1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020

15 901 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là nước nông nghiệp với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng

Trang 1

Bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2006-2010

và định hướng đến năm 2020

I THỰC TRẠNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂN NUÔI

1 Chất thải vật nuôi và nguy cơ ô nhiễm môi trường

Việt Nam là nước nông nghiệp với khoảng 73% dân số sống ở vùng nông thôn, phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước hết sức chú trọng, trong đó có phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động phát triển chăn nuôi Những năm qua, chăn nuôi có

sự tăng trưởng nhanh cả về quy mô và giá trị Tuy vậy, tại một số địa phương do chăn nuôi thiếu quy hoạch đã gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng Nếu không được xử lý triệt để, các chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống và sức khoẻ của cộng đồng dân cư

Theo tính toán của các chuyên gia, hàng năm tổng đàn gia súc, gia cầm của nước ta thải vào môi trường khoảng 84-85 triệu tấn chất thải rắn Đây là một trong các nguồn chất thải lớn có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn nước

ta Bên cạnh đó, một khối lượng lớn chất thải sinh hoạt, chất thải làng nghề, chất thải nông nghiệp khác được thải ra môi trường

1.1 Phát thải khí nhà kính(GHG - Green House Gas) từ hoạt động chăn nuôi

Phát thải GHG từ hoạt động chăn nuôi xuất phát từ 2 nguồn:

Từ phân chuồng: trong đó khí methane thoát ra dưới các điều kiện lưu trữ

kỵ khí và khí nitơ oxít dưới sự kết hợp của các điều kiện kỵ khí và hảo khí (nitrat hóa-khử nitrat)

Trang 2

Từ quá trình lên men đường ruột của gia súc: Đây là nguồn phát thải chủ

yếu xuất phát từ động vật nhai lại (ví dụ bò, cừu và dê), trong đó sự phân hủy chất hữu cơ ở dạ cỏ làm phát thải methane chủ yếu từ quá trình ợ khí từ dạ dày

Lên men đường ruột chiếm 69% nguồn phát thải khí chính trong ngành chăn nuôi Tổng lượng phát thải khí trong năm 2000 đối với lên men đường ruột là 7,7 MtCO2 và 3,5 MtCO2 đối với việc quản lý phân chuồng

1.2 Dự báo về lượng phát thải từ chăn nuôi

Ngày nay ô nhiễm môi trường là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nhân loại Ô nhiễm môi trường không còn là vấn đề của một quốc gia hay một khu vực mà đã trở thành vấn đề toàn cầu Chất thải chăn nuôi là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn trong ngành sản xuất nông nghiệp Theo tính toán của FAO, ngành chăn nuôi của thế giới phát thải tới 18% tổng số khí nhà kính quy đổi theo CO2 Trong đó, khoảng 65% lượng NO2, 37% lượng CH4 và 64% lượng NH3 Đây là những chất phát thải chính gây hiệu ứng nhà kính Dự báo trong các năm tới lượng khí thải từ chăn nuôi sẽ tiếp tục gia tăng do sự phát triển của ngành chăn nuôi

Vì vậy, việc hạn chế tác động xấu của chất thải vật nuôi đến môi trường là mối quan tâm của nhiều quốc gia, trong đó có nước ta

Bảng 1: Khối lượng chất thải rắn vật nuôi

Tổng số đầu con năm 2010 (tr.con)

Chất thải rắn bình quân (kg/con/ngày)

Tổng chất thải rắn/năm (tr.tấn)

Trang 3

4 Gia cầm 300,50 0,2 21,94

(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2010)

2 Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường trong hoạt động chăn nuôi

Hiện nay, cả nước có hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến các địa phương Ở Trung ương, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ về công tác quản lý nhà nước về môi trường

Ngoài Bộ Tài nguyên & Môi trường có 12 bộ, ngành tham gia quản lý nhà nước về môi trường bao gồm Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công thương, Bộ Y

tế, Bộ Xây dựng, Bộ Công An, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá Thể thao và

Du lịch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thống kê Trong đó các đơn vị được phân công theo dõi trực tiếp

về môi trường như sau:

Tại Bộ Nông nghiệp và PTNT, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường là đầu mối giúp Bộ kiểm tra, đôn đốc các hoạt động bảo vệ môi trường toàn ngành; chủ trì thẩm định các báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đồng thời tổ chức giám sát, kiểm tra việc triển khai kết quả thực hiện đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường trong của các dự án đã được phê duyệt; chủ trì tổ chức việc nhập, phổ biến, chuyển giao công

Trang 4

nghệ mới; nâng cấp hệ thống quan trắc môi trường; xây dựng trang Web cảnh báo môi trường nông nghiệp; tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền

Các Cục chuyên ngành chịu trách nhiệm trước Bộ về quản lý Nhà nước công tác môi trường thuộc lĩnh vực được phân công; đề xuất các cơ chế chính sách; tổ chức các mô hình quản lý môi trường hiệu quả; tuyên truyền giáo dục cộng đồng nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm

Tại một số Cục có các phòng chuyên theo dõi về môi trường Tại Cục Chăn nuôi

có Phòng Môi trường Chăn nuôi chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường chăn nuôi trong phạm vi toàn quốc

Tại các địa phương, ngoài 3 Chi Cục Môi trường vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam bộ và Bắc Trung bộ và Tây nguyên, hiện nay tại 44 tỉnh, thành phố có các Chi cục quản lý môi trường làm chức năng quản lý nhà nước về môi trường

Hiện nay, hệ thống văn bản quản lý nhà nước về môi trường tương đối nhiều, trong đó có một số văn bản liên quan đến môi trường chăn nuôi Những năm qua, từ trung ương đến các địa phương, công tác tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước đã được chú trọng và bước đầu đã đạt được một số tiến bộ

Với hệ thống tổ chức như trên, công tác quản lý môi trường nói chung và môi trường trong chăn nuôi nói riêng do rất nhiều cơ quan đơn vị ở trung uơng và địa phương đảm nhiệm Do đó để bảo đảm hiệu quả trong công tác quản lý cần có

sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nêu trên Tuy nhiên, trên thực tế sự phối hợp còn nhiều bất cập Do hệ thống tổ chức chưa thống nhất, nên công tác quản lý nhà nước về môi trường trong chăn nuôi tại hầu hết các địa phương vẫn còn nhiều bất cập Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và môi trường còn thiếu chặt chẽ và thường xuyên, chưa phân cấp rõ ràng giữa các tổ chức này để tránh sự chồng chéo hoặc bỏ trống nhiệm vụ

3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi những năm qua

3.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ của Cục Chăn nuôi

Trang 5

Sau khi Cục Chăn nuôi được Bộ cho thành lập phòng Môi trường Chăn nuôi, công tác quản lý môi trường trong hoạt động chăn nuôi đã được chú trọng Sau đây

là một số kết quả bước đầu

a) Công tác xây dựng văn bản

- Tham gia soạn thảo “Chương trình Bảo vệ và cải thiện môi trường nông nghiệp, nông thôn tới năm 2020”

- Tham gia xây dựng “Chiến lược về bảo vệ môi trường trong chăn nuôi và thú y giai đoạn 2010 – 2020”

- Ban hành một số văn bản chỉ đạo về bảo vệ môi trường chăn nuôi tại một

số địa phương xảy ra sự cố về ô nhiễm môi trường

- Tổ chức xét duyệt và ban hành Quyết định công nhận 4 tiến bộ kỹ thuật về môi trường

- Hoàn thành xây dựng dự thảo các văn bản, đã thông qua hội đồng nghiệm thu và đang trình Bộ phê duyệt:

+ Thông tư Quy định về bảo vệ môi trường đối với hoạt động chăn nuôi + Hướng dẫn kỹ thuật lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự

án chăn nuôi

+ Hướng dẫn kỹ thuật về xử lý chất thải trong chăn nuôi

+ Tiêu chuẩn Việt Nam Công trình khí sinh học nhỏ

- Đang triển khai xây dựng các dự thảo văn bản:

+ Đề án bảo vệ môi trường trong chăn nuôi

+ Báo cáo tình trạng môi trường lĩnh vực chăn nuôi gia súc

+ Quy chuẩn quốc gia về nước thải chăn nuôi

Trang 6

+ Tiêu chuẩn Việt Nam về công trình khí sinh học composite.

b) Chỉ đạo về công tác quản lý môi trường trong chăn nuôi

Trong những năm qua, Cục Chăn nuôi đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh tổ chức tổ chức các hội thảo, hội nghị tập huấn phổ biến và triển khai thực hiện các văn bản quy định về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi Đồng thời tổ chức, kiểm tra công tác quản lý môi trường trong chăn nuôi tại một số địa phương, chính vì vậy việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong chăn nuôi tại các địa phương đã có những chuyển biến tích cực Tình hình ô nhiễm môi trường do chăn nuôi bước đầu được cải thiện Trong 2 năm 2009-2010 Cục đã triển khai các hoạt động cụ thể sau đây:

- Điều tra, đánh giá công tác quản lý môi trường trong sản xuất chăn nuôi tại tỉnh Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Sơn La, Phú Thọ, Yên Bái, Nghệ An, Quảng Nam, Bình Thuận, TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng, Tiền Giang và Bến Tre

- Kiểm tra, đánh giá về xử lý chất thải chăn nuôi và đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long

- Khảo sát, đánh giá điều kiện vệ sinh trong chăn nuôi tại một số cơ sở chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ tại tỉnh Hưng Yên, Nghệ An và Hà Tĩnh thuộc Chương trình kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm trong chăn nuôi, chất lượng thức ăn chăn nuôi

- Tổ chức triển khai các dự án về phát triển chương trình khí sinh học tại hơn

40 tỉnh thành phố trong cả nước Kết quả của các dự án đã và đang góp phần quan trọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi

3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ của các địa phương

Trang 7

Đồng thời với việc khuyến khích phát triển chăn nuôi, trong những năm qua, nhiều địa phương cũng đã quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường Tại một số tỉnh đã ban hành các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi như Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp, Khánh Hòa v.v

Một số tỉnh đã ban hành các quy định cụ thể về điều kiện chăn nuôi để bảo đảm về môi trường;

Công tác tuyên truyền hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn đánh giá tác động môi trường đối với các cơ sở chăn nuôi lớn và đăng ký cam kết bảo vệ môi trường đối với cơ sở chăn nuôi nhỏ cũng đã được triển khai

Sở Nông nghiệp và PTNT và Sở Tài nguyên và Môi trường một số tỉnh đã phối hợp để kiểm tra xử lý các trường hợp vi phạm về môi trường, đồng thời tổ chức đánh giá tác động môi trường cho các dự án đầu tư về lĩnh vực chăn nuôi Nhiều trường hợp vi phạm về quản lý môi trường chăn nuôi đã được kịp thời xử lý

và khắc phục hậu quả

Nhờ các hoạt động đó mà tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi đã từng bước được khắc phục và ngăn ngừa tại một số địa phương

4 Thực trạng xử lý chất thải trong hoạt động chăn nuôi

Hiện nay ở nước ta, phương thức chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn Vì vậy, việc xử lý và quản lý chất thải vật nuôi ở nước ta gặp nhiều khó khăn Những năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng 3 biện pháp chủ yếu sau đây: (1) chất thải vật nuôi thải trực tiếp ra kênh mương và trực tiếp xuống ao, hồ; (2) chất thải được ủ làm phân bón cho cây trồng; (3) là chất thải chăn nuôi được xử

lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas) Bên cạnh đó còn có một số phương pháp khác, nhưng chưa được nhân rộng như xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình ), xử lý bằng hồ sinh học

Trang 8

Theo kết quả thống kê năm 2010, cả nước có khoảng 8.500.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi quy mô hộ gia đình; khoảng 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn phần lớn có hệ thống xử lý chất thải với các loại công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để Chăn nuôi hộ gia đình mới có khoảng 70% tương ứng với khoảng 5.950.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi, trong đó mới có khoảng 8,7% hộ chăn nuôi có công trình khí sinh học (hầm Biogas) Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10% Còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi và chỉ có 0,6% số hộ có cam kết bảo vệ môi trường Số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng biogas khoảng 67% Trong đó chỉ có khoảng 2,8% có đánh giá tác động môi trường

Bảng 2: Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi

Quy mô,

phương thức

chăn nuôi

Số lượng

Tỷ

lệ % Số lượng

Tỷ lệ

%

Số lượng

Tỷ

lệ %

Số lượng

Tỷ

lệ %

Số lượng

Tỷ

lệ %

Số lượng

Tỷ lệ

%

Có đánh giá

tác động môi

trường

1.047 2,8

Có cam kết

Có xử lý chất

thải kiên

cố/bán kiên cố

24.729 66,9 506.988 8,7 15.113 2,1 38.169 7,5 21.663 2,4 60.872 4,5

Có xử lý chất

thải truyền

thống (ủ, bán,

nuôi cá, tưới

cây)

11.626 31,5 4.009.883 68,3 623.883 85,4 279.602 55,3 797.915 87,5 811.468 59,3

Không xử lý 602 1,6 1.357.292 23,1 91.705 12,6 191.888 37,2 92.034 10,1 495.109 36,2

Nguồn: Báo cáo công tác BVMT trong chăn nuôi năm 2009.

Trang 9

Do nhiều nguyên nhân khiến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi vẫn còn nhiều mặt tiêu cực, tình trạng gây ô nhiễm môi trường của một

số cơ sở chăn nuôi lớn và chăn nuôi trong khu dân cư vẫn chưa được khắc phục triệt để và có chiều hướng gia tăng

5 Các chính sách hỗ trợ bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi

Những năm qua, thông qua các dự án đầu tư của nhà nước và quốc tế, nhiều biện pháp về xử lý chất thải chăn nuôi đã và đang được áp dụng có hiệu quả Trong

đó phải kể đến chương trình khí sinh học đã và đang mang lại nhiều lợi ích quan trọng về môi trường, kinh tế xã hội Một số chương trình, dự án lớn đang triển khai sau đây:

- Chương trình vệ sinh nước sạch môi trường nông thôn: Tại Quyết định số 277/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định trong giai đoạn 2006 –

2010, các trại chăn nuôi và chất thải gia súc phải được điều chỉnh để đạt các yêu cầu về giảm ô nhiễm nguồn nước và môi trường Trong quyết định này có chính sách hỗ trợ xây dựng các công trình khí sinh học, cải tạo, xây dựng mới chuồng trại chăn nuôi bảo đảm vệ sinh môi trường

- Chương trình khí sinh học (KSH): Sản xuất KSH từ chất thải chăn nuôi được xem như là con đường đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất carbon thấp, góp phần hạn chế biến đổi khí hậu toàn cầu Với những lý do đó lần đầu tiên Bộ Nông nghiệp và PTNT đề xuất và đã được Chính phủ phê duyệt một Hợp phần phát triển chương trình KSH bằng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Hợp phần này thuộc Dự án Nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình KSH (gọi tắt là dự án QSEAP-BD), đang được triển khai tại 16 tỉnh, thành phố

Theo đó dự án hỗ trợ tối thiểu 1,2 triệu/công trình KSH Dự kiến từ năm

2012 sẽ tăng lên 2,5 triệu đồng/công trình KSH Đồng thời dự án còn hỗ trợ tín dụng ưu đãi để cho nông dân vay xây dựng công trình khí sinh học Thông qua

Trang 10

kênh tín dụng này người dân có thể vay từ 10 triệu đến hàng trăm triệu đồng để mở rộng quy mô chăn nuôi gắn với xây dụng công trình xử lý chất thải

Ngoài Dự án QSEAP-BD còn có 2 dự án lớn khác triển khai về chương trình này, trong đó có 1 dự án vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) và 1 Dự án do chính phủ Hà Lan tài trợ

Nhờ các chính sách hỗ trợ tích cực nêu trên mà trong các năm gần đây, hàng trăm ngàn công trình khí sinh học đã được xây dựng, từ đó góp phần quan trọng giảm thiểu ô nhiễm môi trường do chất thải vật nuôi, đồng thời còn tạo ra nguồn năng lượng sạch thay thế các chất đốt truyền thống, tạo sinh kế cho người nông dân

6 Nguyên nhân của các tồn tại về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi

- Quản lý chất thải chăn nuôi là một lĩnh vực mới ở Việt Nam cho nên chưa có cơ chế chính sách khuyến khích phối hợp về quản lý chất thải vật nuôi giữa các cơ quan liên quan

- Bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi còn thiếu và sự phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng, thiếu hợp lý, thiếu số lượng và hạn chế về năng lực Hầu hết tại các Sở Nông nghiệp và PTNT không có cán bộ chuyên trách theo dõi về lĩnh vực bảo vệ môi trường trong nông nghiệp

- Nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương và toàn xã hội nói chung về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi chưa đầy đủ và đúng mức Trong nhiều trường hợp, nhận thức mới chỉ dừng ở mức độ thông tin thông thường; chưa trở thành ý thức và hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và từng người dân

- Lực lượng thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực bảo vệ môi trường còn thiếu trong khi địa bàn hoạt động rộng, số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh nhiều

- Trong thực tế hiện nay vẫn có trường hợp chủ các cơ sở, dự án không có khả năng

tự lập bản cam kết bảo vệ môi trường mà vẫn phải nhờ các đơn vị tư vấn lập giúp Tuy nhiên, trong Nghị định thì lại chưa có quy định nào điều chỉnh những vi phạm trong việc hành nghề dịch vụ tư vấn lập cam kết bảo vệ môi trường

Ngày đăng: 15/01/2013, 16:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Khối lượng chất thải rắn vật nuôi - Bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020
Bảng 1 Khối lượng chất thải rắn vật nuôi (Trang 2)
Bảng 2: Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi - Bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020
Bảng 2 Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w