1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TIỂU LUẬN GIỮA KÌ Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA HỘI NGHỊ GIONEVO NĂM 1954 VỀ KẾT THÚC ĐẤU TRANH VÀ LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở ĐÔNG DƯƠNG

26 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung và ý nghĩa của hội nghị gionevo năm 1954 về kết thúc đấu tranh và lập lại hoà bình ở Đông Dương
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 193,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục lục 1 LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 4 2 NỘI DUNG ......................................................................................................................... 5 2.1 Bối cảnh lịch sử ............................................................................................................ 5 2.1.1 Bối cảnh quốc tế .................................................................................................. 5 2.1.2 Bối cảnh trong nước: ........................................................................................... 7 2.2 Phần 2. Hiệp định Giơ ne vơ ...................................................................................... 10 2.2.1 Các bên tham dự và lập trường các bên của hiệp định ..................................... 10 2.2.1.1 Các bên tham dự ............................................................................................. 10 2.2.2 Diễn biến trước, trong và sau hội nghị .............................................................. 12 2.2.2.1 Trước Hội nghị: .............................................................................................. 12 2.2.2.2 Trong Hội nghị: .............................................................................................. 16 2.2.2.3 Sau Hội nghị: .................................................................................................. 17 2.2.3 Nội dung cơ bản Của hiệp định ........................................................................ 19 2.2.3.1 19 Tạm ngừng bắn và rút quân: .......................................................................... 2.2.3.2 Tổ chức bầu cử: .............................................................................................. 20 2.2.3.3 Tổ chức hòa bình: ........................................................................................... 20 2.2.4 Ý nghĩa .............................................................................................................. 21 2.3 Liên hệ thực tiễn: ........................................................................................................ 22 3 Lời kết ............................................................................................................................... 24 1 LỜI MỞ ĐẦU Để có được nền hoà bình, độc lập, tự do và dân chủ như ngày hôm nay, Việt Nam ta đã phải trải qua hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và hơn 80 năm dưới ách thống trị của thực dân, phát xít. Mỗi chặng đường đất nước ta đi qua đều để lại những cột mốc vẻ vang, viết nên những trang sử hào hùng, thể hiện tinh thần dân tộc, ý chí kiên cường, không chịu khuất phục trước xiềng xích của giặc ngoại xâm. Những thắng lợi của Việt Nam đạt được trong quá trình đấu tranh giành chủ quyền, độc lập dân tộc đến nay vẫn là niềm tự hào của toàn dân và là bài học kinh nghiệm quý giá mà ông cha ta để lại. Một dấu son chói lọi trong tiến trình lịch sử của dân tộc chính là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1954. Cuộc thắng lợi to lớn được đánh dấu bằng Hiệp định Giơnevơ chấm dứt 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, khẳng định nền độc lập, thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được các nước, trong đó có Pháp cam kết tôn trọng. Tháng 71965, khi trả lời phỏng vấn Nhật báo công nhân (Anh) về ý nghĩa và nội dung quan trọng nhất của Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định: “Tôi cho rằng, những điều khoản quan trọng nhất là: Phải tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; không nước nào được lập căn cứ quân sự ở nước Việt Nam; Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ nước nào; thi hành các quyền tự do dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi…, đi tới thực hiện thống nhất nước nhà…”. Với những ý nghĩa đó, chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Hội nghị Giơnevơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (852171954)” nhằm tìm hiểu sâu hơn về bối cảnh, diễn biến, nội dung và ý nghĩa lịch sử của Hội nghị. Bài tiểu luận có thể còn tồn tại nhiều thiếu sót, chúng em mong sẽ được cô góp ý và chỉ dẫn để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn 2 NỘI DUNG 2.1 Bối cảnh lịch sử 2.1.1 Bối cảnh quốc tế Sau một loạt những thất bại quân sự, Chính phủ Pháp đã 7 lần thay tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương mà không cải thiện tình hình, quân Pháp trên chiến trường ngày càng lâm vào thế phòng ngự bị động.Tháng 5.1953, Chính phủ Pháp cử Nava làm Tổng tư lệnh Pháp ở Đông Dương. Để kết thúc chiến tranh trong danh dự, ngày 27.4.1953, Hội đồng Quốc phòng Pháp đã thông qua kế hoạch Nava. Theo đó, từ mùa thu năm 1954, quân Pháp sẽ tiến công chiến lược giành những thắng lợi quân sự quyết định buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện của Pháp. Như vậy, kế hoạch Nava đã chứa đựng mục tiêu thương lượng nhưng là thương lượng trên thế mạnh. Trong khi Nava đang triển khai kế hoạch của mình ở Đông Dương thì tại Pari, ngày 12.11.1953, Thủ tướng Lanien, mặc dù là người của phái “chủ chiến” nhưng trước sức ép của dư luận, nhất là các nghị sĩ phản chiến cũng phải tuyên bố “Nếu một giải pháp danh dự xuất hiện trong khung cảnh địa phương hoặc khung cảnh quốc tế, nước Pháp sẽ vui lòng chấp nhận một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột”1. Chỉ sau 8 ngày tuyên bố của Thủ tướng Pháp, ngày 20.11.1953, Nava cho quân nhảy dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ, do nhận được tin tình báo Đại đoàn 316 của Việt Minh đang hành quân về phía Tây Bắc. Quân Pháp đã nhanh chóng xây dựng lòng chảo Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưa từng có ở Đông Nam Á. Sau khi kế hoạch Nava được thông qua, ngày 27.7.1953, cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng đồng thời chấm dứt bằng Hiệp định Bàn Môn Điếm. Đình chiến ở Triều Tiên đã ảnh hưởng đến ngay dư luận nước Pháp, phong trào phản chiến ở Pháp lên cao. Đình chiến ở Triều Tiên cũng ảnh hưởng tới dư luận thế giới và quan điểm của các nước lớn trong việc giải quyết các cuộc chiến tranh khu vực. Vào thời điểm này, Liên Xô bắt đầu thực hiện chính sách ngoại giao hòa hoãn. Vì vậy, Liên Xô muốn đi đến một giải pháp hòa bình cho vấn đề Đông Dương để ngăn chặn Mỹ mở rộng cụôc chiến tranh ở Đông Dương. Đây là khu vực chưa phải là quyền lợi sát sườn của Liên Xô và ảnh hưởng của Liên Xô cũng chưa mạnh. Hơn nữa, Liên Xô còn nhiều việc phải làm sau khi Stalin mất (3. 1953) và có sự thay đổi trong Ban lãnh đạo cấp cao. Báo Sao đỏ của Liên Xô ra ngày 3.8.1953 viết “Đình chiến ở Triều Tiên cần thúc đẩy việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương” 2. Về phía Trung Quốc, sau khi thoát khỏi cuộc chiến tranh Triều Tiên, đang muốn tập trung vào khôi phục kinh tế, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, củng cố chế độ dân chủ nhân dân, cũng chủ trương sớm giải quyết lập lại hòa bình ở Đông Dương, ngăn chặn đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, bảo đảm hòa bình và an ninh cho Trung Quốc ở phía Đông Nam. Sau khi Hiệp định Bàn Môn Điếm được kí kết, ngày 24.8.1953, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố có thể thảo luận các vấn đề khác sau khi giải quyết vấn đề hòa bình ở Triều Tiên, trước đó ngày 4.8.1953, Liên Xô đã gửi công hàm đến các nước lớn gợi ý triệu tập một hội nghị 5 nước là Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc để bàn bạc đi đến giải pháp giảm bớt căng thẳng ở Viễn Đông. Như vậy, nếu được tham giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông Dương thì Trung Quốc sẽ có cơ hội khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế với tư cách là một nước lớn. Về phía Mỹ, Mỹ đặt Đông Dương trong phòng tuyến chống cộng của Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương, như ngoại trưởng Dulles tuyên bố ngày 13 tháng Giêng 1954: Đứng về chiến lược, quyền lợi của Mỹ ở vùng viễn đông gắn chặt với các đảo ở bờ biển vùng đó. Các đảo đó có hai cứ điểm ở trên lục địa: phía bắc là Triều Tiên và phía nam là Đông Dương.3Vì vậy, Mỹ tăng cường can thiệp và dính líu sâu vào Đông Dương, tiếp tục viện trợ cho Pháp và không muốn Pháp đàm phán với Việt Minh. Đầu tháng 10. 1953, Phó Tổng thống Mỹ Níchxơn sang thăm Việt Nam để năm bắt tình hình có tuyên bố “cuộc chiến chống lại Việt Minh có tầm quan trọng vượt qua khỏi biên giới Việt Nam”4 và hứa với thực dân Pháp ở Đông Dương là “các bạn sẽ không phải chiến đấu mà thiếu sự giúp đỡ”5. Có thể nói, sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương sẽ làm cho tiến trình lập lại hòa bình ở Đông Dương càng khó khăn hơn. 2.1.2 Bối cảnh trong nước: Trước khi Hiệp định Geneva diễn ra, Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương. Cuộc chiến này bắt đầu từ năm 1945, khi Việt Nam đòi độc lập sau khi Nhật Bản đầu hàng trong Thế chiến II. Tuy nhiên, Pháp đã quyết định giành lại địa vị thực dân của mình tại Việt Nam và bắt đầu chiến dịch quân sự để đàn áp phong trào độc lập của người Việt. Trong suốt thời gian chiến tranh, người dân Việt Nam đã phải chịu nhiều khó khăn và tổn thất nặng nề. Những trận đánh liên miên đã gây ra nhiều thiệt hại về người và tài sản, đặc biệt là sau khi Pháp sử dụng vũ khí hạt nhân tại Điện Biên Phủ vào năm 1954. Người dân Việt Nam cảm thấy mệt mỏi và đau đớn vì chiến tranh kéo dài quá lâu. Cùng với những bối cảnh quốc tế đã được nêu ở phần trước, Đảng và nhà nước ta cũng đã có những bước đi đúng đắn để phản kháng quyết liệt với những hành động của Pháp. Thắng lợi của quân dân ta trong cuộc tiến công chiến lược đông – xuân 1953 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) đã đập tan cố gắng quân sự cao nhất và cũng là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và sự giúp sức của đế quốc Mĩ. Thắng lợi đó giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộc đấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến. Ngay từ khi thực dân Pháp có ý đồ quay lại xâm lược Đông Dương, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình để tránh đổ máu. Vì vậy, Việt Nam đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (ngày 0631946) và Tạm ước Việt Nam Pháp (ngày 1491946). Thế nhưng, với bản chất hiếu chiến, thực dân Pháp đã cố tình tiến hành xâm lược, buộc nhân dân Việt Nam phải đứng lên cầm vũ khí bảo vệ chủ quyền dân tộc. Cuộc kháng chiến cứu quốc của nhân dân Việt Nam không những không bị đè bẹp mà ngày càng lớn mạnh. Đến năm 1950, quân ta chuyển sang phản công địch trên khắp các chiến trường. Ngược lại, thực dân Pháp ngày càng thất bại, sa lầy và rơi vào thế lúng túng, bị động đối phó. Thấy rõ nguy cơ thất bại ở Đông Dương, thực dân Pháp muốn tìm cách thoát khỏi chiến tranh trong danh dự. Tuy nhiên, trước khi chịu ngồi vào bàn đàm phán, mùa hè năm 1953, thực dân Pháp được Mỹ tiếp sức đã đẩy mạnh quy mô và cường độ cuộc chiến tranh xâm lược bằng kế hoạch quân sự Nava (Navarre), nhằm giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Trước tình hình đó, tháng 91953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp ở Định Hóa (Thái Nguyên) thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân năm 1953 1954, nhằm làm thất bại kế hoạch Nava của địch. Trong khi thể hiện quyết tâm tiến công địch, làm thất bại kế hoạch Nava của thực dân Pháp và kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam. Ngày 26111953, trả lời báo Expressen (Thụy Điển), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống trong hòa bình. Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thực sự của nước Việt Nam”. Ngày 2641954, Hội nghị Giơnevơ bắt đầu họp về vấn đề Triều Tiên. Thời gian diễn ra Hội nghị bàn về vấn đề Triều Tiên cũng là lúc quân đội viễn chinh Pháp ở lòng chảo Điện Biên Phủ đang nguy kịch trước sự tấn công mãnh liệt của các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam. Sau khi các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bị tiêu diệt, quân Pháp ở Bản Kéo buộc phải đầu hàng. Tại chiến trường, từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 41954, hàng loạt cứ điểm ở khu phía Đông Mường Thanh bị tiêu diệt, quân Pháp lâm vào thế bị động, lúng túng. Từ ngày 0151954, khu trung tâm của địch bắt đầu bị tiến công dồn dập. Chiều ngày 0751954, Bộ chỉ huy quân đội Pháp ởtập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng. Chiến dịch Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam toàn thắng. Cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ kéo dài 9 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi. Ngày 851954, một ngày sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị Genève cùng với sự tham dự của các nước Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ, Anh và ba đoàn đại diện của chính quyền bù nhìn Việt Nam, Lào, Campuchia. 2.2 Phần 2. Hiệp định Giơ ne vơ 2.2.1 Các bên tham dự và lập trường các bên của hiệp định 2.2.1.1 Các bên tham dự Với cố gắng của Liên Xô trong việc chủ động vận động Mỹ, Anh, Pháp họp hội nghị năm nước có Trung Quốc tham gia để bàn cách giảm tình hình căng thẳng ở Đông Dương, ngày 1821954, bốn nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Béclin ra thông báo sẽ triệu tập Hội nghị Giơnevơ.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Trang 2

Mục lục

1 LỜI MỞ ĐẦU 4

2 NỘI DUNG 5

2.1 Bối cảnh lịch sử 5

2.1.1 Bối cảnh quốc tế 5

2.1.2 Bối cảnh trong nước: 7

2.2 Phần 2 Hiệp định Giơ ne vơ 10

2.2.1 Các bên tham dự và lập trường các bên của hiệp định 10

2.2.1.1 Các bên tham dự 10

2.2.2 Diễn biến trước, trong và sau hội nghị 12

2.2.2.1 Trước Hội nghị: 12

2.2.2.2 Trong Hội nghị: 16

2.2.2.3 Sau Hội nghị: 17

2.2.3 Nội dung cơ bản Của hiệp định 19

2.2.3.1 Tạm ngừng bắn và rút quân: 19 2.2.3.2 Tổ chức bầu cử: 20

2.2.3.3 Tổ chức hòa bình: 20

2.2.4 Ý nghĩa 21

2.3 Liên hệ thực tiễn: 22

3 Lời kết 24

Trang 3

1 LỜI MỞ ĐẦU

Để có được nền hoà bình, độc lập, tự do và dân chủ như ngày hôm nay, Việt Nam

ta đã phải trải qua hơn 1000 năm dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc vàhơn 80 năm dưới ách thống trị của thực dân, phát xít Mỗi chặng đường đất nước ta

đi qua đều để lại những cột mốc vẻ vang, viết nên những trang sử hào hùng, thểhiện tinh thần dân tộc, ý chí kiên cường, không chịu khuất phục trước xiềng xíchcủa giặc ngoại xâm Những thắng lợi của Việt Nam đạt được trong quá trình đấutranh giành chủ quyền, độc lập dân tộc đến nay vẫn là niềm tự hào của toàn dân và

là bài học kinh nghiệm quý giá mà ông cha ta để lại

Một dấu son chói lọi trong tiến trình lịch sử của dân tộc chính là thắng lợi của cuộckháng chiến chống Pháp năm 1954 Cuộc thắng lợi to lớn được đánh dấu bằngHiệp định Giơ-ne-vơ chấm dứt 9 năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp,khẳng định nền độc lập, thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Namđược các nước, trong đó có Pháp cam kết tôn trọng Tháng 7/1965, khi trả lờiphỏng vấn Nhật báo công nhân (Anh) về ý nghĩa và nội dung quan trọng nhất củaHiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định:

“Tôi cho rằng, những điều khoản quan trọng nhất là: Phải tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam; không nước nào được lập căn cứ quân sự ở nước Việt Nam; Việt Nam không liên minh quân sự với bất cứ nước nào; thi hành các quyền tự do dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi…, đi tới thực hiện thống nhất nước nhà…”.

Với những ý nghĩa đó, chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Hội nghị Giơ-ne-vơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương (8/5-21/7/1954)” nhằm tìm

hiểu sâu hơn về bối cảnh, diễn biến, nội dung và ý nghĩa lịch sử của Hội nghị Bài tiểuluận có thể còn tồn tại nhiều thiếu sót, chúng em mong sẽ được cô góp ý và

Trang 4

chỉ dẫn để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thànhcảm ơn!

Theo đó, từ mùa thu năm 1954, quân Pháp sẽ tiến công chiến lược giành nhữngthắng lợi quân sự quyết định buộc Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện củaPháp Như vậy, kế hoạch Nava đã chứa đựng mục tiêu thương lượng nhưng làthương lượng trên thế mạnh Trong khi Nava đang triển khai kế hoạch của mình ởĐông Dương thì tại Pari, ngày 12.11.1953, Thủ tướng Lanien, mặc dù là người củaphái “chủ chiến” nhưng trước sức ép của dư luận, nhất là các nghị sĩ phản chiếncũng phải tuyên bố “Nếu một giải pháp danh dự xuất hiện trong khung cảnh địaphương hoặc khung cảnh quốc tế, nước Pháp sẽ vui lòng chấp nhận một giải pháp

Chỉ sau 8 ngày tuyên bố của Thủ tướng Pháp, ngày 20.11.1953, Nava cho quânnhảy dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ, do nhận được tin tình báo Đại đoàn

316 của Việt Minh đang hành quân về phía Tây Bắc Quân Pháp đã nhanh chóngxây dựng lòng chảo Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưatừng có ở Đông Nam Á

Trang 5

Sau khi kế hoạch Nava được thông qua, ngày 27.7.1953, cuộc chiến tranh TriềuTiên cũng đồng thời chấm dứt bằng Hiệp định Bàn Môn Điếm Đình chiến ở TriềuTiên đã ảnh hưởng đến ngay dư luận nước Pháp, phong trào phản chiến ở Pháp lêncao Đình chiến ở Triều Tiên cũng ảnh hưởng tới dư luận thế giới và quan điểmcủa các nước lớn trong việc giải quyết các cuộc chiến tranh khu vực Vào thờiđiểm này, Liên Xô bắt đầu thực hiện chính sách ngoại giao hòa hoãn Vì vậy, Liên

Xô muốn đi đến một giải pháp hòa bình cho vấn đề Đông Dương để ngăn chặn Mỹ

mở rộng cụôc chiến tranh ở Đông Dương Đây là khu vực chưa phải là quyền lợisát sườn của Liên Xô và ảnh hưởng của Liên Xô cũng chưa mạnh Hơn nữa, Liên

Xô còn nhiều việc phải làm sau khi Stalin mất (3 1953) và có sự thay đổi trong

Ban lãnh đạo cấp cao Báo Sao đỏ của Liên Xô ra ngày 3.8.1953 viết “Đình chiến

ở Triều Tiên cần thúc đẩy việc chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương” [2]

Về phía Trung Quốc, sau khi thoát khỏi cuộc chiến tranh Triều Tiên, đang muốntập trung vào khôi phục kinh tế, thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, củng cốchế độ dân chủ nhân dân, cũng chủ trương sớm giải quyết lập lại hòa bình ở ĐôngDương, ngăn chặn đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, bảo đảm hòa bình và an ninhcho Trung Quốc ở phía Đông Nam Sau khi Hiệp định Bàn Môn Điếm được kí kết,ngày 24.8.1953, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố có thể thảo luận các vấn đề khácsau khi giải quyết vấn đề hòa bình ở Triều Tiên, trước đó ngày 4.8.1953, Liên Xô

đã gửi công hàm đến các nước lớn gợi ý triệu tập một hội nghị 5 nước là Liên Xô,

Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc để bàn bạc đi đến giải pháp giảm bớt căng thẳng ởViễn Đông Như vậy, nếu được tham giải quyết cuộc chiến tranh ở Đông Dươngthì Trung Quốc sẽ có cơ hội khẳng định vai trò của mình trên trường quốc tế với tưcách là một nước lớn

Trang 6

Về phía Mỹ, Mỹ đặt Đông Dương trong phòng tuyến chống cộng của Mỹ ở Châu

Á -Thái Bình Dương, như ngoại trưởng Dulles tuyên bố ngày 13 tháng Giêng

1954: "Đứng về chiến lược, quyền lợi của Mỹ ở vùng viễn đông gắn chặt với các

đảo ở bờ biển vùng đó Các đảo đó có hai cứ điểm ở trên lục địa: phía bắc là Triều Tiên và phía nam là Đông Dương".[3]Vì vậy, Mỹ tăng cường can thiệp và dính líu

sâu vào Đông Dương, tiếp tục viện trợ cho Pháp và không muốn Pháp đàm phán

với Việt Minh Đầu tháng 10 1953, Phó Tổng thống Mỹ Níchxơn sang thăm Việt

Nam để năm bắt tình hình có tuyên bố “cuộc chiến chống lại Việt Minh có tầm

quan trọng vượt qua khỏi biên giới Việt Nam”[4] và hứa với thực dân Pháp ở Đông

sự can thiệp của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương sẽ làm cho tiến trình lập lạihòa bình ở Đông Dương càng khó khăn hơn

2.1.2 Bối cảnh trong nước:

Trang 7

Trước khi Hiệp định Geneva diễn ra, Việt Nam đang trong thời kỳ chiến tranhĐông Dương Cuộc chiến này bắt đầu từ năm 1945, khi Việt Nam đòi độc lập saukhi Nhật Bản đầu hàng trong Thế chiến II Tuy nhiên, Pháp đã quyết định giành lạiđịa vị thực dân của mình tại Việt Nam và bắt đầu chiến dịch quân sự để đàn ápphong trào độc lập của người Việt.

Trong suốt thời gian chiến tranh, người dân Việt Nam đã phải chịu nhiều khó khăn

và tổn thất nặng nề Những trận đánh liên miên đã gây ra nhiều thiệt hại về người

và tài sản, đặc biệt là sau khi Pháp sử dụng vũ khí hạt nhân tại Điện Biên Phủ vàonăm 1954 Người dân Việt Nam cảm thấy mệt mỏi và đau đớn vì chiến tranh kéodài quá lâu

Cùng với những bối cảnh quốc tế đã được nêu ở phần trước, Đảng và nhà nước tacũng đã có những bước đi đúng đắn để phản kháng quyết liệt với những hành độngcủa Pháp Thắng lợi của quân dân ta trong cuộc tiến công chiến lược đông – xuân

1953 -1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) đã đập tan cố gắng quân sự caonhất và cũng là cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp và sự giúp sức của đế quốc

Mĩ Thắng lợi đó giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp,làm xoay chuyển cục diện chiến tranh và tạo cơ sở thực lực về quân sự cho cuộcđấu tranh ngoại giao để kết thúc cuộc kháng chiến

Ngay từ khi thực dân Pháp có ý đồ quay lại xâm lược Đông Dương, Đảng ta vàChủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương giải quyết bằng các biện pháp hòa bình đểtránh đổ máu Vì vậy, Việt Nam đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ (ngày 06/3/1946)

và Tạm ước Việt Nam - Pháp (ngày 14/9/1946) Thế nhưng, với bản chất hiếuchiến, thực dân Pháp đã cố tình tiến hành xâm lược, buộc nhân dân Việt Nam phảiđứng lên cầm vũ khí bảo vệ chủ quyền dân tộc

Trang 8

Cuộc kháng chiến cứu quốc của nhân dân Việt Nam không những không bị đè bẹp

mà ngày càng lớn mạnh Đến năm 1950, quân ta chuyển sang phản công địch trênkhắp các chiến trường Ngược lại, thực dân Pháp ngày càng thất bại, sa lầy và rơivào thế lúng túng, bị động đối phó Thấy rõ nguy cơ thất bại ở Đông Dương, thựcdân Pháp muốn tìm cách thoát khỏi chiến tranh trong danh dự Tuy nhiên, trướckhi chịu ngồi vào bàn đàm phán, mùa hè năm 1953, thực dân Pháp được Mỹ tiếpsức đã đẩy mạnh quy mô và cường độ cuộc chiến tranh xâm lược bằng kế hoạchquân sự Na-va (Navarre), nhằm giành lại quyền chủ động trên chiến trường

Trước tình hình đó, tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Laođộng Việt Nam họp ở Định Hóa (Thái Nguyên) thông qua kế hoạch tác chiến ĐôngXuân năm 1953 - 1954, nhằm làm thất bại kế hoạch Na-va của địch Trong khi thểhiện quyết tâm tiến công địch, làm thất bại kế hoạch Na-va của thực dân Pháp và kiênquyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Namcũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải quyết hòa bình vấn đề Việt Nam.Ngày 26/11/1953, trả lời báo Expressen (Thụy Điển), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ:

“Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra Nhân dân Việt Nam phảicầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệnền độc lập và quyền tự do được sống trong hòa bình Hiện nay nếu thực dân Pháptiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộcchiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút đượcbài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nambằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì nhân dân

và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó” Chủ tịch HồChí Minh nói rõ: “Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thàtôn trọng nền độc lập thực sự của nước Việt Nam”

Trang 9

Ngày 26/4/1954, Hội nghị Giơ-ne-vơ bắt đầu họp về vấn đề Triều Tiên Thời giandiễn ra Hội nghị bàn về vấn đề Triều Tiên cũng là lúc quân đội viễn chinh Pháp ở lòngchảo Điện Biên Phủ đang nguy kịch trước sự tấn công mãnh liệt của các đơn vị Quânđội nhân dân Việt Nam Sau khi các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bị tiêu diệt, quânPháp ở Bản Kéo buộc phải đầu hàng Tại chiến trường, từ cuối tháng 3 đến cuối tháng4/1954, hàng loạt cứ điểm ở khu phía Đông Mường Thanh bị tiêu diệt, quân Pháp lâmvào thế bị động, lúng túng Từ ngày 01/5/1954, khu trung tâm của địch bắt đầu bị tiếncông dồn dập Chiều ngày 07/5/1954, Bộ chỉ huy quân đội Pháp

ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đầu hàng Chiến dịch Điện Biên Phủ của nhândân Việt Nam toàn thắng Cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ kéo dài 9 nămdưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi

Ngày 8/5/1954, một ngày sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp phải ngồi vào bànHội nghị Genève cùng với sự tham dự của các nước Liên Xô, Trung Quốc, ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ, Anh và ba đoàn đại diện của chính quyền bù nhìnViệt Nam, Lào, Campuchia

2.2 Phần 2 Hiệp định Giơ ne vơ

2.2.1 Các bên tham dự và lập trường các bên của hiệp định

2.2.1.1 Các bên tham dự

Với cố gắng của Liên Xô trong việc chủ động vận động Mỹ, Anh, Pháp họp hộinghị năm nước có Trung Quốc tham gia để bàn cách giảm tình hình căng thẳng ởĐông Dương, ngày 18-2-1954, bốn nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Béclin rathông báo sẽ triệu tập Hội nghị Giơnevơ

Trang 10

Ngày 4-5-1954, nhận lời mời của hai Chính phủ Liên Xô và Trung Quốc, đoàn đạibiểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến Giơnevơ tham dự Hộinghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.

Ngày 8-5-1954, một ngày sau khi bị đại bại ở Điện Biên Phủ, Pháp phải ngồi vàobàn Hội nghị cùng với sự tham dự của các nước Liên Xô, Trung Quốc, Việt NamDân chủ Cộng hoà, Mỹ, Anh và ba đoàn đại diện của chính quyền bù nhìn ViệtNam, Lào, Campuchia, cụ thể:

Đoàn Mỹ do John Foster Dules (J Đalét) Bộ trưởng Ngoại giao dẫn đầu

Đoàn Vương quốc Anh do Bộ trưởng Ngoại giao Anthony Eden là trưởng đoàn Đoàn Pháp do Georges Bidault (Bi đôn), sau đó là Thủ tướng Mendes France dẫn đầu

Đoàn Liên Xô do Bộ trưởng Ngoại giao Viacheslav Molotov làm trưởng đoàn.Đoàn Trung Quốc do Thủ tướng Chu Ân Lai (Zhou En Rai) dẫn đầu

Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu.Các đoàn Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia và Quốc gia Việt Nam (chínhquyền Bảo Đại) cũng tham gia hội nghị

Lập trường các bên tham dự:

Phía Việt Nam luôn kiên trì đầu tranh, giữ vững nguyên tắc, nhân nhượng có điềukiện và cũng tích cực đấu tranh để bảo vệ quyền lợi chính trị của lực lượng khángchiến Lào và Campuchia Song so sánh lực lượng không thuận lợi cho cách mạng

ba nước Đông Dương, nên ta đồng ý chấp nhận ký kết với Pháp bản Hiệp địnhđình chỉ chiến sự ở Việt Nam vào ngày 21-7-1954 Tại Hội nghị, đồng chí PhạmVăn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ ta trình bày lập trường tám điểm:Pháp phải công nhận chủ quyền, độc lập của Việt Nam trên khắp lãnh thổ ViệtNam và chủ quyền, độc lập của hai nước Lào, Campuchia

Trang 11

Ký một hiệp định về việc rút quân đội ngoại quốc ra khỏi ba nước Việt Nam, Lào

và Campuchia

Tổ chức tổng tuyển cử tự do ở ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Pathét Lào và Campuchia xem xét vấn đề gia nhậpLiên hiệp Pháp

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Pathét Lào và Campuchia công nhận quyền lợi kinh

tế và văn hoá của Pháp, quan hệ kinh tế giữa ba nước với Pháp sẽ được quy địnhtrên nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau

Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với bên kia trong chiến tranh.Trao đổi tù binh

Ngừng bắn toàn Đông Dương

Trong quá trình diễn ra Hội nghị, Mỹ đã gây sức ép buộc Pháp chấp nhận đưa NgôĐình Diệm về nước làm Thủ tướng trong chính quyền Bảo Đại nhằm xây dựngmột chính quyền thân Mỹ thay thế chính quyền thân Pháp Tổng thống Mỹ DwightD.Eisenhower (Ai xen hao) quyết tâm thúc đầy quá trình Mỹ thay thế Pháp ở ViệtNam và Đông Dương

2.2.2 Diễn biến trước, trong và sau hội nghị

2.2.2.1 Trước Hội nghị:

Những năm 1950-1954, nền chính trị toàn cầu diễn ra những thay đổi đòi hỏi nhữngthực thể của nó phải có chiến lược thích ứng Mặc dù còn mờ nhạt, song sau Chiếntranh Triều Tiên, đã dần xuất hiện những sự kiện – những nốt chấm phá phản ánh sựchia rẽ, mâu thuẫn trong nội bộ mỗi khối cả Đông và Tây; đồng thời, khuynh hướngkhẳng định tính độc lập của mỗi quốc gia đang bộc lộ dần Trong tình hình đó, ngày28-9-1953, Liên Xô kêu gọi các nước có liên quan tổ chức một hội nghị quốc tế, xemxét, đề xuất các biện pháp giảm thiểu căng thẳng trong tình hình thế giới, giải quyếtvấn đề chiến tranh – hòa bình ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á Ngày 25-

Trang 12

1-1954, Hội nghị cấp Bộ trưởng Ngoại giao giữa Liên Xô, Anh, Pháp, Mỹ khaimạc tại Berlin ra thông báo sẽ triệu tập Hội nghị Genève, bàn giải pháp cho vấn đềTriều Tiên và lập lại hòa bình ở Đông Dương.

Trong Hội nghị Tứ cường (1-1954), để có thêm đồng minh làm đối trọng, Liên Xôtích cực đấu tranh để Trung Quốc được tham gia Hội nghị Mặc dù Mỹ kiên quyếtphản đối, song trong xu thế các nước đều muốn hòa đàm, cuối cùng Mỹ buộc phảinhượng bộ Trước thềm Hội nghị Genève, Liên Xô, Trung Quốc liên hệ chặt chẽ,thường xuyên họp bàn, trao đổi, quyết định phương châm, đối sách và các hoạt độngphối hợp ngoại giao Hai nước nhất trí để Liên Xô soạn thảo phương án cụ thể cho cáccuộc đàm phán ở Genève Đối với vấn đề Đông Dương, liên quan trực tiếp đến ViệtNam, nội dung quan trọng có tính “tử huyệt”, thu hút sự chú ý đặc biệt của mọi thànhphần tham gia Hội nghị là sự toàn vẹn lãnh thổ và quyền độc lập dân tộc

Chi phối bởi tư tưởng “chung sống hoà bình” và mục tiêu vừa kiềm chế, vừa tránhđụng độ với Mỹ, cả Liên Xô, Trung Quốc đều muốn giải quyết êm thấm mọi chuyệntrên tinh thần nhượng bộ và thỏa hiệp Đối với vấn đề “sinh tử” của Việt Nam, Liên

Xô, Trung Quốc thống nhất phương án “vạch ranh giới đình chiến ở Đông Dương giống như Triều Tiên”, lấy “vĩ tuyến 16 độ Bắc như là một trong những phương án để xem xét” Phương án này hình thành tương đối sớm, không lâu sau khi Hội nghị Tứ

cường khởi họp (1-1954) và được xúc tiến tích cực từ tháng 3-1954 Ngày 2-3-1954,Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc gửi điện cho Đảng Lao động Việt Nam, nêu

vấn đề đình chiến và xác định giới tuyến, nói rõ: “Đường giới tuyến này càng xuống phía Nam càng tốt Có thể tham khảo vĩ tuyến 16 độ Bắc” Hội đàm song phương Xô- Trung ngày 6-3-1954, hai nước khẳng định lại quan điểm, nhấn mạnh: “Liên quan đến lập lại hòa bình ở Đông Dương, nếu muốn đình chiến, tốt nhất nên có một giới tuyến tương đối cố định, phân chia ranh giới giữa Nam và Bắc, như vĩ tuyến 16” Nhằm bắn tín hiệu cho “phía bên kia”, đầu tháng 3-1954, trao đổi với nhân viên của

Đại sứ quán Mỹ ở London và nhân viên Bộ Ngoại giao Anh (G

Trang 13

Holerom), hai nhà ngoại giao Liên Xô (Rodionov, Belokhvostikov) đã “vô tình” đềcập đến quan điểm giải quyết vấn đề Việt Nam của Liên Xô theo mô thức TriềuTiên và nhắc đến vĩ tuyến 16.

Có vẻ như hình mẫu cho đình chiến Đông Dương đã được lựa chọn và mọi chuyện

đã được quyết định, ý kiến, nguyện vọng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ còn

là hình thức Bức điện Chu Ân Lai gửi về cho Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ

báo cáo tình hình cuộc hội đàm ngày 22-4-1954 giữa Liên Xô (Malenkov,Molotov, Khrushchev), Trung Quốc (Chu Ân Lai, Vương Gia Tường), Việt Nam

(Hồ Chí Minh) về lập trường và phối hợp hành động ở Genève viết: “Liên Xô hoàn

toàn nhất trí với ý kiến về tình hình Đông Dương và với các chiến lược, chính sách của chúng ta, cho rằng quan điểm/nội dung những tài liệu [chúng ta chuẩn bị] là chính xác” Về phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 13-3-1954 (cùng ngày

chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn), Hội đồng chính phủ Việt Nam nhóm họp, bày

tỏ quan điểm tán thành Hội nghị Genève, thảo luận về lập trường, phương châmđấu tranh ngoại giao và cử Đoàn đại biểu tham gia Hội nghị (do Phó Thủ tướngPhạm Văn Đồng dẫn đầu) Trong quá trình thảo luận, vấn đề khó khăn nhất là xácđịnh giới tuyến đình chiến Sau nhiều tranh luận, Việt Nam chưa nhất trí trong vấn

đề này, chủ trương vừa đánh, vừa đàm kéo dài cho đến khi có ưu thế hơn đốiphương và đợi đến lúc ở Genève đạt được được thỏa thuận chính trị phù hợp rồimới đình chiến, thậm chí chỉ đồng ý đình chiến về nguyên tắc, còn nội dung đìnhchiến cụ thể phụ thuộc vào sự phát triển của tình hình

Về phía khối các nước “cực Tây”, Pháp là quốc gia có nhiều quyền lợi nhất đượcmang ra thương thảo ở Hội nghị Genève, song đồng thời cũng là nước ở trong tình thếbất lợi về quân sự và ngoại giao Tuy tìm kiếm cơ hội giải quyết chiến tranh ĐôngDương tại Genève thông qua thương lượng, song Pháp đặt mục tiêu phải ở tư thế ápđảo, nhằm đạt những điều khoản có lợi nhất Vì thế, Pháp quyết tâm bảo vệ Điện BiênPhủ đến cùng Do vậy, toàn bộ “câu chuyện” của Pháp và Anh, Mỹ trước

Ngày đăng: 03/04/2023, 19:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w