1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thuyết minh chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học Việt Nam đến năm 2020

47 761 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuyết minh chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học Việt Nam đến năm 2020
Tác giả GS Hoàng Tụy, GS Đặng Đình Áng, GS Nguyễn Khoa Sơn, GS Lê Dũng Tráng, GS-TSKH Trần Văn Nhung, GS-TSKH Lê Tuấn Hoa, TS Nguyễn Thị Lê Hương, GS-TSKH Phạm Kỳ Anh, GS-TSKH Hoàng Ngọc Hà, GS-TSKH Phan Quốc Khánh, GS-TSKH Phạm Thế Long, GS-TSKH Nguyễn Văn Mậu, TS Nguyễn Văn Ngữ, GS-TSKH Ngô Việt Trung
Trường học Bộ Giáo Dục và Đào Tạo
Chuyên ngành Toán học
Thể loại Thuyết minh
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 298,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuyết minh chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học Việt Nam đến năm 2020

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

THUYẾT MINH CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA PHÁT TRIỂN TOÁN HỌC VIỆT NAM

ĐẾN NĂM 2020

Hà Nội 2010

Trang 3

DANH SÁCH CÁC BAN

A BAN CHỈ ĐẠO

1 Ông Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Trưởng ban

2 Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu

niên và Nhi đồng của Quốc hội, ủy viên

3 Ông Hoàng Văn Phong, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ủy viên

4 Ông Nguyễn Việt Hồng, Vụ trưởng Vụ tài chính hành chính sự nghiệp, Bộ

tài chính, ủy viên.

C BAN SOẠN THẢO CHƯƠNG TRÌNH

1 GS-TSKH Trần Văn Nhung, Trưởng ban

2 GS-TSKH Lê Tuấn Hoa, ủy viên thường trực

3 TS Nguyễn Thị Lê Hương, ủy viên thường trực

4 GS-TSKH Phạm Kỳ Anh, ủy viên

5 GS-TSKH Hoàng Ngọc Hà, ủy viên

6 GS-TSKH Phan Quốc Khánh, ủy viên

7 GS-TSKH Phạm Thế Long, ủy viên

8 GS-TSKH Nguyễn Văn Mậu, ủy viên

9 TS Nguyễn Văn Ngữ, ủy viên

10 GS-TSKH Ngô Việt Trung, ủy viên

Trang 4

Mục lục

I.1 Vai trò và sự cần thiết phát triển Toán học

I.2 Thực trạng phát triển Toán học ở nước ta

I.2.1 Giáo dục Toán học ở bậc phổ thông I.2.2 Giảng dạy Toán ở bậc đại học I.2.3 Công tác nghiên cứu Toán học I.2.4 Về ứng dụng Toán học

I.2.5 Một số đánh giá sơ bộ I.2.6 Nguyên nhân của thành công và hạn chế I.2.7 Kết luận

61010121417182023

II KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TOÁN HỌC Ở MỘT SỐ

III.1 Mục tiêu

III.2 Các giải pháp

III.2.1 Giải pháp dài hạn (đến năm 2030-2040)

III.2.2 Giải pháp ngắn hạn và trung hạn (đến năm 2020)

III.3 Ước tính nhu cầu kinh phí

III.4 Tổ chức thực hiện

III.5 Tiến độ thực hiện

27282830374040

IV TÍNH KHẢ THI VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI 42

Phụ lục 1: Dự thảo Quyết định về việc thành lập

Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán

Phụ lục 2: Dự thảo Quy chế tổ chức và hoạt động

của Viện Nghiên cứu cấp cao về Toán

Phụ lục 3: Vai trò của Toán học – Thực trạng và giải pháp

phát triển ở Việt Nam (138 trang)

Trang 5

MỞ ĐẦU

Đất nước ta đang tiến vào thế kỉ 21 trong thời đại mà khoa học và côngnghệ đang tiến như vũ bão Khoa học và công nghệ không những đóng vaitrò then chốt trong sự phát triển của loài người mà ngày càng trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp Dù là nước công nghiệp hiện đại hay nước đangphát triển, không phát triển được khoa học và công nghệ thì sẽ bị tụt hậu,còn nếu đang tụt hậu thì càng tụt hậu xa hơn Vì vậy, đẩy mạnh phát triểnkhoa học và công nghệ là điều mà Đảng và Nhà nước luôn luôn nhấn mạnh,không chỉ trên các Đại hội Đảng mà còn thể hiện bằng nhiều chính sáchkhác nhau

Trong sự phát triển của khoa học và công nghệ, cũng như trong kinh tế,

xã hội và an ninh, quốc phòng, Toán học có một vai trò đặc biệt Phát triểnToán học vừa tối cần thiết, lại vừa rất rẻ so với các ngành khoa học khác Do

đó một nước nghèo như nước ta hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triểnToán học

Trên thực tế, nền khoa học của nước ta nói chung và nền Toán học nóiriêng còn rất non trẻ - mới chỉ được xây dựng từ sau 1954 Dưới sự nhìn xatrông rộng của Đảng và Chính phủ trong việc đào tạo, cùng với sự giúp đỡcủa phe xã hội chủ nghĩa trước đây, chúng ta đã bước đầu xây dựng được cơ

sở của một nền khoa học, trong đó Toán học nổi lên như một trong nhữngngành phát triển tốt nhất Nhờ đó Toán học nước ta từ con số 0 đã trở thànhnước có nền Toán học vào loại khá trong các nước đang phát triển, có thểxếp vào hàng thứ 50-55 trên thế giới Tuy nhiên đó mới chỉ là bước đầu, còn

xa mới đạt được trình độ Toán học của các nước công nghiệp, cũng như còn

xa mới đáp ứng được nhu cầu hiện tại của nước ta trong đào tạo cũng nhưphát triển công nghệ, kinh tế Toán học nước ta vừa ít về số lượng, vừa yếu

về chất lượng

Trong khi đó cách đây hơn 10 năm, khi xác định các hướng khoa học –công nghệ trọng điểm, Toán học đã không được đánh giá đúng mức Do đóToán học đã không được coi là hướng ưu tiên để phát triển Dưới tác độngcủa kinh tế thị trường, số học sinh, sinh viên giỏi theo học ngành Toán giảmsút nghiêm trọng Hậu quả là Toán học không tiến lên được mà còn kém đi.Một số nhân tố gây dựng được của nền Toán học còn rất non trẻ của nước ta

bị biến mất Toán học của nước ta bị tụt hậu khá xa so với một số nước trongkhu vực vốn kém hoặc không hơn ta (như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan)

và có nguy cơ bị tiêu vong

Trang 6

Thấy được những vấn đề đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đãquyết định xây dựng một Chương trình trong điểm quốc gia Phát triển Toánhọc đến năm 2020 Mục tiêu của Chương trình là tìm ra các giải pháp độtphá nhằm đưa Toán học nước ta phát triển mạnh mẽ, tương xứng với tiềmnăng trí tuệ của người Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nướctrên các lĩnh vực khác nhau như: khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo,kinh tế cũng như củng cố quốc phòng

Chương trình này gồm 5 phần Phần I nêu lên sự cần thiết xây dựngChương trình dựa trên cơ sở phân tích vai trò và sự cần thiết của Toán họctrong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội, cũng như đánh giáthực trạng phát triển Toán học của nước ta ở tất cả các cấp: từ giáo dục Toán

ở phổ thông, tới đào tạo Toán ở đại học; từ công tác nghiên cứu Toán lýthuyết thuần túy tới việc nghiên cứu Toán ứng dụng và ứng dụng Toán học.Phần II dành để điểm qua một số kinh nghiệm phát triển Toán học ở một sốnước trên thế giới Trên cơ sở phân tích ở hai phần đầu, một số giải phápđược nêu ra trong Phần III Để thúc đẩy sự phát triển của Toán học ViệtNam cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Tuy nhiên, những giảipháp như vậy không thể thực hiện đơn lẻ cho riêng lĩnh vực Toán học, màphải trong một tổng thể với các ngành khoa học khác, cũng như giải quyếthàng loạt ràng buộc của sự phát triển với các mặt khác của đời sống kinh tế -

xã hội của đất nước Đề ra được một chương trình như vậy tức là đưa ra mộtchương trình chi tiết hóa Nghị quyết Trung ương 2 của Đại hội Đảng lần thứ

8 Nó đòi hỏi nhiều thời gian và điều kiện phức tạp

Do vậy, ở Chương trình này chỉ đề cập đến một số giải pháp mang tínhsách lược mà sự thực hiện của nó có tính độc lập tương đối so với mộtchương trình tổng thể nếu có, và có thể thực hiện được ngay Với xuất phátđiểm đó, trong Chương trình không chú trọng quá nhiều đến tính đồng bộ vàtính đầy đủ của các giải pháp, mà chú trọng chính là tìm ra những giải phápkhả thi và không cần thật nhiều kinh phí

Phần IV phân tích tính khả thi và hiệu quả kinh tế xã hội mà Chươngtrình sẽ đem lại Phần V là những kết luận cơ bản và kiến nghị Thủ tướngChính phủ phê duyệt Chương trình này

Chương trình này được đề xuất dựa trên một nghiên cứu khá công phu

về các vấn đề liên quan tới Toán học ở Việt Nam Phần này được đính kèmnhư một phần phụ lục

Trang 7

I SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

I.1 Vai trò và sự cần thiết phát triển Toán học.

Toán học ra đời và phát triển hơn 2000 năm trước đây Mặc dù đượcxếp vào loại lý thuyết nhất trong các ngành khoa học khác nhau, Toán học làmột sản phẩm của thực tiễn và luôn quay lại phục vụ thực tiễn Vì vậy từ lâuloài người đã thấy rõ vai trò và sự cần thiết của nó

Trước hết, Toán học có một mối quan hệ chặt chẽ với tất cả các

ngành khoa học tự nhiên Nó ra đời từ thực tiễn, từ nhu cầu phát triển của

nhiều ngành khoa học khác, và ngược lại nó là một công cụ không thể thiếu

để phát triển các ngành đó Có thể nói rằng Toán học ra đời và phát triển

trong sự đồng hành cùng Vật lí và Thiên văn học Ngày nay không có một

ngành Vật lí nào không dùng phương pháp toán học Ngược lại Vật lí vàThiên văn học đã tạo ra nhiều vấn đề, và trong nhiều trường hợp đã mở

hướng cho phát triển của Toán học Công nghệ thông tin được tách ra từ

Toán như một ngành toán đặc biệt với các máy móc và kĩ năng tính toán hếtsức mạnh Không có một ngành khoa học kĩ thuật hay quản lí nào ngày naykhông dùng đến Công nghệ thông tin và cũng không thể có một ngành côngnghệ thông tin phát triển thiếu tư duy và kĩ năng toán học Không những thế,nếu chỉ hạn chế về các sản phẩm phần mềm, thì Công nghệ thông tin chính

là Toán học Nếu như trước đây, ứng dụng truyền thống của Toán học các

ngành khoa học Hóa học, Khoa học về Trái đất (bao gồm Địa chất học, Đại

lý, Khí tượng, Thủy văn, Hải dương học và khoa học về môi trường), Khoa

học về sự sống (Y học, Sinh học) là các tính toán truyền thống hay các

phương pháp Thống kê Toán học, thì ngày nay Toán học rất quan trọngtrong việc mô phỏng và xây dựng mô hình các hệ thống phức tạp xuất hiệntrong các lĩnh vực đó

Tiếp theo, Toán học đóng một vai trò không thể thiếu trong kinh tế

học và các khoa học về quản lí Vai trò này được thể hiện qua nhiều khía

cạnh khác nhau, từ giảng dạy, nghiên cứu đến chính sách kinh tế Mở bất cứcuốn sách giáo khoa kinh tế nào ra, dù là vi mô hay vĩ mô, dù là nhập mônhay cấp cao, người đọc cũng dễ dàng nhận thấy vai trò quan trọng của Toántrong việc trình bày và truyền đạt các ý niệm Lý thuyết kinh tế Trên bìnhdiện chính sách kinh tế, các mô hình Toán kinh tế và Kinh tế lượng được cácviện nghiên cứu và các cơ quan chính phủ sử dụng rộng rãi và thường xuyêntrong việc đánh giá và dự báo ảnh hưởng của các chu trình, xu hướng kinh tếhay các chính sách kinh tế công Để minh chứng cụ thể hơn sự đóng góp của

Trang 8

Toán học trong Kinh tế học, ta hãy lấy một ví dụ cụ thể Von Neumman đềxuất dùng Lí thuyết trò chơi – một chuyên ngành ban đầu mang tính Toánhọc thuần túy - như một thứ ngôn ngữ mới dùng để biểu diễn và giải quyếtcác vấn đề kinh tế một cách chính xác Lối tư duy mới này nhấn mạnh sựtương tác chiến lược giữa các tác nhân kinh tế (cá nhân, doanh nghiệp, chínhphủ, vv) Lí thuyết cân bằng tổng thể có thể xem là một trường hợp đặc biệtcủa Lí thuyết trò chơi Tác phẩm chung của von Neumann và Morgenstern

về Lý thuyết trò chơi đã cách mạng hoá bộ môn Kinh tế và nghiên cứu trongKinh tế

Những đóng góp của Toán học trong các ngành khoa học cơ bản cũngnhư trong Kinh tế, Y học có lẽ được biểu hiện rõ ràng nhất qua việc hầu hếtcác công trình và công cụ nghiên cứu của các nhà bác học được Giải thưởngNobel đều có cơ sở là Toán học Chẳng hạn, phần lớn trong số 58 nhà khoahọc đoạt giải Nobel Kinh tế - giải thưởng học thuật cao quý nhất của Kinh tếhọc - có thể xem là nhà toán kinh tế hay nhà kinh tế lượng học

Toán học cũng có vai trò ngày càng cao trong các môn khoa học xã hội

như Tâm lý học, Kiến trúc, Hội họa, Ngôn ngữ, … Để tóm lược cho vai tròcủa Toán học đối với các ngành khoa học khác, có thể dùng câu nói sau củanhà hội họa và nhà khoa học nổi tiếng Leonardo da Vinci: “No humaninvestigation can be called real science if it can not be demonstratedmathematically” (tạm dịch: không có một nghiên cứu nào có thể xem làkhoa học thật sự nếu không được chứng minh một cách toán học)

Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển các ngành khoa học,

Toán học còn góp phần đáng kể đối với việc giáo dục và nâng cao dân trí.

Đối với giáo dục phổ thông: Việc giảng dạy Toán học là một phần không thể

thiếu Học sinh sẽ không thể học bất cứ ngành gì nếu không học Toán.Người thầy sẽ không thể dạy tốt nếu không có tư duy toán học Bởi vậy từlâu và cả sau này nữa, Toán học vẫn là môn cơ sở cho giáo dục phổ thông.Cùng với môn Văn, đây là môn được học suốt từ Lớp 1 đến lớp cuối cùng ởbậc phổ thông ở tất cả các nước

Đối với giáo dục đại học: Đào tạo đại học là đào tạo nghề cho cácchuyên gia, cho nên người học cần tiếp thu tất cả các thành tựu mới nhất củakhoa học kĩ thuật và khoa học quản lí Tay nghề cao là phải đi đôi với thựcthi công việc giỏi Vì vai trò to lớn của Toán học đối với các ngành khoa họckhác, nên việc Toán học đóng vai trò thiết yếu ở giáo dục đại học là điềukhông cần phải bàn cãi Điều cần nhấn mạnh thêm ở đây chỉ là ngoài việccung cấp những kiến thức cần thiết cho việc học và nghiên cứu các ngành

Trang 9

khoa học khác, thì Toán học còn giúp cho sinh viên tăng cường khả năng tưduy.

Đối với nâng cao dân trí: Toán học là bộ phận cấu thành của văn minhnhân loại Giáo dục và nâng cao dân trí không thể thành công nếu xem nhẹviệc học và nghiên cứu Toán học Ngày nay trong thời đại kinh tế tri thức,vai trò của Toán học càng được nâng cao Có thể nói, việc học môn Toángiúp con người phát triển về khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát và trừutượng - đây là những thao tác quan trọng nhất của tư duy con người Xã hộingày nay đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ suy luận, biết so sánh,phân tích, ước lượng, tính toán, hiểu và vận dụng được những mối quan hệđịnh lượng hoặc lôgic, xây dựng và kiểm định các giả thuyết và mô hình đểrút ra những kết luận có tính lôgic Nói cách khác, trong thế giới hiện đạingày nay, năng suất lao động phụ thuộc không nhỏ vào vốn hiểu biết địnhlượng, tức là vốn văn hoá tính toán của đội ngũ những người lao động, cáivăn hoá do giáo dục toán học cung cấp

Những nhận định khái quát cũng đúng đối với thực tiễn ở Việt Nam.Toán học đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, tạo nguồn tàinguyên chất xám cho đất nước, tạo tiền đề phát huy nội lực, tiếp thu côngnghệ mới trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hiệntượng nước ta có trình độ dân trí và một nền giáo dục cao hơn thực trạng nềnkinh tế chính là một trong những nguyên nhân khuyến khích sự đầu tư củanước ngoài Cũng chính trình độ dân trí tăng lên, nên tốc độ tăng trưởng sửdụng máy tính và Internet ở Việt Nam cũng vào loại cao

Ngày nay, Toán học còn có ý nghĩa đặc biệt trong phát triển kinh tế và

củng cố an ninh, quốc phòng Loài người đang dần dần tiến vào nền Kinh tế

tri thức Trong sự chuyển mình này, ứng dụng Toán học đang ngày càngtrực tiếp đem lại những nguồn thu nhập đáng kể Thậm chí có một số ngànhkinh tế mà Toán đóng góp tỷ trọng rất lớn, đôi khi là quyết định như việc sảnxuất các phần mềm, cung cấp dịch vị Internet, lưu thông tài chính, bưu chínhviễn thông, … Ngay lĩnh vực giáo dục và đào tạo – nơi Toán học có ảnhhưởng rất lớn – ngoài việc tạo ra cái nền tri thức để phát triển toàn bộ cáckhía cạnh của kinh tế - xã hội, thì cũng đem lại một nguồn lợi ích kinh tếtrực tiếp rất dáng kể trong tổng thu nhập quốc dân Hơn nữa, ngày nay người

ta đã đi đến kết luận là: có nền Toán học phát triển thì mới tạo ra một môitrường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư

Chiến tranh hiện đại không chỉ là cuộc chiến của những vũ khí siêu

hiện đại, mà còn là chiến tranh số hóa Số hóa đã nhân sức mạnh của vũ khí lên nhiều lần Cuộc chiến của Mỹ ở Kosovo, ở Afganistan và ở Irắc đã

Trang 10

chứng minh hùng hồn cho thực tế đó Với việc sử dụng ngày càng nhiềuphương tiện, vũ khí hiện đại được điều khiển tự động, từ xa thì một nềnToán học phát triển sẽ tạo điều kiện vượt trội đối phương Đất nước chúng takhông đủ kinh phí để trang bị đủ vũ khí hiện đại cho một cuộc chiến tranh sốhóa Nhưng như vậy, không có nghĩa là chúng ta thờ ơ, không chú ý đến Có

đủ trình độ khoa học, công nghệ, trong đó có Toán, chúng ta sẽ tìm ra đượcphương thức để hạn chế hoặc vô hiệu hóa đối phương – như đã từng xảy rakhi chúng ta phá nhiễu thành công ra đa bảo vệ máy bay B52 của không lực

Mỹ trong trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972 Đó là thời kì tiềnchiến tranh số hóa

Mật mã ra đời với mục đích bảo vệ thông tin (quốc phòng cũng nhưkinh tế) và ngày nay đã trở thành một ngành toán học thật sự Đặc biệt Mật

mã khóa công khai đang ngày càng trở nên thông dụng Nó sử dụng tất cảcác kết quả của các ngành toán Với kinh doanh kinh tế và phục vụ đời sống,

có thể mua các phần mềm thương mại Dù tốn tiền nhưng vẫn còn dùngđược Thế nhưng để bảo vệ bí mật thông tin cho an ninh quốc gia hay cho anninh kinh tế, khoa học, … thì không thể đơn giản mua phần mềm của ai đóđược Không có gì đảm bảo trong các con chip đặt mua, đối phương lạikhông cài những con rệp tình báo Rõ ràng con đường duy nhất để bảo đảmđược bí mật, cũng như giải mã được thông tin của đối phương, là phải tự làmđược các loại thuật toán, phần mềm đó Điều này chỉ có thể làm được khi cómột nền Toán học cao

Còn có thể kể ra nhiều ví dụ nói về tầm quan trọng của Toán học đốivới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội Nói một cách cô đọng nhưng khá

cụ thể, Hội Toán học Đức đã khẳng định: “Không có lĩnh vực khoa học nàothâm nhập và ảnh hưởng đến các lĩnh vực của cuộc sống và công việc nhưToán học Từ chế tạo ô tô đến phân làn đường, từ mua bán trong siêu thị đếnkiến trúc, từ dự báo thời tiết đến nghe MP3, từ đi tàu đến Internet – tất cảđều là Toán!”

Vì vậy, muốn xây dựng một nền kinh tế tiên tiến, phải phát triển Khoahọc và Công nghệ, mà trong đó Toán học phải được coi là một mũi nhọn Đó

là con đường mà các nước giàu đã đi và các nền kinh tế mới nổi đang triểnkhai mạnh mẽ Chỉ cần lấy một ví dụ, có thể thấy rõ điều đó Nước Mỹ lànước có nền giáo dục đại học nói chung và Toán nói riêng không chỉ hiệnđại nhất thế giới, mà còn vượt xa các nước xếp ngay dưới Tuy nhiên không

vì thế mà họ chủ quan Để tiếp tục sự vượt trội đó, trong thông điệp Liênbang năm 2007, Tổng thống Mỹ G Bush đã tỏ rõ quyết tâm của đất nướchọ: “…Chúng ta phải chắc chắn rằng con em chúng ta được chuẩn bị cho

Trang 11

các công việc của tương lai và đất nước chúng ta cạnh tranh hơn bằng cáchtăng cường các kỹ năng Toán học và khoa học''

Trong xu hướng chung của nhân loại, nước ta, với dân số đứng thứ 13trên thế giới, muốn tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tiến tới xâydựng một nền kinh tế tiên phong thì không thể không chú ý tới phát triểnToán học Không những thế, phát triển Toán học phải đi trước một bước,chứ không phải chờ đến khi đất nước đã giàu mới chú ý tới, bởi lẽ như trên

đã nói Toán học tạo ra cái nền để phát triển các ngành khoa học và côngnghệ Thêm vào đó, khác với công nghệ có thể nhập khẩu, phát triển Toánhọc không đòi hỏi đầu tư kinh phí nhiều, nhưng lại đòi hỏi nhiều thời gian

để đào tạo Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan cho thấy rõđiều đó Ngày nay các nước kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ,Malayxia, … đang bắt đầu chú trọng phát triển Toán học

I.2 Thực trạng phát triển Toán học ở nước ta

Phần này sẽ điểm qua thực trạng phát triển Toán học qua một số lĩnhvực hoạt động chính

I.2.1 Giáo dục Toán học ở bậc phổ thông

Từ sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt Nam không chỉ giànhnhững thắng lợi vĩ đại trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc mà còn đạt đượcnhững thành tích kì diệu trên mặt trận giáo dục Có thể nói chúng ta đã tiếnhành một cuộc cách mạng trên lĩnh vực giáo dục và đạt được nhiều thànhtựu đáng tự hào Từ chỗ thời Pháp thuộc, cả nước chỉ có ít trường trung họcphổ thông, ngày nay hệ thống giáo dục của ta đã phát triển mạnh mẽ, đượcUNESCO đánh giá cao Năm học 2008-2009 số các trường phổ thông trêntoàn quốc (kể cả dân lập) là 28 114 với 15 212 028 học sinh chiếm khoảng18% dân số

Trong thành tích chung của giáo dục phổ thông, giáo dục Toán học ở

nước ta cũng đóng góp phần quan trọng đáng tự hòa Nhìn chung Toán học

phổ thông của ta theo kịp trình độ quốc tế và có sự hài hòa nhất định giữa đào tạo đại trà và đỉnh cao Chương trình giáo dục môn Toán khá hiện đại

và cập nhật Từ trước tới nay, nếu xét trên miền Bắc đã có 3 chương trình vàsách giáo khoa về môn Toán Mặc dù còn những thiếu sót khác nhau, nhưng

Trang 12

nhìn chung lại, khối lượng kiến thức về Toán phổ thông của nước ta trong cả

3 giai đoạn về cơ bản không khác nhiều so với thế giới Việc bám sát đượcvới chương trình chung của quốc tế ở bậc phổ thông là một điều rất cơ bảnđảm bảo cho sự trưởng thành về giáo dục Toán phổ thông ở nước ta Nhữngnhức nhối trong giáo dục Toán phổ thông hiện nay được dư luận đề cập đếnnhiều có nguyên nhân, nhưng chủ yếu ở phương pháp dạy học và sắp xếpkhoa học các nội dung kiến thức cần được chuyển tải, chứ không phải ở sựlạc hậu hay quá tải của số lượng kiến thức

Để đánh giá chính xác về giáo dục Toán học, ngoài việc phải dựa vào

giáo dục đại trà như đã nêu ở trên, thì không thể không nói tới vai trò và

thành tựu của việc phát hiện và đào tạo học sinh có năng khiếu về Toán.

Đây là một điều cực kì quan trọng Học Toán để học các môn khác là mộtchuyện Học Toán để làm nghề thì phải chuyên sâu hơn Về điểm này, nước

ta đã đạt được thành tích có thể nói khá khả quan là nhờ đã đồng thời thựcthi nhiều biện pháp phối hợp

Thứ nhất, đã tổ chức các cuộc thi học sinh giỏi Toán toàn quốc (học sinhgiỏi Toán miền Bắc trước đây) ở ba lớp cuối cấp Đây là một cuộc thi bổ ích

mà không tốn kém Việc tham gia thi học sinh giỏi không chỉ giúp phát hiện

ra học sinh có năng khiếu Toán, mà còn tạo ra một phong trào say mê họcToán rộng khắp của các em học sinh

Thứ hai là việc tổ chức các lớp chuyên Toán Vai trò của các lớp chuyênToán trong việc đào tạo những người làm Toán chuyên nghiệp (giáo sưToán, nhà nghiên cứu Toán) không phải là đặc thù ở nước ta Ngay nhữngnước tiên tiến như Mỹ, Pháp, … nhiều nhà Toán học có tên tuổi thời phổthông cũng học ở các lớp chuyên Toán (hoặc trường chuyên gymnasia) Nhưvậy, bằng việc mở các lớp chuyên Toán, chúng ta đã biết đi tắt đón đầu, ápdụng một hình thức đào tạo nhân tài tiên tiến của thế giới

Thứ ba là việc đào tạo giáo viên giỏi về Toán Khởi đầu, phần lớn giáoviên giỏi về Toán ở các lớp chuyên Toán (phổ thông trung học) của Bộ đều

là các thầy giáo dạy đại học Dần dần những lớp học sinh khóa trước trưởngthành, quay lại trở thành những giáo viên chủ chốt của các lớp chuyên Toán

Số lượng giáo viên dạy giỏi Toán càng ngày càng đông, góp phần mở rộng

hệ thống trường chuyên bna đầu chỉ gồm 3 lớp ở ba trường đại học, thànhmột mạng lưới rộng rãi ở tất cả các tỉnh, thành phố

Thứ tư là việc ra đời và duy trì Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ Đây là tạpchí do Hội Toán học thành lập Trong thời buổi tài liệu khó khăn ngày trước,thì tạp chí là một nguồn tư liệu quý giá Do vậy, nó đã có tác dụng tích cực

Trang 13

trong việc thúc đẩy niềm ham mê Toán học của học sinh ở mọi miền đấtnước.

Đỉnh cao của giáo dục Toán học Việt Nam chính là thành tích của cácđoàn học sinh Việt Nam qua các kì thi Olympic Toán quốc tế Một số quanniệm cực đoan cho rằng đây là cuộc đấu của những chú gà chọi, không phảnánh, thậm chí không liên quan tới giáo dục Toán đại trà Thực tế không phảihoàn toàn như vậy Tham dự kì thi Toán quốc tế không chỉ là tạo ra mộtphong trào thi đua học Toán trong học sinh có năng khiếu Toán, mà quantrọng hơn, qua đó biết được vị trí thực của mình trong tương quan quốc tế,

để rồi từ đó Nhà nước (mà trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo) sẽ có cáchtiếp cận tối ưu tới việc điều chỉnh, hoạch định chiến lược giáo dục Toán học.Sau 33 lần tham gia thi Olympic Toán quốc tế (kể cả năm 2009), tổng cộng

có 199 lượt học sinh đã dự thi với số giải giành được là 183, trong đó cónhiều huy chương vàng Hầu hết các năm dự thi, đoàn Việt Nam đứng vào

10 nước mạnh nhất Những kết quả đáng khích lệ đó làm cho nhiều ngườitrên thế giới cho rằng người Việt Nam là có tiềm năng tiếp thu và nghiêncứu Toán học Vì vậy, một số nước lân cận chúng ta như Thái Lan,Malayxia đã tích cực học tập kinh nghiệm, và hai năm 2008, 2009 đội tuyểnThái Lan đã vượt Việt Nam

I.2.2 Giảng dạy Toán ở bậc đại học

Dưới thời thực dân, trong các trường Pháp-Việt, trình độ Toán họckhông vượt quá trình độ phổ thông Ngay cả ở những trường cao đẳng, kĩthuật như giao thông vận tải, trình độ toán học cũng không vượt quá chươngtrình giải tích lớp 12 hiện nay

Mãi đến năm 1941, sau khi chiến tranh thế giới lấn thứ hai bùng nổ,đường sang Pháp bị tắc nghẽn, thực dân Pháp mới mở trường Cao đẳngKhoa học Đông Dương ở Hà Nội, chủ yếu để cho con Tây có chỗ học saubậc Tú tài Trường Cao đẳng Khoa học Đông Dương đào tạo bậc cử nhâncho các ngành Lí, Hoá, Sinh, Trình độ toán học chỉ đến Toán học đại cương,nhằm cung cấp các kiến thức toán học cần thiết cho việc học Lí, Hoá, Sinh.Như vậy, nền Toán học ở bậc đại học tại nước ta thực chất chỉ bắt đầu từ sauCách mạng Tháng Tám, mà chính xác hơn là từ những năm 1951 khi chínhphủ kháng chiến quyết định thành lập hai trường Khoa học cơ bản và Sưphạm cao cấp

Từ đó đến nay, đặc biệt là từ Giai đoạn Đổi mới, hệ thống đại học củanước ta đã phát triển không ngừng và lớn mạnh nhanh chóng Theo thống

kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến năm học 2008-2009, cả nước có 101

Trang 14

trường đại học công lập, 45 trường đại học ngoài công lập, 194 trường caođẳng công lập và 29 trường cao đẳng ngoài công lập Trong phần lớn 369trường đại học và cao đẳng nêu trên, hầu hết các trường đều có khoa cơ bản,trong đó có bộ môn Toán (trừ những trường về khoa học xã hội) Tuy nhiên,

ở tuyệt đại đa số những trường không có khoa toán, đội ngũ giảng viên Toán

ít, khó có điều kiện làm thống kê Vì vậy ở đây chỉ tập trung phân tích độingũ giảng viên ở một số trường đại học mà ở đó có khoa Toán (hay Toán-Tin, Toán ứng dụng, …) riêng Theo số liệu tuyển sinh năm 20071 thu thậpđược thì cả nước chỉ có 30 trường đại học đào tạo cử nhân toán hoặc sưphạm Toán Tuy nhiên không phải nơi nào cũng có khoa Toán riêng Trong

số 15 cơ sở chính đào tạo Toán của nước ta, tổng cộng chỉ có 639 cán bộ,trong đó có 20 giáo sư, 67 phó giáo sư, 16 Tiến sĩ khoa học và 184 tiến sĩ2.Như vậy, chỉ xét riêng về số lượng, toàn bộ số tiến sĩ Toán hiện đang giảngdạy tại 15 trường đại học chính nhất của ta đào tạo về Toán không bằng mộttrường đại học lớn của nước ngoài3

Mặt khác, nếu xét tới số lượng trung bình của tất cả các tiến sĩ về tất cảcác ngành trong một trường đại học là 42, thì số tiến sĩ toán trong 9 trườngđầu đào tạo về Toán ở nước ta bình quân là 20, tức vượt xa con số bình quâncủa các ngành khác Đó cũng là lý do tại sao ngành Toán là một trong số ítngành tại Việt Nam mà chất lượng đào tạo tiến sĩ theo kịp trình độ quốc tế Một điều đáng chú ý là thời gian qui định dành cho nghiên cứu củagiảng viên đại học ở Việt Nam nói chung và về Toán nói riêng là ít thờigian nghiên cứu khoa học chỉ chiếm chừng 30% quỹ thời gian Cộng thêmvới bình quân số lượng sinh viên trên một giảng viên cao, yếu tố này cànglàm cho việc nghiên cứu Toán học càng trở nên khó khăn Hệ lụy của việckhông có đủ cán bộ cũng như thời gian để thực hiện kết hợp giảng dạy và

nghiên cứu Toán, công tác đào tạo Toán trình độ cao của ta phải nói là còn

rất yếu Hàng năm ở tất cả các trường đại học, số lượng sinh viên cử nhân và

sư phạm Toán tốt nghiệp phải lên đến hàng nghìn, thì số lượng tiến sĩ đàotạo được chỉ độ vài chục

Chất lượng đội ngũ sinh viên cũng là điều quan trọng cần để ý tới Bất

cứ ngành nào, muốn đào tạo được sinh viên giỏi thì chất lượng đầu vào củasinh viên phải cao Điều này được phản ánh khá chính xác thông qua điểmxét tuyển Thời bao cấp, đặc biệt là đến khoảng năm 1980, ĐH Tổng hợp HàNội luôn luôn có điểm tuyển vào loại cao nhất, mà ngành Toán lại cao nhấttrong số đó Do vậy thời kì đó những sinh viên giỏi của ta được cử đi học

1 http://ts.edu.net.vn/?page=8.8&view=424

2 Số liệu tính đến cuối năm 2008, Xem Bảng 3.2.2 ở “Vai trò của Toán học ” Phần phụ lục.

3 Xem Bảng 3.3.4 ở “Vai trò của Toán học ” Phần phụ lục

Trang 15

nước ngoài theo học ngành Toán là những sinh viên xuất sắc nhất Chính từnền tảng đó đã đào tạo nên một lớp nhà Toán học nòng cốt của nền Toán học

ta hiện nay

Từ ngày đất nước mở cửa về Kinh tế, quan niệm về ngành nghề, họcthuật đã thay đổi một cách căn bản Sinh viên theo học ngành Toán ngàycàng ít Theo thống kê tuyển sinh thì chất lượng cũng như số lượng đầu vào

của sinh viên cử nhân Toán là rất yếu Chất lượng sinh viên yếu tất yếu cũng

dẫn đến việc hàng năm chúng ta không có đủ người để đào tạo tiến sĩ vềToán Cả nước có 10 cơ sở đào tạo tiến sĩ về Toán Một trong những cơ sởđào tạo lâu đời nhất và có đội ngũ hướng dẫn đông nhất là Viện Toán họctrong suốt 10 năm qua, mỗi năm chỉ tuyển được tối đa 5 nghiên cứu sinh

Để khắc phục tình trạng trên, cách đây hơn 10 năm ĐHQG Hà Nội đãchủ trương một chương trình thí điểm là đào tạo cử nhân khoa học tài năng.Mặc dù sự đầu tư chỉ rất khiêm tốn, Chương trình này đã thu hút được một

số sinh viên giỏi, tạo nên một động lực học tập mới Do đó nó đã được nhânrộng lên trong nhiều trường đại học khác về các môn khác nữa, với nhữngtên gọi khác nhau

Mới chỉ hơn 10 năm tồn tại, Chương trình cử nhân khoa học tài năngcủa ĐHQG Hà Nội và các chương trình đào tạo Toán chất lượng cao ởĐHSP Hà Nội, ĐHQG TP HCM và các nơi khác đã đào tạo được số lượngđáng kể thạc sĩ Toán học Một số đã bảo vệ tiến sĩ, quay lại dạy cho trường.Nhiều học viên khác đang làm nghiên cứu sinh Hiện nay chương trình tiêntiến, Đề án 322 đang được triển khai, chắc chắn cũng góp phần giải quyếtđược một phần tình trạng yếu kém trên

I.2.3 Công tác nghiên cứu Toán học

Nghiên cứu Toán học – mà điểm mấu chốt là các công trình quốc tếđược công bố - là mặt cốt lõi nhất để đánh giá trình độ nền Toán học củamột nước Xét về khía cạnh này, có thể khẳng định chắc chắn, nền Toán họccủa Việt Nam thực chất mới bắt đầu hình thành từ sau Cách mạng ThángTám với các công trình của cố giáo sư Lê Văn Thiêm Mặc dù non trẻ nhưvậy, việc đánh giá sự phát triển của nó xét từ bất cứ góc độ nào cũng là mộtnhiệm vụ khó khăn, thậm chí bất khả thi

Lẽ dĩ nhiên điểm chính yếu nhất của việc đánh giá là phải đi vào nghiêncứu phần chất của Toán học Việt Nam, tức là phải đi vào đánh giá cáchướng nghiên cứu cũng như những kết quả nổi bật, có ảnh hưởng sâu rộng,đồng thời xem xét vị thế của các kết quả đó trong khung cảnh chung của

Trang 16

Toán học thế giới Rõ ràng đó là một nhiệm vụ phức tạp, cần nhiều chuyêngia và thời gian Do vậy ở đây chỉ tiếp cận đánh giá từ một góc độ dễ dànghơn: số lượng công bố quốc tế.

Từ cơ sở dữ liệu Mathematical Reviews (MR) của Hội Toán học Mỹ một tạp chí hàng đầu thế giới giới thiệu về các công trình Toán học từ năm

-1940 trở lại đây – cho đến cuối năm 2008, đã liệt kê được 4907 bài báo với

827 tác giả Việt Nam, và được tổng hợp lại trong một đĩa CD Con số nàykhông đầy đủ, nhưng có một số chứng cứ để có thể tin rằng con số thống kê

đó chỉ thiếu so với thực tế khoảng 10-20% kể cả về số công trình lẫn số tácgiả Có thể nói đây là một thống kê đầu tiên và duy nhất có được hiện nay.Qua đó cho phép có một hình dung khá rõ ràng về tình trạng thực tế củaToán học nước ta

Con số thống kê gần 5000 công bố quốc tế kể trên thêm một lần khẳngđịnh, ngành Toán học là một trong số ít ngành khoa học của Việt Nam cócông bố quốc tế đều đặn Điều này cũng thể hiện ở yêu cầu mỗi luận án tiến

sĩ Toán học ở Việt Nam nói chung phải có từ hai bài báo quốc tế trở lên.Nếu tính bình quân từ năm 1980 – thời điểm mà đội ngũ các nhà toán học đãđược hình thành ổn định – đên nay, mỗi năm có trên 150 công bố quốc tế4,trong đó có nhiều bài đăng trên các tạp chí SCI hoặc SCI-E Đây là một con

số tuy khiêm tốn, nhưng đáng tự hào

Mặt khác, cũng cần phải có phân tích, đánh giá một cách tương đối xácthực thực lực của Toán học Việt Nam Cho đến hiện nay trên MR điểm danhgần 2 400 000 công trình (xuất bản từ năm 1940 đến nay, tức hầu như đồngthời với sự xuất hiện và phát triển của nền Toán học Việt Nam) Như vậy tỷtrọng Toán học Việt Nam so với thế giới (về số lượng!) là khoảng 0,21%.Nếu so với tỷ lệ dân số của ta / dân số thế giới là 1,33% thì rõ ràng Toán họccủa nước ta còn dưới mức trung bình khá xa

Cách đánh giá sơ bộ đó cũng được phản ánh khá rõ nếu đi sâu phân tíchmột số mặt cụ thể Chẳng hạn, xét về tính chuyên nghiệp trong nghiên cứu

Để có một thước đo, có thể tạm chia các nhà toán học thành các nhóm sauđây: nhóm 1: 1-4 bài báo; nhóm 2: 5-10 bài báo; nhóm 3: 11-20 bài báo;nhóm 4: 21-50 bài báo và nhóm 5: trên 50 bài báo Sự phân chia này dựatrên cơ sở giả định mỗi nhà toán học có số năm làm toán bình quân là 25năm Có thể xem nhóm 1 là những người chỉ nghiên cứu để bảo vệ luận án.Nhóm 2 là những nhà toán học còn nghiên cứu sau khi đã có học vị Nhóm 3

là những nhà toán học tích cực nghiên cứu, trong khi nhóm 4 và nhóm 5 lànhững nhà toán học rất tích cực nghiên cứu

4 Xem Bảng 3.3.1 “Vai trò của Toán học ” Phần phụ lục.

Trang 17

Kết quả phân loại cho thấy, gần 2/3 trong số 827 nhà toán học thuộcnhóm 1, tức là gần 2/3 tác giả “gác bút” sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ Chỉ

có 150 nhà toán học từ nhóm 3 trở lên số lượng đó là rất ít so với nhu cầunghiên cứu và đào tạo của nước ta Đó là chưa kể có một số không ít nhữngnhà toán học trong số 150 này vì những lí do khác nhau đã thôi nghiên cứu

từ nhiều năm qua (tuổi cao, chuyển hướng, …) Như vậy, con số gần 1000nhà toán học có thể tạo ra ảo giác về sức mạnh của Toán học Việt Nam, thìcon số gần 150 nhà toán học từ nhóm 3 trở lên mới cho bức tranh thật Sosánh với một số trường đại học của nước ngoài, có thể thấy toàn bộ đội ngũlàm Toán tích cực của Việt Nam chỉ gấp 3-4 lần khoa Toán một trường đạihọc trung bình ở Mỹ, và thua các trường hàng đầu ở Mỹ và Châu Âu5 Nếutính cả chất lượng thì khoảng cách còn tăng lên nhiều lần Rõ ràng sự sosánh này cho thấy rõ lực lượng nghiên cứu Toán học của nước ta còn quánhỏ bé

Xét một khía cạnh khác Đó là thử xác định vị trí Toán học Việt Nam trênthế giới Trên cơ sở số liệu thống kê của MR, kết hợp với phân loại hội viêncủa Liên đoàn Toán học Thế giới (IMU), có thể đưa ra một cách tiếp cận để

xem xét thứ hạng của Toán học Việt Nam Qua đó đã xác định, Toán học

thấp, nhưng phản ánh đúng thực chất Với một đội ngũ chỉ gần 150 nhà toánhọc chuyên nghiệp (kể cả số đã mất, đã về hưu) như đã nói ở trên, thì vị trí

đó đã là một cố gắng lớn So với các lĩnh vực khác như kinh tế, y tế, thểthao, hoặc các ngành khoa học khác thì chắc chắn thứ hạng trên là không tồi.Tuy nhiên, so với nhu cầu phát triển đất nước và xét từ tiềm năng trí tuệ củacon người Việt Nam thì con số đó rất đáng phải suy nghĩ Chú ý rằngkhoảng cách giữa các nước trong tốp đứng đầu là rất xa nhau Cho nên cókhi chỉ kém người ta vài chục bậc thì có thể nói khó mà cạnh tranh được gì

Vì vậy, muốn Toán học nước ta có đóng góp hữu hiệu cho đất nước, thì phảiphấn đấu để Toán học nước ta đứng được vào hàng tiên phong của thế giới,tức khoảng thứ 20-30

Để tiến thêm 1-2 bậc thì có thể dễ (một phần cũng vì sự phân chia khôngchính xác), nhưng để tiến thêm 10-20 bậc thì phải có chiến lược đúng đắn vàđòi hỏi thời gian dài Tuy khó khăn như vậy, nhưng điều đó không phải làkhông thể thực hiện được Hàn Quốc là một ví dụ điển hình Những năm 70,Hàn Quốc chưa chắc đã hơn ta Mà nếu có hơn cũng không nhiều Thếnhưng nhờ có chính sách đúng vào những năm 70-90, họ đã có bước tiếnthần kì, bỏ xa nước ta chỉ trong vòng 30 năm Đó là lý do vì sao, một đoàn

5 Xem Bảng 3.3.4, “Vai trò của Toán học ” Phần phụ lục.

6 Xem Mục 3.3.6 “Vai trò của Toán học ” Phần phụ lục.

Trang 18

công tác của Đề tài đã đến Hàn Quốc để học hỏi kinh nghiệm và thu thập sốliệu.

I.2.4 Về ứng dụng Toán học

Có hai khía cạnh cần bàn về ứng dụng Toán học Khía cạnh thứ nhất làcác nghiên cứu Toán học ứng dụng Về điểm này, Toán học Việt Nam đã đạtđược nhiều thành tích, có những chuyên ngành đã tạo được tiếng vang trênthế giới như nhóm Lý thuyết Tối ưu của GS Hoàng Tụy Nhiều kết quả vềToán ứng dụng được đăng tải trên các tạp chí có tiếng Mặc dù không có sựphân chia rạch ròi giữa Toán lý thuyết và Toán ứng dụng, song một cách sơ

bộ có thể nói trong các thành tựu Toán học tại Việt Nam, Toán học ứngdụng chiếm tỷ lệ cao hơn

Khía cạnh thứ hai là ứng dụng Toán học vào thực tiễn Trước năm 1975,phong trào ứng dụng toán học khá sôi nổi Giảng viên, sinh viên Toán ởMiền Bắc theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ phải đi thực tập tại các cơ

sở sản xuất, quốc phòng và áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế Tuynhiên hầu hết những kết quả ứng dụng toán học vào thời gian này còn dừng

ở mức khá đơn giản, một phần do kiến thức của thày trò còn hạn chế, mặtkhác cũng do các thiết bị tính toán còn khá thô sơ Sau năm 1975, nhiều bàitoán thực tế đã được tính toán thử nghiệm trên hệ thống máy tính Một sốvấn đề thực tế được nghiên cứu trên cơ sở vận trù học và lý thuyết đổi mới,như bài toán điều xe rỗng (cho tổng cục đường sắt), tính toán mạng cấp thoátnước, dự báo trữ lượng dầu khí (trước khi Việt Nam trở thành quốc gia xuấtkhẩu dầu lửa), bài toán điều khiển hệ thống các nhà máy điện miền Bắc(trước khi xây dựng đường dây cao thế Bắc – Nam), bài toán lập trạm quansát động đất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, bài toán điều khiển hợp lý nhàmáy thuỷ điện Hoà Bình, bài toán phủ xanh đất trống đồi núi trọc, vv Mộtloạt bài toán được đặt hàng từ Tổng cục khí tượng thủy văn cũng được giảiquyết, như tính nước dâng trong bão, bài toán khúc xạ sóng biển, khôi phụchàm khí áp trong bão trên biển,vv Nhìn chung, quy mô ứng dụng Toánhọc ngày càng mở rộng Nhiều kết quả ứng dụng Toán học được đưa vàotham khảo hàng ngày Tuy nhiên, do sự yếu kém nói chung của Toán họcViệt Nam, nên khả năng ứng dụng của Toán học còn rất hạn chế Chất lượngứng dụng Toán học còn tương đối thấp, và công tác ứng dụng Toán cònthiếu quy hoạch tổng thể Cùng với thời gian, số người học và làm toán ứngdụng ngày càng ít đi Thiếu sự gắn kết hợp tác giữa các đơn vị ứng dụngtoán học khác nhau

Trang 19

I.2.5 Một số đánh giá sơ bộ

Trên cơ sở điểm qua bốn hoạt động Toán học chính nêu trên, có thể nêumột số đánh giá sơ bộ như sau

Về thành tựu:

- Nếu xét từ góc độ Toán học bậc đại học trở lên và nghiên cứu Toánhọc (cả lý thuyết lẫn ứng dụng) thì Toán học Việt Nam mới chỉ hìnhthành từ sau Cách mạng Tháng Tám, mà cụ thể hơn là từ những năm50

- Từ con số gần như bằng 0 đó, trong vòng 60 năm, nền Toán học nontrẻ Việt Nam đã tiến những bước thần kì, vươn lên hàng thứ 50-55trên thế giới Toán học Việt Nam đã được biết đến trên bản đồ Toánhọc thế giới

- Thành tựu đáng tự hào nhất là Giáo dục Toán học phổ thông Mặc dùcòn những bất cập nhất định, giáo dục Toán học tại Việt Nam theo sáttrình độ quốc tế, làm nền tảng kiến thức cho sinh viên Việt Nam cóthể theo học tốt ở bậc đại học Giáo dục Toán học đỉnh cao mà tiêubiểu là các kì thi Toán quốc tế đã đạt được nhiều thành tích tốt, gâytiếng vang trên thế giới, góp phần quảng cáo cho tiềm năng trí tuệ củangười Việt Nam

- Đội ngũ giảng viên Toán ở các trường đại học lớn mạnh không ngừng

Sự kết hợp giữa công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học ngày càngđược tăng cường Nhờ đó, đã đảm bảo được một chất lượng nhất địnhtrong việc đào tạo sinh viên Toán

- Nghiên cứu Toán học Việt Nam (kể cả Toán lý thuyết lẫn Toán ứngdụng) đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào Các nhà Toán họcViệt Nam luôn lấy tiêu chí quốc tế để đánh giá và phấn đấu Do vậyToán học là một trong số ít ngành khoa học của nước ta có số lượngcông bố quốc tế nhiều và đều đặn Nhờ vậy nước ta luôn được đồngnghiệp trên thế giới xem là một nước có tiềm năng phát triển Toánhọc

- Công tác ứng dụng Toán học vào thực tiễn cuộc sống kinh tế - xã hội,

an ninh, quốc phòng đã được triển khai và đạt được một số kết quảban đầu

Về hạn chế:

Trang 20

Nói một cách khái quát, yếu điểm lớn nhất của Toán học Việt Nam là

chưa đủ mạnh để có thể làm nền cho sự phát triển Khoa học – Công nghệ

và phát triển Kinh tế, chưa thể góp phần cho việc củng cố an ninh, quốc phòng của nước ta Cụ thể:

- Do chưa đánh giá đầy đủ ý nghĩa và vai trò của đào tạo đỉnh cao, vàcũng do sự lạm dụng mở rộng tràn lan trường chuyên lớp chọn, nên

10 năm vừa qua đã có những đánh giá không đúng về vai trò, vị trícủa các lớp chuyên, trong đó có chuyên Toán, cũng như của các kì thihọc sinh giỏi cuối cấp

- Ngay cả khi thực hiện tốt việc phát hiện và đào tạo học sinh giỏiToán, thì việc tiếp tục tạo điều kiện đào tạo các em ở bậc đại học vàcao hơn còn chưa được chú trọng, do đó chưa phát huy hết nhữngthành quả của giáo dục Toán đỉnh cao ở bậc phổ thông

- Lực lượng nghiên cứu và giảng dạy Toán học của Việt Nam còn quá ít

về số lượng và nói chung chưa cao về chất lượng Không những thế,thời gian dành cho nghiên cứu lại vô cùng hạn hẹp Vì vậy, số lượngcông bố quốc tế còn ít

- Chất lượng ứng dụng Toán học còn tương đối thấp, chưa đáp ứngđược yêu cầu phát triển của đất nước Công tác ứng dụng Toán cònthiếu quy hoạch tổng thể Cùng với thời gian, số người học và làmtoán ứng dụng ngày càng ít đi Thiếu sự gắn kết hợp tác giữa các đơn

vị ứng dụng toán học khác nhau

- Số sinh viên giỏi theo học Toán ngày càng giảm sút, dẫn đến có rất ítnghiên cứu sinh giỏi theo đuổi ngành Toán Vì vậy đội ngũ các nhàToán học đã ít ngày càng trở nên già cỗi, và có nguy cơ không đủ bổsung đảm bảo chất lượng

- So với các nước trên thế giới – kể cả một số nước lân cận, vị trí Toánhọc Việt Nam gần đây không những không tiến lên, mà còn bị thụtlùi

Trang 21

I.2.6 Nguyên nhân của thành công và hạn chế

Một số tác nhân chủ yếu cho những thành tựu đạt được đã kể trên trong

phát triển Toán học suốt 60 năm qua là:

- Đảng và Nhà nước đã chú trọng phát triển giáo dục, nâng cao tríthức Điều này thể hiện rõ trong chủ trương diệt giặc dốt từ ngày đầuđất nước giành được độc lập cho đến các chủ trương phổ cập giáodục, hỗ trợ đào tạo, cấp kinh phí ngày càng cao cho Giáo dục, Đàotạo và Khoa học

- Cụ thể về giáo dục Toán học, các chính sách có hiệu quả nhất chính

là việc Nhà nước tổ chức phát hiện và đào tạo học sinh có năngkhiếu Toán, thể hiện qua thi học sinh giỏi Toán các cấp và lập ra hệthống các lớp chuyên Toán

- Ngay cả trong điều kiện chiến tranh, Đảng và Nhà nước đã tổ chức

đã cử học sinh, sinh viên giỏi nhất đi đào tạo đại học hoặc nghiêncứu sinh về Toán ở nước ngoài, trong đó có nhiều trường đại họchàng đầu của thế giới như ĐHTH Maxcơva Một số năm vừa qua,việc tổ chức các lớp hệ cử nhân tài năng, lớp chất lượng cao, miễnhọc phí cho sinh viên sư phạm (trong đso có sư phạm Toán) đã phầnnào nâng cao chất lượng sinh viên học Toán

- Đã tập trung lực lượng để xây dựng ra các nhóm nghiên cứu mạnh,chẳng hạn như: nhóm Tối ưu do GS Hoàng Tụy khởi xướng, nhómPhương trình đạo hàm riêng của GS Trần Đức Vân, nhóm Phươngtrình vi phân của cố GS Hoàng Hữu Đường, nhóm Tôpô đại số do

GS Huỳnh Mùi xây dựng, nhóm Đại số giao hoán do GS Ngô ViệtTrung dẫn đầu, … Có thể nói đó là môi trường tối cần thiết cho mỗinhà nghiên cứu khoa học

- Việc thành lập và tạo điều kiện làm việc cho Viện Toán học là đỉnhcao của chính sách tập trung nguồn lực phát triển Toán học Chínhsách đó đã đem lại hiệu quả rõ rệt Hơn 50% công bố quốc tế vềToán được hoàn thành tại Viện Toán học7

- Cộng đồng Toán học đã tự tạo ra đòn bẩy phát triển nghiên cứuthông qua cách đánh giá khách quan về năng lực của một ngườinghiên cứu Toán Đó là đã lấy tiêu chuẩn quốc tế làm chuẩn Nhờ

7 Xem Bảng 3.3.7 “Vai trò của Toán học ” Phần phụ lục.

Trang 22

vậy, ngay từ thời buổi đầu khi công bố còn ít ỏi, Toán học Việt Nam

đã có khả năng hòa nhập quốc tế rất tốt

- Tổ chức thường xuyên các hội nghị, hội thảo quốc tế, đảm bảo đượcquan hệ cộng tác quốc tế, cũng như giữ được tầm quốc tế của các đềtài nghiên cứu

Sự yếu kém của Toán học nước ta bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Một

nguyên nhân chính nhất là thu nhập quá thấp của giảng viên đại học và cán

bộ nghiên cứu, dẫn đến việc ngày càng ít người giỏi chọn Toán làm nghề.Song đó là nguyên nhân chung không chỉ cho phát triển khoa học, mà còncho nhiều ngành khoa học khác, nên ở đây chỉ bàn tới những nguyên nhânkhác – những nguyên nhân đặc thù và có thể khắc phục được ngay

- Đầu tiên đó là sự non trẻ của Toán học Việt Nam Mới ra đời từ sau

Cách mạng Tháng Tám, mà chủ yếu là sau khi hòa bình lập lại ởMiền Bắc, trong một khoảng thời gian chưa dài như vậy, từ chỗ cóthể nói là con số 0, chúng ta đã có được một đội ngũ gần 1000 nhàtoán học, trong đó có không ít người có uy tín quốc tế Toán học đãtrở thành một trong những ngành khoa học phát triển nhất ở nước ta

và được cộng đồng quốc tế ghi nhận Đó là một điều đáng tự hào!Tuy nhiên, việc phát triển Toán học không thể nóng vội, đốt cháygiai đoạn, không thể nhập khẩu được Nó đòi hỏi phải có thời gian,phải dựa trên trí tuệ con người Việt Nam và chính sách đúng đắn củaNhà nước Đây không phải là sự biện minh cho sự yếu kém củaToán học nước ta Ngược lại, lí do khách quan này càng cho thấy

chúng ta nếu chúng ta không nỗ lực liên tục, để cho nền Toán học

non trẻ mới được dày công xây dựng đi ngang hoặc thậm chí bị

xuống dốc, thì chẳng có cơ may nào có được một nền Toán học đáp

ứng được nhu cầu của đất nước

- Tiếp theo là sự nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng gắn kết

nghiên cứu Toán học với công tác đào tạo kéo dài lâu Vì vậy chưa

gắn kết nhiệm vụ nghiên cứu với công việc của người dạy Toán ởcác trường đại học, cao đẳng Giảng viên Toán không cần phảinghiên cứu cũng được xem là hoàn thành nhiệm vụ, nếu dạy đủ giờ.Những người có khả năng, mà tuần dạy tới 12-20 tiết, thậm chí hơn,thì làm sao còn nghiên cứu được? Điều này cũng thể hiện rõ ở quanniệm giảng viên Toán không cần có bằng Tiến sĩ Toán học Một khichưa có trình độ tiến sĩ, làm sao có thể yêu cầu cán bộ giảng dạynghiên cứu?

Trang 23

- Chính sách đào tạo cán bộ Toán chưa đủ Ngay trong những năm

tháng chiến tranh khốc liệt, hay thời kì khó khăn, Nhà nước ta đã cửnhiều người đi học đại học hoặc làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài,trong đó có Toán Sang thời kì Đổi mới, xuất hiện một quan niệmcho rằng ta đầu tư quá nhiều về Toán, và do đó đã không còn chú ý,thậm chí sao nhãng khuyến khích phát triển Toán Gần đây, thôngqua Đề án 322, cũng như nhiều chương trình, học bổng khác, chúng

ta đang lại tiếp tục cử sinh viên ra nước ngoài đào tạo về Toán Tuynhiên, số lượng còn ít và chưa có hệ thống Chúng ta cũng chưa cóbiện pháp đào tạo đặc biệt trong nước những sinh viên giỏi Chươngtrình cử nhân tài năng hoặc chương trình tiên tiến hiện nay là mộtthử nghiệm, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo các nhà toán xuấtsắc cho tương lai

- Chưa có chính sách đào tạo chuyên gia Hầu như Nhà nước chưa có

chính sách để tiếp tục đào tạo các nhà khoa học trẻ thành các nhàkhoa học đầu đàn, chưa có chính sách để nâng cao hơn nữa trình độcủa các nhà khoa học đã thành danh để qua đó khai thác triệt đểnăng lực và cống hiến của họ

Để đạt được những kết quả có ý nghĩa, công tác nghiên cứu khoahọc luôn phải được duy trì ở mức độ cao Muốn vậy, ngoài việc khắcphục khó khăn của cuộc sống hàng ngày để tiến hành nghiên cứu, thì

mỗi người làm Toán giỏi phải có điều kiện được thường xuyên tới

làm việc ở các trung tâm Toán học trên thế giới Tại đó họ không

những có điều kiện làm việc tốt hơn, có điều kiện tìm kiếm được tàiliệu trong nước họ không thể tìm ra Tại những nơi đó họ còn cóđiều kiện trao đổi với các đồng nghiệp quốc tế, để qua đó xác địnhđược những vấn đề thời sự để nghiên cứu

Tuy nhiên Nhà nước ta lại chưa có một chính sách nào để cử cán bộkhoa học đầu ngành được thường xuyên đi trao đổi khoa học ở nướcngoài (trong thời kì bao cấp cũng có chính sách mỗi cán bộ có học vị

được một lần đi thực tập ở nước ngoài) Không có một quốc sách

như vậy thì khó lòng mà có được nhiều nhà khoa học xuất sắc, những đầu tàu để dẫn dắt khoa học tiến bước Việc nâng cao năng

lực nghiên cứu của cán bộ đầu ngành ở nước ta chỉ mới dừng lại ởmức độ tự phát, chứ chưa phải là cách làm công nghiệp Nó cũnggiống như việc trồng cây lưu niên, bỏ tiền ra để nhập giống tốt vàvun bón cho cây lớn lên, nhưng đến khi chuẩn bị ăn quả, hoặc cùnglắm mới thu hoạch một vài vụ đã bỏ bẵng, không chăm sóc nữa

Ngày đăng: 15/01/2013, 16:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chi phí cho hoạt động Viện NCCC  về Toán - Thuyết minh chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học Việt Nam đến năm 2020
Bảng 1 Chi phí cho hoạt động Viện NCCC về Toán (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w