Nghiêm cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng thuốc lào trồng tại Hải Phòng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
BÙI THANH TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT
VÀ CHẤT LƯỢNG THUỐC LÀO TRỒNG TẠI HẢI PHÒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là kết quả nghiên cứu của chính nghiên cứu sinh, hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận án này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn
Tác giả
Bùi Thanh Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận án của mình tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của GS.TS.NGƯT Hoàng Minh Tấn, TS Nguyễn Đình Vinh - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sự quan tâm giúp đỡ của tập thể các thầy giáo, cô giáo Khoa Nông học, Ban Quản lý Đào tạo, đặc biệt các thầy cô trong Bộ môn Cây Công nghiệp và Cây thuốc, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, đã trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quí báu về chuyên môn cho tác giả hoàn thành luận án;
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng, Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng; Quận ủy, Uỷ ban nhân dân quận Kiến An, phòng Kinh tế quận Kiến An, Hợp tác xã Nông nghiệp Kiến Thiết huyện Tiên Lãng đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Nhân dịp này tôi cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thiện luận án này
Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2014
Tác giả
Bùi Thanh Tùng
Trang 51.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới và Việt Nam 6
Trang 62.4.1 Phương pháp điều tra thu thập, phân tích thông tin 43
3.1 Ảnh hưởng của đất trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất
3.1.1 Các chỉ tiêu nông hoá của đất trồng thuốc lào tại khu vực triển khai
3.1.2 Ảnh hưởng của đất trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của
3.2 Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và
3.2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển 63 3.2.2 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh hại của
3.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến khả năng tích lũy chất khô và năng suất
3.3 Ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất thuốc lào 76 3.3.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến thời gian sinh trưởng, phát triển của
3.3.2 Ảnh hưởng của thời vụ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của thuốc lào 78 3.3.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến động thái tăng trưởng chỉ số diện
3.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
3.4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của thuốc lào 81 3.4.2 Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân, lá của
Trang 73.4.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái chỉ số diện tích lá (LAI),
3.4.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất thuốc lào 86 3.5 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến khả năng diệt chồi và
3.5.1 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến động thái số lượng chồi
3.5.2 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến động thái chiều dài và
3.5.3 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến sinh trưởng, phát triển và
3.5.4 Ảnh hưởng của các biện pháp diệt chồi khác nhau đến hiệu quả kinh tế
3.6 Ảnh hưởng của biện pháp ủ trong quá trình sơ chế đến chất lượng
3.7 Mô hình trồng thuốc lào Ré Đen năng suất, chất lượng cao tại Tiên Lãng 97
3.7.2 Chất lượng cảm quan của thuốc lào trồng theo mô hình ứng dụng các
3.7.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trong
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Đường kính thân Đơn vị tính Hữu hiệu Hiệu suất quang hợp Kali tổng số, kali dễ tiêu Chỉ số diện tích lá Năng suất lý thuyết Năng suất thực thu Nitơ tổng số Phân chuồng Hàm lượng chất hữu cơ Trung bình
Tiêu chuẩn Việt Nam Thời gian sinh trưởng Bệnh xoăn lá do virus Bệnh khảm lá thuốc (Tobacco Mosaic Virus) Thứ tự
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1.3 Diện tích trồng thuốc lào ở Hải Phòng trong 10 năm (2003-2012) 111.4 Năng suất, sản lượng thuốc lào ở Hải Phòng giai đoạn 2003-2012 121.5 Kết quả điều tra về một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất thuốc lào tại
3.2 Ảnh hưởng của đất trồng đến thời gian của các giai đoạn sinh trưởng của
3.3 Ảnh hưởng của đất trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất thuốc
3.4 Ảnh hưởng của đất trồng đến một số chỉ tiêu hóa sinh của thuốc lào Ré Đen 593.5 Ảnh hưởng của đất trồng đến chất lượng cảm quan của thuốc lào 613.6 Hệ số tương quan (r) giữa các chỉ tiêu nông hóa của đất với một số chỉ
3.7 Ảnh hưởng của phân bón đến một số chỉ tiêu thân, lá thuốc lào Ré Đen 643.8 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tăng LAI của thuốc lào Ré Đen 65
3.10 Ảnh hưởng của phân bón đến động thái tích lũy chất khô và năng suất
3.12 Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng cảm quan thuốc lào Ré Đen 74
3.14 Ảnh hưởng của thời vụ đến các giai đoạn sinh trưởng của thuốc lào Ré Đen 773.15 Ảnh hưởng của thời vụ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của thuốc lào Ré
Trang 103.16 Ảnh hưởng của thời vụ đến động thái tăng trưởng chỉ số diện tích lá và
3.18 Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân, lá của cây
3.19 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng LAI của thuốc lào 833.20 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu suất quang hợp và năng suất thuốc
3.21 Ảnh hưởng của mật độ đến hiệu quả kinh tế của sản xuất thuốc lào
3.22 Ảnh hưởng của xử lý Accotab đến số lượng chồi thuốc lào Ré Đen 883.23 Ảnh hưởng của xử lý Accotab đến động thái tăng trưởng chiều dài trung
3.24 Ảnh hưởng của xử lý Accotab đến động thái tăng trưởng khối lượng chồi
3.25 Ảnh hưởng của Accotab đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất
3.26 Ảnh hưởng của các biện pháp diệt chồi đến hiệu quả kinh tế trong sản
3.27 Ảnh hưởng của các biện pháp ủ đến chất lượng sợi thuốc lào Ré Đen 963.28 Ảnh hưởng của biện pháp ủ đến chất lượng hút của thuốc lào Ré Đen 973.29 Sinh trưởng, phát triển và năng suất thuốc lào mô hình năm 2012 98
3.32 Hiệu quả kinh tế mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trên
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
1.4 Sản xuất thuốc lào tại Quảng Xương -Thanh Hoá (1 gốc để 3 thân) 233.1 Ảnh hưởng của hàm lượng Nts, OM trong đất đến hàm lượng nicotin
3.2 Thí nghiệm trồng thuốc lào trong chậu tại Tiên Lãng vụ Xuân 2011 613.3 Ảnh hưởng của mật độ, chỉ số LAI đến năng suất thuốc lào vụ Xuân 2011 843.4 Động thái số lượng chồi của các công thức diệt chồi vụ Xuân 2012 883.5 Ảnh hưởng của biện pháp diệt chồi đến động thái tăng trưởng khối
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây thuốc lào (Nicotiana tabacum L), là cây trồng truyền thống của Việt
Nam và được trồng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Philipin, Malaysia, các quốc gia châu Phi, các quốc gia theo đạo hồi như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Irắc… (Trần Đăng Kiên, 2011)
Ở Việt Nam, thuốc lào được trồng nhiều ở miền Bắc song tập trung tại một
số tỉnh/thành như: Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh… với diện tích trồng hàng năm dao động ở mức 3.000-4.000 ha/năm Trong đó Hải Phòng, có diện tích trồng hàng năm khoảng 1.500-2.200 ha; sản lượng thuốc dao động từ 3.000-
4000 tấn Ngoài ra, thuốc lào còn được trồng rải rác, không ổn định và mang tính
tự cung, tự cấp ở nhiều vùng như Nghệ An, Tây Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh Sản xuất thuốc lào ở Hải Phòng đã trở thành nghề truyền thống của hàng ngàn hộ nông dân cũng như các cơ sở kinh doanh và kỹ thuật sản xuất thuốc lào nơi đây được truyền từ đời này qua đời khác góp phần tạo nên tính chất đặc thù và danh tiếng của sản phẩm Hiện nay, thuốc lào Hải Phòng là loại cây trồng được chú trọng sản xuất bởi nó là loại sản phẩm hàng hoá có giá trị cao Sản phẩm thuốc lào có thị phần lớn và tiêu thụ rộng rãi Vùng trồng thuốc lào có doanh thu đạt trên 70 triệu đồng/ha/năm và thu nhập từ thuốc lào chiếm 50-60% tổng thu nhập của nông hộ Tuy mang lại hiệu quả kinh tế cao và được trồng ở nước ta từ rất lâu, song những nghiên cứu về cây thuốc lào tại Việt Nam còn rất hạn chế Do đó, nguồn gốc, phân loại, các giống thuốc lào phổ biến hiện nay, cũng như tình hình sản xuất, kinh doanh cây thuốc lào còn thiếu thông tin, nên nhiều tài liệu chưa thống nhất… Hải Phòng, là vùng có điều kiện khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng phù hợp cho việc phát triển cây thuốc lào, song sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng thuốc sợi ở các vùng trồng khác nhau cũng khác nhau; đặc biệt là chất lượng thuốc sợi dẫn đến giá sản phẩm khác nhau Nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về chất
Trang 13lượng thuốc lào Hải Phòng vẫn chưa được nghiên cứu một cách khoa học, chính xác
Như vậy, việc thực hiện đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của một số biện pháp
kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng thuốc lào trồng tại Hải Phòng” có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết khó khăn, tồn tại trên Các
kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện quy trình kĩ thuật trồng thuốc lào nhằm tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất thuốc lào, tạo ra những cánh đồng có giá trị kinh tế cao; góp phần bảo tồn và phát huy cây bản địa mang đậm nét truyền thống văn hoá dân tộc trong quá trình hội nhập
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá đầy đủ ảnh hưởng của: đất trồng, phân bón, thời vụ, mật độ, biện pháp diệt chồi, sơ chế đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng thuốc lào nhằm góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất thuốc lào có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho Hải Phòng
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học có ý nghĩa về tình hình sản xuất thuốc lào tại Hải Phòng cũng như ảnh hưởng của một số yếu tố kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng của thuốc lào tại Hải Phòng
- Là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất cây thuốc lào tại Hải Phòng và các địa phương trồng thuốc lào khác tại Việt Nam
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất thuốc lào cho năng suất, chất lượng
và hiệu quả kinh tế cao tại Hải Phòng
- Đánh giá được những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thuốc lào Hải Phòng làm cơ sở xây dựng thương hiệu thuốc lào Hải Phòng trên thị trường trong, ngoài nước
- Làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng trồng thuốc lào chất lượng cao tại Hải Phòng
Trang 144 Những đóng góp mới của Luận án
- Chất lượng thuốc lào khác nhau tại các địa phương của Hải Phòng phụ thuộc vào tính chất của đất Đất trồng thuốc lào Tiên Lãng có độ pH thấp hơn, hàm lượng Nts, Kdt và OM cao hơn đất huyện An Lão và Vĩnh Bảo thích hợp cho cây thuốc lào nên sản phẩm thuốc lào của Tiên Lãng có chất lượng cao hơn hai huyện Vĩnh Bảo và An Lão
- Phát hiện tương quan thuận chặt giữa hàm lượng Ndt, Kdt và OM trong đất trồng đến hàm hượng nicotin và tương quan nghịch chặt với hàm lượng đường tan trong lá thuốc lào
- Đã xác định một số thông số kỹ thuật tối ưu cho sản xuất thuốc lào đạt hiệu quả cao nhất tại Hải Phòng: Công thức phân bón 300 kg N + 80kg P2O5 + 90kg K2O/ha, mật độ trồng 20000 cây/ha, thời vụ trồng 25/1, sử dụng chất diệt chồi Accotab 1,2%
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 7/2009 – tháng 12/2013
- Giống thí nghiệm: Các thí nghiệm được thực hiện trên giống Ré Đen là giống thuốc lào đang được trồng phổ biến tại địa phương
- Địa điểm nghiên cứu: tại huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão - Hải Phòng
- Địa điểm xây dựng mô hình ứng dụng: tại huyện Tiên Lãng - Hải Phòng
- Vì thuốc lào và thuốc lá cùng loài (N tabacum L), sản phẩm thu hoạch và
mục đích sử dụng là như nhau, trong khi đó rất ít tài liệu nghiên cứu về thuốc lào
Vì vậy trong luận án này, chúng tôi sử dụng nhiều tài liệu nghiên cứu về cây thuốc
lá để tham khảo cho cây thuốc lào
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu chung về cây thuốc lào
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố
Cây thuốc lào, thuốc lá được phát hiện đầu tiên vào năm 1492 bởi đoàn thám hiểm của Christophe Columbus và thủy thủ đoàn tại Châu Mỹ Cây thuốc lá được trồng lần đầu tiên ở Bồ Đào Nha và được trồng ở Cu Ba năm 1580 sau đó nhanh chóng mở rộng ra các nước châu Mỹ Thuốc lá được đưa vào châu Âu, Á, Phi vào nửa cuối thế kỷ XVI (Bandner et al., 1987) Tuy nhiên, lịch sử xuất hiện cây thuốc lá, thuốc lào ở Việt Nam còn có một số tài liệu khác nhau
Cây thuốc lào có tên khoa học là Nicotiana tabacum L (Trần Đăng Kiên,
2011), có nguồn gốc ở Nam và Bắc châu Mỹ, Mexico vào khoảng 10.000 năm trước đây Sau này thuốc lào được trồng và sử dụng rộng rãi, phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Philipin, Malaysia, các quốc gia châu Phi, các quốc gia theo đạo hồi như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Irắc… (Đào Duy Anh, 2002) Thuốc lào được trồng ở Việt Nam từ năm Canh Tí, tức niên hiệu Vĩnh Thọ thứ 3 (1660) đời vua Lê Thần Tông Theo Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, cây
thuốc lào được gọi là “Tương tư thảo”, cây thuốc lào có lẽ được nhập từ Lào (Ai
Lao) vào Việt Nam nên mới gọi là thuốc lào (Nguyễn Văn Biếu, 2005)
Theo Viện Sử học (1998), trong sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi năm 1438
đã ghi rằng: “Tại Thuận Hóa, một vùng đất đen, mầu mỡ, hợp với trồng thuốc hút
và thứ tiêu hạt to, ruộng thì vào hạng trung bình Điện Bàn có Trĩ Vàng Sa Bôi có Chè Lưỡi Chim Sẻ Hải Lăng có Thỏ Lông Trắng Thuốc hút là thứ cây lá cuộn vào giấy rồi châm lửa hút”
Một số thông tin khác cho rằng tại Trung Quốc, ngay giáp với phía Bắc nước
ta, người ta đã tìm thấy dấu tích thuốc lào trong một số ngôi mộ đã có tuổi cách đây
Trang 16trên 2000 năm Lịch sử Việt Nam lại có tới trên 1000 năm Bắc thuộc, có thể những giao lưu văn hóa đã đem thuốc lào tới Việt Nam nhưng đáng tiếc là cho đến nay, chưa tìm được các dẫn liệu lịch sử minh chứng cho điều này Ngay cả những dẫn liệu về lịch sử thuốc lào tại Trung Quốc cũng chưa được thế giới chấp nhận (Nguyễn Văn Biếu, 2005)
Tóm lại, có nhiều thông tin về nguồn gốc thuốc lào trồng ở nước ta, song quan điểm thuốc lào được trồng ở Việt Nam từ năm Canh Tí (1660) đời vua Lê
Thần Tông theo Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn được nhiều nhà nghiên cứu trích
dẫn và coi là thời điểm bắt đầu trồng cây thuốc lào đầu tiên ở nước ta
1.1.2 Phân loại
Cây thuốc lá có tên khoa học là Nicotiana tabacum L (Akehurst, 1981) Theo Trần Đăng Kiên (2011), thuốc lá thuộc chi Nicotiana, họ cà Solanaceae Chi Nicotiana có 3 chi phụ, 14 nhóm và 65 loài Trong đó 45 loài thuộc bản địa Bắc và
Nam Mỹ, 15 loài thuộc bản địa Úc; cụ thể:
Chi phụ Rustica: có 3 nhóm, 9 loài
Chi phụ Tabacum: 2 nhóm, 6 loài
Chi phụ Petunioides: 9 nhóm, 50 loài
Trong số 65 loài trên chỉ có loài N.tabacum thuộc nhóm Genminae được gieo trồng thương mại trên khắp thế giới Ở nước Nga và một số nước châu Á, loài N rustica được trồng chủ yếu sử dụng tiêu dùng tại chỗ Một số loài hoang dại như: N.alata, N.sylventris được dùng làm cây cảnh thuốc lào thuộc chi phụ Tabacum
Theo Nguyễn Trọng Nhưỡng và cộng sự (2007): Có 2 loài N tabacum và N rustica có các giống được trồng làm thuốc lào ở nhiều nước nhưng loài N rustica
có lá nhỏ hơn, hoa có màu vàng chưa thấy trồng ở Việt Nam Thuốc lào có cách sử dụng rất phong phú và sử dụng thuốc lào qua dụng cụ hút có lọc nước như điếu cày, điếu bát cũng rất đa dạng
Trang 171.1.3 Giá trị kinh tế của cây thuốc lào
Thuốc lào, là sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất Thuốc lào Vĩnh Bảo, Tiên Lãng được cả nước biết đến do chất lượng đặc thù nổi tiếng của sản phẩm
Năng suất thuốc lào trung bình đạt 1650 kg/ha (60kg/sào) Với giá thương phẩm hiện nay, thấp nhất 70.000đ/kg, cao nhất là 250.000 đ/kg; với giá trung bình 120.000/kg thì 01ha thuốc lào trồng trong vòng 4 tháng cho thu nhập bình quân 198.000.000 đồng (tương đương 7,7 triệu đồng/sào Bắc bộ) với lãi thuần bình quân 65 triệu đồng/ha/vụ Đây là hiệu quả kinh tế rất cao trong sản xuất nông nghiệp hiện nay
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới
Thuốc lào là cách gọi truyền thống có từ lâu ở nước ta và đây là cách sử dụng khói thuốc một cách rất riêng biệt: qua điếu cày, điếu bát (và đôi khi qua vấn sâu kèn tự tạo khi không có điếu) hay ăn trực tiếp trong tục ăn trầu Thuốc lá mới chỉ xuất hiện khoảng 200 năm nay nhờ những tiến bộ về công nghệ cuốn điếu, phối chế và nhờ đó, thói quen hút thuốc lá điếu đã nhanh chóng phổ biến khắp thế giới
và giành được một phần người hút thuốc lào trước đây
Thói quen hút thuốc lào không phải chỉ có riêng ở Việt Nam mà có ở khá
nhiều nước trên thế giới Theo Vân đài loại ngữ (Trần Văn Giáp, 2006), năm Mậu Dần, đời vua Càn Long (1758) Trung Quốc, sách Bản thảo tòng tân, liệt thuốc hút
vào các loại cỏ độc: “tính nó cay, nóng, trị các chứng phong hàn, tê thấp, trệ khí, đọng đờm, sơn lam chướng khí Khói thuốc vào mồm không theo thường độ, một lúc
nó chạy khắp người, làm cho khắp các cơ thể trong người đều thông khoái, thay được
cả rượu, chè, cả đời không chán Cho nên người ta gọi thuốc hút là Tương tư thảo”
Như vậy, thuốc lào đã được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc vào thế kỷ XVIII
Một số di chứng khảo cổ tại Trung Quốc đã cho thấy từ cách đây 4.000 năm, người ta đã biết sử dụng thuốc lào và một số bức tranh của người Maya cổ cách đây trên 2000 năm cũng đã minh họa Ngay hiện nay, do cách sơ chế đơn giản, sản xuất nhỏ theo kiểu tự cung tự cấp nên hầu như không có thống kê riêng cho thuốc lào
Trang 18Mặt khác, tên gọi thuốc lào hay tên các loại điếu hút lại thường gắn với tên địa phương nên rất khó có thông tin chung (Nguyễn Văn Biếu, 2005)
Thuốc lào ngày nay thường được xếp vào nhóm thuốc lá đen phơi nắng cùng nhóm với xì gà và chiếm 1/2 sản lượng thuốc lá toàn thế giới (khoảng 1,4 triệu tấn/năm) và trong số này, chỉ có 20% được trao đổi buôn bán trên thế giới Thuốc lào được trồng ở rất nhiều nước với đặc trưng sản phẩm là hàm lượng nicotin khá cao (5-8%), hàm lượng đường rất thấp (<3%), hàm lượng protein cao (16-18%) và do vậy, lượng phân bón sử dụng rất cao (cả phân chuồng và phân hóa học), bón nhiều lần và thậm chí bón liên tục đến trước khi thu hoạch (Nguyễn Văn Biếu, 2005)
Như vậy, thuốc lào được trồng và sản phẩm thuốc lào đã được tiêu dùng từ rất lâu ở các châu lục và cách sử dụng cũng như dụng cụ để hút thuốc cũng khác nhau Các tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu về cây thuốc lào trên thế giới còn rất hạn chế nên công tác nghiên cứu trên cây thuốc lào còn một số khó khăn
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào tại Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình sản xuất thuốc lào tại Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc lào được trồng vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ đến Đèo Ngang (tỉnh Quảng Bình) và các dân tộc thiểu số từ miền núi phía bắc đến miền tây Quảng Bình, Nghệ An, nhưng tập trung tại một số tỉnh/thành như: Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh Ngoài ra, thuốc lào còn được trồng rải rác trên diện tích nhỏ, không ổn định và mang tính tự cung tự cấp ở nhiều vùng khác Mục tiêu trồng thuốc lào để hút là chính, ngoài ra còn dùng ăn cùng lá trầu (Đào Duy Anh, 2002)
- Diện tích, sản lượng thuốc lào tại Việt Nam
Hiện nay, diện tích trồng thuốc lào ở nước ta khoảng 4000 ha; trong đó Hải Phòng là địa phương có diện tích trồng lớn nhất (2500 ha); Thanh Hóa, 610ha; Thái Bình 500ha; Bắc Ninh 300ha và một số diện tích nhỏ lẻ ở các địa phương khác Năng suất thuốc lào phụ thuộc vào giống, kỹ thuật canh tác, đất trồng của từng địa phương Ở các vùng trồng Hải Phòng, năng suất thuốc lào thương phẩm đạt khoảng 1,6-2,0 tấn/ha; trong khi đó thuốc lào ở Quảng Xương – Thanh Hóa chỉ
Trang 19đạt khoảng 1,2-1,5 tấn/ha và cũng có một vài chân đất ở Hải Phòng, năng suất chỉ đạt khoảng 0,8-1,2 tấn/ha song chất lượng thuốc được đánh giá rất cao
Bảng 1.1 Diện tích thuốc lào tại Việt Nam (ha)
- Hiệu quả kinh tế
Thuốc lào có thời gian sinh trưởng từ 160-180 ngày, thời gian thu hoạch
125-145 ngày, trong quá trình cây sinh trưởng phát triển, nông dân tốn rất nhiều công
Trang 20chăm sóc và lượng phân bón cho cây cũng cao hơn các cây trồng khác Sau khi thu hoạch, phải tiến hành sơ chế, thái, phơi rất công phu mới thành sản phẩm thương phẩm trên thị trường (Dương Đức Tùng và cộng sự, 2008)
Tuy nhiên, giá bán của thuốc lào cũng cao hơn các loại cây trồng khác và ổn định Hiện nay, bình quân giá thuốc lào có chất lượng trung bình là 120.000đ/kg; thuốc lào ngon lên tới 200.000 – 300.000 đ/kg Nếu tính bình quân 1 sào Bắc Bộ thu được từ 50-60 kg thuốc lào thương phẩm thì tổng doanh thu 1 sào đạt 6.000.000-7.000.000đ/sào; cho lãi 3-4 triệu đồng/sào (cả công lao động) Đây là khoản thu nhập rất cao so với các cây trồng khác
Vì vậy, mặc dù trồng thuốc lào rất vất vả song diện tích thuốc lào vẫn ổn định và có chiều hướng tăng lên trong những năm gần đây do sản phẩm có thể bảo quản lâu dài; có thị trường đầu ra ổn định
Năm 2010 thuốc lào Tiên Lãng đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng và bảo vệ thành công quyền bảo hộ Chỉ dẫn địa lý Đây là bước đột phá trong việc xây dựng thương hiệu, để đẩy mạnh quảng bá và tiêu thụ thuốc lào trong và ngoài nước
1.2.2.2 Tình hình sử dụng tiêu thụ thuốc lào ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc lào được sử dụng hút từ năm 1660 Do thấy tác hại của hút thuốc lào, đến thế kỷ thứ XVIII, Vua Lê Huyền Tông đã hai lần ra lệnh cấm hút thuốc, song rồi phải bãi bỏ (Trần Văn Giáp, 2006)
Từ đó đến nay, thuốc lào đã là sản phẩm truyền thống mang đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Nó đã đi vào trong ca dao tục ngữ của người dân ta hàng đời đời nay, nhất là người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ (theo Nguyễn Đình Tự, 2007):
Nhớ ai như nhớ thuốc lào
Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên
Hiện nay, thuốc lào có thị trường tiêu thụ rộng khắp trên cả nước, và đối tượng hút thuốc lào đa dạng, không phân biệt trình độ, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, vùng miền
Trang 21Với sản lượng trên 6000 tấn mỗi năm, thuốc lào chủ yếu là tiêu thụ nội địa Mặc dù có thể có những tác hại về sức khỏe do hút thuốc lào gây nên song hút thuốc lào vẫn là thói quen, niềm đam mê, nét văn hóa đã được hình thành từ xa xưa nên người hút ngày càng có chiều hướng gia tăng và trẻ hóa đặc biệt trong giới sinh viên hiện nay
Tại Hải Phòng, đặc biệt là các huyện ngoại thành, hộ nào cũng có điếu thuốc lào (điếu cày, hoặc điếu bát) để gia chủ tiếp khách đến chơi nhà Các quận nội thành, khu vực đô thị; thuốc lào được sử dụng phổ biến ở các quán nước ven đường, khu công nghiệp v.v
Các gia đình người Việt tại nước ngoài, mặc dù xa tổ quốc rất nhiều năm, song hương vị thuốc lào vẫn luôn bên cạnh những người con xa xứ góp phần tạo nên nét đậm đà của nền văn hóa Việt Nam
Ở Hải Phòng, sản phẩm thuốc lào được một số doanh nghiệp thu mua và đóng gói, tiêu thụ ở khắp các địa phương trong cả nước, trong khi đó ở các tỉnh khác, việc tiêu thụ vẫn chủ yếu là tự cung tự cấp, và thông qua lái buôn Thuốc lào Kiến Thiết – Tiên Lãng, thời phong kiến đã được là vật phẩm để tiến Vua hàng năm, vì vậy giá sản phẩm thuốc ở nơi đây cao hơn các địa phương khác
Năm 2010, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hải Phòng, Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng đã xây dựng thành công thương hiệu Chỉ dẫn địa lý Thuốc lào Tiên Lãng cho sản phẩm thuốc lào Đây là một bước ngoặt mới trong công tác quảng bá nông sản đặc thù của địa phương đồng thời góp phần chống tình trạng gian lận thương mại, nâng cao hiệu quả kinh tế cho các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thuốc lào tại Tiên Lãng nói riêng và cả nước trong quá trình toàn cầu hóa
1.2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thu tiêu thụ thuốc lào ở Hải Phòng
a) Diễn biến về diện tích trồng thuốc lào tại Hải Phòng
Hải Phòng là địa phương có diện tích trồng thuốc lào lớn nhất toàn quốc với diện tích hàng năm dao động trong từ 1.950 ha đến 2.200 ha; năng suất trung bình 16,5 tạ/ha (thuốc thành phẩm); sản lượng đạt 3.500 tấn Thuốc lào được trồng tập trung ở huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo, diện tích còn lại nằm rải rác ở các huyện: An Lão, Kiến
Trang 22Thuỵ, Thủy Nguyên
Bảng 1.3 Diện tích trồng thuốc lào ở Hải Phòng trong 10 năm (2003-2012)
TT Năm Tổng số (ha) Vĩnh Bảo (ha) Tiên Lãng (ha) Các huyện khác (ha)
Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng (2010, 2011, 2012)
Trong 10 năm gần đây, mặc dù tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh, nhiều lao động nông nghiệp đã chuyển sang lao động ở lĩnh vực khác (chủ yếu là công nghiệp, xây dựng) song diện tích trồng thuốc lào khá ổn định và có xu hướng tăng lên, đạt diện tích cao nhất vào năm 2011 (2.525,4 ha), đến năm 2012, diện tích trồng thuốc lào có giảm xuống song vẫn ở mức cao so với các năm trước, đạt 2.155,2ha Điều đó cho thấy trồng thuốc lào cho hiệu quả kinh tế cao và sản phẩm thuốc lào luôn có chỗ đứng trên thị trường
b) Diễn biến về năng suất và sản lượng thuốc lào tại Hải Phòng
Diễn biến về năng suất và sản lượng thuốc lào tại Hải Phòng trong 10 năm, giai đoạn 2003-2012 được thể hiện tại bảng 1.4
- Năng suất và sản lượng:
Năng suất thuốc lào tương đối ổn định trong 10 năm gần đây Năm 2009
Trang 23từ 15,9-16,75 tạ/ha), điều đó chứng tỏ khoa học kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất thuốc lào còn nhiều hạn chế
Bảng 1.4 Năng suất, sản lượng thuốc lào ở Hải Phòng giai đoạn 2003-2012
Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng (2010, 2011, 2012)
Sản lượng thuốc lào tăng mạnh (44,6%) trong 10 năm qua, từ 2.372 tấn (năm 2003) lên 3.431 tấn (năm 2012), điều này chứng tỏ sản xuất thuốc lào cho hiệu quả kinh tế cao và ổn định
- Tình hình tiêu thụ thuốc lào:
Sản phẩm thuốc sợi được tiêu thụ trong thành phố khoảng 10% -15%, số còn lại khoảng 85- 90%, được tiêu thụ chủ yếu ở trong nước Thị trường tiêu thụ thuốc lào khá ổn định Đối tượng tiêu thụ thuốc lào không phân biệt tuổi tác, địa vị, dân tộc, người hút thuốc ở đa vùng miền, từ miền xuôi lên miền ngược, đồng bằng, trung du miền núi và từ Bắc vào Nam
Thuốc lào chủ yếu được kinh doanh, trao đổi ở dạng thuốc sợi đóng gói theo
lô lớn không có bao bọc và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá theo quy định Để hình
Trang 24thành thương hiệu sản phẩm hàng hoá của địa phương, gần đây đã có một số hộ kinh doanh đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm thuốc lào, tuy nhiên quy mô nhỏ và lượng sản phẩm đóng gói có nhãn hiệu hàng hoá chiếm tỷ lệ rất thấp (chỉ khoảng 5-7%) trong tổng sản lượng thuốc lào sản xuất hàng năm Việc mua bán sản phẩm với phần lớn được thực hiện tại các hộ gia đình
Chính vì vậy, nhiều sản phẩm chất lượng kém của nơi khác đã gian lận nhãn mác bao bì nên gây mất uy tín cho sản phẩm thuốc lào Hải Phòng, phần nào làm cho việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn, tác động lớn đến sản xuất, kinh doanh và đặc biệt ảnh hưởng đến thương hiệu truyền thống danh tiếng của thuốc lào Hải Phòng Năm 2012, thuốc lào huyện Tiên Lãng đã được cấp danh hiệu Chỉ dẫn địa
lý, tạo tiền đề để bảo vệ và quảng bá thương hiệu thuốc lào trong và ngoài nước Tuy nhiên việc duy trì và quảng bá thương hiệu cần phải có sự vào cuộc của các cấp ngành và các tổ chức cá nhân có liên quan
1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc lào trên thế giới và Việt Nam
Thuốc lào và thuốc lá cùng loài N tabacum L, sản phẩm thu hoạch là sợi sấy
khô với mục đích sử dụng cho việc hút Vì vậy, chất lượng của thuốc lào và thuốc lá được đánh giá như nhau, chỉ khác nhau ở độ nặng nhẹ tức hàm lượng nicotin cao hay thấp Hiện nay các nghiên cứu về chất lượng thuốc lá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thuốc lá được nhiều công trình nghiên cứu đề cập, nhưng chất lượng đặc thù của thuốc lào thì rất ít công trình nghiên cứu Vì vậy trong phần này, ngoài những nghiên cứu về thuốc lào chúng tôi tổng hợp một số nghiên cứu về chất lượng thuốc lá
và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thuốc lá trong nước và thế giới có liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu để làm cơ sở cho việc đánh giá sinh trưởng và phát triển, năng suất và chất lượng của thuốc lào trồng tại Hải Phòng trong luận án này
1.3.1 Trên thế giới
Thuốc lào là cây trồng bản địa nên các nghiên cứu của thế giới trên cây thuốc lào là hầu như không có và chúng tôi chỉ tổng hợp một số nghiên cứu liên quan đến đất trồng, phân bón, dinh dưỡng, bấm ngọn, tỉa chồi… trên cây thuốc lá có liên
Trang 25Với thuốc lá, theo Leyten and Mark (1999), đất thích hợp cho trồng thuốc lá sinh trưởng, phát triển tốt là đất cát, cằn cỗi, thoát nước tốt và có hàm lượng hữu cơ thấp; đất có độ pH từ 5,8-6,0, EC thấp cho năng suất và chất lượng thuốc lá cao
Theo Hawks (1970) thì mỗi giống thuốc lá có nhu cầu dinh dưỡng khoáng khác nhau; có một tương quan nhất định giữa lượng chất khoáng hút và năng suất của thuốc lá Lá từ đỉnh sinh trưởng khá nhạy cảm với dinh dưỡng N, đó là bộ phận phân chia tế bào mạnh mẽ của lá, do vậy đây là giai đoạn nguyên tố N ảnh hưởng lớn nhất đến diện tích cuối cùng của lá
Akehurst (1991), cho rằng N là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây thuốc lá Do vậy N ảnh hưởng lớn đến thành phần hóa học của các chất có trong lá
Cũng với thuốc lá, Zhao et al (2005), Li et al (2008), khi nghiên cứu về ảnh hưởng của N và K với chất lượng thuốc lá cho rằng: hàm lượng N và K, chlorophyl giảm theo quá trình già hóa của lá thuốc, trong lúc đó ABA lại tăng Việc bón phân
N, K có thể làm tăng dinh dưỡng N và K, tăng diệp lục dẫn đến làm chậm quá trình già hóa của lá
Với P, cây thuốc lá còn nhỏ hút P chủ yếu từ phân bón, khi cây trưởng thành lượng hấp thu của cây chủ yếu từ nguồn sẵn có trong đất (Mc Daniel, 1996) Hiệu quả sử dụng phân lân của cây thuốc lá từ 15-68% Lân di chuyển từ rễ đến đỉnh sinh trưởng của cây với tốc độ 1,8cm/phút Cây thuốc lá thiếu P sinh trưởng rất chậm đặc biệt là giai đoạn đầu sinh trưởng Thiếu P cây yếu ớt, lá hẹp, có mầu xanh xỉn Sau đó các lá phía thấp của cây có màu đốm nâu
Năng suất lá có thể giảm đi khi bón quá thừa P, vì P thúc đẩy quá trình tích lũy cacbonhydrat, khiến cho lá chín nhanh, đặc biệt khi cây sinh trưởng trong những điều kiện môi trường không phù hợp K ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây thuốc lá Thực tế, K liên quan nhiều đến quá trình chuyển hóa quan trọng trong cây như quá trình tổng hợp protein Vì thế, khi thiếu K, đạm hòa tan và đạm amino axit tự do trong cây tăng lên (Akehurst, 1981)
Trang 26Theo kết quả nghiên cứu của Tesenderlo group (2005), cho rằng cây thuốc lá cần nhiều kali và phân K2SO4 là loại phân tốt nhất để cung cấp kali cho thuốc lá Zhao Ping và cộng sự cho rằng K có ảnh hưởng đến sự thay đổi của hormon nội sinh và hàm lượng chlorophyl trong lá Đôi khi triệu chứng thiếu Magiê gây ra do bón nhiều K hay Ca (Man et al, 2009).
Theo Robert (2001): Nhu cầu dinh dưỡng trong từng giai đoạn sinh trưởng
và phát triển cũng có sự khác nhau đáng kể Sau 20 ngày trồng cây bắt đầu hút mạnh đạm và ka li, mạnh nhất là sau 40 ngày trồng Sau ngày thứ 50, nhu cầu đạm
và kali sẽ giảm Theo Crafts-Bandner et al (1987), đối với thuốc lá vàng sấy nên
bón đạm sớm và kết thúc trước 5 tuần sau trồng để đảm bảo năng suất và chất lượng Cũng theo Crafts-Bandner, việc tăng bón phân P ở mức cao sẽ làm hàm lượng lân trong lá tăng cao nhưng không ảnh hưởng đến tích lũy hydratcacbon và hàm lượng đường trong lá không bị ảnh hưởng bởi lân (Ibiblio, 1997)
Nhóm nghiên cứu Trung Quốc, Gu et al (2008) cho rằng, việc bón kết hợp bón giữa phân khoáng với phân chuồng đã tăng lượng lớn số lượng vi sinh vật trong đất, hệ vi sinh vật nitrat hoá trong đất cũng đa dạng hơn so với công thức chỉ bón phân khoáng Các kết quả trên cũng tương tự như trong báo cáo của Li et al (2008).
Ngắt ngọn, diệt chồi là biện pháp quan trọng trong sản xuất thuốc lá Thực hiện biện pháp ngắt ngọn diệt chồi thuốc lá cho tăng kích thước, năng suất và chất lượng thuốc lá (Layten et al., 1999) Tại Việt Nam, các vùng trồng thuốc hiện nay đều áp dụng biện pháp ngắt ngọn, diệt chồi và chủ yếu được sử dụng bằng hoá chất Accotab
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc lào tại Việt Nam
1.3.2.1 Nghiên cứu chọn tạo giống và giống thuốc lào tại Việt Nam
a) Những nghiên cứu về chọn tạo giống
Có rất ít các công trình nghiên cứu về thuốc lào Gần đây thuốc lào cũng đã được nghiên cứu về thực trạng sản xuất và tiêu dùng, nghiên cứu về phục tráng, lai tạo giống, lai giữa các dòng thuốc lào và các giống thuốc lá, về điều tra thành phần sâu bệnh hại, so sánh trồng hàng đôi với hàng đơn, sử dụng phân NPK cho thuốc lào
Trang 27Kết quả nghiên cứu đề tài “Chọn tạo các dòng thuốc lào, hoàn thiện một số biện pháp kỹ thuật chính gieo ươm, trồng trọt và bảo vệ thực vật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thuốc lào” sau khi nghiên cứu chọn lọc và lai tạo các giống thuốc lào tại Ba Vì – Hà Tây, Vĩnh Bảo - Hải Phòng đã có kết luận: tại Vĩnh Bảo các giống RĐL1, RĐL2, RTL1, RTL2 có năng suất chất khô cao vượt trội so với giống đối chứng địa phương Các giống RĐL2, RTL2 ngoài năng suất cao còn có mức độ nhiễm sâu bệnh thấp đối với các bệnh hại chính của vùng sản xuất Ngoài
ra, kết quả đề tài còn đề xuất quy trình kỹ thuật trồng trọt, phòng trừ tổng hợp, thu hái, sơ chế thuốc lào (Nguyễn Văn Biếu và cộng sự, 2005)
Tào Ngọc Tuấn và cộng sự (2007) đã tiến hành đề tài “Lai tạo giống thuốc lào có năng suất cao, kháng một số bệnh hại chính phục vụ sản xuất ở các tỉnh phía Bắc”, tại Ba Vì- Hà Tây Kết quả đã thu được 3 tổ hợp lai có triển vọng trong vụ
Xuân 2006 tại Ba Vì là: C.176x RĐ8, C.176x RT56, K.326xRT56 có năng suất vượt giống đối chứng là các dòng thuốc lào đang được trồng phổ biến ở mức >10% Các tổ hợp lai này có mức nhiễm thấp đối với các bệnh khảm lá và héo rũ vi khuẩn Với cây thuốc lá đã chọn tạo được các dòng có khả năng kháng bệnh khảm lá do TMV gây ra (Đỗ Đình Dũng và cộng sự, 2009)
b) Một số giống thuốc lào hiện nay ở nước ta
Các giống thuốc lào hiện đang được trồng là những giống đã có từ trước, tên
gọi các giống được trồng cũng được nông dân tự đặt tên theo từng địa phương
Trong thời kỳ 2001 - 2004, Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá đã thu thập gần 100 dòng và đã chọn lọc được 20 dòng từ 3 nhóm giống phổ biến ngoài sản xuất Các dòng này đều có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt; năng suất và chất lượng bằng hoặc cao hơn các giống đang trồng trong sản xuất Các dòng này cũng đã được khảo nghiệm tại
xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo vụ Xuân 2004 và cho kết quả tốt Hiện nay, Viện đang tiếp tục chọn lọc, so sánh và tiến hành lai tạo nhằm tạo giống thuốc lào kháng bệnh, có năng suất cao và chất lượng tốt phục vụ sản xuất trong những năm tới (Nguyễn Văn Biếu và cộng sự, 2005) Kết quả thí nghiệm giống trên 90 dòng được chia thành 3 nhóm giống: Ré đen, Ré trắng và nhóm Tai voi theo đặc trưng về đặc điểm giống
Trang 28Hình 1.1 Giống thuốc lào Ré Trắng Hình 1.2 Giống thuốc lào Ré Đen
- Nhóm giống Ré Trắng có hình dạng lá hình lưỡi mác, hầu như không có tai
lá và viền cuồng lá, thân cây cao, đóng lá dày, số lá kinh tế cao (>30 lá), lá dày Chiều cao từ 1,6 -2,0m; có 35-40 lá Thời gian sinh trưởng 160 ngày, thời gian thu hoạch là 125-130 ngày Nhóm này có khả năng chống chịu một số bệnh hại phổ biến như bệnh đen thân, héo rũ vi khuẩn khá nhưng vẫn bị nhiễm bệnh khảm lá do virus TMV
- Nhóm giống Ré Đen có hình dạng lá nhọn, hầu như không có tai lá, thân cây cao trung bình, đóng lá thưa, số lá kinh tế trung bình (22-25 lá), lá dày Chiều cao cây từ 1,6-2,0m Thời gian sinh trưởng từ 140-160 ngày; thời gian thu hoạch từ 120-130 ngày Đây hiện là nhóm giống được trồng phổ biến tại Hải Phòng và có chất lượng tốt (dẫn theo Trần Văn Giáp, 2006) Cây chủ yếu bị một số sâu bệnh như: đốm mắt cua, khảm lá TMV; sâu ăn lá
Nhóm giống Tai Voi có hình dạng lá bầu, tai lá to và ôm sát vào thân, cây cao trung bình, số lá kinh tế cao (25-30 lá) Thời gian sinh trưởng 160 ngày, thời gian thu
Trang 29năng chống chịu một số bệnh hại: như bệnh đen thân (Phytophthora parasitica), héo rũ
vi khuẩn (Preudomonas sonalacearum) và bệnh khảm lá do vius TMV
Hiện nay, ở Tiên Lãng còn có giống Báng (Báng Xanh, Báng Vàng) đã được trồng ở Tiên Lãng hàng chục năm nay, song nguồn gốc giống chưa rõ ràng (Nguyễn Trọng Nhưỡng và cộng sự, 2007)
Trừ 2 xã là Kiến Thiết và Cấp
Tiến trồng giống Ré đen, 6 xã còn
lại trồng các giống lá to nói trên
Chiều dài lá trung bình là 67,5 cm,
dài nhất là 70 cm, ngắn nhất là 64,2
cm, chiều rộng lá trung bình là 23,1
cm, rộng nhất 26,2, hẹp nhất 19,6
cm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, 2005) Thời gian sinh
trưởng từ 140-160 ngày; thời gian
thu hoạch từ 120-130 ngày
Hình 1.3 Giống thuốc lào Báng Xanh
Tại Thanh Hóa và Bắc Ninh, Thái Bình giống thuốc lào do nông dân tự đặt tên như: giống Lá Tròn, giống Lá Dài Song thực chất giống lá dài là giống Ré Đen, giống lá tròn thuộc nhóm giống Tai Voi
1.3.2.2 Các kết quả nghiên cứu kỹ thuật canh tác và đánh giá phẩm chất thuốc lá, thuốc lào
a) Một số nghiên cứu chung về kỹ thuật canh tác
* Tính chất lý, hóa và địa hình đất
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2007), cây thuốc lá phát triển tốt trên đất nghèo dinh dưỡng đến trung bình, có pH hơi chua (5,8-6,3), thành phần cơ giới nhẹ là cát pha hoặc thịt nhẹ, thịt trung bình, đất tơi xốp, thoát nước tốt,
độ mùn <2%
Trang 30Theo Đào Anh Tuyên và Nguyễn Đình Vang (2009) khi nghiên cứu chất lượng của thuốc lá nguyên liệu tại các vùng trồng thuốc lá Việt Nam cho rằng: Thuốc lá nguyên liệu tại vùng Gia Lai, Cao Bằng có độ màu tốt nhất, vùng Bắc Giang kém nhất Thuốc lá nguyên liệu vàng sấy tại các tỉnh phía Nam có tính chất hút khá, độ nặng vừa phải; tại vùng Lạng Sơn thì hơi nhẹ, vùng Thái Nguyên có độ nặng trung bình và vùng Bình Định có tính chất hút khá hơn so với các vùng khác
Với thuốc lào là cây trồng cạn, từ thời xưa được trồng trên các chân vàn, vàn cao Ở Hải Phòng đã từ nhiều năm trồng thuốc lào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, hơn nữa hệ thống thủy lợi tưới tiêu nước tốt nên diện tích trồng thuốc lào tăng, những năm gần đây diện tích thuốc lào đạt khoảng 2.000-2.200 ha/năm Thuốc lào được trồng ở vụ xuân không chỉ trên đất vàn, vàn cao mà còn trồng trên đất trước trồng lúa xuân: vàn trũng và trũng Thuốc lào ưa thích đất đủ ẩm nhưng đất phải thoát nước tốt và không úng nước, ưa đất chua, pH từ 5-6,5 Độ chua của đất có tác động nhất định đến năng suất và chất lượng sản phẩm, kinh nghiệm truyền thống cho thấy những vùng trồng thuốc lào ngon phải là đất chua, đất phèn (Dương Đức Tùng và cộng sự, 2010)
Thành phần cơ giới có tác động lớn đến khả năng thấm nước, độ chặt và khả năng giữ nước cũng như hấp thụ và trao đổi chất dinh dưỡng (Dương Thành Nam, 2010) Theo kinh nghiệm truyền thống đất trồng thuốc lào là đất sét, “gan gà” thì trồng thuốc ngon hơn, song cũng chưa có nghiên cứu khoa học một cách chính xác
* Hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong đất
Trong điều kiện ngập nước hoặc đất đủ ẩm, địa hình vàn trũng hoặc trũng, thì tỷ lệ đạm dễ tiêu NH4+/NO3- cao hơn, đạm NH4+ nhiều hơn so với trên đất khô hơn hoặc đất thiếu ẩm hơn ở địa hình vàn, vàn cao Cùng tổng lượng đạm bón, so sánh 2 dạng đạm bón cho thuốc lá, dạng NH4+ và NO3-, năng suất thuốc lá không thay đổi nhưng hàm lượng nicotin cao hơn khi được bón dạng NH4+ (Võ Minh Kha
và Nguyễn Xuân Thành, 1994)
Với thuốc lào, theo Dương Đức Tùng và cộng sự (2010): thuốc lào ưa thích
Trang 31đất có độ phì nhiêu cao, thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, thịt pha sét Là cây trồng mà sản phẩm thu hoạch là lá do vậy nhu cầu về N thuốc lào rất lớn N trong cây ngoài nhiệm vụ tạo nên các hợp chất như protein, các peptit, axit amin… còn cần
để tạo nicotine Đất thích hợp cho thuốc lào khi hàm lượng N trong đất xếp loại trung bình giàu, từ 0,1-0,25%, tương ứng hàm lượng chất hữu cơ trong đất từ 1,8%-2,5% Hàm lượng nicotin trong lá thuốc tăng khi liều lượng N bón tăng Cùng tổng lượng đạm bón, so sánh 2 dạng đạm bón cho thuốc lá, dạng NH4+ và NO3-, năng suất thuốc
lá không thay đổi nhưng hàm lượng nicotin cao hơn khi được bón dạng NH4+
Hàm lượng K2O (%) trong lá cao hơn hàm lượng N (%), cây hút kali nhiều hơn đạm Đặc biệt sản phẩm thuốc lào yêu cầu chất lượng cao do vậy kali càng cần cho cây Trong sản xuất cây thuốc lào vào cuối vụ các lá chân hoặc thậm chí cả các
lá ở trên xuất hiện cháy mép lá, lan dần tới cả lá, đặc biệt với các lá chân Xảy ra những trường hợp đó do đất nghèo kali, bón kali không đủ đồng thời bón ít phân hữu cơ
* Phân bón cho thuốc lá, thuốc lào
Cây thuốc lào, thuốc lá với sản phẩm thu hoạch là lá; cây thuốc có bộ lá dày, lớn nên nhu cầu dinh dưỡng cao Vì vậy việc bón phân đủ và cân đối cho cây thuốc
là hết sức quan trọng.Phân bón là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng thuốc lá (Trần Đăng Kiên và Hoàng Tự Lập, 2001) Theo Võ Minh Kha
và Nguyễn Xuân Thành (1994), Nguyễn Kim Vũ (1994), Phạm Văn Toản và cộng
sự (2005) thì bón phân hữu cơ vi sinh vật có thể thay thế được 20-30 kg N và góp phần tăng năng suất cây trồng
Theo Phạm Hữu Nguyên (2004), có rất nhiều yếu tố cảnh hưởng đến chất lượng thuốc lá nhưng 4 yếu tố được quan tâm hàng đầu là lượng N và thời gian áp dụng, kiểm soát việc đánh chồi, tốc độ thu hoạch và độ chín của thuốc lá
Theo Đinh Văn Năng và Nguyễn Văn Cường (2006) thì hàng năm bổ sung chất hữu cơ cho đất trồng thuốc lá có thể bằng cách sản xuất cây con thuốc lá trên giá thể phân hữu cơ cho hiệu quả cải thiện độ phì của đất trồng
Trang 32Theo Chu Thị Thơm và cộng sự (2006), tùy theo từng vùng trồng và chủng loại thuốc lá xác định lượng bón phân như sau: Vùng thuốc lá phía Bắc bón 60-70kgN, 60-90kg P2O5, 120-160 kg K2O; vùng trồng thuốc lá trung du Bắc bộ bón 60-80kgN, 80-120kg P2O5, 120-200 kg K2O
Nguyễn Tiết và Phạm Hoài Hiệp (2001) khi nghiên cứu chế độ bón phân thích hợp cho thuốc lá vàng sấy tại Tây Ninh cho thấy: vùng đất xám Tây Ninh với đặc điểm đất cát đến cát pha, độ phì thấp có thể chia thành 2 nhóm đất, đất đồng và đất ruộng Đất đồng nên sử dụng công thức phân bón 80kgN, 100kg P2O5, 250 kg K2O
Nguyễn Thế Bình và Nguyễn Xuân Thành (2009) cho rằng bón kết hợp phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh đã làm tăng quá trình sinh trưởng, phát triển của cây thuốc lá, tăng năng suất từ 11,3-13,2% khi bón phân ở công thức: 1 tấn phân vi sinh Sông Gianh+50 N: 140 P2O5: 210 K2O
Đối với thuốc lào, theo tập quán canh tác của từng địa phương, lượng phân bón cho cây thuốc lào cũng khác nhau song bình quân hiện nay lượng phân bón cho thuốc lào: từ 10.000 kg phân chuồng, 300kg N, 80kg P2O5/ha Lượng phân bón kali dao động mạnh, nhiều hộ không bón kali; song nếu có bón thì lượng bón thông thường ở huyện Tiên Lãng 65-75kg K2O/ha; một số vùng, tỉnh khác bón từ 50-60kg K2O/ha
Trước năm 1995, phần lớn số hộ trồng thuốc lào, sản xuất cây giống thuốc lào bằng bầu song những năm gần đây chủ yếu là gieo trực tiếp trên luống (Nguyễn Trọng Nhưỡng và cộng sự, 2009) Theo kinh nghiệm truyền thống, thuốc lào có chất lượng tốt “ngon” khi ruộng trồng được bón nhiều phân chuồng và đặc biệt là phân bắc; từ năm 1995 trở về trước, bón phân bắc cho cây thuốc lào là phổ biến tại các vùng trồng thuốc, song những năm gần đây, ruộng thuốc lào chủ yếu là bón lót bằng phân xanh, phân gà, phân bò… việc sử dụng phân bắc hầu như không còn
Tuy nhiên, với cây thuốc lá theo Hoàng Tự Lập và Đinh Văn Năng (2005), trồng thuốc lá nguyên liệu không nên sử dụng phân chuồng tươi vì nó ảnh hưởng xấu đến chất lượng thuốc lá, do vậy đất trồng thuốc lá hiện nay có xu hướng bị thoái hoá
* Thời vụ trồng thuốc lá, thuốc lào
Trang 33Theo Dương Văn Hoài (2009), có hai vụ trồng thuốc lá chính là vụ Đông Xuân (gieo hạt từ 15/10 – 30/11; trồng 1/12-15/1; thu hoạch 1/2-15/5) và vụ Hè Thu (gieo hạt từ 1/3 – 15/4; trồng 15/4-30/5; thu hoạch 14/6-30/7) Miền Bắc trồng vào
vụ Đông Xuân, vùng Tây nguyên trồng vụ Hè Thu
Với thuốc lào, các vùng trồng thuốc thường tiến hành gieo hạt giống vào khoảng 20/11 năm trước, sau khoảng 2 tháng khi cây giống đạt tiêu chuẩn, tiến hành nhổ cây giống và trồng vào khoảng 10-30/1 năm sau
Thông thường, thời vụ trồng thuốc vào lúc nhiệt độ thấp, thường xuyên có những đợt rét đậm, thậm chí rét hại Qua tổng kết thực tiễn sản xuất của Trung tâm Khuyến nông Hải Phòng, thời vụ trồng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của cây; thời vụ trồng muộn lúc nhiệt độ tăng dần giúp cây sinh trưởng tốt hơn song lại ảnh hưởng đến thời vụ của lúa mùa Trong khoảng thời gian trên, thời vụ trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sản phẩm
* Mật độ trồng thuốc lá, thuốc lào
Theo Nguyễn Ngọc Sơn (2010), mật độ trồng thuốc lá tại vùng Khánh Hòa, Phú Yên, Gia lai… đối với đất tốt thì trồng thưa (22.000 – 25.000 cây/ha), đất xấu thì trồng dầy (27.000 – 30.000 cây/ha)
Thuốc lá ở vùng miền núi phía Bắc mật độ trồng từ 17.000 – 20.000 cây/ha (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Theo Trần Đăng Kiên và cộng sự (2008), đối với thuốc lá, giảm mật độ trồng từ 2 vạn cây/ha xuống 1,7 vạn/ha với giống thuốc lá VTL1H và VTL5H thì làm tăng nhẹ hàm lượng nicotin, đạm tổng số
và lá có biểu hiện chín muộn hơn
Cây thuốc lào hiện nay, theo tập quán canh tác tại Hải Phòng, thường được trồng theo 2 hàng chạy dọc luống theo hình nanh sấu, khoảng cách hàng x hàng từ 50-60 cm, cây cách cây 50cm Mật độ khoảng 19.000 -22.000 cây/ha
Đối với cây thuốc lào, đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào về mật
độ trồng thuốc lào ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thuốc lào, song theo kinh nghiệm truyền thống thì trồng với mật độ cao hoặc quá thấp thì năng suất thương
Trang 34phẩm sẽ càng giảm Bên cạnh đó, trồng với mật độ cao sẽ gây khó khăn cho việc chăm sóc, tỉa chồi và phòng trừ sâu bệnh cho cây
* Các biện pháp diệt chồi thuốc lá, thuốc lào
Đối với thuốc lá: Theo Phạm Hữu Nguyên (2004), ngắt ngọn thuốc lá vào ngay khi xuất hiện hoa tốt hơn so với ngắt muộn Nếu ngắt ngọn muộn sau 3 tuần sẽ làm giảm năng suất 1%/ha/ngày Ngắt ngọn sớm sẽ làm giảm khả năng cây bị hại bởi bão gió, ngoài ra còn cải thiện tính hoá lý của thuốc lá vì nó kích thích rễ phát triển, tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, chống hạn và tăng khả năng sản xuất alkaloid Hiện nạy hóa chất được sử dụng rộng rãi để diệt chồi trong sản xuất thuốc
lá là Accotab
Hóa chất Accotab được Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá nghiên cứu ứng dụng từ năm 1997 để diệt chồi thuốc lá và đã đưa vào Qui phạm khảo nghiệm thuốc
lá (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, 2000) Một số nghiên
cứu đã xác định nồng độ thích hợp
của Accotab cho diệt chồi thuốc lá
là 0,8 -1,2%, làm tăng năng suất
10-15%, tăng chất lượng và hiệu
quả kinh tế (Đinh Văn Năng, 2005;
Hoàng Văn Nam, 2011)
Với thuốc lào: Bấm ngọn,
diệt chồi là biện pháp bắt buộc đối
với tất cả các hộ trồng Số lá trên
cây khi bấm ngọn trung bình 24 lá
và cây xuất hiện nụ hoa Việc bấm ngọn tức loại trừ ưu thế ngọn nên/lập tức các chồi bên được kích thích hình thành nhanh chóng làm tổn hại đến năng suất và chất lượng Việc đánh chồi là rất quan trọng do vậy hộ nào cũng tiến hành, thường ngắt
bỏ bằng tay: 3 - 5 ngày/lần
Hình 1.4 Sản xuất thuốc lào tại Quảng Xương -Thanh Hoá (1 gốc để 3 thân)
Trang 35Bấm ngọn, diệt chồi cũng có sự khác biệt theo vùng và có ảnh hưởng đáng
kể đến chất lượng thuốc lào, góp phần tạo nên hương vị đặc thù của địa phương
Ở Quảng Xương – Thanh Hóa, nông dân thường để lại 3 nhánh phát triển, nên lá thuốc/cây nhiều và thường nhỏ hơn so với các địa phương khác
Ở Tiên Lãng và Yên Phong, thuốc lào chỉ để 1 thân chính; trên mỗi cây khoảng 24 lá, 1 chồi ngọn trong khi ở Quảng Xương trên mỗi cây khoảng có khoảng
45 lá, 3-4 chồi ngọn (1 chồi ở thân chính và 2-3 chồi ở thân phụ) Các lần ngắt, đánh chồi ngọn, chồi nách là kích thích cho hình thành và tích luỹ nicotin trong lá… nên thuốc lào Quảng Xương thường nặng hơn nhiều so với thuốc lào ở các vùng khác (Dương Đức Tùng và cộng sự, 2010)
Đối với cây thuốc lào thì việc sử dụng Accotab để diệt chồi mới bắt đầu nghiên cứu Nguyễn Trọng Nhưỡng và cộng sự (2009) đã thử nghiệm khả năng diệt chồi của Accotab cho thuốc lào tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng Kết quả cho thấy nồng độ Accotab 1% có khả năng diệt chồi tốt và làm tăng năng suất thuốc lào 5-7% và tăng hiệu quả kinh tế 10-15%
Tuy nhiên, hiện nay tại Hải Phòng người dân vẫn sử dụng phương pháp thủ công để ngắt chồi là chính Một số hộ sản xuất thuốc lào đã mạnh dạn dùng hoá chất diệt chồi Accotab và bước đầu đem lại hiệu quả cao, tuy nhiên mới ở diện tích nhỏ hẹp Mặt khác, do hạn chế về kỹ thuật nên nhiều hộ khi sử dụng hóa chất ở nồng độ không phù hợp dẫn đến cây thuốc lào bị đen thân, thối… ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất
* Thu hoạch và chế biến thuốc lá, thuốc lào
- Một số nghiên cứu về thu hoạch và chế biến thuốc lá
Tùy theo tập quán canh tác ở từng vùng sẽ có phương pháp thu hoạch và sơ chế khác nhau Phương pháp thu hoạch và sơ chế của từng vùng ảnh hưởng lớn đến chất lượng thuốc Theo Nguyễn Thị Tỵ và cộng sự (2006) nghiên cứu trên cây thuốc lá cho thấy tỉ lệ hao hụt trong quá trình bảo quản phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu và điều kiện khí hậu; trong thời gian bảo quản từ 9-12 tháng thuốc lá nguyên liệu cho tính chất hút tốt nhất
Trang 36Theo Nguyễn Đức Phương và cộng sự (2007): Đối với thuốc lá điếu, bước đầu đã chiết tách được một số chất thảo mộc có các ancaloit bổ sung độ nặng cho thuốc lá Nghiên cứu được tỷ lệ chất phụ gia thích hợp K+/axit citric với tỷ lệ 0,5% cho thấy chất phụ gia có tác dụng chuyển dịch pH về phía môi trường kiềm đối với thuốc lá điếu gu Virginia
Ngoài ra, có rất nhiều nghiên cứu về cách phối chế để nâng cao chất lượng thuốc lá Theo Lê Việt Hùng và cộng sự (2009) các sản phẩm thuốc lá điếu tại Việt Nam chủ yếu có hàm lượng nicotin từ 1,5-2,0mg/điếu và tỷ lệ 15% khối lượng sợi trương nở sử dụng trong hỗn hợp phối chế là phù hợp với sản phẩm Nguyễn Đình Trường và cộng sự (2008) khi nghiên cứu về một số loại phụ liệu nhằm giảm độc tố trong khói thuốc lá đã cho rằng: khi sử dụng đầu lọc có than hoạt tính có độ giảm áp
400 Pdo, giấy bầu lọc 14.000 CU và ghép đầu lọc đục lỗ 300CU với các loại giấy cuốn có độ thấu khí từ 40-70 CU thì hàm lượng nicotin, CO, hợp chất tar đều giảm
- Thu hoạch và chế biến thuốc lào
Có rất ít các công trình nghiên cứu về cây thuốc lào, các kỹ thuật thu hái và chế biến chủ yếu là kinh nghiệm truyền thống được lưu truyền hàng trăm năm nay
- Thu hái và ủ thuốc
Thu hái: Thuốc lào thường được thu hoạch các lá chính và lá ngọn vào thời
kỳ nắng nóng gió tây, khoảng đầu đến giữa tháng 5 (dương lịch) Thời gian thu hoạch như vậy, đảm bảo cho độ chín sinh lý của lá, lá tích luỹ các chất cần thiết tốt nhất, đồng thời thuận lợi cho chế biến thuốc
Đối với lá chân, thời gian thu vào khoảng cuối tháng 4 Số lá chân bình quân
là 5,4 lá/cây, dao động trong khoảng từ 3 – 8 lá/cây; thu hoạch lá chính và lá ngọn (cùng một lúc và chấm dứt vụ thu hoạch), số lá chính và lá ngọn có khoảng từ 15-30 lá/cây, trung bình mỗi cây là 20 lá
Ủ thuốc: Lá thu về được rọc bỏ sống lá, cuộn và ủ khoảng 5 ngày 4 đêm đến khi thuốc vàng chín đều ta thái thành sợi Nếu ủ ngắn ngày hơn, thuốc sẽ chưa chín hoàn toàn, khi thái sợi thuốc vẫn xanh; nếu để ủ quá ngày sẽ làm lá thuốc bị thối
Trang 37- Thái (thành sợi thuốc)
Sau khi cuộn thuốc được ủ chín (lá chín vàng đều) tiến hành thái thuốc Từ năm 2004 về trước thái thủ công bằng tay là chủ yếu; hiện nay các hộ sản xuất thuốc
có máy thái góp phần nâng cao hiệu suất lao động và chất lượng sợi thành phẩm
- Phơi thuốc
Đây là kỹ thuật đơn giản song lại rất quan trọng quyết định đến chất lượng thuốc Tất cả các vùng trồng thuốc hiện nay đều phơi trên phên tre Thời xa xưa, kỹ thuật phơi rất cầu kỳ, người ta “hồ” lên trên phên thuốc để thuốc được ngon hơn Tuy nhiên hiện nay thì kỹ thuật này không được phổ biến
Trong quá trình phơi thuốc, ta phải tiến hành phun nước (dạng sương) để làm cho sợi thuốc dai, đanh… song đặc biệt là tránh mưa Phơi thuốc vào những ngày nắng nóng, đặc biệt vào thời điểm có gió Tây Nam, chất lượng thuốc lào tốt nhất Bên cạnh
đó, trong quá trình phơi tuyệt đối tránh gặp mưa; nếu trong thời gian thái xong mà thời tiết không thuận, buộc phải tiến hành các biện pháp phơi khác như: sấy, hong…
- Đóng gói
Kỹ thuật đóng gói cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thuốc, nếu ta đóng gói không tốt sẽ làm cho thuốc bị mất hơi, hút không ngon và thậm chí còn dẫn đến thuốc bị mốc Sau khi phơi khô xong, sợi thuốc được để nguyên trên phên mang vào nhà, để cho thuốc dẻo lại là đủ điều kiện để đóng gói Thời gian để sợi thuốc dẻo và mềm tuỳ thuộc vào thời tiết, cụ thể là ẩm độ không khí Ẩm độ không khí khoảng 90% thì thời gian để dẻo sợi rất nhanh, chỉ khoảng vài giờ đồng hồ, và nếu khô, ẩm độ không khí dưới 80% thì lâu hơn nhiều Sợi thuốc đóng gói phải chặt, ép để giảm tối đa không khí trong các lớp thuốc, không đóng gói khi sợi thuốc
chưa dẻo để tránh gẫy sợi làm giảm chất lượng thuốc trong thời gian bảo quản
Ngoài ra, trong quá trình sơ chế thuốc, nông dân thường trộn sản phẩm thuốc của các tầng lá khác nhau, gọi là “đấu” thuốc, để đảm bảo chất lượng đồng đều
Về phương pháp đóng gói bảo quản: Trước đây, nông dân thường cho vào trong chum vại, khi đóng đầy, thường lót một lớp lá chuối khô sau đó mới tiến hành
Trang 38bịt kín miệng chum Ngoài ra, còn có công cụ ép thuốc sợi, khi thuốc phơi khô, tiến hành ép thuốc thành bánh có chiều dài khoảng 50cm, rộng 20 cm, dày 10 cm; sau đó xếp vào phương tiện bảo quản như chum, bao; giữa 2 bánh thuốc là lớp lá chuối khô
Hiện nay, chất lượng bao bì bằng nilon rất tốt, đa số người dân sử dụng túi nilon để đóng gói sản phẩm; tùy nilon dày hay mỏng có thể dùng tới 2-3 lớp nilon để đóng gói Bốc lật lớp sợi thuốc từ phên cho vào bao nilon, rải thành từng lớp, dùng bàn tay ấn ép mặt trên của các lớp sợi thuốc, các lớp thuốc được ép chặt, không khí trong các lớp sợi được ép đẩy ra ngoài Khi cho sợi thuốc vừa với kích thước của bao gói và đủ chặt thì bọc kín, không để cho mùi thuốc bay ra ngoài và cũng không để sợi thuốc hút ẩm từ không khí bên ngoài Bao gói sợi thuốc lào thường có hình khối lập phương, có thể khối vuông (Dương Đức Tùng và cộng sự, 2009)
Thuốc lào có thị trường tiêu thụ rộng rãi, đối tượng sử dụng thuốc lào không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn… vì thế, hàng trăm năm nay, diện tích trồng thuốc lào ở Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung không giảm Cây thuốc lào đã và đang là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao cho nhân dân địa phương, góp phần đắc lực vào đảm bảo an sinh – xã hội
b Cơ sở diệt sinh lý của diệt chồi bằng hóa chất Accotab và sự biến đổi lý hóa trong quá trình sơ chế thuốc lào
* Cơ sở diệt sinh lý của diệt chồi bằng hóa chất Accotab
Đối với thuốc lá và thuốc lào, việc ngắt chồi ngọn khi đã định hình số lá kinh
tế trên cây là kỹ thuật bắt buộc Tuy nhiên, việc ngắt chồi ngọn tức là đã loại trừ ưu thế ngọn nên lập tức các chồi bên mọc ra rất nhanh làm giảm năng suất và chất lượng thuốc nguyên liệu Người trồng thuốc lá, thuốc lào liên tục tỉa bỏ các chồi bên tốn rất nhiều công lao động Việc nghiên cứu sử dụng các hóa chất có khả năng ức chế chồi bên là rất quan trọng Theo Nguyễn Minh Chơn (2004), những chất ức chế quá trình sinh tổng hợp tế bào thực vật thông qua qua ngăn cản quá trình tổng hợp aminoacid, hay ức chế tổng hợp carotenoid, ức chế sinh tổng hợp lipid hoặc ngăn cản quá trình phân chia tế bào như carbamate (propham), dinitroaniline…
Trang 39Nguyên phân là quá trình phân chia của tế bào trong đó nhiễm sắc thể nằm trong nhân tế bào được chia ra làm hai phần giống nhau và giống về số lượng và thành phần của nhiễm sắc thể trong tế bào mẹ Xảy ra cùng với nguyên phân là sự phân chia tế bào chất, các bào quan và màng nhân thành ra hai tế bào với thành phần bằng nhau Dinitroaniline, có tác dụng ức chế phân chia tế bào thông qua phá
vỡ quá trình phân bào nguyên nhiễm (Lê Văn Tám, 2011)
Hóa chất Accotab có hoạt chất là pendimethalin thuộc nhóm thuốc trừ cỏ dinitroanalines chứa nhân dinitroaniline, có tác dụng ức chế phân chia tế bào thông qua phá vỡ quá trình phân bào nguyên nhiễm, làm cho chồi không phát triển được Pendimethalin có hiệu quả cao trong việc trừ cỏ hàng năm và cỏ lá rộng, được đưa vào làm thuốc trừ cỏ tiền nẩy mầm; thuốc bền trong đất một vài tuần nếu ở liều lượng thấp và bền tới một năm nếu dùng ở liều lượng cao (Phạm Thị Phong, 1991) Hoá chất Accotab đã và được sử dụng rộng rãi trên cây thuốc lá đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất Do chỉ dùng một lần trong suốt quá trình sinh trưởng của cây nên không có ảnh hưởng xấu đến chất lượng thuốc lá vàng sấy Do đó, cần được quan tâm đưa vào sử dụng trên cây thuốc lào
* Một số biến đổi lý hóa chính trong quá trình sơ chế thuốc lào
Theo Trần Việt Thắng (1996), lá thuốc đã hái khỏi cây, vẫn tiếp tục sống trong một thời gian nhất định khoảng 2- 3 ngày nếu đủ ẩm và vẫn tiếp tục xảy ra các trao đổi chất ở bên trong các tế bào, trao đổi khí với môi trường bên ngoài
Sự trao đổi chất trong các lá thuốc đã hái khỏi cây gọi là trao đổi đói, quá trình phân ly mạnh hơn quá trình tổng hợp Do quá trình thủy phân tinh bột, protit, pectin, glucozit xảy ra rất mạnh, màu sắc của lá từ màu xanh thành màu vàng do sự phân hủy clorofin Những chất này chỉ bị phân hủy nhiều trong giai đoạn ủ nghĩa là trong khi các mô của lá còn sống Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ của quá trình ủ
là nhiệt độ và độ ẩm Khi nhiệt độ tăng sẽ làm tăng nhanh phản ứng thủy phân tinh bột và protit, nhưng nhiệt độ thuận lợi nhất để ủ thuốc là 250C - 350C
Trong quá trình sơ chế, thành phần trong lá thuốc biến đổi chính liên quan đến chất lượng thuốc là:
Trang 40- Hao hụt chất khô: Sự tổn thất chất khô không những chỉ do những quá trình oxy hóa mà còn do các sản phẩm bay hơi có sẵn trong thuốc lá Trung bình trong thời gian sơ chế thuốc lá khối lượng bị tổn thất 6 – 7%
- Các chất gluxit: Các lá thuốc phụ thuộc vào điều kiện trồng trọt mà có tích lũy các gluxit khác nhau Trong thời gian ủ, phơi, nhóm gluxit thực chất bị thay đổi Hàm lượng tinh bột bị giảm nhiều Các polysaccharit phức tạp (celuloze, bentoxa) thay đổi rất ít trong quá trình này
- Các chất polyphenol và glucozit: biến đổi trong thời gian lên ủ thuốc lá có một giá trị lớn trong việc tạo thành các chất sắc tố và các sản phẩm thơm của thuốc khi cháy Trong quá trình lên men lượng polyphenol tự do giảm xuống Lượng glucozit còn lại không thay đổi
- Chất pectin: có sự thay đổi về số lượng của pectin cũng có ảnh hưởng đến những tính chất nước lý học của nguyên liệu Trong thời gian lên men thuốc lá, lượng pectin giảm
- Các chất nitơ: Trong thời gian ủ, các hợp chất nitơ không hoà tan trong nước không bị thay đổi, còn các hợp chất nitơ hòa tan thay đổi rất nhiều Các aminoaxit phân ly, đồng thời làm lượng amoniac tăng lên, lượng nicotin giảm
- Các chất thơm: Mặc dù các chất thơm tham gia trực tiếp vào sự tạo thành mùi thơm (tinh dầu) hoặc tham gia vào sự tạo thành các sản phẩm thơm khi cháy (nhựa và các hợp chất khác) nhưng cho đến nay vẫn ít được nghiên cứu đầy đủ Thuốc đã sấy khô nhưng chưa ủ thì chưa có được đặc tính thơm của nguyên liệu và mùi thơm của khói của những sản phẩm đã lên men Hàm lượng tinh dầu sau thời gian lên men giảm Tuy nhiên hương thơm lại tăng lên, đó là sự thay đổi phẩm chất của tinh dầu
c Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thuốc lào
* Thành phần hóa học chính trong sợi thuốc lào
- Hàm lượng nicotin (C10H14N2): Nicotin là chất lỏng không màu, có tính kiềm, sánh như dầu, tan trong nước và bay hơi theo nước Nicotin có hàm lượng trong lá thuốc
lá biến động 2-4%; thuốc lào từ 5-9% (Lê Đình Thụy và Phạm Kiến Nghiệp, 1996)