LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 4 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................................................ 6 1. Bối cảnh trong nước và thế giới sau năm 1975 ...................................................... 6 1.1. Bối cảnh trong nước: ............................................................................................ 6 1.2. Bối cảnh thế giới: .................................................................................................. 6 2. Chủ trương của Đảng về xây dựng và đổi mới kinh tế sau năm 1975 ................. 6 3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (121986) của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước ........................................................................................................ 11 3.1. Khái quát bối cảnh lịch sử .................................................................................. 11 3.2. Nội dung đường lối đổi mới: ............................................................................... 12 AI.CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG GIAI ĐOẠN 19791981 VÀ 19851986 ..................................................................................... 15 1. Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Trung ương 6 (81979) ............ 15 1.1. Bối cảnh trước đổi mới ....................................................................................... 15 1.2. Những thức tỉnh đầu tiên về quan điểm kinh tế và Thông báo số 10TƯ của Bộ Chính trị ..................................................................................................................... 16 1.3. Những đột phá tại Hội nghị trung ương 6 .......................................................... 18 2. Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Trung ương 8 (61985) ............ 20 2.1. Bối cảnh .............................................................................................................. 20 2.2. Nội dung .............................................................................................................. 21 2.3. Kết luận ............................................................................................................... 22 3. Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Bộ chính trị khóa V (81986) ... 25 4. Tổng kết những đột phá về đổi mới kinh tế trong 2 giai đoạn ........................... 27 5. Ý nghĩa của các bước đột phá ............................................................................... 28 KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................ 31 3 LỜI MỞ ĐẦU K. Marx đã từng nói rằng: “Không một chế độ xã hội nào lại diệt vong khi tất cả những lực lượng sản xuất và chế độ đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn còn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, không bao giờ xuất hiện khi hững điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được.” Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thành công, Đảng và nhà nước quyết định sẽ lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên lại vướng phải những sai lầm, hạn chế trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc khủng hoảng này đặt Đảng Cộng sản Việt Nam trước nhiệm vụ lịch sử hệ trọng và khó khăn đó là phải tạo được bước ngoặt sửa sai cơ bản từ đường lối chính sách. Từ đó, do áp lực gay gắt của tình hình trong nước và quốc tế buộc chúng ta phải tiến hành đổi mới đất nước. Hoạt động đầu tiên để tiến hành đổi mới chính mà đổi mới về tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế, từ đó tạo tiền đề hình thành nhận thức lý luận đổi mới toàn diện tại đại hội khóa VI. Thông thường, đối với Việt Nam, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với đại hội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới. Nhưng trong thực tế, trước đó nhiều năm, nhất là từ năm 1979, Đảng lãnh đạo đã có nhiều mũi đột phá đầy mưu trí, sáng tạo, nhằm tháo gỡ nhiều ách tắc, sự yếu kém của cơ chế kinh tế cũ. Mà những bước đột phá sáng tạo, thành công đó chính là tiền đề cho những thắng lợi ngoạn mục của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Từ đó, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Các bước đột phá về kinh tế được thực hiện trong giai đoạn (19791981) và (19851986)” vì Việt Nam, một nước không chỉ chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh mà còn là nước ẩn chứa sự lạc hậu về kĩ thuật, con người, để phát triển được như ngày nay cần một quá trình đầy 4 nỗ lực. Từ đó ta thấy rõ được vai trò, bản lĩnh, sự khôn khéo của Đảng và Nhà nước trong việc lựa chọn các chính sách kinh tế nói riêng, chính sách phát triển đất nước nói chung sau trong những năm đầu sau khi thống nhất đất nước. Bài nghiên cứu gồm 2 phần chính, phần 1 sẽ đưa ra cơ sở lý luận về bối cảnh đất nước, chủ trương của Đảng và các nội dung cơ bản của đối mới, trong khi đó phần 2 nhóm sẽ tập trung vào những đột phá về kinh tế được thực hiện trong giai đoạn 19791981 và 19851986 cụ thể tại các hội nghị Trung ương 6, hội nghị Trung ương 8, và hội nghị Bộ chính trị khóa V, từ đó nêu lên ý nghĩa của các bước đột phá đối với Việt Nam. Tiểu luận sẽ đưa đến cái nhìn chi tiết nhất về những bước đột phá trong kinh tế dưới sự lãnh đạo táo bạo, sáng tạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam. 5 I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Bối cảnh trong nước và thế giới sau năm 1975 1.1. Bối cảnh trong nước Cách mạng KHCN đã thúc đẩy LLSX phát triển nhanh chóng, xuất hiện hai trung tâm lớn là EU và Nhật Bản, xu thế chạy đua kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoãn giữa các nước lớn. Sau thắng lợi của Việt Nam (1975), hệ thống XHCN mở rộng, phong trào độc lập dân tộc, phong trào cách mạng thế giới phát triển mạnh. Tuy nhiên từ giữa thập kỷ 1970, tình hình kinh tế ở các nước XHCN trì trệ và mất ổn định. 1.2. Bối cảnh thế giới Đất nước thống nhất, có điều kiện để sử dụng tốt các nguồn lực trong công cuộc xây dựng CNXH. Nhân dân ta có tinh tình tự lực, tự cường thiết tha với độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí rất cao với vấn đề xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật hiện đại diễn ra tạo điều kiện tận dụng nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để rút ngắn thời gian trong quá trình phát triển. Cùng với đó là những khó khăn về kinh tế: Xuất phát điểm của nền kinh tế là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu phân tán, năng suất lao động thấp lại chịu hậu quả của chiến tranh gần 30 năm Từ một nền kinh tế được viện trợ (gần 50% GDP mỗi miền) chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức mình. Các thế lực thù địch chống phá 2.Chủ trương của Đảng về xây dựng và đổi mới kinh tế sau năm 1975 Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế. Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh tế đất nước: cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém; năng suất lao động thấp, sản xuất chưa đảm 6 bảo nhu cầu đời sống và tích luỹ,…Đảng cũng vạch ra những nguyên nhân sâu xa của tình hình trên là nền kinh tế nước ta là sản xuất nhỏ; công tác tổ chức và quản lý kinh tế có nhiều hạn chế,…Nhưng những điểm bất hợp lý trong quan hệ sở hữu Đảng lại chưa chỉ ra. Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể. Ở miền Nam, Đảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế bằng cách: sử dụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằng hình thức công tư hợp doanh; chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp;... Như vậy, thực chất của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ở miền Nam cũng như trong cả nước là nhằm xoá bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu. Quả thật, muốn xây dựng một xã hội chủ nghĩa thì lẽ đương nhiên là phải xoá bỏ chế độ tư hữu. Tuy nhiên, việc xoá bỏ chế độ tư hữu nhằm chuyển mọi tư liệu sản xuất vào trong toàn xã hội là mục tiêu rất lâu dài và phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phải nhằm phục vụ việc phát triển sản xuất. Việc tiến hành cải tạo một cách ào ạt các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, cũng như việc quá coi trọng thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi trọng việc giải quyết các khâu tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối đã dẫn tới việc không tìm ra cơ chế gắn người lao động với sản xuất. Tính chủ động, sáng tạo của người lao động bị giảm đi vì mọi tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội phải được sử dụng theo phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước. Tư liệu lao động từ chỗ là tài sản riêng của người lao động bỗng chốc trở thành những tư liệu được tập thể hoá đã làm suy yếu đi một lực lượng sản xuất to lớn, lợi ích cá nhân không được coi trọng đúng mức. Tại Đại hội IV, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã 7 hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước. “Tổ chức lại tất cả các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,…trong cả nước theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ tình trạng phân tán, cục bộ, hình thành những ngành kinh tế – kỹ thuật thống nhất và phát triển trên phạm vi cả nước…”. Đồng thời với việc tổ chức lại nền sản xuất, Đảng chủ trương cải tiến phương thức quản lý kinh tế, lấy kế hoạch hoá làm chính. Kế hoạch hoá trên cơ sở đề cao trách nhiệm và phát huy tính sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở. Trong quản lý kinh tế, Đảng cũng đã nhấn mạnh tới việc phải coi trọng quy luật giá trị; phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế; sử dụng tốt thị trường;… Tuy nhiên, việc thực hiện công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm, đặc biệt là không gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế, do đó kế hoạch chưa thực sự xuất phát từ thực tế lao động sản xuất, thiếu tính khả thi. Đảng vạch rõ: “về tổ chức thực hiện, khuyết điểm, sai lầm của chúng ta là quan liêu, xa rời thực tế, không nhạy bén với cuộc sống; là bảo thủ, trì trệ, thiếu trách nhiệm trong quản lý kinh tế”. Trong khi đó, nhà nước đóng vai trò điều tiết giá cả nên đã không kích thích được sản xuất kinh doanh phát triển. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với đặc điểm “tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động”, kết hợp với nguyên tắc “phân phối theo lao động” đã làm cho chế độ phân phối mang tính bình quân, do đó không kích thích được sự nhiệt tình và khả năng tìm tòi sáng tạo của người lao động. Trong kế hoạch phát triển kinh tế được đề ra tại Đại hội IV, Đảng đặt ra nhiệm vụ tập trung cao độ lực lượng cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp… Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết tình trạng thiếu lương thực, khai thác một cách triệt để hơn các nguồn lực trong nước, đồng thời sẽ tạo ra được những điều kiện và tiền đề cần thiết cho những bước đi tiếp theo. 8 Trong những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đất nước ta lại phải đương đầu với 2 cuộc xung đột ở biên giới phía Bắc và cuộc xung đột biên giới phía Tây Nam. Tình hình đó khiến nền kinh tế đất nước vốn đã gặp rất nhiều khó khăn nay lại ngày càng trở nên nghiêm trọng Trước sự yếu kém của nền kinh tế đất nước, tại Đại hội V năm 1982, Đảng đã có nhiều chủ trương mới cả trong chiến lược phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất. Điều mới là Đảng đã xác định cụ thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên: “tập trung phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên xã hội chủ nghĩa…” Gắn liền với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, tại Đại hội V, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp ở Nam bộ, từng bước phát huy tác dụng của hợp tác hoá đối với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và xây dựng nông thôn mới; đồng thời nhấn mạnh tới việc ổn định quy mô hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, tổ chức tốt việc điều chỉnh quy mô trong những trường hợp cần thiết. Một bước tiến mới trong việc xây dựng và củng cố hợp tác xã là Đảng chủ trương “áp dụng rộng rãi khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và người lao động”. Chủ trương này đã mở ra một phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ kinh tế tập thể ở nông thôn, vì nó đã bước đầu thừa nhận quyền tự chủ của nông dân. Trong suốt thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm 19811985, phương thức khoán sản phẩm này đã góp một phần quan trọng tạo nên một bước phát triển của nền sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,9% so với 1,9% hàng năm của thời kỳ 19761980. Sản xuất lương thực với mức bình quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 19761980 đã tăng lên 17 triệu tấn trong thời kỳ 19811985.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ -0o0 -
TIỂU LUẬN NHÓM MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài: CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ ĐỔI MỚI KINH TẾ DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 1979-1981 VÀ 1985-1986
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 4
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1 Bối cảnh trong nước và thế giới sau năm 1975 6
1.1 Bối cảnh trong nước: 6
1.2 Bối cảnh thế giới: 6
2 Chủ trương của Đảng về xây dựng và đổi mới kinh tế sau năm 1975 6
3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (12/1986) của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước 11
3.1 Khái quát bối cảnh lịch sử 11
3.2 Nội dung đường lối đổi mới: 12
II CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG GIAI ĐOẠN 1979-1981 VÀ 1985-1986 15
1 Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Trung ương 6 (8-1979) 15
1.1 Bối cảnh trước đổi mới 15
1.2.Những thức tỉnh đầu tiên về quan điểm kinh tế và Thông báo số 10-TƯ của Bộ Chính trị 16
1.3 Những đột phá tại Hội nghị trung ương 6 18
2 Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Trung ương 8 (6-1985) 20
2.1 Bối cảnh 20
2.2 Nội dung 21
2.3 Kết luận 22
3 Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Bộ chính trị khóa V (8-1986) 25
4 Tổng kết những đột phá về đổi mới kinh tế trong 2 giai đoạn 27
5 Ý nghĩa của các bước đột phá 28
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
K Marx đã từng nói rằng: “Không một chế độ xã hội nào lại diệt vong khitất cả những lực lượng sản xuất và chế độ đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển,vẫn còn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, không bao giờxuất hiện khi hững điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chínmuồi trong lòng bản thân xã hội cũ Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt racho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được.” Sau khi giải phóngmiền Nam, thống nhất đất nước thành công, Đảng và nhà nước quyết định sẽlãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên lại vướng phải những sailầm, hạn chế trong nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lênchủ nghĩa xã hội Cuộc khủng hoảng này đặt Đảng Cộng sản Việt Nam trướcnhiệm vụ lịch sử hệ trọng và khó khăn đó là phải tạo được bước ngoặt sửa sai cơbản từ đường lối chính sách Từ đó, do áp lực gay gắt của tình hình trong nước
và quốc tế buộc chúng ta phải tiến hành đổi mới đất nước Hoạt động đầu tiên đểtiến hành đổi mới chính mà đổi mới về tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế, từ
đó tạo tiền đề hình thành nhận thức lý luận đổi mới toàn diện tại đại hội khóa VI.Thông thường, đối với Việt Nam, giới nghiên cứu thường coi năm 1986 với đạihội Đảng lần thứ VI là thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới Nhưng trong thực
tế, trước đó nhiều năm, nhất là từ năm 1979, Đảng lãnh đạo đã có nhiều mũi độtphá đầy mưu trí, sáng tạo, nhằm tháo gỡ nhiều ách tắc, sự yếu kém của cơ chếkinh tế cũ Mà những bước đột phá sáng tạo, thành công đó chính là tiền đề chonhững thắng lợi ngoạn mục của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Từ đó, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Các bước đột phá về kinh tế được
thực hiện trong giai đoạn (1979-1981) và (1985-1986)” vì Việt Nam, một nước
không chỉ chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh mà còn là nước ẩn chứa sự lạchậu về kĩ thuật, con người, để phát triển được như ngày nay cần một quá trình đầy
Trang 5nỗ lực Từ đó ta thấy rõ được vai trò, bản lĩnh, sự khôn khéo của Đảng và Nhànước trong việc lựa chọn các chính sách kinh tế nói riêng, chính sách phát triểnđất nước nói chung sau trong những năm đầu sau khi thống nhất đất nước Bàinghiên cứu gồm 2 phần chính, phần 1 sẽ đưa ra cơ sở lý luận về bối cảnh đấtnước, chủ trương của Đảng và các nội dung cơ bản của đối mới, trong khi đóphần 2 nhóm sẽ tập trung vào những đột phá về kinh tế được thực hiện trong giaiđoạn 1979-1981 và 1985-1986 cụ thể tại các hội nghị Trung ương 6, hội nghịTrung ương 8, và hội nghị Bộ chính trị khóa V, từ đó nêu lên ý nghĩa của cácbước đột phá đối với Việt Nam Tiểu luận sẽ đưa đến cái nhìn chi tiết nhất vềnhững bước đột phá trong kinh tế dưới sự lãnh đạo táo bạo, sáng tạo của ĐảngCộng Sản Việt Nam.
Trang 6I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Bối cảnh trong nước và thế giới sau năm 1975
1.1 Bối cảnh trong nước
Cách mạng KHCN đã thúc đẩy LLSX phát triển nhanh chóng, xuất hiệnhai trung tâm lớn là EU và Nhật Bản, xu thế chạy đua kinh tế đã dẫn đến cụcdiện hòa hoãn giữa các nước lớn Sau thắng lợi của Việt Nam (1975), hệ thốngXHCN mở rộng, phong trào độc lập dân tộc, phong trào cách mạng thế giới pháttriển mạnh Tuy nhiên từ giữa thập kỷ 1970, tình hình kinh tế ở các nước XHCNtrì trệ và mất ổn định
1.2 Bối cảnh thế giới
Đất nước thống nhất, có điều kiện để sử dụng tốt các nguồn lực trongcông cuộc xây dựng CNXH Nhân dân ta có tinh tình tự lực, tự cường thiết thavới độc lập dân tộc và CNXH, có ý chí rất cao với vấn đề xây dựng lại đất nướcsau chiến tranh Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật hiện đại diễn ra tạo điềukiện tận dụng nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để rút ngắn thời giantrong quá trình phát triển Cùng với đó là những khó khăn về kinh tế:
Xuất phát điểm của nền kinh tế là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu phân tán, năng suất lao động thấp lại chịu hậu quả của chiến tranh gần 30 năm
Từ một nền kinh tế được viện trợ (gần 50% GDP mỗi miền) chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức mình
Các thế lực thù địch chống phá
2 Chủ trương của Đảng về xây dựng và đổi mới kinh tế sau năm 1975
Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời
kỳ khôi phục kinh tế Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh tế đất nước:
cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém; năng suất lao động thấp, sản xuất chưa đảm
Trang 7bảo nhu cầu đời sống và tích luỹ,…Đảng cũng vạch ra những nguyên nhân sâu xacủa tình hình trên là nền kinh tế nước ta là sản xuất nhỏ; công tác tổ chức và quản lýkinh tế có nhiều hạn chế,…Nhưng những điểm bất hợp lý trong quan hệ sở hữuĐảng lại chưa chỉ ra Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độcông hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Ở miền Nam,Đảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tếbằng cách: sử dụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằnghình thức công tư hợp doanh; chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp;
Như vậy, thực chất của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành
phần kinh tế ở miền Nam cũng như trong cả nước là nhằm xoá bỏ chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu Quả thật, muốn xây dựng một xã hội chủ nghĩa thì lẽ
đương nhiên là phải xoá bỏ chế độ tư hữu Tuy nhiên, việc xoá bỏ chế độ tư hữunhằm chuyển mọi tư liệu sản xuất vào trong toàn xã hội là mục tiêu rất lâu dài vàphụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phải nhằm phục vụ việcphát triển sản xuất Việc tiến hành cải tạo một cách ào ạt các thành phần kinh tế phi
xã hội chủ nghĩa, cũng như việc quá coi trọng thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất mà không coi trọng việc giải quyết các khâu tổ chức, quản lý sản xuất và phânphối đã dẫn tới việc không tìm ra cơ chế gắn người lao động với sản xuất Tính chủđộng, sáng tạo của người lao động bị giảm đi vì mọi tư liệu sản xuất chủ yếu trong
xã hội phải được sử dụng theo phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước
Tư liệu lao động từ chỗ là tài sản riêng của người lao động bỗng chốc trở thànhnhững tư liệu được tập thể hoá đã làm suy yếu đi một lực lượng sản xuất to lớn, lợiích cá nhân không được coi trọng đúng mức
Tại Đại hội IV, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống quản
lý kinh tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã
Trang 8hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước “Tổ chức lại tất cả các ngành sản xuất côngnghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,…trong cả nước theo hướng sảnxuất lớn xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ tình trạng phân tán, cục bộ, hình thành nhữngngành kinh tế – kỹ thuật thống nhất và phát triển trên phạm vi cả nước…” Đồng
thời với việc tổ chức lại nền sản xuất, Đảng chủ trương cải tiến phương thức quản lý kinh tế, lấy kế hoạch hoá làm chính Kế hoạch hoá trên cơ sở đề cao trách nhiệm và phát huy tính sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ
sở Trong quản lý kinh tế, Đảng cũng đã nhấn mạnh tới việc phải coi trọng quyluật giá trị; phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế; sử dụng tốt thị trường;…
Tuy nhiên, việc thực hiện công tác quản lý kinh tế còn nhiều khuyết điểm,đặc biệt là không gắn kế hoạch với hạch toán kinh tế, do đó kế hoạch chưa thực
sự xuất phát từ thực tế lao động sản xuất, thiếu tính khả thi Đảng vạch rõ: “về tổchức thực hiện, khuyết điểm, sai lầm của chúng ta là quan liêu, xa rời thực tế,không nhạy bén với cuộc sống; là bảo thủ, trì trệ, thiếu trách nhiệm trong quản lýkinh tế” Trong khi đó, nhà nước đóng vai trò điều tiết giá cả nên đã không kíchthích được sản xuất kinh doanh phát triển Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp vớiđặc điểm “tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động”,kết hợp với nguyên tắc “phân phối theo lao động” đã làm cho chế độ phân phốimang tính bình quân, do đó không kích thích được sự nhiệt tình và khả năng tìmtòi sáng tạo của người lao động
Trong kế hoạch phát triển kinh tế được đề ra tại Đại hội IV, Đảng đặt ranhiệm vụ tập trung cao độ lực lượng cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra mộtbước phát triển vượt bậc về nông nghiệp… Điều này có ý nghĩa rất lớn đối vớiviệc giải quyết tình trạng thiếu lương thực, khai thác một cách triệt để hơn cácnguồn lực trong nước, đồng thời sẽ tạo ra được những điều kiện và tiền đề cầnthiết cho những bước đi tiếp theo
Trang 9Trong những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đất nước ta lại phảiđương đầu với 2 cuộc xung đột ở biên giới phía Bắc và cuộc xung đột biên giớiphía Tây Nam Tình hình đó khiến nền kinh tế đất nước vốn đã gặp rất nhiều khókhăn nay lại ngày càng trở nên nghiêm trọng
Trước sự yếu kém của nền kinh tế đất nước, tại Đại hội V năm 1982, Đảng
đã có nhiều chủ trương mới cả trong chiến lược phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất Điều mới là Đảng đã xác định cụ thể nội dung và hình thức
công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên: “tập trung phát triển mạnh mẽnông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bướclên xã hội chủ nghĩa…”
Gắn liền với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, tại Đại hội V, Đảngchủ trương tiếp tục đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp ở Nam bộ, từng bướcphát huy tác dụng của hợp tác hoá đối với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn
xã hội chủ nghĩa và xây dựng nông thôn mới; đồng thời nhấn mạnh tới việc ổnđịnh quy mô hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, tổ chức tốt việc điều chỉnh quy mô
trong những trường hợp cần thiết Một bước tiến mới trong việc xây dựng và củng cố hợp tác xã là Đảng chủ trương “áp dụng rộng rãi khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm lao động và người lao động” Chủ trương này đã mở ra một
phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ kinh tế tập thể ở nông thôn, vì
nó đã bước đầu thừa nhận quyền tự chủ của nông dân
Trong suốt thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, phương thứckhoán sản phẩm này đã góp một phần quan trọng tạo nên một bước phát triểncủa nền sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 4,9% sovới 1,9% hàng năm của thời kỳ 1976-1980 Sản xuất lương thực với mức bìnhquân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trong thời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệu tấntrong thời kỳ 1981-1985
Trang 10Tới hội nghị Trung ương tháng 7-1984, những kết quả tốt đẹp do áp dụng
chính sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp đã được Đảng rút kinh nghiệm và cho phép áp dụng vào trong sản xuất công nghiệp Những điều chỉnh này đã
bước đầu tạo được tính độc lập tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước, do đó đãgóp phần làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Nhưng lúc này kế hoạchsản xuất, lãi suất, phần nộp ngân sách, mức lương và đầu tư của doanh nghiệpvẫn theo kế hoạch nhà nước, vì vậy mà sự giải phóng sức sản xuất của các doanhnghiệp vẫn hạn chế Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu là cần phải mau chóng cónhững chủ trương, biện pháp hữu hiệu, để thực hiện được điều đó thì cần thiếtphải thay đổi cơ chế quản lý của Nhà nước
Sau hơn một thập kỷ nhận thấy rõ những hạn chế của cơ chế quản lý hànhchính quan liêu bao cấp, nhưng phải tới Đại hội V Đảng mới có một chủ trương
thực sự mang tính bước ngoặt để xác lập một cơ chế quản lý mới về kinh tế thay
cho cơ chế cũ Đảng chủ trương “đổi mới chế độ quản lý và kế hoạch hoá hiệnhành, xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp, khắc phục bằng đượctình trạng bảo thủ, trì trệ, vô trách nhiệm, vô kỷ luật, phát huy động lực làm chủtập thể, nâng cao tính năng động sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷluật” Điều đó có nghĩa là trong cơ chế quản lý mới này thì các tổ chức và đơn vịkinh tế phải tự bù đắp chi phí và có lãi để tái sản xuất mở rộng Từ đó sẽ khiếncho các cơ sở sản xuất kinh doanh nâng cao tính tự lập, phát huy tính chủ độngsáng tạo của mình để đẩy mạnh phát triển sản xuất
Trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, một số ngành và nhiềuđịa phương đã tiến hành những cuộc thử nghiệm, tìm tòi về cách làm ăn mới nàynhằm khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế phát triển sản xuất, cải tiến lưuthông, phân phối, đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân Song, cho tới năm 1986
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp về căn bản chưa bị xoá bỏ Cơ chế mới
Trang 11chưa được thiết lập đồng bộ Nhiều chính sách, cơ chế đã lỗi thời chưa được thayđổi, một số thể chế quản lý mới còn chắp vá, không ăn khớp, thậm chí trái ngượcnhau.
Tuy những chủ trương mới trong phân phối đã thể hiện sự quan tâm đúngmức đến lợi ích cá nhân người lao động, đề cao ý thức trách nhiệm và kỷ luật củangười lao động, nhưng do cơ chế hành chính quan liêu bao cấp vẫn chưa thực sựđược xóa bỏ, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa mắc nhiều sai lầm,…dẫn đến tìnhhình phân phối ở nước ta trong thời kỳ này vẫn chưa được cải thiện, thậm chítrầm trọng hơn trước, "suốt 5 năm qua (1981-1985), lĩnh vực phân phối lưuthông luôn căng thẳng và rối ren"
Đất nước ta sau nhiều năm trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội,nhưng nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng thấp kém Thực trạng đất nước vào giữanhững năm 1980 với những khó khăn mới gay gắt và phức tạp: Hiệu quả sảnxuất và đầu tư thấp; mất cân đối lớn trong nền kinh tế, đời sống nhân dân cònnhiều khó khăn, nhiều nhu cầu chính đáng tối thiểu của nhân dân về đời sống vậtchất tinh thần chưa được đảm bảo…Thực trạng kinh tế – xã hội đó đòi hỏi Đảng
ta phải có những quyết sách xoay chuyển tình hình, tạo ra một bước ngoặt cho sựphát triển Trên thực tế, Đảng ta đã làm được điều đó
3 Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI (12/1986) của Đảng đề ra đường lối
đổi mới toàn diện đất nước
3.1 Khái quát bối cảnh lịch sử
Đại hội VI của Đảng diễn ra tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18-12-1986, trongbối cảnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang phát triển mạnh, xu thế đốithoại trên thế giới đang dần thay thế xu thế đối đầu Đổi mới đã trở thành xu thếcủa thời đại Liên Xô và các nước XHCN đều tiến hành cải tổ xây dựng CNXH
Trang 12Trong khi đó, Việt Nam đang bị các nước đế quốc và thế lực thù địch baovây, cấm vận, khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra trầm trọng Lương thực, thựcphẩm, hàng tiêu dùng khan hiếm, lạm phát tăng lên 774% năm 1986 Các hiệntượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, vượt biên trái phép khá phổ biến Đổi mới đãtrở thành đòi hỏi bức thiết của đất nước.
3.2 Nội dung đường lối đổi mới:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày
15 đến 18-12-1986 Dự Đại hội có 1129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảngviên trong toàn Đảng Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu quốc tế Đại hội khẳngđịnh quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng vàkhoa học Đại hội nhận định: Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đốivới Đảng và nhân dân ta Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế vàtrong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp.Thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu do Đại hội thứ V đề ra, nhân dân ta đã anhdũng phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổquốc và làm nghĩa vụ quốc tế Đại hội cũng nhận rõ: Tình hình kinh tế - xã hộiđang có những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu
tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nềnkinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củngcố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn… Nhìn chung, chúng tachưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản
ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
Về nguyên nhân dẫn đến tình hình trên, Đại hội nhấn mạnh trong nhữngnăm qua việc nhìn nhận, đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của
Trang 13đất nước đã có nhiều thiếu sót Do vậy đã dẫn đến nhiều sai lầm “trong việc xácđịnh mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cải tạo xã hộichủ nghĩa và quản lý kinh tế” Đại hội thẳng thắn cho rằng: “Những sai lầm nóitrên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sailầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”, đặc biệt là bệnh chủ quan duy ýchí, lạc hậu về nhận thức lý luận.
Từ thực tiễn, Đại hội nêu lên những bài học quan trọng Một là, trongtoàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”,xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Hai là, Đảng phảiluôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là điều kiện bảo đảm
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộcvới sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới Bốn là, phải xây dựng Đảngngang tầm nhiệm vụ chính trị của một Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiếnhành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Trên cơ sở phân tích, đổi mới tư lý luận trải qua nhiều tìm tòi, khảonghiệm từ thực tiễn, Đại hội đề ra đường lối đổi mới
Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công – nông nghiệp; cơ cấu nội
bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp)
Thực hiện ba chương trình kinh tế bao gồm chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu
Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế
Trang 14Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên
3 nguyên tắc: Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuấtvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thứcthích hợp Phải xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm củaLênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳquá độ Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sảnxuất mới trên cả 3 mặt xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độquản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa
Đại hội đã đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế xã hội chủnghĩa; thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tựnhiên, tự cấp, tự túc Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chính sách xã hội, kế hoạchhoá dân số và giải quyết việc làm cho người lao động Chăm lo đáp ứng các nhucầu giáo dục, văn hoá, bảo vệ và tăng cường sức khỏe của nhân dân Trên lĩnhvực đối ngoại nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước ta là ra sức kết hợp sức mạnh dântộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phầntích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới, tăng cường quan hệhữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hộichủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranhchung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc
Xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động vừa làmục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Cơ chế Đảnglãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý đã được Đại hội lần thứ VI xác định
là “cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội” Phương thức vận động quần
Trang 15chúng phải được đổi mới theo khẩu hiệu: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểmtra Đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động
tự quản lý nhà nước của mình
Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng Đại hội VI của Đảng nhấnmạnh: Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinhtế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo
Nâng cao chất lượng đảng viên và sức mạnh chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăngcường đoàn kết nhất trí trong Đảng là nhiệm vụ quan trọng, vừa cơ bản, vừa cấpbách của công tác xây dựng Đảng
II CÁC BƯỚC ĐỘT PHÁ VỀ KINH TẾ ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG
GIAI ĐOẠN 1979-1981 VÀ 1985-1986
1 Những đột phá về đổi mới kinh tế tại Hội nghị Trung ương 6 (8-1979)
1.1 Bối cảnh trước đổi mới
Cuối năm 1977, đầu năm 1978, sự lũng đoạn của thị trường tự do và sự tồntại của nền kinh tế tư nhân là xu hướng phổ biến để giải thích cho những khó khăn
và ách tắc Giải pháp được lựa chọn khi đó là: Cải tạo khẩn trương và triệt để.Trong dư luận của đa số quần chúng nhân dân cũng như đa số cán bộ lãnh đạo
ở các địa phương trên thực tế vẫn còn nhiều băn khoăn, nhiều người chưa thật sựnhất trí với những biện pháp cải tạo có phần vội vàng, thiếu cân nhắc như vậy.Tuy nhiên, vì tinh thần tổ chức và lòng tin tưởng tuyệt đối ở Trung ương nên hầuhết các địa phương miền Nam đã chấp hành nghiêm chỉnh Kết quả là, chỉ sauvài tháng tiến hành cải tạo đã không mang lại những kết quả tích cực Đến cuốinăm 1978, những khó khăn, bất cập của cả hai cuộc cải tạo đã có những biểuhiện hết sức rõ ràng