Khung nghiên cứu: - Yếu tố thuộc về cơ quan quản lý nhiệm vụ KH&CN - Yếu tố thuộc về đối tượng thực hiện nhiệm vụ KH&CN - Yếu tố bên ngoài cơ quan quản lý nhiệm vụ KH&CN Quản lý các nhiệ
Trang 1*****
PHẠM HẢI MINH
QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ NGÀNH: 8340410
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN HỮU XUYÊN
HÀ NỘI - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này là do tôi tự thực hiện và không
vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Phạm Hải Minh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Hữu Xuyên, các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế quốc dân cùng một số cơ quan tại Bộ Khoa học và Công nghệ Với tình cảm
chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
Ban Giám hiệu, các giảng viên Khoa Khoa học quản lý đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và trong quá trình thực hiện luận văn này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới của TS Nguyễn Hữu Xuyên, là người thầy hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo và cho tôi những lời khuyên hữu ích giúp tôi hoàn thành đúng hạn luận văn
Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ, Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình làm luận văn
Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Phạm Hải Minh
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN THẠC SĨ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 8
1.1 Thị trường khoa học công nghệ và Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 8
1.1.1 Thị trường khoa học và công nghệ 8
1.1.2 Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 16
1.2 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 17
1.2.1 Khái niệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 17
1.2.2 Mục tiêu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 17
1.2.3 Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 18
1.3 Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 19
1.3.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 19
1.3.2 Quy trình quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 20
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 24
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘCCHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 29
2.1 Khái quát chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 29
2.1.1 Thực trạng phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam 29
2.1.2 Giới thiệu Chương trình phát triển thị trường khoa học công nghệ 31
2.2 Thực trạng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 34
2.1.1 Thực trạng các đề án, đề tài khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 34
2.2.2 Thực trạng các dự án khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 35
Trang 52.3 Thực trạng quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương
trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 36
2.3.1 Thực trạng tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ 36
2.3.2 Thực trạng tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 39
2.3.3 Thực trạng thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 41
2.3.4 Thực trạng kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 42
2.3.5 Nghiệm thu, đánh giá và công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 45
2.4 Đánh giá quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 48
2.4.1 Những ưu điểm chính 48
2.4.2 Những hạn chế cơ bản 49
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 54
3.1 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 54
3.1.1 Mục tiêu hoàn thiện 54
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện 54
3.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ 56
3.2.1 Hoàn thiện việc tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ 56
3.2.2 Hoàn thiện việc tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ 58
3.2.3 Hoàn thiện việc thẩm định nội dung, kinh phí phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 58
3.2.4 Hoàn thiện việc kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ 59
3.2.5 Hoàn thiện việc nghiệm thu, đánh giá và công nhận kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ 60
3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp 61
3.3.1 Đối với Chính phủ 61
3.3.2 Đối với cơ quan tổ chức triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ 61
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UNIDO : Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc UNCTAD : Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển ESCAP : Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương KH&CN : Khoa học và Công nghệ
Techmart : Chợ công nghệ, thiết bị
Techdemo : Kết nối cung cầu công nghệ
Techfest : Ngày hội khởi nghiệp công nghệ
NC&PT : Nghiên cứu và phát triển
Trang 7DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng đề xuất nhiệm qua các năm 37Bảng 2.2: Quy trình tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn nhiệm vụ 39Bảng 2.3: Kết quả số lượng nhiệm vụ được đưa ra tuyển chọn, xét chọn 40Bảng 2.4: Quy trình thẩm định nội dung, kinh phí đề nhiệm vụ thuộc Chương trình 41Bảng 2.5: Cơ cấu kinh phí của nhiệm vụ tham gia Chương trình 42Bảng 2.6: Quy trình tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề phát
sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thuộc Chương trình 43Bảng 2.7: Quy trình nghiệm thu, đánh giá, công nhận kết quả các nhiệm vụ
thuộc Chương trình 46
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý Chương trình 33
Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý, triển khai Chương trình 38
Trang 8TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
*****
PHẠM HẢI MINH
QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ NGÀNH: 8340410
HÀ NỘI - 2018
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường khoa học và công nghệ giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phục hồi và thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua quá trình thúc đẩy kết nối cung cầu
về công nghệ, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Tại Việt Nam, thị trường khoa học và công nghệ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, được Nhà nước quan tâm đầu
tư Mặc dù Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đã đạt được những thành tựu nhất định trong thời gian vừa qua, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Điều này có ảnh hưởng tới việc hoạt động quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình nhằm đạt được mục tiêu của Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 Do đó, việc nghiên cứu đề tài
“Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài bao gồm: Các
công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trong nước và nước ngoài
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý
nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 phù hợp với điều kiện của Việt Nam Cụ thể: Làm rõ được khung nghiên cứu về quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ; Đánh giá thực trạng quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2017; Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020, định hướng tới năm 2025
Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng phương pháp nêu lên khung nghiên cứu, đồng thời thu thập và xử lý số liệu Để rõ hơn, tác giả luận văn còn tiến hành trao đổi sâu các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ
Trang 10Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Quản lý các nhiệm vụ khoa học và công
nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam có phạm vi rộng, luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào quy trình quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển thị trường khoa học
và công nghệ đến năm 2020 (gắn với giai đoạn 5 năm của Chương trình, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020)
Khung nghiên cứu:
- Yếu tố thuộc về cơ
quan quản lý nhiệm vụ
KH&CN
- Yếu tố thuộc về đối
tượng thực hiện nhiệm
vụ KH&CN
- Yếu tố bên ngoài cơ
quan quản lý nhiệm vụ
KH&CN
Quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ1 thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN:
- Tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ KH&CN
- Kiểm tra, đánh giá, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN
- Nghiệm thu, công nhận kết quả và thành lý hợp đồng
nhiệm vụ KH&CN
Mục tiêu quản lý nhiệm
vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN:
- Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm
và dịch vụ KH&CN trên thị trường
- Tăng tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN
- Thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ
Trang 11
Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Chương 2: Thực trạng quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam
Trang 12Chương trình phát triển thị trường KH&CN được hiểu là tập hợp hệ thống các quan điểm phát triển, các mục tiêu, các định hướng, công cụ và các nhiệm vụ phải thực hiện để thúc đẩy phát triển cầu công nghệ, cung công nghệ, các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ
1.2 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ được thực hiện nhằm: góp phần phổ biến, truyền bá tri thức về thị trường, khoa học, công nghệ; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho thị trường khoa học và công nghệ phát triển; góp phần nâng cao năng lực của các
tổ chức thực thi pháp luật về thị trường khoa học và công nghệ; tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nâng cao năng lực chuyển giao công nghệ, hỗ trợ cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học
Trang 13Thứ hai, dự án khoa học và công nghệ
Thứ ba, các hoạt động hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
và công nghệ, tài sản trí tuệ
1.3 Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
- Mục tiêu quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ: tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường, nâng cao tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ, thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ, hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực tư vấn pháp lý để hình thành và phát triển các trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo…
- Nguyên tắc quản lý của Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ: Một chương trình khoa học và công nghệ thường có nhiều đề tài, dự án, đề án khoa học và công nghệ và các hoạt động (gọi chung là nhiệm vụ khoa học và công nghệ), các nhiệm vụ có mối quan hệ gắn kết và liên ngành với nhau theo một logic nhằm quyết định tổng thể mục tiêu nghiên cứu trung và dài hạn Việc quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ là đảm bảo cho các chương trình được thực hiện đúng đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khoa học và công nghệ, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội
- Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ:
Các yếu tố thuộc về cơ quan quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ
a Chất lượng của các hội đồng tư vấn nhiệm vụ khoa học công nghệ và năng lực của Ban Chủ nhiệm Chương trình
b Nguồn kinh phí phục vụ hoạt động quản lý của Chương trình
Các yếu tố thuộc về chủ nhiệm và đơn vị chủ trì nhiệm vụ khoa học và công nghệ Các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài
a Phương hướng phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
b Chính sách, cơ chế về quản lý chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia
Trang 14CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
2.1 Khái quát Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
2.1.1.Thực trạng phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam
Về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý cho thị trường khoa học và công nghệ đã được Nhà nước quan tâm từ sớm Nghị định số 159/2004/NĐ-CP, ngày 31/8/2004 đã chỉ rõ tổ chức hoạt động và quản lý Chợ công nghệ và thiết bị là một trong những nội dung quan trọng của thị trường khoa học và công nghệ Để đưa vào cuộc sống Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Kết luận Hội nghị TW6 (khoá IX), Bộ Khoa học và Công nghệ đã chỉ đạo và trực tiếp tổ chức các hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ, thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, đưa các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất Nhà nước đã ban hành 8 Luật liên quan tới phát triển thị trường khoa học và công nghệ Nhìn chung, các văn bản luật trên đã tạo ra hàng lang pháp lý tương đối đầy đủ cho thị trường khoa học và công nghệ phát triển
Về cung, cầu công nghệ và giao dịch công nghệ
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (2017), trong giai đoạn 2010 - 2016, thông qua các sàn giao dịch đã có khoảng 500 hợp đồng và biên bản ghi nhớ được ký kết với giá trị giao dịch công nghệ, thiết bị là 600 tỷ đồng Các kỳ Techmart và Techdemo giai đoạn 2006 - 2015 đã kết nối, ký kết hơn 7.000 hợp đồng, biên bản được ghi nhớ với tổng giá trị giao dịch hơn 8.700 tỷ đồng Giai đoạn 2010 - 2016, các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ đã ký kết 16.112 hợp đồng tư vấn chuyển giao công nghệ với tổng giá trị 313 tỷ đồng Trong giai đoạn 2006 -
2016, giá trị giao dịch giảm so với năm trước, nhưng về cơ bản toàn bộ giai đoạn,
xu hướng các năm sau giao dịch tăng cao hơn năm trước khoảng 15%, tổng giá trị giao dịch từ các hoạt động nêu trên giai đoạn này là gần 10.000 tỷ đồng Hoạt động chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ giữa viện,
Trang 15trường và doanh nghiệp có chuyển biến tích cực nhưng chưa được như kỳ vọng
Thực trạng các tổ chức trung gian về công nghệ
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (2017), hiện nay trên cả nước có 13 sàn giao dịch công nghệ, đa phần các sàn giao dịch công nghệ này đang hoạt động với tư cách là một đơn vị sự nghiệp KH&CN thuộc Sở Khoa học và Công nghệ, được đảm bảo kinh phí ngân sách nhà nước để duy trì hoạt động thường xuyên Bên cạnh đó, cả nước hiện nay có 8 công viên phần mềm, 13 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 9 cơ sở ươm tạo công nghệ cao và ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao đã được xây dựng và
đi vào hoạt động, 50 vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp KH&CN, 63 trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và chuyển giao công nghệ ở 63 tỉnh, thành phố
2.1.2 Giới thiệu Chương trình phát triển thị trường khoa học công nghệ
Căn cứ xây dựng và mục tiêu chương trình
Luận văn đã nêu lên những căn cứ pháp lý của Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ như Luật khoa học và công nghệ (2000, sửa đổi 2013); các văn bản dưới Luật hướng dẫn thực hiện Luật và đưa ra những mục tiêu của Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020
Tổ chức bộ máy quản lý của Chương trình
- Bộ máy quản lý Chương trình bao gồm: Bộ KH&CN chủ trì, Ban Chủ nhiệm Chương trình có trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình Các Vụ chức năng của Bộ KH&CN thực hiện vai trò QLNN của Bộ trong tổ chức quản lý Chương trình, Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, giúp Bộ trưởng Bộ KH&CN thực hiện chức năng quản lý hoạt động các Chương trình”
2- Nội dung quản lý Chương trình bao gồm: Xác định danh mục đề tài; Tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thuộc Chương trình; Thẩm định nội dung, kinh phí; Tổ chức thực hiện, kiểm tra; Tổ chức nghiệm thu, đánh giá, công nhận kết quả nhiệm vụ
2.1.3 Thực trạng các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Trong giai đoạn 2015 - 2017, trong tổng số 41 nhiệm vụ được phê duyệt có
12 đề tài, đề án khoa học và công nghệ được thực hiện, cụ thể như sau:
Trang 16- Năm 2015 là năm khởi đầu của Chương trình nên các nhiệm vụ được phê duyệt, tập trung vào các đề tài nghiên cứu về hoàn thiện thể chế, chính sách, hoàn thiện các mô hình đánh giá, định giá công nghệ, các dự án xúc tiến phát triển thị trường khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, dự án hỗ trợ thương mại hóa một số công nghệ trong hai lĩnh vực vật liệu mới và bảo vệ môi trường, góp phần hoàn thiện thể chế về phát triển thị trường khoa học và công nghệ, thúc đẩy kết nối cung cầu công nghệ, thúc đẩy thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
- Năm 2016 tập trung chủ yếu vào các dự án xúc tiến phát triển thị trường, bao gồm cả khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các dự án nâng cấp, phát triển hoạt động của các tổ chức trung gian, đào tạo nguồn nhân lực cho các tổ chức trung gian, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trong đó đặc biệt chú trọng các dự án hỗ trợ thương mại hóa công nghệ, tài sản trí tuệ trong lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và chế biến, chế tạo
Năm 2017 các nhiệm vụ tập trung nhiều vào các dự án, hoạt động nhằm thúc đẩy giá trị giao dịch công nghệ Việc triển khai Chương trình phát triển thị trường
KH&CN đã góp phần nhất định trong việc tạo động lực, thúc đẩy các hoạt động liên
doanh, liên kết trong nghiên cứu phát triển công nghệ Các sự kiện được tổ chức trong khuôn khổ của Chương trình mở ra nhiều cơ hội thương mại hóa, hợp tác, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp, viện, trường, thúc đẩy hoạt động kết nối doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, các tổ chức tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng như thúc đẩy thương mại hóa các ý tưởng sáng tạo, sản phẩm của các cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp
2.1.4 Đánh giá quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Những ưu điểm chính:
Thứ nhất, về tiếp nhận, đánh giá, lựa chọn và tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ
chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN đã từng bước được hoàn thiện;
Thứ hai, hoạt động thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN đã được đẩy nhanh; Thứ ba, hoạt động kiểm tra, giám sát
Trang 17và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN, cũng như quá trình đánh giá, nghiệm thu, công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN
đã có những cải tiến đáng kể
Những hạn chế cơ bản:
Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả nhất định, tuy nhiên các hoạt động phục vụ cho Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ còn có những hạn chế; mặc dù hoạt động tiếp nhận, đánh giá, lựa chọn các đề xuất, tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ đã có những cải thiện nhưng chưa đáp ứng kỳ vọng của các tổ chức, cá nhân khi tham gia Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ; việc thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm khoa học và công nghệ vẫn còn những hạn chế; việc kiểm tra, giám sát, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cũng như quá trình nghiệm thu, đánh giá và công nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ chưa mang lại hiệu quả cao, còn rườm rà, hình thức
Quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong khâu tuyển chọn, xét chọn, thẩm định quá dài (tối thiểu 107 ngày), lấy ý kiến chuyên gia độc lập 127 ngày Việc phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn đan xen Kinh phí không theo tiến độ và tính cấp thiết của nhiệm vụ
Nguyên nhân của những hạn chế:
Mặc dù định hướng phát triển KH&CN của Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực nhưng chưa đáp ứng tốt được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội cơ sở pháp
lý để Ban Chủ nhiệm Chương trình có thể kiểm soát các nhiệm vụ KH&CN, hướng tới các kết quả sau nghiệm thu chưa thực sự đủ chưa lựa chọn được tốt các thanh viên trong hội đồng tư vấn, xét chọn, tuyển chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ, nguồn tài chính cho Chương trình nghệ còn hạn chế
Cơ chế, chính sách quản lý Chương trình KH&CN còn những bất cập nhất định (rút ngắn quy trình và thời gian xem xét để đảm bảo tính cấp thiết của nhiệm vụ)
Bố trí kinh phí của Chương trình theo kế hoạch năm nên không đảm bảo tiến độ nhiệm vụ
Trang 18CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 3.1 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Mục tiêu hoàn thiện
Kích thích hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, kích cung, tạo cầu nhằm tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường KH&CN; hỗ trợ doanh nghiệp kết nối, tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại; đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính nhằm đẩy nhanh tiến độ đổi mới công nghệ, tạo điều kiện cho thị trường KH&CN phát triển Đặc biệt đẩy mạnh thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ hỗ trợ
Phương hướng hoàn thiện
Các nhiệm vụ được thực hiện cần hướng tới hoạt động thương mại hóa và có tính ứng dụng cao trong thực tiễn Để kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN có chất lượng, cần tiếp tục hoàn thiện cách thức và tăng cường đánh giá giữa kỳ một cách thường xuyên, việc đánh giá giữa kỳ một cách khoa học sẽ giúp khâu đánh giá, nghiệm cuối cùng thu bớt đi các thủ tục, tạo điều kiện cho việc tập trung đánh giá chất lượng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ Để có chất lượng tốt trong toàn bộ quy trình từ khâu xây dựng kế hoạch, xác định nhiệm vụ tới đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ thì cần phải lựa chọn các chuyên gia phù hợp, có uy tín trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Ngoài ra, để việc thực hiện theo quy trình diễn ra thuận lợi thì cần thiết phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức, quản lý, ứng dụng các kết quả nghiên cứu:
3.2 Điều kiện để thực hiện các giải pháp
Đối với Chính phủ
Thứ nhất, Chính phủ cần làm rõ hơn các định hướng phát triển KH&CN theo
hướng có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, tăng tỷ lệ đầu tư cho hoạt động KH&CN
Trang 19Thứ hai, Chính phủ cần tăng cường quản lý nguồn ngân sách cho thực hiện
các chương trình, dự án phát triển thị trường KH&CN, đảm bảo cung cấp vốn đầy
đủ, đúng tiến độ
Đối với cơ quan tổ chức triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Cần gắn trách nhiệm cao của người đứng đầu Bộ KH&CN trong việc đề xuất đặt hàng nhiệm vụ KH&CN Nâng cao năng lực quản lý của Ban Chủ nhiệm Chương trình, năng lực của Hội đồng tư vấn, xét chọn Năng lực của các đơn vị tham gia Chương trình, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cán bộ kế toán chuyên trách trong quản lý ngân sách cho Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo phương án đã được Lãnh đạo Bộ KH&CN phê duyệt Tạo ra cơ chế hữu hiệu để tập trung giải quyết các nhiệm vụ KH&CN quy mô lớn, liên quan các sản phẩm chủ lực, có thế mạnh trong cạnh tranh quốc tế của đất nước Khuyến khích nhiệm vụ có định hướng tìm kiếm bí quyết và giải mã công nghệ Có cơ chế chính sách đầu tư đến ngưỡng cho các công trình nghiên cứu có triển vọng, nhằm thúc đẩy việc áp dụng các kết quả KH&CN vào sản xuất và đời sống
Ngoài ra, cần giao cho các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà sản xuất
am hiểu sâu sắc vấn đề thực tiễn, nắm bắt tốt các xu hướng phát triển của công nghệ đưa ra các đề xuất Ban Chủ nhiệm cùng Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ, Bộ KH&CN tổ chức hội thảo, lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý rồi ra đề bài đặt hàng Nếu làm được như vậy sẽ tránh tình trạng như những giai đoạn trước đây là thu thập các đề xuất của các nhà khoa học nhiều khi mang tính rời rạc, chủ quan, ý nghĩa thực tiễn và tính khả thi thấp rồi lựa chọn theo kiểu bỏ phiếu
Trang 20TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
*****
PHẠM HẢI MINH
QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG
MÃ NGÀNH: 8340410
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN HỮU XUYÊN
HÀ NỘI - 2018
Trang 21MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường khoa học và công nghệ giữ vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình thúc đẩy kết nối cung cầu về công nghệ, tạo môi trường thuận lợi để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ quốc gia phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội Sự tác động của Nhà nước vào thị trường khoa học và công nghệ thông qua chính sách có
ý nghĩa tích cực nhằm khắc phục những khiếm khuyết của thị trường Việc thúc đẩy nguồn cung, nguồn cầu và phát triển các tổ chức trung gian về công nghệ là một trong những nội dung quan trọng trong Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ Đây được coi là động lực để phát triển kinh tế, xã hội dựa trên nền tảng khoa học
và công nghệ, được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận
Tại Việt Nam, thị trường khoa học và công nghệ là một bộ phận quan trọng cấu thành nên thể chế kinh tế thị trường được Nhà nước quan tâm đầu tư Việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn liền với việc thực hiện, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức tham gia thị trường, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng công nghệ, thúc đẩy quan hệ cung, cầu về công nghệ và dịch vụ khoa học và công nghệ Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu: Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ khoa học và công nghệ trên thị trường hằng năm bình quân không dưới 15%, không dưới 20% đối với một số công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; Tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường khoa học và công nghệ đạt không dưới 20% vào năm 2020; đến năm 2020, thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ hỗ trợ
Mặc dù Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đã đạt được những thành tựu nhất định trong thời gian vừa qua, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như nguồn cung công nghệ còn chưa đa dạng, hoạt động kết nối cung, cầu công nghệ còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ đổi mới thiết bị, công
Trang 22nghệ của doanh nghiệp diễn ra còn chậm, tỷ trọng giao dịch mua bán giải pháp, bí quyết công nghệ trong tổng giá trị giao dịch mua bán, chuyển giao còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ giao dịch về máy móc, trang thiết bị Điều này có ảnh hưởng tới việc
quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình nhằm đạt được mục tiêu của
Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam” có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn Qua đó, góp phần đẩy nhanh tiến trình đổi mới thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp, nâng cao giá trị giao dịch công nghệ, đặc biệt là các giao dịch về công nghệ cao, giao, công nghệ tiên tiến, tài sản trí tuệ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan tới đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài
Để phát triển triển thị trường khoa học và công nghệ, một số quốc gia cũng
đã có những chính sách, chương trình phù hợp trong việc kích cung, kích cầu công nghệ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan Ví dụ như Hàn Quốc, việc phát triển thị trường khoa học và công nghệ được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu từ những năm 1960 đến 1970; giai đoạn chuyển sang phát triển các ngành công nghiệp kỹ thuật cao từ những năm 1970 đến 1990; giai đoạn từ năm 1990 đến nay, hội nhập vào quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về chính sách thúc đẩy nguồn cung, nguồn cầu và kết nối cung - cầu công nghệ Về cơ bản, các chính sách phát triển nguồn cung hướng tới việc tạo ra các ưu đãi để khuyến khích nghiên cứu
và phát triển, bao gồm các ưu đãi thuế, tài trợ, cho vay, đầu tư Các chính sách phát triển nguồn cầu hướng tới việc tạo ra môi trường thuận lợi, giảm thiểu rủi ro để khuyến khích sản phẩm công nghệ được đưa ra thị trường (Aho, E., Cornu, J., Georghiou, L., Subira, A, 2006; Patarapong Intarakumnerd and Akira Goto, 2016)
Đối với phát triển nguồn cung công nghệ, trên cơ sở các hoạt động ưu đãi phổ biến như thuế, ưu đãi vốn vay, tài trợ, các quốc gia sẽ có các chính sách khác nhau theo các giai đoạn cụ thể Ví dụ, trong nghiên cứu của Học viện Ngân hàng phát triển Châu Á (Patarapong Intarakumnerd and Akira Goto, 2016) đã phân tích tương đối cụ thể về ưu điểm và nhược điểm của các loại hình ưu đãi này cũng như
Trang 23về cách thức khác nhau mà các quốc gia đã áp dụng trong chính sách phát triển nguồn cung Đối với hoạt động phát triển nguồn cầu, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng triển khai nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của các chính sách khác nhau đã được các quốc gia thực hiện OECD (2011) đã tiến hành đánh giá 14 chương trình phát triển nguồn cầu tại các quốc gia thành viên để đưa ra các bài học kinh nghiệm có gia trị, đặc biệt là các nước đang phát triển
Các chính sách, chương trình thúc đẩy kết nối nguồn cung, cầu công nghệ trên thị trường khoa học và công nghệ được xây dựng nhằm tạo môi trường thuận lợi để tạo điều kiện cho chuyển giao công nghệ Mục tiêu chung là xây dựng được môi trường thể chế thuận lợi cho hoạt động kết nối cung cầu, phát triển các tổ chức trung gian để hỗ trợ quá trình tiếp nhận và chuyển giao công nghệ Điều này được thực hiện thông qua các chính sách khuyến khích hình thành và hoàn thiện thể chế trung gian, tạo lập nền tảng pháp lý về sở hữu trí tuệ, khuyến khích trao đổi tri thức giữa khu vực sản xuất và nghiên cứu Ví dụ, trong nghiên cứu của Liên Hợp quốc (UNCTAD, 2015) đã nêu và phân tích hiệu quả các chính sách phát triển khoa học
và công nghệ của Thái Lan, trong đó có các chính sách, chương trình thúc đẩy kết nối cung, cầu công nghệ có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam
2.2 Các công trình nghiên cứu tiêu biểu ở trong nước
Tại Việt Nam, trong giai đoạn vừa qua, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước về KH&CN, nhiều công trình nghiên cứu đã được triển khai và có các đóng góp nhất định trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ nói chung và hoạt động kết nối cung - cầu nói riêng, cụ thể:
Về thuật ngữ “Thị trường công nghệ” hay “Thị trường khoa học và công nghệ” Đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu luận bàn về việc sử dụng thuật ngữ “Thị trường công nghệ” hay “Thị trường khoa học và công nghệ” bằng các quan điểm, cách tiếp cận khác nhau như Nguyễn Võ Hưng (2003), Hoàng Xuân Long (2007), Hồ Ngọc Luật (2008), Hồ Đức Việt (2010), Nguyễn Vân Anh (2011), Trần Văn Hải (2012) Thực tế cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ngày càng được rút ngắn, ranh giới giữa khoa học và công nghệ ngày càng khó tách bạch Có quan điểm cho rằng không có thị trường khoa học và công nghệ, mà chỉ có thị trường công nghệ, bởi vì khoa học có chức năng tìm ra những kiến thức mới, những kiến thức này được phổ biến cho toàn xã hội nên không mua bán được, vì vậy không xuất hiện thị trường, ví dụ không ai mua bán định luật Faraday hay Pitago cả trong khi đó công
Trang 24nghệ thì được mua bán và trao đổi trên thị trường và tuân theo quy luật cung, cầu
Một số công trình nghiên cứu về phát triển thị trường KH&CN cho thấy, thị trường KH&CN là những cơ chế phân bổ đảm bảo việc giao dịch hàng hóa công nghệ diễn ra thuận lợi trên cơ sở lợi ích của các bên tham gia, gắn với phương thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống (Nguyễn Quang Tuấn, 2013; Nguyễn Hữu Xuyên, 2015) Để phát triển được thị trường khoa học
và công nghệ cần phải nhận dạng, xác định rõ hàng hóa công nghệ là gì? Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm; Còn khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy (Luật Khoa học và Công nghệ, 2013) Do đó, hàng hóa công nghệ khác với hàng hóa thông thường bởi vì hàm chứa một phần quan trọng, đó là các kiến thức, hiểu biết gắn liền với phương pháp, qui trình được sử dụng trong sản xuất và cung ứng dịch vụ Đặc biệt, việc xác định giá trị của công nghệ phụ thuộc vào hàm lượng tri thức hàm chứa trong công nghệ đó và có sự chênh lệch giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao công nghệ
Như vậy, các công trình trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã có ý nghĩa tích cực tới hoạt động quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển khoa học và công nghệ và đề ra các giải pháp hoàn thiện quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam chưa thực sự được làm rõ Đây là các nội dung cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện trong giai đoạn tới nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị giao dịch công nghệ trên thị trường khoa học và công nghệ
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục tiêu tổng quát:
Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 phù hợp với điều kiện của Việt Nam
3.2 Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ được khung nghiên cứu về quản lý các nhiệm vụ khoa học và công
Trang 25nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
- Đánh giá thực trạng quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2017
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020, định hướng tới năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Khung nghiên cứu
- Yếu tố thuộc về cơ
quan quản lý nhiệm vụ
KH&CN
- Yếu tố thuộc về đối
tượng thực hiện nhiệm
vụ KH&CN
- Yếu tố bên ngoài cơ
quan quản lý nhiệm vụ
KH&CN
Quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ2 thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN:
- Tiếp nhận, đánh giá và lựa chọn đề xuất nhiệm vụ KH&CN
- Tổ chức tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN
- Thẩm định nội dung, kinh phí, phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN
- Kiểm tra, đánh giá, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm
- Tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm
và dịch vụ KH&CN trên thị trường
- Tăng tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ trong tổng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN
- Thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ kèm theo hệ thống tổ chức dịch vụ KH&CN hỗ trợ
Trang 26
4.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu lý thuyết và tài liệu có liên quan đến thị trường KH&CN, kết nối cung, cầu công nghệ, chính sách phát triển thị trường KH&CN; đồng thời luận văn còn sử dụng các số liệu, dữ liệu từ các công trình ở trong và ngoài nước đã công bố, các báo cáo của cơ quan quản lý về KH&CN như Bộ Khoa học và Công nghệ, Tổng cục Thống kê
Để rõ hơn, tác giả luận văn còn tiến hành trao đổi với một số chuyên gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ Trên thực tế do hạn chế về nguồn lực, tác giả chỉ tiến hành trao đổi với các chuyên gia
mà không tiến hành khảo sát các chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN, đây là một trong những hạn chế của đề tài Sau khi có số liệu, dữ liệu, tác giả luận văn tiến hành làm sạch và phân tích số liệu để làm rõ thực trạng quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ Đây là một trong những cơ sở quan trọng để có thể đề xuất được giải pháp hoàn thiện quản
lý nhiệm vụ KH&CN Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ trong thời gian tới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ tại Việt Nam có phạm vi rộng, luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu vào quy trình quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo Quyết định số 2075/QĐ-TTg ngày 08/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển thị trường khoa học
và công nghệ đến năm 2020
- Phạm vi không gian: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu, khảo sát số liệu thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020 do
Trang 27Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý, chủ thể quản lý nhiệm vụ khoa học công nghệ
là Bộ Khoa học và Công nghệ
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ từ năm 2015 đến năm 2017, đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020
Trang 283 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Thị trường khoa học công nghệ và chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
1.1.1 Thị trường khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Khái niệm thị trường khoa học và công nghệ
Theo Vũ Cao Đàm (2008), khoa học là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy Khoa học là tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một qui luật xác định Theo cách tiếp cận hoạt động, khoa học là một dạng hoạt động đặc thù của con người nhằm nhận thức về thế giới khách quan, đây là một dạng hoạt động để sản xuất ra tri thức thông qua việc phát hiện ra bản chất của sự vật và sáng tạo ra các sự vật mới nhằm cải tạo và phát triển thế giới (Nguyễn Hữu Xuyên, 2014)
Tại Điều 3, mục 1 của Luật Khoa học và Công nghệ (2013), khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Hệ thống tri thức được phát hiện, tích lũy, bổ sung qua nhiều thế hệ, được hệ thống hóa, đánh gía, phân loại sắp xếp theo lôgic nội tại của khoa học để truyền lại cho người sau tiếp tục phát triển lên những nấc thang mới
Trang 29Đó là hoạt động của không chỉ riêng của các nhà khoa học, mà cũng của cả loài người Do đó, người ta cũng hiểu khoa học là một hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra hệ thống tri thức ấy; chính hoạt động và quan hệ con người trong quá trình tiến hành hoạt động này là đối tượng điều chỉnh của Luật
Theo quan điểm triết học, khoa học là phạm trực thuộc ý thức xã hội Nhà bác học vật lý của Đại học London nước Anh, J D Bernal (1901-1971), đồng thời cũng là một trong những người đặt nền móng cho khoa học luận ngày nay, đã nghiên cứu lịch sử khoa học và nhận xét rằng, "với bản chất của khoa học không thể dùng định nghĩa bất biến để trói chặt nó Khoa học là một quá trình mô tả, nghiên cứu, là một loại hoạt động của con người, loại hoạt động này lại có liên hệ với nhiều loại hoạt động khác nhau của nhân loại, hơn nữa tác dụng tương hỗ giữa chúng là liên tục không ngừng"
Như vậy, có nhiều khái niệm về khoa học khác nhau và khó có thể có một định nghĩa duy nhất về khoa học đáp ứng mọi yêu cầu và mục đích của con người trong mọi điều kiện, cho những lĩnh vực quan tâm khác nhau Do đó, khoa học trong luận văn này được hiểu theo Luật Khoa học và Công nghệ (2013), theo đó, khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy
b Công nghệ
Cùng với sự phát triển của khoa học, khái niệm về công nghệ cũng được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế có uy tín Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO), công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp Còn theo Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), công nghệ là đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy nó được mua
và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong các dạng sau:
tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là găn với các quyết định định đầu tư; nhân lực và thông thường
là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn
Trang 30đề và sản xuất thông tin; thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
Theo Luật Chuyển giao công nghệ (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình,
bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Nói rộng ra, công nghệ là một tri thức có hệ thống được tạo nên từ những thành quả nghiên cứu của khoa học tự nhiên, được biểu hiện dưới các thành tố vừa nêu để sản xuất ra một sản phẩm hay tiến hành một dịch vụ
Xét trên giác độ thương mại, công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình
kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin; công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng, phương pháp, thiết bị và các hệ thống dùng để tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ (Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á - Thái Bình Dương - ESCAP) Công nghệ gồm bốn yếu tố cấu thành: phần máy móc, thiết bị (T), phần con người (H), phần thông tin (I), phần tổ chức (O) Các yếu tố này có quan hệ mật thiết, thống nhất và cơ hữu với nhau để tạo thành một chỉnh thể hệ thống hoàn chỉnh Bốn khía cạnh cần được xem xét ở đây, đó là: Công nghệ là một máy biến đổi, khía cạnh này đề cập tới việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ đáp ứng được các mục tiêu khi sử dụng công nghệ và mãn yêu cầu về mặt kinh tế nếu nó muốn được áp dụng trong thực tế; Công nghệ là công cụ, khía cạnh này đề cấp tới công nghệ là một sản phẩm của con người, vì thế mà con người có thể làm chủ được chúng; Công nghệ là kiến thức, khía cạnh này nhấn mạnh công nghệ không nhất thiết phải nhìn thấy được và để sử dụng được công nghệ thì con người cần phải được đào tạo; Công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó, khía cạnh này đề cập dù công nghệ là kiến thức nhưng vẫn được mua bán, trao đổi trên thị trường và tuân theo luât cung cầu
Trong thực tế, thuật ngữ công nghệ thường được gắn với khái niệm công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ sạch Luật Chuyển giao
công nghệ (2017) cho rằng, công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao
về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá
Trang 31trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện
có Công nghệ tiên tiến là công nghệ có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công
nghệ cùng loại hiện có tại Việt Nam, đã được ứng dụng trong thực tiễn, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm vượt trội và thân thiện với môi trường Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên được tạo ra hoặc ứng dụng tại Việt Nam hoặc trên thế
giới, có trình độ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có tại Việt Nam, thân thiện với môi trường, có tính ứng dụng trong thực tiễn và khả năng nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm Công nghệ sạch là công nghệ phát thải ở mức thấp chất
gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng ít tài nguyên không tái tạo hơn so với công nghệ hiện có
Do đó, trong luận văn này, công nghệ được hiểu theo Luật Chuyển giao công
nghệ (2017), theo đó công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo
hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm
c Thị trường và thị trường khoa học và công nghệ
Thị trường là tập hợp về sự thỏa thuận thông qua người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ Thị trường hình thành khi có sự tiếp xúc giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ và được xác định bằng quan hệ cung cầu về hàng hóa hoặc dịch vụ hàng đó Khoa học và công nghệ như là một loại hàng hóa, dịch vụ đặc biệt, cũng được mua bán, trao đổi lưu thông trên thị trường tương tự như các loại hàng hóa, dịch vụ khác
Việc sử dụng thuật ngữ “Thị trường khoa học và công nghệ” hay “Thị trường công nghệ” còn đang gây nhiều tranh cãi Có quan điểm cho rằng không có thị trường khoa học và công nghệ mà chỉ có thị trường công nghệ vì khoa học có chức năng tìm kiếm ra những kiến thức mới mà kiến thức và hiểu biết được phổ biến cho quần chúng và không mua bán được (ví dụ không ai đi mua bán định luật Faraday,
hay Pitago cả) Trên thế giới, khái niệm thị trường KH&CN cũng ít sử dụng và
thường sử dụng thuật ngữ là thị trường công nghệ vì khoa học hầu như không biên giới nhưng công nghệ thì cần phải mua bán trên thị trường và tuân theo luật cung, cầu (Nguyễn Hữu Xuyên, 2015) Tuy nhiên, đối với một vấn đề đang gây nhiều
Trang 32tranh luận, song ở Việt Nam và Trung Quốc thường sử dụng khái niệm “Thị trường khoa học và công nghệ” bởi hiện nay khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ ngày càng được rút ngắn, ranh giới giữa KH&CN khó tách
bạch Do vậy, trên thực tiễn việc sử dụng khái niệm “Thị trường khoa học và công nghệ” hay “Thị trường công nghệ” có thể được hiểu nhau, nhưng cần phải thống nhất được các yếu tố hình thành nên thị trường
Thị trường khoa học và công nghệ được hiểu là phương thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu gắn khoa học và công nghệ với thực tiễn sản xuất và đời sống Tuy nhiên, thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình lâu dài và là một vấn đề mới
ở nước ta, thành công của thương mại hóa phụ thuộc nhiều vào năng lực đổi mới, năng lực tiếp thu và làm chủ công nghệ của doanh nghiệp (Nguyễn Quang Tuấn, 2013)
Thị trường KH&CN là không gian thực hoặc ảo diễn ra hoạt động trao đổi hàng hoá khoa học và công nghệ, sử dụng dịch vụ KH&CN và chuyển nhượng
quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá khoa học và công nghệ Hàng hoá lưu thông trên thị trường khoa học và công nghệ là thành quả khoa học và công nghệ Thành quả khoa học và công nghệ (sản phẩm khoa học và công nghệ) là sản phẩm của hoạt động tư duy vận dụng tri thức khoa học đã có, thông qua điều tra, quan sát, thí nghiệm hoặc phép biện chứng để khám phá những bí mật và quy luật của tự nhiên,
xã hội, giải quyết những vấn đề trong quá trình phát triển xã hội loài người Đặc trưng cơ bản của thành quả khoa học và công nghệ là tính mới, tính tiên tiến, tính áp dụng công nghiệp: tính mới là tính đổi mới của thành quả khoa học và công nghệ, tức là yêu cầu phải có lý luận mới, phương pháp mới, sản phẩm mới, không làm lại hoặc sao chép lại thành quả của người khác; tính tiên tiến là trình độ học thuật của
thành quả KH&CN và trình độ công nghệ phải so sánh với trình độ dẫn đầu đã có,
cụ thể là thành quả khoa học và công nghệ đồng thời lại phải cao hơn trình độ thành quả đã có; tính áp dụng công nghiệp là giá trị học thuật, giá trị kinh tế và giá trị xã hội của thành quả KH&CN, tức là thành quả phải có ý nghĩa học thuật đối với việc phát triển một bộ môn nào đó, hoặc trong thực tế sản xuất ứng dụng có thể thu được hiệu quả xã hội hoặc hiệu quả kinh tế thậm chí tốt hơn
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (Thông tư 01/VBHN-BKHCN, 2017), thị
Trang 33trường khoa học và công nghệ là môi trường pháp lý, đầu tư và thương mại thúc đẩy quan hệ giao dịch, trao đổi, mua bán các sản phẩm, dịch vụ khoa học và công nghệ được vận hành có sự định hướng, điều tiết và hỗ trợ của Nhà nước Do đó,
việc phát triển thị trường KH&CN có sự gắn kết chặt chẽ với quá trình phát triển hệ
thống hạ tầng, nguồn nhân lực, các tổ chức trung gian, quan hệ cung, cầu đối với các sản phẩm và dịch vụ khoa học công nghệ
1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành thị trường khoa học và công nghệ
Các yếu tố cơ bản cấu thành thị trường KH&CN gồm (Sơ đồ 1.1): (i) Sự hiện
diện của hàng hoá công nghệ và các chủ thể trên thị trường (bên bán - bên có năng lực làm ra sản phẩm khoa học và công nghệ; bên mua - bên có nhu cầu mua sản phẩm khoa học và công nghệ; các tổ chức trung gian làm cầu nối giữa cung và cầu); (ii) Sự hiện diện của thể chế, đảm bảo hoạt động của thị trường (hệ thống văn bản pháp quy và các tổ chức quản lý thực thi thể chế, …)
Sơ đồ 1.1: Các yếu tố cấu thành của thị trường khoa học và công nghệ
• Bên mua (bên có nhu cầu công nghệ)
Các tổ chức trung gian: môi giới, kinh doanh,
• Điều lệ pháp quy cho thị trường hoạt động trên cơ sở lợi ích bên mua và bên bán theo pháp luật
• Hàng hoá bày bán (hữu hình hoặc vô hình)
Trang 34Về cơ bản, thị trường khoa học và công nghệ được hình thành trên 3 yếu tố chính: Phải có hàng hóa, mà hàng hóa ở đây là công nghệ; Phân công lao động xã hội phải phát triển tương ứng sao cho có sự tồn tại quan hệ cung cầu giữa các thành viên trong xã hội và giữa các loại hình sản xuất trong xã hội, tức là hình thành bên cung và bên cầu về công nghệ; Phải có thể chế đảm bảo cho hoạt động của thị trường như hệ thống các văn bản pháp quy, các chính sách hỗ trợ và tổ chức quản
có sự chênh lệch giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao; Công nghệ được tạo ra dựa
trên nền tảng của khoa học, vì vậy thông thường, thị trường KH&CN hình thành và
phát triển muộn hơn các thị trường hàng hóa thông thường khác Hàng hóa công nghệ khác với hàng hóa thông thường bởi vì hàm chứa một phần quan trọng các kiến thức, hiểu biết gắn liền với phương pháp, quy trình được sử dụng trong sản xuất và cung ứng dịch vụ
Một vật phẩm có giá trị sử dụng chỉ trở thành hàng hóa khi chúng được mang
ra trao đổi, công nghệ có giá trị bởi chúng là hiện thân của tri thức và do vậy, công nghệ được sử dụng như một loại hàng hóa và có giá trị thương mại Trong đó giá trị trao đổi bị tác động bởi quan hệ cung cầu trên thị trường công nghệ Tuy nhiên, việc xác định giá trị của công nghệ là một vấn đề phức tạp, bởi vì nó không chỉ là máy móc, thiết bị, nhà xưởng mà còn hàm chứa trong đó bí quyết công nghệ, kiến thức
Vì thế, có nhiều phương thức thanh toán, chuyển giao và định giá công nghệ khác nhau: theo vốn đầu tư, theo doanh số sản phẩm bán ra, theo lợi nhuận do công nghệ tạo ra, theo lợi nhuận thu thêm do áp dụng công nghệ mới mang lại và thỏa thuận giữa bên tiếp nhận và bên chuyển giao Do đó, để hình thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ cần có hàng hóa công nghệ, bên cung, bên cầu công nghệ,
có các thể chế để đảm bảo duy trì và phát triểu thị trường, đồng thời cần có các thể
Trang 35chế hỗ trợ như các thể chế liên quan tới hoạt động hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, vấn đề về sở hữu công nghiệp, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, các chính sách hỗ trợ tài chính, chính sách thương mại, công nghiệp, các tổ chức giám định công nghệ, các dịch vụ hỗ trợ pháp lý về sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ
1.1.1.3 Các hoạt động chủ yếu trên thị trường khoa học và công nghệ
Thứ nhất, hoạt động giao dịch: Hoạt động giao dịch được thực hiện theo
phương thức trực tiếp giữa bên mua và bên bán hoặc thực hiện qua tổ chức môi giới
- trung gian, qua hội chợ giao dịch thành quả công nghệ (hội nghị mời thầu, nhận thầu, giới thiệu công nghệ, khoá công nghệ…), qua chợ trên mạng,… Loại hàng và tiêu chí, tiêu chuẩn của hàng hoá được đăng ký và giao dịch trên thị trường sẽ do các đơn vị tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm quy định hoặc do các cơ quan tiếp nhận đăng ký hợp đồng (căn cứ theo quy định của các văn bản pháp luật)
Thứ hai, hoạt động môi giới: Môi giới thường được hiểu là một loại hình
hoạt động cung ứng dịch vụ dàn xếp, tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc, giao dịch, trao đổi, ký kết, thực hiện các hợp đồng mua bán các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Quan hệ môi giới được thiết lập trên cơ sở hợp đồng môi giới bằng văn bản hoặc bằng thoả thuận miệng, tùy theo sự thoả thuận giữa bên cung ứng dịch
vụ môi giới và bên khách hàng sử dụng dịch vụ môi giới hoặc theo quy định của pháp luật Hình thức thực hiện môi giới có thể là giao dịch trực tiếp hoặc thông qua phương tiện điện tử hoặc các hình thức khác với khách hàng do các bên thoả thuận
Thứ ba, hoạt động định giá công nghệ: Định giá công nghệ là hoạt động xác
định giá trị của sản phẩm công nghệ và tài sản trí tuệ nói chung để phục vụ cho việc chuyển giao công nghệ và đầu tư góp vốn cổ phần Thông thường, định giá công
nghệ được thực hiện theo các phương pháp sau đây: Phương pháp chi phí (xác định
giá trị tài sản trí tuệ theo chi phí vật liệu, nhân công đã sử dụng và tiêu hao tức thời) Phương pháp này thường được áp dụng trong việc định giá các thiết kế công trình, phần mềm máy tính, giấy phép kinh doanh và trong định giá tổn thất liên quan
đến tố tụng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Phương pháp thị trường (xác định giá
trị tài sản trí tuệ thông qua điều chỉnh thích hợp theo giá trị sử dụng và nhu cầu trên thị trường) Đối với những nước mà kinh tế thị trường chưa phát triển như nước ta,
Trang 36việc sử dụng phương pháp này chưa thích hợp Phương pháp thu nhập (xác định giá
trị tài sản trí tuệ bằng cách lấy thu nhập tạo ra trong kỳ thu nhập tương lai của tài sản trí tuệ trừ đi một tỷ lệ lỗ vốn thích hợp làm giá trị hiện thời) Đây là phương pháp định giá được áp dụng phổ biến hiện nay
Thứ tư, hoạt động quản lý thị trường: Hoạt động quản lý thị trường KH&CN
bao gồm các nội dung sau: tổ chức xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về thị trường KH&CN; vận dụng các biện pháp về hành chính, kinh tế để điều hòa vĩ
mô và chỉ đạo phát triển thị trường KH&CN; làm đầu mối giám định, đăng ký hợp đồng công nghệ và phụ trách công tác thống kê, phân tích thị trường KH&CN; phối hợp xây dựng cơ quan trọng tài hợp đồng công nghệ; phối hợp với cơ quan tài chính
và các cơ quan có liên quan khai thác các nguồn kinh tế, phát triển quỹ hỗ trợ nhằm thúc đẩy thương mại hóa thành quả KH&CN; phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, phê duyệt và quản lý cơ quan kinh doanh, môi giới, dịch vụ công nghệ; tổ chức chỉ đạo lưu thông thông tin về thương mại hóa công nghệ; tổ chức công tác đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ cho thị trường công nghệ; tổ chức và triển khai nghiên cứu và tuyên truyền về thị trường KH&CN; tổ chức việc khen thưởng công tác thị trường KH&CN
1.1.2 Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Theo cách tiếp cận quản trị, Chương trình là một loại hình của kế hoạch Kế
hoạch là một quá trình ra quyết định và lựa chọn các phương án khác nhau nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực có hạn để đạt được các mục tiêu đề ra cho một thời kỳ nhất định trong tương lai Do đó, Chương trình bao gồm mục đích, chính sách, thủ tục, quy tắc, các nhiệm vụ được giao, các bước phải tiến hành, các nguồn lực có thể huy động và các yếu tố khác Còn phát triển là thuật ngữ dùng để chỉ sự vận động theo chiều hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; cái cũ bị thay thế bởi cái mới hơn, cái lạc hậu bị thay thế bởi cái tiến bộ hơn
Do đó, Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ được hiểu
là tập hợp hệ thống các quan điểm phát triển, các mục tiêu, các định hướng, công cụ
và các nhiệm vụ phải thực hiện để thúc đẩy phát triển cầu công nghệ, cung công
nghệ, các tổ chức trung gian của thị trường KH&CN
Trang 371.2 Nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
1.2.1 Khái niệm nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Theo nghĩa thông thường, nhiệm vụ là những vấn đề cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn Do đó, nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết để đáp ứng mục tiêu của Chương trình phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng
Biểu hiện của nhiệm vụ KH&CN dưới dạng đề tài, đề án, dự án và các hoạt động nhằm góp phần khuyến khích hoạt động đổi mới công nghệ, gia tăng giá trị
giao dịch, mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN trên thị trường KH&CN
1.2.2 Mục tiêu của nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường KH&CN
được thực hiện nhằm:
Thứ nhất, góp phần phổ biến, truyền bá tri thức về thị trường, KH&CN
nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về sự phát triển của thị trường khoa học và công nghệ KH&CN chỉ trở thành nguồn lực cho tăng trưởng nếu như chúng được
áp dụng hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo ra sản phẩm phục vụ con người và xã hội Do đó, các nhiệm vụ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ là một bộ phận quan trọng, có vai trò then chốt trong việc tạo môi trường thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực KH&CN quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Thứ hai, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho thị trường KH&CN phát triển,
góp phần kích thích bên cung, bên cầu, các tổ chức trung gian nhằm đa dạng hóa các hình thức giao dịch công nghệ Các hình thức giao dịch trên thị trường KH&CN gồm có các hình thức như: Giao dịch mua, bản quyền sở hữu, quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, giao dịch chuyển giao công nghệ là các thiết bị, máy móc, công nghệ thuần tuý giữa các chủ thể tham gia thị trường
Trang 38Thứ ba, góp phần nâng cao năng lực của các tổ chức thực thi pháp luật về thị
trường khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực của bên cung, bên cầu và mạng lưới tổ chức trung gian về công nghệ, đồng thời thúc đẩy hoạt động liên kết, hợp tác thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, tài sản trí tuệ phục vụ sản xuất kinh doanh
Ngoài ra, các nhiệm vụ thuộc KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nâng cao năng lực chuyển giao công nghệ, hỗ trợ cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Đặc biệt, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các sàn giao dịch công nghệ, các tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo, trung tâm xúc tiến và hỗ trợ chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ đánh giá, định giá tài sản trí tuệ, cơ sở ươm tạo và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ
1.2.3 Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Thứ nhất, đề án, đề tài khoa học và công nghệ Đây là nhiệm vụ KH&CN có
mục tiêu, nội dung, phương pháp rõ ràng nhằm tạo ra các kết quả mới, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về phát triển thị trường khoa học và công nghệ Theo Bộ Khoa học và Công nghệ (2013), các đề án, đề tài được hỗ trợ theo quy định tại mục
2, Điều 7 của Thông tư số 32/2014/TT-BKHCN ngày 06/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ
Thứ hai, dự án khoa học và công nghệ Đây là một loại nhiệm vụ KH&CN
bao gồm dự án nghiên cứu KH&CN và dự án sản xuất thử nghiệm có sự gắn kết hữu cơ, đồng bộ được tiến hành trong một thời gian nhất định, nhằm giải quyết các vấn đề KH&CN chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực, ưu tiên, mũi nhọn có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2013) Các dự án KH&CN trong Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ nhằm thúc đẩy quan hệ cung, cầu công nghệ, nâng cao năng lực tổ chức trung gian, phát triển dịch vụ KH&CN
Trang 39Thứ ba, các hoạt động hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
và công nghệ, tài sản trí tuệ Chú trọng tới các hoạt động tổ chức chợ công nghệ và thiết bị, trình diễn kết nối cung cầu công nghệ, hội thảo triển lãm giới thiệu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của cơ sở nghiên cứu, đào tạo, ngày hội đầu tư thương mại hóa công nghệ, ngày hội khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, triển lãm sáng chế và các sản phẩm khoa học và công nghệ tiềm năng thương mại hóa ở trong nước và nước ngoài
1.3 Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
1.3.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
1.3.1.1 Khái niệm quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Quản lý thường được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường Xét từ phương diện quản lý nhà nước về KH&CN, chủ thể quản lý là nhà nước, đây là dạng quản lý xã hội có tính quyền lực để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành
vi của con người trong hoạt động KH&CN nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Như vậy, quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ được hiểu là sự tác động của Nhà nước bằng công cụ chính sách và pháp luật tới các đối tượng (tổ chức, cá nhân) thực hiện nhiệm vụ KH&CN trong Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ nhằm đạt được mục tiêu về phát triển thị trường KH&CN trong từng giai đoạn cụ thể
1.3.1.2 Mục tiêu quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Thứ nhất, tăng giá trị giao dịch mua bán các sản phẩm và dịch vụ KH&CN
trên thị trường, đặc biệt đối với một số công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới thông qua việc thúc đẩy nguồn cung công nghệ, cầu công nghệ, đẩy nhanh tiến trình cải tiến, đổi mới công nghệ
KH&CN nâng cao tỷ trọng giao dịch mua bán tài sản trí tuệ, các sáng chế, giải pháp hữu ích, quy trình, bí quyết công nghệ trong tổng giá trị giao dịch mua
Trang 40bán các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường KH&CN nhằm hỗ trợ quá trình thích nghi, làm chủ và giải mã công nghệ
Thứ ba, thiết lập mạng lưới sàn giao dịch công nghệ, kích thích, tạo động lực
cho các tổ chức trung gian phát triển nhằm hỗ trợ hoạt động kết nối cung, cầu về các sản phẩm KH&CN như các sàn giao dịch công nghệ trực tuyến, các trung tâm giao dịch công nghệ,…
Ngoài ra, mục tiêu quản lý nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị
trường KH&CN còn nhằm hỗ trợ đào tạo, nâng cao năng lực tư vấn pháp pháp lý để
hình thành và phát triển các trung tâm xúc tiến chuyển giao công nghệ, trung tâm hỗ trợ định giá tài sản trí tuệ, trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo,…
1.3.2 Quy trình quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Một chương trình KH&CN thường có nhiều đề tài, dự án, đề án KH&CN và các hoạt động (gọi chung là nhiệm vụ khoa học và công nghệ), các nhiệm vụ có mối quan hệ gắn kết và liên ngành với nhau theo một logic nhằm quyết tổng thể mục tiêu nghiên cứu trung và dài hạn Việc quản lý các nhiệm vụ KH&CN thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ là đảm bảo cho Chương trình được thực hiện đúng đường lối, chính sách, pháp luật về KH&CN, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội Trên thực tế, quy trình quản lý đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc Chương trình phát triển thị trường khoa học
và công nghệ như sau (Sơ đồ 1.2)