VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI Đề tài Thời kì văn hóa phong kiến quý tộc Thời kỳ văn hóa phong kiến quan liêu ở đỉnh cao Thời kỳ văn hóa phong kiến quan liêu khủng hoảng bế tắc MỤC LỤC I Thời kì văn hóa phong.
Trang 1Đề tài Thời kì văn hóa phong kiến quý tộc Thời kỳ văn hóa phong kiến quan liêu ở đỉnh cao Thời kỳ văn hóa phong kiến quan liêu khủng hoảng bế tắc.
Trang 2MỤC LỤC
I Thời kì văn hóa phong kiến quý tộc 2
1 Vũ công với chế định văn hóa 2
2 Chế định văn hóa từ sự hòa mục 2
3 Nói về chính thất văn hóa phong kiến quý tộc 2
4 Tiếp thu văn hóa ngoại nhập 2
5 Một nền văn học bác học Hán Nôm phong phú 3
6 Sự suy tàn của văn hóa phong kiến quý tộc 4
II Thời kì văn hóa phong kiến quan liêu đỉnh cao 5
1 Ý nghĩa văn hóa của vũ công Lê Lợi thắng Minh 5
2 Đặc trưng văn hóa phong kiến quan liêu 7
3 Phát triển văn hóa tinh thần ở thời Lê sơ 9
4 Vua Lê Thánh Tông với đỉnh cao văn hóa phong kiến quan liêu 9
III Thời kì văn hóa phong kiến quan liêu khủng hoảng bế tắc 11
1 Khủng hoảng kinh tế xã hội triền miên 11
2 Văn hóa nông nghiệp lúa nước mở rộng về phương Nam 12
3 Đời sống tinh thần trong tình trạng chia đôi đất nước 13
4 Ý nghĩa văn hóa của Tây Sơn – Quang Trung 14
5 Phong kiến nhà Nguyễn nhìn từ góc độ văn hóa học 15
6 Về di sản văn hóa thời Nguyễn 16
7 Lời kết chung 16
Trang 3I Thời kì văn hóa phong kiến quý tộc
1 Vũ công với chế định văn hóa
Âm mưu xâm lược - thống trị nước ta ngày càng quyết liệt Từ những đời nhà Đường, quân Nam Hán hay đặc biệt là quân Mông Nguyên bị lật đổ đều là những công lớn của Ngô Quyền, Đinh, Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, nhà Trần thống nhất đất nước do được tiếp thu tinh hoa từ Tần Thủy Hoàng từ vũ công mà thống nhất được Trung Hoa
Chế định văn hóa đã có mặt từ rất lâu đời, đặc biệt là vũ công với chế định văn hóa được thể hiện qua bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta - “Nam Quốc sơn hà" Hay
là được thể hiện qua tinh thần bình đẳng từ văn hóa nông nghiệp lúa nước đẻ ra tinh thần bình đẳng từ Phật giáo và Nho giáo
2 Chế định văn hóa từ sự hòa mục
Biểu hiện ra những khía cạnh:
Nghề canh tác nông nghiệp lúa nước - Người xưa coi trọng việc canh tác nông nghiệp, mở nhiều lễ hội vào đầu xuân để khuyến khích nhân dân yêu mến chăm lo cái nghề nuôi sống con người
Vấn đề trị thủy
Động lực tạo nên sự hòa mục giữa Vua Nước với Dân Làng là cốt cách của con người văn hóa nông nghiệp lúa nước giàu long tương thân tương ái
=> Trải qua rất nhiều thế kỉ, nếu không có các vũ công thì nền văn hóa có nguy cơ trở lại như thời Bắc thuộc
3 Nói về chính chất văn hóa phong kiến quý tộc
Đất đai và của cải trong một nước đều là của vua Vua trả lương cho quan lại bằng cách cấp đất và cư dân trên đó Người dân trên đất đai đó có trách nhiệm tổ chức cày cấy để tự nuôi sống mình và làm giàu cho quý tộc được cấp đất Từ chế độ phong hầu kiến ấp này mà gọi thành chế độ phong kiến
Có sự khác biệt trong chế độ phong kiến giữa các đời vui như đời nhà Lý, nhà Trần, thời Lý - Trần như trong chính sách phân chức vụ, phân đất, việc tuyển lựa quan lại cũng có sự khác biệt …
4 Tiếp thu văn hóa ngoại nhập
Trang 4Các triều đại Đinh - tiền Lê - Lý - Trần đã tiếp thu cả Phật giáo và Nho giáo trong việc xây dựng nền văn hóa phong kiến quý tộc cho riêng mình Lịch sử nước ta từ đầu Công nguyên đến cận hiện đại bao giờ Nho giáo và Phật giáo cũng song song thịnh hành
Văn hóa Phật giáo: Khai quật trong lòng đất kinh đô Hoa Lư ta thấy hàng chục cột
đá khắc kinh Phật của vua Đinh Tiên Hoàng, nhà vua cho dựng chùa Một Cột làm nơi thờ Phật Ở thời vua Lý Thái Tổ thì vua đã cho xây chùa tới 8 sở ở Phủ Thiên Đức, lại còn cho trùng tu nhiều chùa quán ở kinh sư…
Phật giáo được tôn sùng ở thời Lý - Trần là vì triết lý nhà Phật phù hợp với triết lí thác sinh cư dân nông nghiệp, Phật đã nêu cao tinh thần bình đẳng bác ái, tinh thần đấu tranh chống xâm lược thời Bắc thuộc, tinh thần coi trọng xây dựng đất nước
Tầng lớp quý tộc không cần phải bỏ nhiều công sức để dùi mài kinh sử mà cứ nghiễm nhiên được lên làm quan theo chế độ nhiệm tử con nối nghiệp cha, “phú quý sinh lễ nghĩa" Vì thế mới có quan niệm: hễ nơi nào có núi cao cảnh đẹp thì vua chúa quý tộc mới bỏ tiền ra dựng chùa làm nơi thời Phật “Danh lam thắng cảnh" - nơi thắng cảnh nổi tiếng có chùa thờ Phật
Nơi nào có núi cao cảnh đẹp còn để lại đến nay, chùa ấy thường gắn với núi rừng Chùa chiền luôn được đề cao trong lịch sử văn hóa của Việt Nam được thể hiện qua mọi đời vua: nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, …
Nho giáo: Xây dựng chế độ phong kiến thì rất mực tôn vua - thiên tử Như vậy, suốt thời Đinh - tiền Lê - Lý - Trần, cùng với Phật giáo còn tiếp thu cả Nho giáo để xây dựng văn hóa phong kiến quý tộc Đồng thời có một khía cạnh suốt các thời Đinh - Tiền
Lê - Lý - Trần đều lấy chữ Nho làm văn tự, dung chữ Nho làm công cụ tư duy trong văn bản hành chính và sáng tác văn thơ, từ đó tất yếu đã đẻ ra tầng lớp Nho sĩ giỏi như nhiều Trạng Nguyên, nhà nho viết sử xuyên suốt các thời kì, …
Thời kỳ văn hóa phong kiến quý tộc Đinh - tiền Lê - Lý - Trần tiếp thu Phật giáo
đã tạo ra những giá trị văn hóa vật thể chùa, tháp, tượng Phật, núi cao cảnh đẹp, … Còn tiếp thi Nho giáo mở rộng ra là văn hóa Trung Hoa mới góp vào dòng chảy chính xây dựng văn hóa phong kiến quý tộc
5 Một nền văn hóa bác học Hán Nôm phong phú
5.1 Văn học chức năng
Văn học chức năng có nghĩa là văn học mang chức năng ghi chép lại những sự kiện lịch sử Từ những thời như Khúc Thừa Dụ, Ngô Quyền, vua Lý Thái Tổ … đã ghi
Trang 5chép lại những sự kiện lịch sử quan trọng nhưng cũng không kém hùng hồn về truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân nước mình
5.2 Văn học Phật giáo
Do các nhà sư hoặc các nhà làm vua hâm mộ Phật giáo, sáng tác văn học nhằm ca tụng Phật nên mảng văn hóa này vô cùng phong phú Tuy nhiên xuất hiện một số quan niệm chính như:
Phật là trở về với tính không (vô sinh vô tử)
Phật là bản thể chân như (bản tính vật chất không thay đổi)
Phật là tâm
5.3 Văn học với tầng lớp Nho sĩ
Sang thời Trần, Nho giáo dần được coi trọng, xuất hiện tầng lớp Nho sĩ, nhiều người sáng tác thơ văn để lại đến nay nhiều tác giả tên tuổi Trong đó có phải kể đến như: Trương Hán Siêu (? - 1354), Chu Văn An (? - 1370), Phạm Sư Mạnh, Trần Nguyên Đán (1325 - 1390), Nguyễn Phi Khanh (1355 - 1428), …
6 Sự suy tàn của văn hóa phong kiến quý tộc
Kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc còn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, hạn lụt thì mất mùa ập đến, đói kém diễn ra ngày , xã hội lâm vào mất ổn định Mặc dù là vũ công đánh đuổi quân xâm lược, tuy nhiên họ không được làm chủ trên những mảnh ruộng
mà họ cày cấy Đã xuất hiện những cuộc nổi dậy, phất cờ khởi nghĩa chống lại chính quyền phong kiến do có cách cai quản bất công, không được lòng dân, vua ăn chơi sa đoạ,
ví dụ như vua Trần Dụ Tông “bắt dân phu đào hồ lớn ở vườn thượng uyển, chặt đá làm núi, cho chở nước biển đổ vào nuôi hải sản làm nơi vui chơi” …
Vì vậy, năm 1400, Hồ Quý Ly thay ngôi họ Trần lập ra nhà Hồ nhằm biến đổi văn hóa phong kiến quý tộc cuối thời Trần thành một nền văn hoá khác, những cải cách như chính sách bạn điền bạn nô, ban hành tiền giấy, hàn chế Phật giáo và coi trọng Chu Công
và Khổng Tử, đề cao Nho giáo
Không những thế, Hồ Quý Ly còn tổ chức kháng chiến chống quân Minh xâm lược tuy nhiên vẫn bị thất bại dưới tay nhà Minh chỉ trong vòng hơn một năm (cuối 1406 đầu 1407)
Nguyên nhân thất bại là do sự suy tàn của văn hoá phong kiến quý tộc cuối thời Trần không còn đủ sức để chống lại văn hoá phong kiến phương Bắc xâm lược, trong đó
Trang 6có cả Hồ Quý Ly Tầng lớp quý tộc không còn đủ niềm tin để hoà mục với Dân - Làng.
Họ vùng lên để chống lại Vua - Nước, nên không còn đủ sức mạnh văn hoá để lập nên vũ công
Tóm lại, văn hoá phong kiến quý tộc Việt Nam cuối triều Trần, trong đó có cả Hồ Quý Ly đã ở vào lúc suy tàn không còn đủ sức để chiến thắng văn hoá phương Bắc xâm lược, đưa nước ta vào một thách thức gay go và quyết liệt
II Thời kì văn hóa phong kiến quan liêu ở đỉnh cao:
Sau khi văn hoá phong kiến quý tộc đi vào suy thoái, giặc Minh xâm lược chiếm đóng nước ta Khi Lê Lợi đánh đuổi được giặc Minh xâm lược, ông coi trọng khoa bảng Nho học nhưng không mang tính chất văn hoá của chế độ phong kiến nên không thể gọi
là văn hoá phong kiến Nho giáo, mà phải gọi là văn hoá phong kiến quan liêu Nhìn chung, phong kiến quan liêu khác phong kiến quý tộc ở chỗ:
Quan hệ sản xuất là quan hệ địa chủ - tá điền
Chế độ tuyển lựa quan lại cho bộ máy nhà nước thay đổi Phải qua học tập khoa bảng có bằng cấp, kể cả dòng họ nhà vua cũng phải qua khoa bảng có học vị mới được bổ nhiệm làm quan
Vì vậy, mặc dù vẫn chung nền kinh tế nông nghiệp lúa nước nhưng các quan hệ xã hội khác hẳn nhau giữa các thời kì nền đã tạo ra được sự hoà mục giữa Vua - Nước với Dân - Làng, tạo ra được động lực văn hoá cho sự phát triển
Phong kiến quan liêu vẫn tiếp tục dòng chảy của phong kiến Việt Nam từ lúc được khởi lập Qua thời Đinh - tiền Lê - Lý - Trần gọi là phong kiến quý tộc, nhưng sang thời
Lê sơ (kéo dài 100 năm), qua thời Lê mạt cho đến hết thời Nguyễn gọi chung là chế độ phong kiến quan liêu Thời kì phong kiến quan liêu mang bản chất của yếu tố văn hóa tiền
tư bản chủ nghĩa, nếu phát triển thì sẽ thay thế yếu tố tiền phong kiến quan liêu, vậy nên gọi thời kì này là giai đoạn thời kì văn hóa phong kiến quan liêu ở đỉnh cao
1 Ý nghĩa văn hóa của vũ công Lê Lợi thắng Minh
Giặc Minh đã gây ra biết bao tang tóc đau thương cho đất nước ta Chúng triệt phá tận gốc, huỷ tận rễ văn hóa Việt Nam Chúng xóa tên nước Đại Việt, biến chúng ta thành quận Giao chỉ Chúng có âm mưu phá tan những văn minh nông nghiệp xóm làng Việt Nam - nền tảng vững chắc nhất để văn hóa Việt Nam tồn tại và phát triển Chúng chém giết đồng bào nước ta không ghê tay …
Trang 7Dân tình trở nên khốn đốn, văn hóa dân tộc đứng trước một thử thách hiểm nghèo Tuy nhiên, không có vũ công thì không thể giải quyết được tình trạng đó, vũ công với chế định văn hóa liền diễn ra
Những cuộc khởi nghĩa nổi dậy dần đi đến thất bại Đến cuối cùng, nghĩa quân Lam Sơn đã làm được điều đó - chiến thắng văn hóa phong kiến phương Bắc xâm lược trong tình thế văn hóa Việt Nam như ngàn cân treo sợi tóc, đem lại sức mạnh văn hóa vô cùng lớn cho dân tộc Đại Việt lúc bấy giờ.
Bên cạnh công lao của Lê Lợi trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi cũng góp một phần không nhỏ, ông làm cho sức bật Dân - Làng nâng lên một tầm cao văn hóa trí tuệ hơn
Theo quan điểm của Nguyễn Trãi, ta nên phát huy mạnh chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân và đánh địch không chỉ bằng quân sự (cường bạo) mà còn đánh vào lòng người (chí nhân đại nghĩa)
Tuy vậy văn hóa đánh giặc chỉ có thể vận hành hợp với thực tế mới đem lại hiệu quả tốt đẹp:
Chiến lược dụ hàng tướng giặc của Nguyễn Trải chỉ đem lại kết quả là về giai đoạn sau, khi nghĩa quân đang ở vào thế thắng đang lần lượt vay hãm quân giặc
Lòng dân uất hận giặc Minh Tuy nhiên, tụ nghĩa Lam Sơn là sức mạnh văn hóa Dân - Làng đã bị tách xa nên không thể phát triển lên được Biểu hiện ở việc không
có chế định văn hóa phù hợp sẽ không thể có vũ công.
Đến cuối năm 1424, nghĩa quân mới vượt rừng núi tiêu diệt các đồn lẻ tẻ của giặc, tiến vào Nghệ An, gặp các cuộc thồ bào lãnh đạo nhân dân chống giặc Minh như cá gặp nước Được người dân chi viện, hưởng ứng, cung cấp lương thực, cho con em nhập ngũ Dần dần tiến ra Bắc, tiêu diệt các mũi nhọn của giặc, bắt tướng giặc Minh Vương Thông
kí giấy đầu hàng
Như vậy, ta có thể thấy, thời gian phát triển mở rộng chỉ bằng một nửa thời gian nghĩa quân cố thủ ở Lam Sơn - Chí Linh Có thể thấy một khi chế định văn hóa đã phù hợp với quy luật thì vũ công ắt được khẳng định Giặc Minh xâm lược thống trị đã động chạm sâu sắc đến sức mạnh văn hóa nông nghiệp lúa nước Việt Nam Đã huy động được sức mạnh của các văn minh xóm làng trong cả nước, tổ hợp thành sức mạnh văn hóa dân tộc để chiến thắng giặc Minh xâm lược
Trang 8Ý nghĩa văn hóa của vũ công Lê Lợi thắng Minh là nhằm giải quyết bất hòa cố hữu giữa văn hóa phong kiến phương Bắc nhằm xây dựng nền văn hóa độc lập tự chủ của nhân dân ta - nghề nông nghiệp lúa nước Nhà - Làng - Nước gắn liền làm một
Để xây dựng nền văn hóa như vậy, tổ tiên chúng ta đã học hổi và tiếp thu văn hóa ngoại nhập để xây dựng văn hóa dân tộc Việc Lê Lợi thắng Minh về quân sự đã là thắng Minh về văn hóa tổ chức, động viên, chiến lược, chiến thuật trong chiến tranh Việc đề cao Nho giáo để xây dựng nền văn hóa của mình không phải là hành động để thua nhà Minh Những văn sĩ của đất nước ta ngày xưa đã từng trưởng thành từ Nho giáo
2 Đặc trưng văn hóa phong kiến quan liêu
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế ở Thăng Long, khôi phục tên nước là Đại Việt, xây dựng thời Lê sơ và Lê mạt Trải qua rất nhiều các đời vua, văn hóa phong kiến quan liêu (hay còn gọi là văn hóa Đại Việt) đạt đến đỉnh cao của nó và có những đặc trưng cơ bản sau:
- Văn hóa sản xuất: Vua Lê Thái Tổ đặt ra lệ không phong con cháu đi trấn trị các nơi, vì vậy ngay từ thời Lê sơ đã không có phong hầu kiến ấp Nền tảng kinh tế vẫn là nông nghiệp lúa nước nhưng khác nhau ở chỗ chiếm dụng ruộng đất:
Ruộng quốc khố (ruộng thu hoa lợi nhập vào kho nhà nước)
Ruộng của nhà nước đem làm lộc điền thưởng cho người có công trạng
Ruộng công làng xã
- Cứ 6 năm ruộng công làng xã lại được chia đều cho các thành viên trong xã (từ quan ngũ phẩm trở xuống) :
10 phần dành cho quan tam phẩm chưa được cấp ruộng
9,5 phần dành cho ngũ phẩm
9 phần dành cho lục phẩm
Binh sĩ được cấp từ 5-8,5 phần
Hạng lão: 3,5 phần
Mồ côi tàn phế được cấp 3 phần
Ruộng đất tư hữu của nông dân hoặc địa chủ bình dân thì họ tự cày cấy, hoặc phát canh cho tá điền nộp tô cho chủ
Các vua triều Lê sơ cũng ra sức chăm lo đến việc trị thủy khía cạnh quan trọng hàng đầu của sản xuất nông nghiệp lúa nước năm 1438 Vua lê Thái Tông cho khai lại các kênh ở trường Yên thanh hóa Nghệ an các thừa tuyên đều được đặt chức quan hà đê để phối hợp với các quân khu chăm lo sửa đắp đê điều mỗi xã phải có một xã quan chuyên lo việc đê điều, đê vỡ triều đình lập tức khám xét huy động nhân dân đi cứu đê
Trang 9Ở thời Lê sơ còn mở ra quan hệ địa chủ - tá điền đã giải phóng được sức lao động phát triển sản xuất đồng thời nhà nước ra sức chăm lo đến việc trị thủy, vấn đề không thể coi nhẹ trong sản xuất nông nghiệp lúa nước tạo động lực văn hóa quan trọng hàng đầu cho sự phát triển
Sản xuất nông nghiệp dư thừa trở thành hàng hóa, mạng lưới chợ quê ra đời Nông nghiệp phát triển đời sống được nâng lên thì nhu cầu hàng tiêu dùng cũng tăng lên, nhiều làng nông nghiệp chuyển sang chuyên sản xuất các mặt hàng thủ công nghiệp như Bát Tràng, Hương Canh, Thổ Hà chuyên sản xuất đồ gốm, ở Hải Dương có làng Mao Điền chuyên dệt vải và làng Huê Cầu chuyên nhuộm thâm làng Đồng Tỉnh chuyên chế biến thuốc bắc.
Ở thời Lê sơ ngoại thương cũng được mở rộng, thuyền buôn các nước láng giềng vẫn qua lại buôn bán, các mặt hàng sành sứ vải lụa, lâm sản quý hiếm
Nhà Lê sơ đúc tiền đồng quy định rõ 1 quan bằng 10 tiền 1 tiền bằng 60 đồng, vua xuống chiếu “kinh sư và các nơi của bốn phương tiên của trao đổi tất cả phải cho lưu thông đủ dùng”
Ruộng đất đã thực sự trở thành hàng hóa Trên nền tảng kinh tế nông nghiệp lúa nước nhưng đến thời Lê sơ mở ra mối quan hệ mới trong diễn trình sản xuất là quan hệ địa chủ - tá điền giải phóng được sức lao động đưa năng suất nông nghiệp lên cao sản phẩm nông nghiệp dư thừa trở thành hàng hóa kéo theo công thương nghiệp phát triển Như vậy trong lòng văn hóa phong kiến quan liêu thời Lê sơ đã xuất hiện những yếu tố văn hóa tiền tư bản chủ nghĩa Thời Lê sơ đạt đỉnh cao văn hóa phong kiến quan liêu vì nó
đã tạo ra yếu tố khác để thay thế nó điều này còn thể hiện ở khía cạnh văn hóa chính trị xã hội: Có ý nghĩa trong chính sách tuyển lượng quan lại phục vụ cho bộ máy nhà nước Vua
Lê Thái Tổ đã đặt ra lệ không giao cho con cháu chức vụ quan trọng trong triều nếu không có tài, học hành kém Bên cạnh đó vua Lê Thái Tổ đã cho mở khoa thi “Minh kinh” ở kinh đô mọi người có học đều có thể tham dự Các hương xã kê khai những sĩ tử không phân biệt giàu nghèo đến các lị sở phủ lộ ghi tên lập danh sách cho các kỳ thi Hương Đời vua Lê Nhân Tông mở khoa thi Hội đầu tiên ở kinh đô lấy 33 người đỗ Tiến
sĩ, từ đây nhà nước bắt đầu cho dựng bia Tiến sĩ ở Văn Miếu, mỗi khoa thi Hội dựng một bia khắc tên của tất cả những người đỗ Tiến sĩ trong khoa thi đó Cứ ba năm một lần năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội còn thi Đình thì không thường lệ khi nào cần thiết tuyển dụng nhân tài cấp cao thì tổ chức thi Đình cho những người đã đỗ tiến sĩ để chọn Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Việc khoa bảng Nho học ở thời Lê sơ cho đến đời vua Lê Thánh Tông đã đạt đến đỉnh cao quy củ trong 38 năm trị vì nhà vua đã
tổ chức 12 khoa thi Hội, lấy đỗ 501 Tiến sĩ trong đó thi Đình lấy đỗ 9 Trạng nguyên Vua
Trang 10Lê Hiến Tông : “Nhân tài là nguyên khí của quốc gia nguyên khí mạnh thì trị đạo mới thịnh”
Thời Lê sơ ngay từ đầu đã đề cao khoa bảng Nho học để đáp ứng yêu cầu của tầng lớp xã hội mới hình thành từ cuối thời Trần; đó là tầng lớp địa chủ bình dân Tầng lớp đó
có tiềm lực kinh tế, họ yêu cầu vươn lên nắm quyền lực chính trị Khoa bảng được đề cao
mở ra ra tạo động lực văn hóa thúc đẩy phát triển kinh tế mọi tầng lớp nông dân hay địa chủ bình dân đều phải chăm lo phát triển sản xuất để có tiềm lực kinh tế cho con em học tập khoa bảng đỗ đạt có học vị ra làm quan nắm lấy quyền lực chính trị, có bổng lộc nhiều thì quay lại phát triển sản xuất nâng cao kinh tế đó là một vòng động lực văn hóa phù hợp nhất cho phát triển kinh tế xã hội lúc bấy giờ
Như thế đề cao khoa bảng ai có tiềm lực kinh tế thì vươn lên nắm lấy quyền lực chính trị rồi lại quay lại làm giàu một kiểu vận hành mang tính chất tư bản chủ nghĩa.Ttóm lại văn hóa phong kiến quan liêu thời Lê sơ cả về hạ tầng kinh tế và thượng tầng kiến trúc xã hội đều có những yếu tố văn hóa tư bản chủ nghĩa trong lòng nó
3 Phát triển văn hóa tinh thần ở thời Lê sơ
Từ việc coi trọng khoa bảng nho học khuyến khích các sĩ tử đua nhau dùi mài kinh
sử trau dồi kiến thức từ đó nhân tài nở rộ phát triển văn hóa tinh thần ở thời Lê sơ biểu hiện ra các mặt văn học, lịch sử, địa lý, âm nhạc…
Về văn học có Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, vua Lê Thánh Tông và hội nhị thập bát tú, Nguyễn Húc, Thái Thuận đều là những tác giả có tên tuổi trong nền văn học lúc bấy giờ
Về sử học có “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Việt giám thông khảo” của Vũ Quỳnh
“Đại Việt lịch đại sử ký” và “Việt giám vịnh sử” của Đặng Đình Khiêm
Về địa lý có “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “An Nam hình thắng đồ” của Đàn Văn
Lễ và “Hồng Đức bản đồ”
Âm nhạc tương đối phát triển, triều đình cử người chế định nhã nhạc dùng trong các lễ nghi trong cung đình
4 Vua Lê Thánh Tông với đỉnh cao văn hóa phong kiến quan liêu.
Lê thánh tông làm vua từ năm 1460 đến năm 1497: “Vua sáng lập chế độ vạn vật khả quan, mở mang đất đai bờ cõi là bậc vua anh hùng tài lược đến Vũ Đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường cũng không thể hơn được” Trong những năm niên hiệu Quang thuận và Hồng Đức thì sự văn tự và võ công phát triển rực rỡ mở thêm bờ cõi khiến cho nước Nam bấy giờ văn minh thêm và lừng lẫy một phương, kể từ xưa cho đến nay chưa bao giờ được vững thịnh như vậy