Việt Nam từ 2011 - 2016 và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
4 “ Phương pháp nghiên cứu “
“Đề tài sử dụng các phương pháp sau“:
- “Phương pháp nghiên cứu tài liệu“
- “Phương pháp phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc “
- “Phương pháp điều tra, khảo sát“
- “Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp “
- “Các phương pháp khác…“
5 “ Kết cấu luận văn “
“Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương :
“Chương 1:“ Những vấn đề cơ bản về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
“Chương 2: “Phân tích thực trạng chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của Việt Nam“
“Chương 3: Định hướng phát triển thương mại biên giới và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới của việt nam“
Trang 13“CHƯƠNG 1“
“ 1.1 Khái quát chung về chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới “
“1.1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm của chính sách quản lý nhà
“Thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là toàn bộ hoạt động kinh doanh trên thị trường; bao gồm quá trình mua bán hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận; thương mại chỉ diễn ra trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá“
“Theo Các Mác, công thức của thương mại là: T-H-T’; T’=T+T
“Thông qua công thức, ta nhận thấy đặc điểm nổi bật của thương mại đó là không tạo ra sản phẩm, tiền - hình thái độc lập của giá trị trao đổi là điểm xuất phát, và tiền với giá trị gia tăng là điểm kết thúc“
“Ở Việt Nam, tại điều 3 của Luật Thương mại được quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, quy định rằng: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Luật Thương mại quốc tế xem hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là hoạt động thương mại Vì vậy, ngành thương mại bao gồm ba lĩnh vực chính: Thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư“
“Như đã biết, nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch theo cơ cấu: Thương mại, dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Chính điều đó làm cho thương mại luôn đặt ở vị trí trọng tâm đối với các nước phát triển và là sự tất yếu của tăng
Trang 14trưởng và hội nhập ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng“
“Hoạt động thương mại biên giới là sự lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ
qua biên giới đất liền trong phạm vi vùng biên giới hoặc gia tăng giá trị dịch vụ vùng biên giới giữa Việt Nam với các nước có chung biên giới“
“Hoạt động thương mại biên giới là một cơ chế thương mại đặc biệt, đặc thù, một ngoại lệ, không bị ràng buộc và được quy định rõ ràng trong các điều khoản riêng lẻ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)“
“Điều XXIV Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) nêu rõ:
“Các điều khoản của Hiệp định này sẽ không được diễn giải nhằm ngăn cản các ưu đãi mà một bên ký kết dành cho các quốc gia láng giềng nhằm tạo thuận lợi cho thương mại biên giới”“
“Trong quy chế Tối huệ quốc (MFN), “Điều 25 Điều khoản Tối huệ quốc về
ưu đãi nhằm tạo thuận lợi cho thương mại biên giới: quốc gia được hưởng mà không phải là nước láng giềng thì không được hưởng những ưu đãi thuận lợi mà quốc gia kia dành cho một nước láng giềng thứ ba để nhằm tạo thuận lợi cho thương mại biên giới.”
“Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp được phân hoá và hình thành trong lĩnh vực kinh tế Chỉ khi nào xem xét con người trong quá trình tái sản xuất xã hội, người ta mới có khái niệm về giai cấp Giai cấp là một tập hợp những con người cùng vị trí trong nền kinh tế quốc dân Vị trí của con người trong nền kinh tế được xem xét trên ba mặt: vị trí của họ đối với tư liệu sản xuất (tức TLSX thuộc về ai),
vị trí của họ trong quá trình quản lý nền kinh tế (tức, ai là chủ thể quản lý, ai là đối tượng quản lý) và vị trí của họ trong quá trình phân chia thành quả lao động (tức, ai
là người có quyền phân chia thành quả lao động và quyết định hưởng thụ).Vậy, chính trên lĩnh vực kinh tế lúc nào cũng có cuộc đụng độ giai cấp giữa một bên là giới chủ với một bên là giới thợ Cuộc đấu tranh này đương nhiên là khốc liệt
Trang 15Thông thường, trong quan hệ chủ-thợ, luôn có sự bóc lột quá mức của chủ, sự thiếu sót của chủ trong việc bảo hộ và bảo hiểm lao động Ngược lại, giới thợ thuyền cũng đấu tranh với chủ để bảo vệ lợi ích của mình, trong đó đôi khi cũng xảy ra sự đấu tranh quá mức của thợ thuyền Khi một xã hội còn cần đến cả hai giai cấp trên,
xã hội đó không thể để cho sự mâu thuẫn trên dẫn đến sự huỷ diệt tính mạng và tài sản của cả đôi bên Cũng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước là công cụ của giai cấp, có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi giai cấp Do đó, Nhà nước phải can thiệp vào kinh tế mới có thể bảo vệ quyền lợi kinh tế của giai cấp được Nhìn vào nền kinh tế nước ta chúng ta cũng có thể thấy rất rõ lý do đó Trước đây, nền kinh
tế nước ta chỉ có hai thành phần sở hữu là quốc doanh và tập thể Do đó không có bóc lột Nhưng sau khi thực hiện đa dạng hoá sở hữu về tư liệu sản xuất và mở cửa
ra quốc tế, cho du nhập tư bản nước ngoài vào nước ta, vấn đề giai cấp lập tứcx uất hiện Trong hàng loạt doanh nghiệp đã nẩy sinh mâu thuẫn chủ thợ Nếu trước kia cần đến quản lý nhà nước về kinh tế là vì những lý do nào khác, thì ngày nay, ngoài các lý do kia, còn có thêm một lý do mới, thậm chí là lý do hàng đầu, là vấn
đề bảo vệ quyền lợi giai cấp Sự bảo vệ này của Nhà nước được hướng vào giai cấp chủ, giai cấp thợ hoặc cả hai Nhưng dù trên hình thức, sự bảo vệ được hướng vào
cả hai, về bản chất, bao giờ cũng hướng vào giai cấp mà Nhà nước từ đó sinh ra
(Giáo trình quản lý Nhà nước về kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, 2014)
“Quản lý được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng (khách thể) quản lý nhằm đạt mục tiêu đặt ra Quản lý hiểu theo nghĩa chung nhất là hoạt động của con người và các tổ chức (bộ máy) quản lý để tác động lên khách thể quản lý Khách thể quản lý bao gồm cả con người, tổ chức, bộ máy cũng như mọi hoạt động của chúng và các điều kiện vật chất tương ứng
“Quản lý Nhà Nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà Nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực
Trang 16hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc Về mặt pháp lý, chủ thể quản lý Nhà nước là Nhà nước với hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước và cán bộ công chức trong cơ quan đó“
“Thực chất của quản lý kinh tế nói chung là quản lý con người, hoạt động kinh tế thông qua con người để thực hiện mọi nhiệm vụ đặt ra cho các hệ thống kinh tế Hơn nữa, bản chất của quản lý Nhà nước về kinh tế là phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, giai cấp nắm chính quyền (Nhà Nước) Nhà nước XHCN với chế
độ công hữu và chính quyền nắm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà Nước
đó sẽ đem lại cuộc sống tươi đẹp cho mọi người bằng bất cứ cách quản lý nào của mình Điều đó còn phụ thuộc vào cách thức quản lý nền kinh tế như thế nào Nhà Nước quản lý bằng công cụ pháp luật, chi phối tất cả các đơn vị kinh tế ràng buộc
và tạo môi trường kinh doanh trên cơ sở pháp lý và trong mối quan hệ lợi ích, hình thức quản lý chủ yếu của Nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật“
“Quản lý Nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà Nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân, được chủ yếu thực hiện thông qua cơ quan hành pháp là Chính phủ Trong quản lý, Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể có để can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế và khắc phục những khuyết tật của thị trường mà bản thân cơ chế tự điều tiết của thị trường không khắc phục được, cũng như tạo nên sự ổn định kinh tế vĩ mô
và thúc đẩy công bằng xã hội Thị trường không thể tự thân vận động có hiệu quả
mà nó đòi hỏi phải có khung pháp lý, quy chế và chính sách mà chỉ có Chính phủ mới tạo ra được Tuy nhiên, không phải Nhà nước hay thị trường có vai trò khống chế mà là mỗi bên có vai trò, chức năng riêng Hình thức hoạt động quản lý Nhà nước được biểu hiện về sự hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đối với
Trang 17các quan hệ xã hội“
“Đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế được hiểu là quá trình tác động qua lại thường xuyên, các cơ hội khách quan và chủ quan mang lại, được điều tiết bởi phương tiện và công cụ của Nhà Nước để đạt được các mục tiêu tăng trưởng và phát triển Đổi mới là một quá trình phức tạp bởi sự phối hợp của nhiều chính sách, bởi không thể một chính sách có thể tạo nên sự phát triển Đổi mới là một quá trình
có sự tác động qua lại giữa các yếu tố Vấn dề cần nghiên cứu là liệu kết hợp đan xen các chiến lước đó như thế nào để mang lại hiệu quả tốt nhất“?
“Việt Nam với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN với những đặc trưng cơ bản được xác định như sau: Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, sử dụng cơ chế thị trường và áp dụng các hình thức, phương pháp quản lý kinh tế thị trường để kích thích sản xuất; Kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có nhiều hình thức sở hữư, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; Kinh tế thị trường nước ta là có sự quản lý của Nhà nước XHCN, được quản lý bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ quản lý khác“
“Chức năng quản lý Nhà Nước về kinh tế là nội dung hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý nền kinh tế, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải thực hiện để quản lý nến kinh tế quốc dân, có nhiều cách tiếp cận chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế như“:
“Cách tiếp cận theo các giai đoạn của quá trình quản lý, Nhà nước phải thực hiện các chức năng sau: Chức năng định hướng nền kinh tế; Chức năng tổ chức các
hệ thống kinh tế hoạt động; Chức năng điều hành nền kinh tế; Chức năng kiểm tra; Chức năng điều chỉnh nền kinh tế“
“Theo cách tiếp cận theo phương hướng tác động, chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế bao gồm: Tạo môi trường và các điều kiện cho sản xuất kinh
Trang 18doanh; Dẫn dắt và hỗ trợ sự phát triển; Đảm bảo sự thống nhất giữa phát triển kinh
tế và phát triển xã hội; Quản lý các doanh nghiệp Nhà nước“
“Đối tượng của quản lý Nhà nước về kinh tế là các quan hệ giữa một cơ quan có quyền lực chính trị với những tập thể đại diện cho quyền sử dụng những tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao phó (đất đai, biển, hầm mỏ, nhà máy…), Nhà nước là người quản lý tài sản mang tính toàn dân và đem giao cho các doanh nghiệp sử dụng Cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế tiến hành các hoạt động tổ chức trong phạm vi toàn bộ bộ máy quản lý với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thiết lập các hệ thống quản lý các cấp và hệ thống các tổ chức kinh tế, điều hoà bằng các biện pháp kinh tế - hành chính Nhà nước phải thực hiện tốt công tác kiểm tra kiểm soát đối với mọi hoạt động trong nền kinh tế quốc dân trên cơ sở đảm bảo cho các dơn vị kinh doanh thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được luật pháp quy định.Vai trò của quản lý Nhà nước là hướng dẫn, trọng tài, kích thích, phục vụ, kiểm tra…“
“Mục tiêu của quản lý kinh tế nhằm quản lý, phân phối và sử dụng một cách
có hiệu quả các nguồn lực sản xuất, kinh doanh, đảm bảo tăng trưởng một cách ổn định bền vững; Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và công bằng
xã hội; Phát huy lợi thế so sánh trong quan hệ kinh tế quốc tế; Giữ cho môi trường sinh thái trong sạch“
“Trong quản lý Nhà nước về kinh tế, Nhà nước sử dụng hệ thống các công
cụ cần thiết để thực hiện chức năng quản lý của mình như: công cụ định hướng (kế hoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế…), công cụ kinh tế, tài chính tiền
tệ (chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư), công cụ pháp lý (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản pháp quy ), công cụ tổ chức“
“Quản lý Nhà nước về thương mại biên giới là sự quản lý của Nhà nước
đối với các hoạt động thương mại biên giới trong nền kinh tế quốc dân bằng quyền
Trang 19lực Nhà nước, thông qua các thể chế pháp lý phù hợp nhằm đảm bảo cho sự phát triển thương mại biên giới trong nền kinh tế quốc dân Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý Nhà nước về thương mại biên giới tập trung vào các nội dung chính sau: quản lý xuất nhập khẩu, phát triển thương mại biên giới nội địa, giữ vững sự ổn định của thị trường hàng hoá và dịch vụ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quản lý và phát triển thương mại biên giới điện tử, quản lý thị trường, quản lý cạnh tranh, chống độc quyền và chống bán phá giá, công tác xúc tiến thương mại biên giới, hội nhập kinh tế quốc tế Sự quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới ở nước ta thể hiện bằng các công cụ như hệ thống luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển thương mại biên giới“
“Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại biên giới, chức năng
và nhiệm vụ sẽ quy định tại cơ cấu tổ chức của cơ quan đó Tại điều 87, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2010 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh trong quản lý Nhà nước về thương mại biên giới như sau“:
+ “Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới thương mại biên giới, dịch
vụ, du lịch; hướng dẫn, sắp xếp mạng lưới thương mại biên giới, dịch vụ, du lịch trên địa bàn“
+ “Tham gia hợp tác quốc tế về thương mại biên giới, dịch vụ, du lịch theo quy định của pháp luật“
+ “Cấp, thu hồi giấy phép kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, khách sạn, lữ hành nội địa theo quy định của pháp luật“
+ “Tổ chức quản lý xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật; Chỉ đạo công tác quản lý thị trường; Quy định các quy tắc về vệ sinh và an toàn trong hoạt động thương mại biên giới, dịch vụ, du lịch“;
+ “Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về hoạt động thương mại biên giới, du lịch và dịch vụ“
Trang 20“Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thì đổi mới quản lý Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, và vai trò của quản lý Nhà nước về thương mại biên giới lại càng rõ ràng hơn Chính vì thế, đổi mới quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương mại biên giới là một vấn đề cần phải được tìm hiểu thấu đáo và toàn diện
cả về lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước lại phụ thuộc chính vào khả năng tạo ra những quyết định hữu hiệu, vào năng lực quản lý hành chính
và mặt bằng phát triển của nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi Chính phủ cũng như các cấp các ngành luôn vươn tới các đối tác và chuẩn mực quốc tế, đó là cách chuẩn nhất để quản lý những biến đổi của ngành thương mại biên giới Chính sách thương mại biên giới có vai trò rất lớn trong việc khai thác triệt để các lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nước, phát triển những ngành sản xuất dịch vụ tối ưu, nên chính sách thương mại biên giới có vai trò quan trọng trong hệ thống các chính sách của Nhà nước“
“Chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới là một hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại biên giới trong và ngoài nước ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu đã đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Chính sách quản lý Nhà nước đối với thương mại biên giới quy định các vấn đề: Thương nhân
và hoạt động của chính sách phát triển thương mại biên giới trong nước và quốc tế, chức trách của các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương mại biên giới,
tổ chức lưu thông hàng hoá, phát triển thương mại biên giới các vùng khó khăn, chính sách thuế quan và bảo hộ, chính sách phi thuế quan, trách nhiệm và quyền hạn của thương nhân khi kinh doanh trong nước hay với nước ngoài, hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực thương mại biên giới“
“Quá trình đổi mới nền kinh tế và đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế ở nước ta diễn ra được hơn 30 năm Tuy nhiên, cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước về kinh tế vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, đổi mới quản lý Nhà nước cần xuất
Trang 21phát từ chính thực tiễn phát triển của Việt Nam chứ không thể là hình mẫu sao chép từ nước ngoài, được kiểm nghiệm qua thực tiễn cũng như đón bắt được xu thế phát triển của đất nước trong quá trình hội nhập Việt Nam đã trải qua một thời gian dài hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch hoá nên quản lý Nhà nước vẫn chịu ảnh hưởng nhiều bởi cơ chế quan liêu, bao cấp nên đổi mới tư duy quản lý Nhà nước về kinh tế cần phải có một quá trình thay đổi cả về nhận thức lẫn hành động, được kiểm nghiệm, đúc kết từ thực tiễn Hơn nữa, lý luận quản lý Nhà nước về kinh tế là sự kết hợp của nhiều ngành khoa học và phụ thuộc vào nhiều nhân tố như mặt bằng phát triển kinh tế, xuất phát điểm của nền kinh tế, những tác động từ bên ngoài như cách mạng khoa học công nghệ, quá tŕnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Đổi mới quản lý Nhà nước đối với sự phát triển thương mại biên giới của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng trong giai đoạn tới cần tập trung vào các nội dung chính như sau: Xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường, đổi mới công tác tổ chức bộ máy và công tác cán bộ, cải cách thủ tục hành chính“
“Hoạt động quản lý Nhà nước thương mại thương mại biên giới đa dạng, phong phú và có tính linh hoạt cao về điều kiện kinh doanh, về chủ thể kinh doanh,
về quy mô, về mặt hàng kinh doanh, về phương thức kinh doanh, phương thức thanh toán , bao gồm“:
- “Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân“
- “Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới“
- “Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu“
- “Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương
Trang 22mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới“
- “Chính sách quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập cảnh người và phương tiện trong hoạt động thương mại biên giới“
“Thứ nhất, Hoạt động thương mại biên giới của Việt Nam nói chung chịu sự điều chỉnh của chính sách Việt Nam và các nước có chung biên giới Với đặc điểm, chiến lượt phát triển kinh tế - thương mại trong mỗi thời kỳ khác nhau, các nước có chung đường biên giới cũng có những mục tiêu khác nhau về phá triển thương mại biên giớ“
“Thậm chí, hai nước có chung đường biên giới đất liền có cùng mục tiêu phát triển, vẫn có nhiều điểm không giống nhau trong chính sách quản lý thương mại biên giới, nhất là các chính sách ưu đãi đối với các thương nhân cũng như phạm vi áp dụng ưu đãi“
“Chính sách ưu đãi hoạt động thương mại biên giới có thể do một nước đơn phương ban hành và áp dụng hoặc do hai nước có chung biên giới thỏa thuận nhằm mục tiêu phát triền kinh tế - xã hội vùng biên giới Chính sách ưu đãi thương mại biên giới của các nước thường linh hoạt theo từng thời kỳ“
“Bên cạnh đó, hoạt động thương mại biên giới còn chịu sự chi phối của các tập quán mua bán dân gian vốn đã được hình thành và tồn tại từ lâu đời của các hộ kinh doanh và cư dân các vùng dọc biên giới hai nước có chung đường biên giới đất liền“
“Thông qua các chính sách, công cụ kinh tế vĩ mô như: ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán trong nước và quốc tế, Nhà nước điều tiết và bảo đảm kinh tế tăng trưởng bền vững, ổn định Kết cấu hạ tầng như hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế chủ yếu do Nhà nước đầu tư hoặc tạo cơ chế, chính sách thông thoáng để các thành
Trang 23phần kinh tế khác tham gia đầu tư, xây dựng“
“Thứ hai, Quản lý nhà nước về thương mại biên giới là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động thương mại biên giới trong nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất và tài chính, tín dụng đối với tất cả các thành phần kinh tế Thực chất của chức năng quản lý nhà nước về hoạt động thương mại biên giới là tạo ra và thực hiện một cơ chế hay phương thức quản lý cho tất cả các thành phần kinh tế nhằm bảo đảm sự phát triển thương mại biên giới theo định hướng xã hội chủ nghĩa“
“Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại biên giới cho phù hợp với yêu cầu mới của cơ chế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề còn rất mới mẻ đối với Việt Nam Mặt khác, hoạt động thương mại biên giới với tư cách là đối tượng quản lý lại đang trong quá trình đổi mới, hình thành, phát triển và hoàn thiện Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà kinh tế và quản lý đang góp phần xác định một cách đúng đắn, có cơ sở khoa học về các chức năng và nội dung của quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại biên giới, du lịch trong bước chuyển sang cơ chế thị trường Điều rất quan trọng là trong thời gian gần đây, Cục Thương mại biên giới và Tổng cục Du lịch đã và đang tổ chức các cuộc hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học
để ngày càng hoàn thiện chức năng quản lý nhà nước về thương mại biên giới ở địa phương Nhờ đó việc xác định đúng đắn và hoàn thiện chức năng quản lý nhà nước
về hoạt động thương mại biên giới sẽ có cơ sở khoa học và thực tiễn hơn“
“Thứ ba, Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước ở cấp tỉnh đối với hoạt động thương mại biên giới được quy định tại Luật Tổ chức HĐND và UBND số 11/2003/QH11 ban hành ngày 26/11/2003, Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 Cụ thể là“:
- “Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại biên giới“
Trang 24- “Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển hoạt động thương mại biên giới phù hợp quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội cả nước và của địa phương Tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển thương mại biên giới sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; tham gia hợp tác quốc tế về thương mại biên giới, dịch vụ theo quy định của pháp luật“
- “Xây dựng kế hoạch thương mại biên giới hằng năm của cả nước, của địa phương; trên cơ sở kế hoạch để chỉ đạo hoạt động thương mại biên giới và hướng dẫn điều tiết các thành phần kinh tế khác hoạt động theo kế hoạch định hướng đề
ra“
- “Cấp, thu hồi giấy phép kinh doanh du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, khách sạn, lữ hành nội địa của tỉnh theo quy định của pháp luật Tổ chức quản lý xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật; chỉ đạo công tác quản lý thị trường Quy định các quy tắc về an toàn và vệ sinh trong hoạt động thương mại biên giới“
- “Tổ chức thực hiện các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước đối với các đối tượng thuộc diện ảnh hưởng chính sách ưu đãi trên địa bàn, đặc biệt là việc cung ứng các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu cho đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng
xa“
- “Tổ chức thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất các hoạt động thương mại biên giới trong việc chấp hành các chính sách pháp luật của Nhà nước quy định nhằm đấu tranh chống buôn lậu, kinh doanh trái phép, gian lận thương mại biên giới và những biểu hiện tiêu cực trong quản lý và kinh doanh thương mại biên giới“
- “Tổ chức thu thập, cung cấp thông tin về thị trường, về cung cầu hàng hóa,
về xu thế phát triển của du lịch thế giới, khu vực và trong nước, tổ chức các hoạt động về thương mại biên giới“
Trang 25“1.1.2 “Mục tiêu và vai trò của chính sách quản lý nhà nước đối với
“Trước xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá, cùng với sự đóng góp to lớn của thương mại biên giới vào sự phát triển nền kinh tế, trong những năm tới đây việc hoàn thiện quản lý nhà nước về thương mại biên giới phải đáp ứng được những mục tiêu đặt ra sau đây“:
- “Phát triển thương mại biên giới phải đảm bảo hiệu quả kinh tế- xã hội nhằm đạt mức tăng trưởng cao và phát triển ổn định, bền vững“
- “Phát triển thương mại biên giới gắn với yêu cầu kết hợp với quốc phòng“
- “Phát triển thương mại biên giới theo hướng văn minh và hiện đại, gắn phát triển thương mại biên giới với bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ và phát huy bản cắc văn hoá dân tộc Việt Nam“
- “Thực hiện tự do hoá thương mại biên giới, gắn phát triển thị trường trong nước với thị trường ngoài nước, từng bước hội nhập thương mại biên giới Việt Nam với thương mại khu vực và thế giới“
- “Đổi mới công tác xây dựng chiến lược quy hoạch và các chính sách thương mại biên giới cho phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế nhằm thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế“
- “Xây dựng các công cụ chính sách đòn bẩy trong quản lý nhà nước về thương mại biên giới phải tạo ra sự vận hành đồng bộ, nhất quán và có tính ổn định tương đối“
- “Xây dựng các công cụ chính sách đòn bẩy trong quản lý nhà nước về thương mại biên giới sao cho tương thích với các thông lệ quốc tế, phù hợp với tiến trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế“
Trang 26“Một là, Chính sách quản lý Nhà nước tạo môi trường và điều kiện cho
thương mại biên giới phát triển“
“Nhà nước quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới bao gồm các hoạt động sau“:
a) “Hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân“
b) “Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới
c) “Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu“
d) “Dịch vụ hỗ trợ thương mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới“ Thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài được thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới Căn cứ điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại khu vực cửa khẩu phụ, lối mở biên giới, Ủy ban nhân dân tỉnh biên giới chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương lựa chọn thương nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để thực hiện mua bán hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới
“Nhà nước quy định các điều kiện trong thương mại biên giới để tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho tất cả các doanh nghiệp, cá nhân tham gia“
“Để thực hiện đúng đắn chức năng phân phối của mình, nền kinh tế thị trường đòi hỏi một loạt thể chế phát triển cao, trong đó có hệ thống pháp lý để chống lại bạo lực và gian lận bao gồm: hệ thống có liên quan tới những quyền sở hữu, những điều luật về phá sản và khả năng thanh toán, hệ thống tài chính với ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại để giữ cho việc cung cấp tiền mặt được thực hiện một cách nghiêm ngặt…“
“Thật vậy, trong các nền kinh tế thị trường không có gì bảo đảm để không diễn ra bạo lực và gian lận Đó là lý do tại sao Nhà nước cần phải có lưu trữ văn bản, hồ sơ, chứng từ về đất đai, nhà ở, đảm bảo các hợp đồng mua bán tất cả các loại sản phẩm Cả người mua lẫn người bán đều muốn là khi cả hai phía đã đồng ý
Trang 27trao đổi thì sự thoả thuận nhất định phải được thực hiện Tình hình đó cũng giống như đối với quan hệ giữa người chủ và người làm công Người lao động đã với tư cách cá nhân hay tập thể trong các tổ chức hiệp hội cũng đều có sự thoả thuận nhất định về điều kiện làm việc, tiền lương với chủ sử dụng lao động Nếu như không
có sự đảm bảo cho các thoả thuận ấy, nghĩa là không có sự thực thi của luật pháp thì các giao dịch trên thị trường trở nên khó mà có thể thực hiện“
“Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng quyền sở hữu đó Nếu không có sự đảm bảo ấy, một số người sẽ gặp phải những rủi ro nếu đầu tư thời gian và tiền vốn của mình vào lĩnh vực kinh doanh mà rốt cuộc, tiền lãi thu về lại có thể rơi vào Nhà nước hoặc các tập đoàn khác“
“Sự bảo hộ của Nhà nước đối với sở hữu tư nhân thể hiện một cách rõ ràng đối với đất đai, nhà máy, công xưởng, kho chứa và các sản phẩm hữu hình khác Thế nhưng, sự bảo hộ đó còn được áp dụng cho cả các sở hữu liên quan tới trí tuệ, chẳng hạn như sách, bài viết, phim ảnh, hội họa, phát minh, sáng chế, thiết kế, bào chế thuốc hay chương trình phần mềm Đây là một sự can thiệp rất quan trọng của Nhà nước trong việc bảo vệ bản quyền tác giả và qua đó, khuyến khích những hoạt động sáng tạo của các nhà khoa học, các nghệ sĩ, khuyến khích việc phát huy khả năng trí tuệ của họ“
“Hai là, Nhà nước định hướng cho sự phát triển của thương mại biên giới“
“Nhà nước nghiên cứu Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại biên giới
để tạo điều kiện thuận lợi cho người, phương tiện và hàng hóa qua lại cửa khẩu, mua bán tại chợ biên giới; xây dựng các chính sách về thuế đối với hàng hóa kinh doanh tại chợ biên giới và các quy định khác phù hợp với quy định pháp luật của các nước“
“Ba là, Nhà nước điều tiết và can thiệp vào quá trình hoạt động thương mại
Trang 28biên giới của nền kinh tế quốc dân“
“Các doanh nghiệp, cá nhân tham gia vào hoạt động thương mại biên giới chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố ngoại vi“
“Yếu tố ngoại vi là các ảnh hưởng tốt hay không tốt do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động của công ty hay cho xã hội nói chung Yếu tố ngoại vi xảy
ra khi có sự khác biệt về phí tổn hoặc lợi ích giữa cá nhân và xã hội Tuy nhiên, các chi phí hoặc lợi ích này (chi phí ngoại vi hoặc lợi ích ngoại vi) lại không được tính đến trong hệ thống giá cả và thị trường Những chi phí ngoại vi cho sản xuất bao gồm: sự tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm môi trường mà nhà máy hoặc xí nghiệp sản xuất tạo ra Những yếu tố này gây nên sự giảm sút về phúc lợi của những người dân sống xung quanh hoặc có thể buộc những nhà máy khác gần đó phải tốn kém thêm chi phí để làm sạch nước sông đã bị ô nhiễm mà mình phải sử dụng trong sản xuất Vì phía thứ ba không được đền bù cho những khoản chi phí ngoại vi, nên các phí tổn sản xuất không được tính đến trong hệ thống giá Trong nền kinh tế thị trường tự do, người ta chỉ mưu toan sử dụng tối đa những phương tiện hay lợi nhuận riêng của mình, và những chi phí hay lợi ích ngoại vi sẽ không được phản ánh trong giá cả của các đồ vật Ví dụ, trường hợp một nhà máy có thể làm ra một loại sản phẩm rất rẻ nhưng lại làm ô nhiễm môi trường, gây ra sự giảm sút về phúc lợi cho những người khác Và do vậy, vai trò kinh tế của Nhà nước là điều chỉnh lại sự bất hợp lý này Bằng sự can thiệp, Nhà nước buộc tất cả những ai hưởng lợi từ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đều phải trả toàn bộ chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ấy“
“Tuy nhiên, Nhà nước không dễ dàng quyết định chính xác chi phí ấy là bao nhiêu, vì không thể định lượng một cách chính xác tác hại mà sự ô nhiễm ấy có thể gây ra cho xã hội Vì những khó khăn này, Nhà nước cần phải đảm bảo chi phí giảm ô nhiễm không được cao hơn so với chi phí mà ô nhiễm gây ra cho xã hội Nếu không các nguồn lực sẽ không được phân bố hiệu qua“
Trang 29“Nhà nước có thể sử đụng một hệ thống thuế, luật pháp, điều lệ, mức hình phạt, thậm chí cả mức truy tố để nhằm giảm ô nhiễm Ngoài ra, Nhà nước còn sử dụng cả chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên, người sử dụng nguồn tài nguyên này nếu gây ô nhiễm sẽ phải chịu chi phí theo giá thị trường Các khoản thuế hay biện pháp trợ cấp tối ưu đều được coi là phương thức để Nhà nước
xứ lý những yếu tố ngoại vi Do chỗ toàn bộ chi phí xã hội là cái quan trọng quyết định sự phân bố tài nguyên một cách có hiệu quả, còn những chi phí tư nhân quyết định giá hàng, cho nên vai trò của Nhà nước là tạo ra sự thăng bằng giữa cá nhân
và xã hội thông qua việc điều chỉnh sản xuất thừa hoặc tiêu dùng thừa vào chi phí ngoại vi“
“Trong các lợi ích ngoại vi, cần chú ý tới giáo dục bởi đây là lĩnh vực cần phải có sự quan tâm và hỗ trợ của Nhà nước Ngoài ra, trong chừng mực một sán phẩm nào đó có thể tạo ra được lợi ích ngoại vi, Nhà nước cần xem xét vấn đề trợ cấp tối ưu để khuyến khích sản xuất, tiêu dùng loại sản phẩm này sao cho giá trị đích thực các lợi ích ngoại vi được tính đến trong hệ thống giá thị trường Ở đây,
sự can thiệp cửa Nhà nước là cần thiết, vì trong khi chi phí ngoại vi có thể dẫn đến sản xuất thừa thì ngược lại, lợi ích ngoại vi lại có thể dẫn đến sản xuất thiếu“
“Bốn là, Nhà nước quản lý trực tiếp khu vực kinh tế Nhà nước và hàng hóa
công cộng“
“Quốc phòng là một ví dụ chứng tỏ vai trò tối quan trọng của Nhà nước Điều đó được quyết định bởi quốc phòng là một kiểu hàng hoá hoàn toàn khác hẳn với các loại hàng hoá vật thể khác ở chỗ, người ta không trả tiền cho mỗi đơn vị sử dụng mà mua nó như một tổng thể nhằm mục đích bảo vệ an ninh của cả một quốc gia Ở đây, bảo vệ cho một cá nhân không có nghĩa là giảm bảo vệ cho người khác, bởi tất cả mọi người tiêu thụ các dịch vụ quốc phòng một cách đồng thời“
“Các loại hàng hoá kiểu như vậy được gọi là hàng hoá công cộng, bởi không một doanh nghiệp tư nhân nào có thể bán quốc phòng của toàn dân cho các công
Trang 30dân riêng lẻ và coi đó là nghề kinh doanh thu lãi Đơn giản là không thể có chuyện dịch vụ quốc phòng lại được đem rao bán cho những người cần hoặc không thực hiện bảo vệ an ninh quốc gia, cho những người từ chối chi trả kinh phí cho quốc phòng Hơn nữa, hàng hoá công cộng là thứ hàng hoá không thể định giá chính xác được, cho nên tư nhân không thể cung cấp Đấy là nguyên nhân chính giải thích vì sao quốc phòng phải do Nhà nước điều hành và chi phí cho quốc phòng phải được lấy từ nguồn tài chính công, từ ngân sách Nhà nước có được thông qua thuế“
“Hàng hoá công cộng có ba đặc tính: tính không kình địch trong tiêu dùng, tính không loại trừ (Non-excludability) và tính không thể không tiêu dùng mà tựu trung lại, tất cả mọi người đều có nghĩa vụ và quyền lợi tiêu dùng hàng hoá công cộng như nhau Có nhiều ví dụ về hàng hoá công cộng, từ các biện pháp chống lũ lụt cho đến việc phòng chống vũ khí nguyên tử, nhưng hai ví dụ có thể thấy rõ vai trò của Nhà nước một cách trực tiếp và thường xuyên nhất, đó là xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định kinh tế vĩ mô“
“Thật vậy, một nền kinh tế không thể "cất cánh" được trừ phi nó có được một cơ sở hạ tầng vững chắc Nhưng cũng do tính không thể phân chia của hàng hoá công cộng mà các tư nhân thấy rằng đầu tư vào đây không có lợi Vì thế, ở hầu hết các nước, Nhà nước bỏ vốn vào đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô cũng có thể xem như là hàng hoá công cộng Đặc điểm của nền kinh tế thị trường
là sự bất ổn định do các cuộc khủng hoảng chu kỳ Sự ổn định kinh tế rõ ràng là điều mà mọi Nhà nước đều mong muốn và nó có lợi cho tất cả mọi người Do vậy, chính Nhà nước phải chịu trách nhiệm duy trì sự ổn định đó trên tầm vĩ mô“
“ 1.2 Nội dung của chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới
“Hàng hóa được trao đổi, mua bán, xuất nhập khẩu theo hình thức thương mại biên giới được thực hiện theo những quy định tại nghị định số 12/2006/NĐ-CP
Trang 31ngày 23 tháng 1 năm 2006 của chính phủ quy định chi tiết thi thi hành luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài Trong đó, quy định nêu rõ những yêu cầu cụ thể về chủng loại hàng hóa, chất lượng hàng hóa và quy cách hàng hóa nhằm đảm bảo hàng hóa theo hình thức thương mại biên giới tuân thủ các quy định của Pháp luật Việt Nam và quốc tế, đặc biệt là an toàn cho người tiêu dùng, sử dụng hàng hóa, dịch vụ“
“Hoạt động buôn bán hàng hoá qua biên giới bao gồm“:
- “Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới“
- “Buôn bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu và chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu“
- “Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ buôn bán quốc tế đã được thỏa thuận trong các Hiệp định thương mại song phương giữa Cộng hòa xã hội Việt Nam và các nước có chung biên giới“
“Về chủng loại hàng hóa được phép buôn bán qua biên giới, Nhà nước quy định như sau: Hàng hóa mua bán qua biên giới phải đáp ứng các quy định tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài“
“Hàng hóa được mua bán qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới trong các trường hợp cụ thể đảm bảo nguyên tắc khuyến khích xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu trong hoạt động thương mại biên giới Bộ Công Thương hướng dẫn hàng hóa mua bán qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới của thương nhân trong từng thời kỳ sau khi trao đổi với Bộ Tài chính, các Bộ, cơ quan liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh biên giới
“Mặt khác, Nhà nước quản lý hàng hóa buôn bán qua biên giới thông qua
Trang 32quản lý chất lượng hàng hóa, thể hiện ở các mặt sau:
- “Chất lượng hàng hóa buôn bán qua biên giới phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.“
- “Đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc Danh mục phải kiểm tra chất lượng và kiểm dịch theo quy định hiện hành thì phải được kiểm tra về chất lượng trước khi thông quan; không được nhập khẩu qua những cửa khẩu không có các điểm kiểm dịch động thực vật, kiểm tra chất lượng hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam“
- “Ủy quyền Bộ trưởng Bộ Thương mại, sau khi trao đổi với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Y tế, xem xét, có biện pháp điều hành cụ thể việc kiểm soát xuất khẩu, nhập khẩu những mặt hàng không bảo đảm các yêu cầu
vệ sinh, an toàn thực phẩm và sức khoẻ người tiêu dùng“
“1.2.2 “Chính sách quản lý Nhà nước đối với thương nhân và cư dân biên giới“
“Tương tự như hoạt động thương mại quốc tế thông thường, hoạt động thương mại biên giới chủ yếu được thực hiện bởi các tập đoàn, tổng công ty, công
ty lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, do đặc thù xuất phát từ điều kiện địa lý liền kề, sự tương đồng về văn hóa xã hội, tôn giáo, phong tục… Hoạt động thương mại biên giới còn có các doanh nghiệp siêu nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể
và đặc biệt là cư dân biên giới“
“Thương nhân biên giới được quy định tại Điều 5 – Quyết định số 52/2015/QĐ-TTg ngày 20/10/2015 về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới như sau“:
“Thương nhân Việt Nam không có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (dưới đây gọi tắt là thương nhân) được thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới Căn cứ điều kiện hạ tầng kỹ thuật tại khu vực cửa khẩu phụ, lối mở biên giới,
Ủy ban nhân dân tỉnh biên giới chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương lựa chọn
Trang 33thương nhân đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật để thực hiện mua bán hàng hóa qua cửa khẩu phụ, lối mở biên giới
“Thương nhân có vốn đầu tư nước ngoài, công ty và chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam chỉ được thực hiện mua bán hàng“
“Hoạt động mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân hoặc cá nhân của nước có chung biên giới bằng các hình thức sau“:
- “Hợp đồng bằng văn bản“
- “T“rường hợp không xác lập hợp đồng bằng văn bản thì thương nhân thực hiện mua bán hàng hóa qua biên giới phải lập bảng kê mua bán hàng hóa qua biên giới Bảng kê được thương nhân Việt Nam ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, có giá trị pháp lý tương đương hợp đồng“
“Bộ Công Thương hướng dẫn mẫu Bảng kê mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân có tên thương nhân hoặc cá nhân, tên hàng hóa, đơn giá, số lượng
và các nội dung cần thiết khác để việc kê khai, theo dõi, quản lý được thống nhất“
“Do đó, chính sách quản lý nhà nước về thương nhân và cư dân biên giới đưa ra các quy định cụ thể về loại hình kinh doanh của từng đối tượng, qua đó phân loại đối tượng được mua bán trao đổi hàng hóa qua biên giới và xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Bên cạnh đó, các chính sách về xuất nhập cảnh, chính sách về lao động, cũng như dịch vụ phiên dịch, khuân vác và các hoạt động tại cửa khẩu cũng được quy đinh đối với từng loại đối tượng cụ thể“
“Chính sách quản lý về cửa khẩu phân chia các loại cửa khẩu dành cho từng loại đối tượng hàng hóa hoặc doanh nghiệp, thương nhân của từng vùng cũng như nước đối tác“
“Điều kiện kinh doanh tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh
tế cửa khẩu thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14
Trang 34tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ, Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan“
“Chủ thể hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu được Nhà nước quy định như sau“:
- “Thương nhân là cá nhân kinh doanh mang quốc tịch Việt Nam và có hộ khẩu thường trú tại khu vực biên giới“
- “Thương nhân là doanh nghiệp Việt Nam và hộ kinh doanh được thành lập, đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh“
- “Thương nhân là cá nhân kinh doanh mang quốc tịch của nước có chung biên giới, có một trong các giấy tờ có giá trị sử dụng như sau: Giấy Chứng minh thư biên giới, Giấy Thông hành xuất nhập cảnh vùng biên giới, Hộ chiếu hoặc giấy
tờ có giá trị xuất nhập cảnh khác được cấp theo quy định của pháp luật của nước có chung biên giới“
-“ Thương nhân là doanh nghiệp, hộ kinh doanh của nước có chung biên giới đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật của nước có chung biên giới“
“Chợ biên giới là một đặc thù của hoạt động biên giới mà ở đó là nơi giao dịch, mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ không chỉ của khu vực biên giới, vùng biên giới mà còn tư cả hai nước có chung biên giới cũng như các nước và vùng lãnh thổ thứ ba Quyết định 254/2006/QĐ-TTg cũng nêu rõ cách phân loại chợ biên giới, các quy định về chủ thể kinh doanh và cách thức để quản lý chợ theo quy định của nhà nước Việt Nam“
“Hàng hóa được mua bán, trao đổi tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu phải được kiểm dịch, cụ thể là“:
- “Hàng hóa mua bán, trao đổi tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong
Trang 35Khu kinh tế cửa khẩu thuộc đối tượng phải kiểm dịch (y tế, động vật, thực vật, thủy sản) thì phải thực hiện chế độ kiểm dịch theo quy trình thủ tục kiểm dịch của Bộ Y
tế (đối với hàng hóa thuộc đối tượng phải kiểm dịch y tế), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đối với hàng hóa thuộc đối tượng phải kiểm dịch động vật, thực vật, thủy sản)“
- “Khi hàng hóa được nhập khẩu từ nước có chung biên giới đưa vào chợ hoặc từ chợ xuất khẩu sang nước có chung biên giới thì phải làm thủ tục kiểm dịch với cơ quan kiểm dịch tại cửa khẩu, lối mở biên giới nơi hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu đi qua“
a “Chính sách về thuế“
“Thuế nhập khẩu hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới đất liền được áp theo hai phương thức: Thuế theo cam kết quốc tế đối với nhập khẩu hàng hóa theo thông lệ quốc tế và miễn giảm thuế nhập khẩu trong thương mại biên giới Tùy theo từng loại mặt hàng sẽ có các điều khoản, các mức thuế áp hoặc miễn giảm thuế phù hợp“
“Thương nhân mua bán hàng hóa qua biên giới phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ vê thuê theo quy định của pháp luật hiện hành đối với hàng hóa mua bán qua biên giới, được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật hiện hành và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập
“Hàng hóa xuất khẩu dưới hình thức mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân được hoàn thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật hiện hành“
“Thương nhân kinh doanh trong chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu phải tuân thủ các quy định hiện hành về thuế của Việt Nam: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài, thuế tiêu thụ đặc biệt và các loại thuế khác“
Trang 36“Bộ Tài chính là cơ quan hướng dẫn thủ tục hải quan về mua bán hàng hóa qua biên giới của thương nhân tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh
tế cửa khẩu“
b “Chính sách về phí và lệ phí“
“Mức phí và lệ phí hành chính đối với hoạt động thương mại biên giới có thể
do chính quyền trung ương quy định chung, nhưng thường do các chính quyền địa phương biên giới ấn định Chính sách quản lý về phí và lệ phí nhằm đảm bảo việc ban hành các loại phí và lệ phí đồng bộ, thống nhất, không gây chồng chéo, cản trở các hoạt động kinh doanh đồng thời quy định các thủ tục phải thực hiện Ngoài ra, chính sách quản lý còn giúp loại bỏ, cập nhật kịp thời các loại phí và lệ phí giúp thúc đẩy hoạt động thương mại biên giới, tránh các thủ tục nhiêu khê rườm rà“
“Chính sách quản lý về tiền tệ đưa ra các định nghĩa chung về tiền tệ giữa các nước, tỉ giá quy chuẩn để chuyển đổi tiền tệ, giúp người sử dụng cân nhắc sử dụng đồng tiền thanh toán một cách linh hoạt và đa dạng
“Chính sách quản lý về thanh toán đưa ra các quy định nhằm da dạng hoá các phương thức thanh toán giúp thương nhân và cư dân biên giới dễ dàng thỏa thuận để đạt được mục tiêu với chi phí hợp lý cho từng loại hàng hóa dịch vụ“
“Ngày 20/10/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định TTg về quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới“
52/2015/QĐ-“Theo đó, hoạt động thương mại biên giới được thanh toán bằng ngoại tệ tự
do chuyển đổi, đồng Việt Nam hoặc đồng tiền của nước có chung biên giới theo các phương thức sau“:
-“ Thanh toán qua ngân hàng“
- “Thanh toán không dùng tiền mặt“
“Bao gồm: bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa, dịch vụ
Trang 37nhập khẩu; thông qua tài khoản phù hợp với quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam; thanh toán trực tiếp vào tài khoản của thương nhân tại ngân hàng khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới của Việt Nam“
- Thanh toán bằng tiền mặt
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện thanh toán trong hoạt động thương mại biên giới
“Đối với kho bãi, kinh doanh, giao nhận, vận chuyển chủ yếu tập trung vào các biện pháp hỗ trợ cụ thể để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ kho bãi, giao nhận, vận chuyển, gia công, đóng gói, bốc dỡ hàng hóa Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu phù hợp với các vùng có khu vực cửa khẩu phát triển, chưa thực sự phù hợp với tất cả các vùng miền“
“Các dịch vụ hỗ trợ thương mại tại khu vực cửa khẩu, lối mở biên giới theo quy định của Nhà nước bao gồm“:
- “Dịch vụ hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan“
- “Dịch vụ kho, bãi, giao nhận, vận chuyển, bảo quản hàng hóa“
-“Dịch vụ gia công, bao bì, đóng gói hàng hóa“
-“ Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa, lao động, phiên dịch, vệ sinh, bảo vệ“
- “Dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường các nước có chung biên giới“
- “Dịch vụ về hạ tầng kỹ thuật, bao gồm đường giao thông, nhà văn phòng làm việc, nhà trưng bày, giới thiệu sản phẩm, camera quan sát, trạm cân điện tử, điện nước, thu gom - xử lý chất thải, báo cháy, phòng cháy chữa cháy“
- “Các dịch vụ hỗ trợ khác theo quy định của pháp luật hiện hành
Việc quản lý hoạt động dịch vụ hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu quốc tế
Trang 38và cửa khẩu chính thực hiện theo quy định tại Quyết định số 45/2013/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế điều hành hoạt động tại các cửa khẩu biên giới đất liền Quản lý hoạt động dịch vụ
hỗ trợ thương mại tại các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới theo quy định của Bộ Công Thương
“ 1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách quản lý nhà nước đối với thương mại biên giới “
“1.3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội“
“Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường có nhiều khác biệt so với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Nền kinh tế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải
có năng lực đủ mạnh để can thiệp và điều tiết nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, điều đó sẽ dẫn đến quản lý Nhà nước về kinh tế sẽ phải có chuyển biến mang tính căn bản
“Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam là cơ sở cho các thay đổi quan trọng trong các nguyên tắc quản lý Đó là việc đổi mới doanh nghiệp Nhà Nước đang diễn ra trong những năm vừa qua, giảm thiểu các thủ tục hành chính Muốn quản lý doanh nghiệp tốt thì nhất thiết quản lý hành chính phải tốt nhưng đồng thời để quản lý hành chính được tốt thì quản lý doanh nghiệp cũng phải hiệu quả
Tư duy quản lý kinh tế trước năm 1986 là tư duy bao cấp trong một nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung, tư duy này biểu hiện ở cơ chế hành chính - mệnh lệnh và
cơ chế “xin – cho” Do vậy, quá trình đổi mới nền kinh tế sang kinh tế thị trường định hướng XHCN nhiều nhận thức về phát triển kinh tế không còn phù hợp với thời kỳ mới Để đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong qua trình đổi mới nhất quyết phải đổi mới tư duy, trong đó đặc biệt là tư duy kinh tế phải phù hợp với quy luật thị trường
Nhà Nước không thể thay thế được vai trò của thị trường và các doanh
Trang 39nghiệp Tuy nhiên, trên nhiều phương diện, sự quản lý của Nhà Nước là không thể thiếu cho sự vận hành có hiệu quả của nền kinh tế thị trường Để hoạt động có hiệu quả, cần có một Nhà Nước với năng lực đủ mạnh để đảm bảo sự tuân thủ các nguyên tắc cạnh tranh, tuân thủ luật chơi của thị trường Nếu thiếu các điều kiện này thì quy luật cung cầu thị trường sẽ không đảm bảo được tính công khai, minh bạch
và không có sự phối hợp thông tin cần thiết
Một chiến lược tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải có sự hợp tác có hiệu quả giữa Nhà Nước với thị trường cũng như xây dựng định chế (là các quy tắc, chuẩn mực và tổ chức phối hợp hành vi con người) Tuy nhiên, sẽ là rất khó xác định Nhà Nước can thiệp đến mức nào là hợp lý
Mục tiêu phát triển nền kinh tế Việt Nam định hướng XHCN là định hướng cho sự phát triển của lâu dài của nền kinh tế , trong từng giai đoạn thì thể chế kinh
tế thị trường luôn có những thay đổi Nhà Nước, doanh nghiệp, thị trường có vai trò như thế nào trong quá tŕnh phát triển không phải là mục tiêu bấ t biến mà thường xuyên thay đổi, phụ thuộc vào từng giai đoạn của quá trình phát triển nền kinh tế
Chính sách phát triển thương mại biên giới nhằm phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định trong khi chính sách phát triển thương mại biên giới có ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách quản lý nhà nước về thương mại biên giới Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ giữa chính sách quản lý nhà nước và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Việc quản lý thương mại biên giới hiệu quả, sẽ góp phần đẩy mạnh thương mại biên giới từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển kinh tế không chỉ vùng biên giới mà còn đóng góp vào tổng thể nền kinh tế đồng thời tạo nhiều điều kiện để cư dân hai nước có chung biên giới có cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau một cách lành mạnh và hợp pháp nhất có thể về các mặt kinh tế, văn hóa
Trang 40“Chính sách của các nước có chung biên giới có ảnh hưởng rất lớn tới các quy định của nhà nước đối với chính sách quản lý thương mại đường biên Cụ thể
là, nhà nước phải tìm hiểu cách thức hoạt động, các quy định của nước láng giềng
để vừa bảo vệ được quyền lợi của nhà nước, doanh nhân, cư dân vùng biên giới trong hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhưng cũng đảm bảo thỏa mãn được các yêu cầu của bạn hàng nhằm giữ cho hoạt động kinh doanh được diễn ra thuận lợi, suôn sẻ
“Các chính sách của nước có chung biên giới ảnh hưởng nhiều nhất đối với chính quản lý nhà nước về thương mại biên giới là chính sách về hàng hóa, chính sách về phí và lệ phí cũng như chính sách về chợ biên giới và cửa khẩu Lấy ví dụ việc xem xét từng loại hàng hóa được phép xuất, nhập khẩu của nước bạn qua đường biên giới nước mình giúp nhà nước đưa ra được các yêu cầu cụ thể về chất lượng hàng hóa đó, yêu cầu kiểm dịch hàng hóa cũng như các quy định về cách thức vận chuyển, kho bãi phù hợp với từng mặt hàng Trong trường hợp các mặt hàng xuất, nhập khẩu qua biên giới thuộc vào danh mục hàng cấm xuất, nhập thì nhà nước sẽ có các quy định nhằm hạn chế việc buôn lậu, ngăn chặn việc hàng hóa
đó có thể thâm nhập vào từng quốc gia“
“Biên giới là khu vực nhạy cảm nhất, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, hoạt động kinh tế của hai nước có chung biên giới Đây là khu vực có ảnh hưởng trực tiếp đến anh ninh và phát triển của nhau trong mọi thời đại Do đó, mối quan hệ của hai nước có chung biên giới theo chiều hướng tốt, thì các quy định, thủ tục của nhà nước về việc giao thương, phát triển kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sẽ trở nên đơn giản hơn, nhiều ưu đãi hơn hoặc ngược lại Thêm nữa, khi quan hệ giữa hai nước chung biên giới có sự chênh lệch lớn về kinh tế, chính trị, xã hội thì thông thường nước có vị thế lớn hơn có thể đưa ra những quy định ngặt nghèo hơn đối với các tiêu chuẩn về hàng hóa, dịch vụ mà nước có vị thế thấp hơn muốn xuất,