Tiền lương là một nhân tố vật chất quan trọng trong việc kích thích người lao động tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, động viên người lao động nâng cao trình độ lành nghề, g
Trang 1PHIẾU GIAO ĐỀ CƯƠNG ĐỒ ÁN/ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ: Bằng 2
1 Họ và tên sinh viên/ nhóm sinh viên được giao đề tài(sĩ số trong nhóm…)
(1)……… MSSV……… Lớp ………
Nghành:………
Chuyên ngành:………
2 Tên đề tài………
………
3 Các dữ liệu ban đầu:………
………
4 Các yêu cầu chủ yếu:………
………
5 Kết quả tối thiểu phải có: (1) ………
(2) ………
(3) ………
(4) ……… Ngày giao đề tài: 08/10/2012 Ngày nộp báo cáo: 10/12/2012
TP HCM, ngày tháng năm 2012
Chủ nhiệm nghành Giảng viên hướng dẫn
Trang 2bảo tận tình của thầy cô và đồng nghiệp Trong quá trình thực hiện đề án tôi
đã sử dụng rất nhiều bảng báo cáo cũng như số liệu từ các phòng ban cung cấp cho
Đây là đề án về Cửa hàng thực phẩm quận 8 nên tôi cam đoan tất cả những tài liệu sổ sách cũng như các số liệu sử dụng trong đề án này là hoàn toàn sự thật, do chính các phòng ban trong cửa hàng cung cấp
Nếu có điều gì gian dối tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 12 năm 2012 Tác giả
Nguyễn Hoàng Bảo Châu
Trang 3
Để hoàn thành báo cáo thực tập, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tận
tình của các thầy cô, đồng nghiệp Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi
người đã giúp đỡ cho tôi hoàn thành khóa luận
Xin cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô khoa Quản trị Kinh doanh – Trường đại học kỹ thuật công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Cô hướng dẫn của tôi là Thạc sĩ
Trần Thị Trang - Giảng viên khoa Quản trị Kinh doanh, tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện báo cáo này
Xin cảm ơn sâu sắc đến Ban Lãnh đạo Cửa hàng thực phẩm quận 8, các đồng nghiệp, nơi tôi làm việc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
nghiên cứu thực tế để thực hiện báo cáo này
Do những hạn chế nhất định, báo cáo sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp xây dựng của Quý Thầy Cô để khóa
luận đựơc hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Sinh viên Nguyễn Hồng Bảo Châu
Trang 5
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHẬN XÉT THỰC TẬP
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hoàng Bảo Châu
MSSV: 406401008
Khóa: 2006-2009
1.Thời gian thực tập:
………
………
2.Bộ phận thực tập ………
3.Tinh thần với công việc và ý thức chấp hành kỷ luật: ………
………
4.Kết quả thực tập đề tài: ………
………
5.Nhận xét chung: ………
………
………
TP HCM, ngày 8 tháng 12 năm 2012
Đơn vị thực tập
Trang 7NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
TP HCM, ngày 10 tháng 12 năm 2012 Giảng viên hướng dẫn
Trang 81.1 Khái niệm về bản chất và vai trò của tiền lương 4
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tiền lương 4
1.1.2 Vai trò của tiền lương 7
1.1.3 Nguyên tắc trả lương trong doanh nghiệp 8
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương trong doanh nghiệp 10
1.3 Nội dung công tác quản lý tiền lương trong doanh nghiệp 12
1.3.1 Xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương 12
1.3.2 Xây dựng các hình thức trả lương 14
1.3.3 Các hình thức trả công khác 16
1.3.4 Đánh giá hiệu quả công tác quản lý tiền lương trong doanh nghiệp 19
1.4 Kết luận chương 1 21
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tiền lương tại Cửa hàng thực phẩm quận 8 22
2.1 Giới thiệu chung về cửa hàng 22
2.1.1 Quá trình hình thành Công ty TNHH MTV VISSAN 22
2.1.2 Lịch sử hình thành chi nhánh Công ty TNHH MTV VISSAN- Cửa hàng thực phẩm quận 8 24
2.1.2.1 Quá trình hình thành cửa hàng 24
2.1.2.2 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của cửa hàng 27
2.1.2.2.a Đặc điểm về sản phẩm 27
2.1.2.2.b Đặc điểm về công nghệ máy móc thiết bị 28
2.1.2.2.c Đặc điểm về lao động của cửa hàng 28
2.2 Tình hình kinh doanh của cửa hàng trong năm 2009,2010,2011 31
2.3 Thực trạng về quản lý tiền lương tại Cửa hàng thực phẩm quận 8 33
Trang 92.3.4 Xây dựng các hình thức trả lương 38
2.3.5 Hệ thống thưởng phụ cấp bảo hiểm và các quyền lợi khác của cửa hàng thực phẩm quận 8 43
2.3.6 Nhận xét chung và công tác quản lý tiền lương của của hàng 45
2.3.6.1 Hiệu quả đạt được 45
2.3.6.2 Những hạn chế 47
2.4 Kết luận chương 2 49
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tiền lương tại Cửa hàng thực phẩm quận 8 51
3.1 Các giải pháp 51
3.1.1 Phân bổ lại quỹ tiền lương thời gian 51
3.1.2 Hoàn thiện công tác tổ chức nơi làm việc 53
3.1.3 Hoàn thiện công tác chi trả lương cho nhân viên 55
3.1.4 Tổ chức chỉ đạo sản xuất 58
3.2 Một số kiến nghị đối với Nhà nước để nâng cao hiệu quả quản lý tiền lương tại cửa hàng 63
Kết luận 65
Tài liệu tham khảo 66
Trang 10Sơ đồ 2.2 Sơ đồ tổ chức cửa hàng thực phẩm quận 8 26
Các bảng sử dụng trong luận văn này Bảng 2.1 Bảng cơ cấu lao động tại cửa hàng 29
Bảng 2.2 Bảng cơ cấu trình độ của cửa hàng 30
Bảng 2.3 Bảng tình hình kinh doanh của cửa hàng thực phẩm quận 8 31
Bảng 2.4 Bảng nhu cầu tuyển dụng năm 2012 của cửa hàng 34
Bảng 2.5 Bảng quỹ lương lao động 37
Bảng 2.6 Bảng hệ số lương của cán bộ và công nhân viên 39
Bảng 2.7: Bảng phụ cấp chức vụ cán bộ và công nhân viên 40
Bảng 2.8: Bảng chấm công tổ kế toán 40
Bảng 2.9: Bảng chấm công Quầy Tân Mỹ 42
Trang 11L ỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài: Tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng
hợp, nó luôn được xã hội quan tâm bởi ý nghĩa kinh tế và xã hội to lớn của
nó Tiền công có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người lao động vì nó là nguồn thu nhập quan trọng giúp đảm bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình họ
Đối với mỗi doanh nghiệp thì tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất, và đối với một đất nước thì tiền lương là sự cụ thể hóa quá trình phân phối của cải vật chất do chính người trong xã hội tạo ra
Với tính cấp thiết đó mà tôi đã chọn đề tài “ QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN VIỆT NAM KỸ NGHỆ SÚC SẢN(VISSAN)- CỬA HÀNG THỰC PHẨM QUẬN 8”
2 Tình hình nghiên cứu: Đây được xem là vấn đề rất nhạy cảm hiện nay, nó là nguyên nhân chủ yếu của các cuộc đình công và mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động Với các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như:
Ngày 19/9/2012, tại trụ sở Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Hội đồng nghiệm thu do ông Trần Văn Ngợi, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước làm Chủ tịch đã tổ chức họp nghiệm thu 02 chuyên đề nghiên cứu khoa học năm 2011 Tham dự cuộc họp nghiệm thu có các thành viên của Hội đồng nghiệm thu chuyên đề nghiên cứu khoa học, Lãnh đạo Viện, Trưởng phòng, Giám đốc Trung tâm, một số nghiên cứu viên các đơn vị thuộc Viện Khoa học tổ chức nhà nước
a Chuyên đề “Nghiên cứu lý luận về tiền lương và một số kiến nghị cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức”
Trang 12b Chuyên đề “Kinh nghiệm xác định chức danh nghề nghiệp đối với viên chức ở một số nước trên thế giới”
3 Mục đích nghiên cứu: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền công là yếu tố quyết định rất lớn đến kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tiền lương là một nhân
tố vật chất quan trọng trong việc kích thích người lao động tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, động viên người lao động nâng cao trình độ lành nghề, gắn trách nhiệm của người lao động với công việc để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: Chính vì tầm quan trọng của nó mà mỗi xí nghiệp, công ty hiện nay cần phải áp dụng hình thức trả lương như thế nào cho nó phù hợp với tính chất và đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để thu được hiệu quả kinh tế cao và là đòn bẩy mạnh mẽ kích thích tinh thần làm việc với người lao động
5 Phương pháp nghiên cứu: Với tính cấp bách của vấn đề tiền lương tại các doanh nghiệp và với công việc hiện tại là nhân viên của phòng tổ chức Cửa hàng thực phẩm quận 8 Tôi có điều kiện tiếp xúc và được các anh chị đồng nghiệp trao đổi và cung cấp thông tin, số liệu để thực hiện đề tài này Thông qua công việc mà tôi đang làm cũng như qua các số liệu của Tổ Kế toán, Tổ nghiệp vụ và các quầy giới thiệu sản phẩm phần nào giúp tôi khái quát được những ưu và khuyết điểm tại Cửa hàng thực phẩm quận 8
6 Các kết quả đạt được của đề tài: Với những phân tích và đánh giá tình hình quản lý tiền lương tại Cửa hàng thực phẩm quận 8 thông qua đó giúp cho cửa hàng có được cách quản lý tiền lương hợp lý hơn và tránh được những tranh chấp không đáng có giữa người sử dụng lao động và người lao động và tạo được động lực cho cán bộ công nhân viên phấn đấu giúp doanh nghiệp hoàn thành các kế hoạch
Trang 13Trong thời gian thực tập tại Chi nhánh Công ty TNHH MTV VISSAN- Cửa hàng thực phẩm quận 8 tôi đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài :"Quản lý tiền
l ương tại Chi nhánh Công ty TNHH MTV VISSAN- Cửa hàng thục phẩm quận 8" làm khoá luận tốt nghiệp
Nội dung của khóa luận được trình bày ở 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tiền lương
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý tiền lương tại Cửa hàng thực
phẩm quận 8
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý tiền lương tại Cửa hàng thực phẩm quận 8
Trang 14C HƯƠNG 1
N HỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm, bản chất và vai trò của tiền lương
1.1.1 Khái ni ệm và bản chất của tiền lương
Theo nghĩa rộng “Tiền công” bao trùm tất cả các hình thức bù đắp mà
một doanh nghiệp dành cho người lao động Nó bao gồm tiền lương, tiền hoa
hồng, tiền thưởng và các hình thức trả tiền khác
Phần chính của tiền công là tiền lương do đó trong thực tiễn chúng ta
thường dùng khái niệm tiền lương với nghĩa là tiền công
Tiền lương là một phạm trù kinh tế, nó là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc gì đó Tiền
lương có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau phụ thuộc vào từng thời kỳ và cách tiếp cận khác nhau
Đối với thành phần kinh tế nhà nước tư liệu lao động thuộc sở hữu nhà
nước, tập thể lao động từ giám đốc đến công nhân đều là người bán sức lao động, làm thuê cho nhà nước và được nhà nước trả công dưới dạng tiền
lương Ở đây, tiền lương mà người lao động nhận được là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan tổ chức nhà nước trả theo hệ thống thang bảng lương của nhà nước quy định Còn trong các thành phần, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, sức lao động đã trở thành hàng hóa vì người lao động không có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất mà họ đang sử dụng, họ là
người làm thuê cho các ông chủ, tiền lương do các xí nghiệp, tổ chức ngoài
quốc doanh trả nhưng việc trả lương ấy lại chịu tác động chi phối của thị
trường sức lao động Tiền lương trong khu vực này vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật và theo chính sách hướng dẫn của nhà nước, nhưng những thỏa
Trang 15thuận cụ thể giữa người lao động và người sử dụng lao động có tác động trực
tiếp đến phương thức trả lương Thời kỳ này sức lao động được nhìn nhận
thực sự như một hàng hóa, do vậy tiền lương không phải một cái gì khác mà chính là giá cả của sức lao động
Sức lao động là yếu tố quyết định trong các yếu tố cơ bản của quá trình
sản xuất nên tiền lương là vốn đầu tư ứng trước quan trọng nhất, là giá cả sức lao động và là một phạm trù kinh tế, yêu cầu phải tính đúng, tính đủ khi thực
hiện quá trình sản xuất Sức lao động là hàng hóa cũng như mọi hàng hóa khác, nên tiền công là phạm trù trao đổi, nó đòi hỏi phải ngang với giá cả các
tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động
Như vậy, xét trên phạm vi toàn xã hội thì tiền lương là một phạm trù kinh tế tổng hợp quan trọng trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành
phần hiện nay
Với quan điểm mới này tiền lương đã đánh giá đúng giá trị sức lao động, tiền tệ hóa tiền lương triệt để hơn, xóa bỏ tính phân phối cấp phát và trả
lương bằng hiện vật đồng thời khắc phục quan điểm coi nhẹ lợi ích cá nhân
như trước kia, tiền lương đã được khai thác triệt để vai trò đòn bẩy kinh tế, nó kích thích người lao động gắn bó hăng say với công việc hơn
Đối với người quản lý, tiền lương được coi như một công cụ quản lý
Tiền lương là một khoản cấu thành nên giá thành của sản phẩm, do vậy nó là
một khoản khấu trừ vào doanh thu khi tính kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, tiền lương được chủ các doanh nghiệp dùng như
một công cụ tích cực tác động tới người lao động Tiền lương gắn chặt với quy luật nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm thời gian lao động Bởi vì
tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng tiền lương đồng thời là động lực thúc đẩy việc tăng số lượng và chất lượng sản phẩm Tiền lương là lợi ích vật chất
trực tiếp mà người lao động được hưởng từ sự cống hiến sức lao động họ bỏ
Trang 16ra sẽ có tác dụng khuyến khích người lao động tích cực lao động, quan tâm
hơn nữa đến kết quả lao động của họ Từ đó tạo điều kiện tăng năng suất lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển
Đối với người lao động, sức lao động thuộc quyền sở hữu của người lao động, góp phần tạo ra giá trị mới nên trong phần thu nhập, tiền lương là khoản thu nhập chính đáng của họ Tiền lương là phương tiện để duy trì và khôi
phục năng lực lao động trước, trong và sau quá trình lao động (tái sản xuất
sức lao động) Tiền lương nhận được là khoản tiền họ được phân phối theo lao động mà họ đã bỏ ra
Tiền lương của người lao động còn thể hiện dưới dạng tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Tiền lương danh nghĩa là số lượng tiền tệ mà
người lao động nhận được hàng tháng từ kết quả lao động của mình Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm
việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, thâm niên ngay trong quá trình lao động Còn tiền lương thực tế được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa, dịch vụ cần thiết mà người lao động có thể trao đổi được thông qua tiền
lương danh nghĩa của mình Do đó tiền lương thực tế không những liên quan đến tiền lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến động của giá cả hàng hóa và các công việc phục vụ
Tóm lại, tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động khi hoàn thành công việc nào đó Tiền lương được biểu hiện
bằng giá cả sức lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào số lượng lao động cũng như mức độ phức tạp, chất độc hại của công việc để tính
lương cho người lao động Tuy nhiên, trong bước đầu thay đổi hệ thống tiền
lương dẫ dần theo kịp những yêu cầu đổi mới trong toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như doanh nghiệp nói riêng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
hướng dẫn chi tiết về tiền lương và các chế độ thực hiện trong mỗi doanh
Trang 17nghiệp, thể hiện là Nghị định 28/CP ngày 28/3/1997 về chế độ tiền lương mới trong doanh nghiệp Như vậy, tiền lương phải phản ánh đúng giá trị sức lao động, chỉ có như vậy, tiền lương mới phát huy hết được những vai trò to lớn
của nó trong mỗi doanh nghiệp nói chung và trong nền kinh tế nói riêng
1.1.2 Vai trò c ủa tiền lương trong doanh nghiệp
Như ta đã biết, tiền lương là thù lao trả cho người lao động, trong doanh nghiệp nó đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả nhất, có tinh thần trách nhiệm trong công việc Khi
lợi ích của người lao động được đảm bảo bằng các mức lương thỏa đáng, nó
sẽ tạo ra sự gắn kết cộng động giữa người sử dụng lao động và người lao động, tạo cho người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, tự giác hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà các nhà kinh tế gọi
là “phản ứng dây chuyền tích cực của tiền lương”
Mặt khác tiền lương với tư cách là giá trị đầu vào quan trọng, là khoản
mục lớn trong giá thành sản phẩm Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một
yếu tố của chi phí sản xuất, mục đích của nhà sản xuất, là tối thiểu hóa chi phí, còn đối với người lao động, tiền lương là mục đích và là lợi ích của họ
Với ý nghĩa này tiền lương không chỉ mang bản chất là chi phí mà nó trở thành phương tiện tạo ra giá trị mới, hay nói đúng hơn nó là nguồn cung ứng
sự sáng tạo, sức sản xuất, năng lực của người lao động trong quá trình sản sinh ra giá trị gia tăng
Tiền lương là một phần chi phí, do vậy bất cứ doanh nghiệp nào cũng
muốn trả lương thấp hơn nhưng với chất lượng phải cao Chính vì sự mâu thuẫn giữa người chủ doanh nghiệp và người lao động như vậy luôn luôn cần
có sự can thiệp của Nhà nước Nhà nước không can thiệp sâu vào các doanh nghiệp mà chỉ là người đứng giữa dàn xếp sao cho hai bên đều có lợi
Trang 181.1.3 Nguyên t ắc trả lương trong doanh nghiệp
Nhiệm vụ của tổ chức tiền lương là phải xây dựng được chế độ tiền
lương mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Việc trả lương cho công nhân viên
chức, người lao động nói chung phải thể hiện được quy luật phân phối theo lao động Vì vậy, việc tổ chức tiền lương phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho người lao động
Làm cho năng suất lao động không ngừng tăng
Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu
Vậy, nguyên tắc cơ bản trong tổ chức tiền lương là cơ sở quan trọng
nhất để xây dựng được một cơ chế trả lương, quản lý tiền lương và chính sách thu nhập thích hợp trong một thể chế kinh tế nhất định Ở nước ta khi xây
dựng các chế độ trả lương và tổ chức tiền lương phải theo các nguyên tắc sau:
Nguyên t ắc 1: Trả lương ngang nhau cho những người lao động như
nhau
Với những công việc giống nhau, những người lao động giống nhau về
sự lành nghề, mức cố gắng và những mặt khác thì cơ chế cạnh tranh sẽ làm cho mức lương giờ của họ hoàn toàn giống nhau Đây là nguyên tắc đầu tiên
cơ bản nhất của công tác tiền lương Nguyên tắc này dựa trên quy luật phân
phối theo lao động, căn cứ vào số lượng, chất lượng lao động mà người lao động đã cống hiến để trả lương cho họ không phân biệt tuổi tác, giới tính, dân
tộc
Nguyên tắc 2: Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn mức tăng
của tiền lương bình quân
Đây là nguyên tắc quan trọng của tổ chức tiền lương, vì có như vậy mới
tạo cơ sở cho việc giảm giá thành, hạ giá cả và tăng tích lũy
Nguyên tắc này xuất phát từ 2 cơ sở sau:
Trang 19- Do các nhân tố tác động tới năng suất lao động (NSLĐ) tiền lương là khác nhau: tác động tới NSLĐ chủ yếu là các nhân tố khách quan như thay đổi kết cấu nguồn lực, thay đổi quy trình công nghệ Các nhân tố này làm tăng NSLĐ mạnh mẽ hơn các nhân tố chủ quan Các nhân tố tác động tới tiền
lương bình quân là các nhân tố chủ quan như người lao động tích lũy được kinh nghiệm sản xuất nâng cao được trình độ lành nghề, các nhân tố khách quan thì tác động ít và không thường xuyên Ví dụ như: cải cách chế độ tiền
lương, thay đổi các khoản phụ cấp
- Do yêu cầu của tái sản xuất mở rộng cho nên tốc độ tăng sản phẩm khu vực I (khu vực sản xuất các TLSX) phải lớn hơn tốc độ tăng sản phẩm
của khu vực II (khu vực các TLTD) Tốc độ tăng của tổng sản phẩm xã hội (I+II) lớn hơn tốc độ tăng của khu vực II làm cho năng suất lao động xã hội
phải tăng lên nhanh hơn sản phẩm của khu vực II tính bình quân trên đầu
người lao động (cơ số của lương thực tế) Ngoài ra sản phẩm của khu vực II không phải đem toàn bộ để nâng cao tiền lương thực tế mà còn phải trích lại
một bộ phận để tích lũy Vì vậy, muốn tiền lương của công nhân viên không
ngừng nâng cao thì năng suất lao động cũng không ngừng nâng cao và phải
tăng với tốc độ cao hơn tốc độ tăng của tiền lương
Như vậy, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như trong nội bộ doanh nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy thì không còn con đường nào khác ngoài việc làm cho tốc độ tăng NSLĐ nhanh hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân Vi phạm nguyên tắc này sẽ tạo khó khăn trong phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của người lao động
Nguyên t ắc 3: Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những
người làm những nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở của nguyên tắc này là căn cứ vào chức năng của tiền lương là tái
sản xuất sức lao động, kích thích người lao động, do vậy phải đảm bảo mối
Trang 20quan hệ hợp lý tiền lương giữa các ngành, tiền lương bình quân giữa các ngành được quy định bởi các nhân tố:
- Nhân tố trình độ lành nghề của mỗi người lao động ở mỗi ngành: Nếu trình độ lành nghề cao thì tiền lương sẽ cao và ngược lại, nếu trình độ lành nghề thấp thì tiền lương sẽ thấp
- Nhân tố điều kiện lao động: sự khác nhau về điều kiện lao động của các ngành sẽ dẫn đến tiền lương khác nhau Ví dụ người lao động làm việc trong các hầm mỏ có điều kiện làm việc khó khăn, độc hại thì sẽ có tiền lương cao hơn so với lao động trong những điều kiện tốt hơn
- Nhân tố Nhà nước: do ý nghĩa kinh tế của mỗi ngành phụ thuộc vào điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ mà Nhà nước tự ưu tiên nhất định
- Nhân tố phân bổ khu vực sản xuất của mỗi ngành khác nhau, chẳng
hạn: các ngành phân bổ ở những khu vực có đời sống khó khăn, khí hậu, giá
cả đắt đỏ thì tiền lương phải cao hơn các vùng khác để đảm bảo đời sống cho
yếu tố Chính vì vậy muốn thực hiện tốt công tác quản lý tiền công và tiền
lương thì đòi hỏi các cấp quản trị của công ty phải nghiên cứu đầy đủ các yếu
Trang 21- Thị trường lao động: hiện nay, do sự tồn tại của thị trường lao động nên vai trò điều phối lao động của tiền lương thể hiện ngày càng rõ nét Vì
vậy tuỳ thuộc vào tình hình cung cầu trên thị trường lao động mà doanh nghiệp có thể điều chỉnh mức lương cho phù hợp
-Mức giá cả sinh hoạt: tiền lương phải phù hợp với giá cả sinh hoạt, đó
là quy luật của bất cứ quốc gia nào trên thế giới Như chúng ta đã biết, tiền
lương thực tế tỉ lệ nghịch với giá cả sinh hoạt và tỉ lệ thuận với tiền lương danh nghĩa
Do đó mức giá cả sinh hoạt tăng lên thì tiền lương thực tế giảm xuống
Vì vậy các doanh nghiệp phải tăng tiền lương danh nghĩa để đảm bảo đời
sống cho công nhân
-Vị trí địa lý: sự chênh lệch tiền lương luôn tồn tại giữa các khu vực địa
lý khác nhau, cùng một công việc, cùng một ngành nghề nhưng ở những nơi khác nhau mức lương sẽ khác nhau Lý do chung là do giá cả sinh hoạt ở các
nơi đó là khác nhau Các doanh nghiệp nên lưu ý đến yếu tố này để chi trả
lương cho hợp lý
- Năng suất lao động trong ngành và các hình thức khuyến khích hoàn thành công việc trong ngành cũng ảnh hưởng rất lớn đến tiền lương Các hình
thức thưởng tiền cho công nhân khi họ hoàn thành tốt công việc hoặc trả
lương theo phần trăm số sản phẩm làm được sẽ giúp thu hút nhân viên và tạo động lực cho họ hăng say làm việc
- Công đoàn: là một thế lực rất mạnh mà các cấp quản trị phải thoả thuận trong các lĩnh vực như tiêu chuẩn để xếp lương, các mức chênh lệch
lương và phương pháp trả lương Bởi vì công đoàn là tổ chức bảo vệ quyền
của người lao động trong đó có tiền lương
- Đặc điểm hình thức lĩnh vực ngành kinh doanh sản xuất: có một số ngành mà sự hoạt động của nó liên quan đến sự phát triển của đất nước nên
Trang 22rất được sự quan tâm và khuyến khích Vì vậy chính sách tiền lương cũng được lưu ý giữa các ngành
- Kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm của nhân viên: người lao động làm
việc trong các doanh nghiệp thường được tính lương theo bậc, theo trình độ tay nghề, theo thâm niên công tác và theo kết quả làm việc
Ngoài ra, tiền lương và tiền công còn chịu ảnh hưởng của tình hình làm
ăn của công ty, các chính sách về nhân sự của doanh nghiệp, các tiêu chuẩn
của ngành
1.3 Nội dung công tác quản lý tiền lương trong doanh nghiệp
Bất cứ doanh nghiệp nào khi thực hiện tính lương cho công nhân đều
phải dựa vào một số văn bản, nghị định, quy định của Nhà nước
- Căn cứ vào Nghị định 26/CP ngày 25/5/1993
- Căn cứ vào Nghị định của Chính phủ ngày 18/11/1997 về mức lương
tối thiểu số 10.2000
- Căn cứ vào Nghị định số 28/CP ngày 28/3/1997
- Căn cứ vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành mà các công ty hay doanh nghiệp có thể lựa chọn và xây dựng phương án trả lương của mình
1.3.1 Xây d ựng hệ thống thang lương bảng lương
Theo khoản 4 điều 5 Nghị định số 114/2002/NĐ-CP, doanh nghiệp tiếp
tục áp dụng thang lương bảng lương quy định tại Nghị định số 25/CP, NĐ số 26/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương
mới của công chức, viên chức Việc xây dựng thang lương, bảng lương được xác định theo các trình tự sau:
* Phân tích công việc:
- Tiến hành thống kê đầu tư các công việc theo từng chức danh đang sử
dụng trong doanh nghiệp
Trang 23- Thu thập những thông tin chi tiết về từng vị trí công việc cụ thể để xác định nhiệm vụ chính, nhiệm vụ phụ, các mối quan hệ của từng chức danh công việc và xác định các yêu cầu chuyên môn về trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, kiến thức, kỹ năng, thể chất, điều kiện làm việc cần thiết
của từng công việc
* Đánh giá giá trị công việc:
Trên cơ sở phân tích công việc, tiến hành đánh giá giá trị công việc để xác định những vị trí công việc tương tự nhau có thể được tập hợp thành nhóm làm cơ sở xác định thang lương, bảng lương cho mỗi nhóm
Các bước đánh giá giá trị công việc như sau:
- Lập danh sách các yếu tố công việc theo nhóm yếu tố công việc chủ
yếu về: kiến thức, kỹ năng, trí lực, thể lực và cường độ lao động, môi trường, trách nhiệm Trong mỗi nhóm yếu tố công việc, doanh nghiệp xác định cụ thể các yếu tố thành phần theo các mức độ từ thấp đến cao Các yếu tố công việc
là cơ sở để so sánh giữa các vị trí công việc trong doanh nghiệp
- Lựa chọn các vị trí để đánh giá: trên cơ sở danh sách các yếu tố công
việc, đánh giá giá trị công việc cho từng vị trí riêng biệt trong doanh nghiệp, đồng thời so sánh các yêu cầu chuyên môn của từng vị trí
- Đánh giá và cho điểm các mức độ của các yếu tố để đánh giá và cho điểm các yếu tố thành phần theo các mức độ, trên cơ sở đó xác định thang điểm cho các yếu tố phù hợp với công việc
- Cân đối thang điểm giữa các yếu tố nhằm đánh giá mức độ phức tạp hay giá trị của mỗi yếu tố trong tổng thể các yếu tố cấu thành công việc từ đó điều chỉnh lại thay đổi cho hợp lý
* Phân ngạch công việc
Sau khi phân tích, đánh giá giá trị từng công việc, tiến hành nhóm các công việc có cùng chức năng và yêu cầu kiến thức, kỹ năng tương tự nhau
Trang 24Mỗi nhóm công việc được quy định thành một ngạch công việc tùy theo tầm quan trọng của nhóm công việc theo trình tự phân ngạch công việc tiến hành theo các bước sau:
- Tập hợp các công việc riêng lẻ thành các nhóm công việc
- Thiết lập các mức ngạch công việc và tiêu chuẩn phân ngạch
- Quy định một ngạch công việc cho mỗi nhóm công việc
* Thiết lập thang lương, bảng lương cho từng ngạch công việc
Thiết lập thang lương bảng lương trên cơ sở các thông tin thu thập được và các yếu tố ảnh hưởng đã xem xét, việc thiết lập thang lương, bảng
lương được tiến hành theo trình tự sau:
- Xác định các ngạch lương trong doanh nghiệp thông qua việc lấy thông tin từ khâu phân ngạch công việc
- Xác định số bậc lương trong mỗi ngạch căn cứ vào việc tính các điểm
ưu thế theo kết quả làm việc và xem xét mức độ phức tạp cần có đối với thang
lương, bảng lương
- Quy định mức lương theo ngạch và theo bậc
1.3.2 Xây d ựng các hình thức trả lương
Các hình thức trả lương được thực hiện thông qua các chế độ tiền
lương Hiện nay ở nước ta có 2 loại chế độ tiền lương là chế độ tiền lương cấp
bậc và chế độ tiền lương chức vụ Chế độ tiền lương cấp bậc là quy định của Nhà nước mà doanh nghiệp áp dụng trả cho người lao động theo chất lượng
và điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nào đó Trong chế độ
tiền lương cấp bậc bao gồm thang lương, bảng lương, hệ số lương và mức
lương
Chế độ trả lương theo chức vụ là những quy định của Nhà nước áp
dụng để trả lương cho cán bộ và nhân viên thuộc các thành phần kinh tế khác nhau
Trang 25Dựa trên những chế độ trả lương đó có các hình thức trả lương sau:
1.3.4.1 Hình th ức trả lương theo thời gian
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với người làm công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ áp dụng ở những bộ phận lao động bằng máy móc thiết bị là chủ yếu hoặc những công việc không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác hoặc vì tính chất của sản phẩm
sẽ không đảm bảo được chất lượng của sản phẩm, sẽ không đem lại hiệu quả thiết thực
Hình thức trả lương theo thời gian gồm 2 chế độ:
- Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn
Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn là chế độ trả lương mà tiền
lương nhận được của mỗi công nhân do mức lương cao hay thấp và thời gian
thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định Chế độ trả lương này áp dụng ở
những nơi khó xác định mức lao động chính xác, khó đánh giá công việc chính xác
Công thức tính như sau:
LTT = LCB x T Trong đó:
LTT Lương thực tế người lao động nhận được
LCB Lương cấp bậc tính theo thời gian
T Thời gian lao động thực tế
Có 3 loại lương theo thời gian giản đơn là:
- Lương giờ: Tính theo mức lương cấp bậc giờ và số giờ làm việc
- Lương ngày: Tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc
thực tế trong tháng
- Lương tháng: tính theo mức lương cấp bậc tháng
Trang 26Chế độ tiền lương này có nhiều hạn chế vì tiền lương không gắn với kết
quả lao động, nó mang tính chất bình quân, không khuyến khích sử dụng hợp
lý thời gian làm việc, tiết kiệm nguyên vật liệu, tập trung công suất của máy móc thiết bị để tăng năng suất lao động
- Chế độ trả lương theo thời gian có thưởng
Chế độ trả lương này là sự kết hợp giữa chế độ trả lương theo thời gian
và tiền thưởng khi đạt được những chỉ tiêu về số lượng và chất lượng đã quy định Chế độ trả lương này thường được áp dụng đối với công nhân hụ làm công việc phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị Ngoài ra, còn áp dụng đối với những công nhân chính làm việc ở những khâu sản xuất
có trình độ cơ khí hóa, tự động hóa cao hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng
Tiền lương của công nhân được tính bằng cách lấy lương theo thời gian đơn giản (mức lương cấp bậc) nhân với thời gian làm việc thực tế sau đó cộng
với tiền thưởng
1.3.3 Các hình th ức trả công khác
*Trả thưởng:
Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ sung cho tiền lương, là một trong những biện pháp khuyến khích người lao động tích cực và hoàn thành
tốt công việc Có nhiều hình thức thưởng nhưng thông thường người ta áp
dụng các hình thức sau: thưởng hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch
sản xuất, thưởng tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, thưởng những sáng kiến cải
tiến kỹ thuật
-Thưởng hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất
Chỉ tiêu thưởng: thưởng hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất và đảm bảo chỉ tiêu về số lượng, chủng loại , chất lượng sản phẩm theo quy định
Trang 27Điều kiện thưởng: đảm bảo mức độ hoàn thành vượt mức kế hoạch cả
về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm
Nguồn tiền thưởng: là bộ phận tiết kiệm được từ chi phí sản xuất gián
tiếp cố định ( đó là những chi phí không thay đổi khi sản phẩm tăng lên) Chi phí sản xuất gián tiếp cố định tính cho từng đơn vị sản phẩm giảm đi, do đó thu được một bộ phận tiết kiệm chi phí sản xuất gián tiếp cố định
-Thưởng tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu:
Chỉ tiêu thưởng: hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu về tiết
kiệm vật tư
Điều kiện thưởng: tiết kiệm vật tư nhưng phải đảm bảo quy phạm kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, an toàn lao động Làm tốt công tác
thống kê, hoạch toán số lượng và giá trị vật tư tiết kiệm được
Nguồn tiền thưởng: được lấy từ nhiên , nguyên vật liệu tiết kiệm được tích một phần, phần còn lại dùng để hạ giá thành sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngoài các hình thức tiền thưởng trên còn có một số hình thức được áp dụng như: thưởng độ xuất, thưởng công
ty
* Quỹ bảo hiểm xã hội(BHXH)
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ Theo chế độ hiện hành, hàng tháng doanh nghiệp tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 20% trên
tổng lương thực tế phải trả công nhân trong tháng Trong đó 15% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 5% trừ vào
lương của người lao động
Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp công nhân viên có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp họ bọ mất khả năng lao động, cụ thể:
Trang 28-Trợ cấp nhân viên ốm đau, thai sản
-Trợ cấp công nhân viên khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp -Trợ cấp công nhân viên khi về hưu, mất sức lao động
-Trợ cấp công nhân viên về khoản tiền tuất
-Chi công tác quản lý quỹ BHXH
Toàn bộ số trích BHXH được nộp lên cơ quan quản lý quỹ BHXH để chi trả các trường hợp nghỉ hưu nghỉ mất sức lao động ở tại doanh nghiệp, hàng tháng doanh nghiệp trức tiếp chi trả quỹ BHXH cho công nhân viên bị
ốm đau, thai sản…trên cơ sở các chứng từ hợp lệ Cuối tháng (quý) doanh nghiệp phải thanh toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH
* Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT)
Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên
tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ Theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp trích quỹ BHYT theo tỷ lệ 3% trên tổng số tiền lương thức tế phải trả công nhân viên trong tháng Trong đó 2% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1% trừ vào lương của người lao động
Quỹ BHYT được trích lập để tài trợ cho người lao động có tham gia đóng quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh Toàn bộ quỹ BHYT được
nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên trách để quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế
* Kinh phí công đoàn
Được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương
phải trả công nhân viên trong kỳ Hàng tháng doanh nghiệp trích 2% trên tổng
Trang 29số tiền lương thức tế phải trả công nhân viên trong tháng và tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động
Toàn bộ kinh phí công đoàn trích một phần nộp lên cơ quan công đoàn
cấp trên, một phần để lại doanh nghệp để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp
Kinh phí công đoàn được trích lập để chi tiêu phục vụ cho hoạt động
của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động
1.3.4 Đánh giá hiệu quả công tác quản lý tiền lương của doanh ngh iệp
Xét theo yêu cầu của tổ chức tiền lương thì tiền lương và tiền công phải
bảo đảm tái sản xuất, không ngừng nâng cao đời sống vật chất cho người lao động, tiền lương phải kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động.Tiền lương là thước đo sự cống hiến của người lao động Vì vậy việc
trả lương phải bảo đảm sự công bằng hợp lý giữa những người lao động, phải
bảo đảm tính đơn giản, rõ ràng, dễ hiệu Để làm được việc đó thì các doanh nghiệp đều phải trả lương cho công nhân dựa vào kết quả sản xuất kinh doanh
của mình và phải dựa vào các chính sách tiền lương và tiền công trong doanh nghiệp được đưa vào áp dụng trong doanh nghiệp Tiếp đó người quản lý phải xem xét sự biến động, sự phản hồi từ phía những người hưởng lương, hưởng công của doanh nghiệp thì mới biết được hệ thống tiền lương và tiền công đó
có hợp lý không, có thật sự thúc đẩy được người lao động làm việc đưa doanh nghiệp phát triển lên hay không
Việc áp dụng các hình thức trả lương, trả công phải quán triệt nguyên
tắc trả theo số lượng và chất lượng lao động, phải khuyến khích người lao động ra sức học hỏi nâng cao trình độ lành nghề Vì vậy để khai thác được
mọi khả năng phục vụ cho sản xuất và áp dụng đúng các hình thức trả lương
trả công cũng như yêu cầu của hình thức thì cần phải hoàn thiện hình thức trả
Trang 30lương trả thưởng và quản lý lương sao cho thật tốt Người quản lý phải luôn theo dõi tình hình làm việc của công nhân, năng suất lao động của người lao động tăng hay giảm, tinh thần làm việc ra sao, có những khiếu nại gì về lương hay không Về các biểu hiện trên là tốt thì chính sách tiền lương đã có lợi cho
người lao động Ngược lại, nếu có biểu hiện chưa tốt thì buộc người quản lý
phải rà soát lại quá trình thiết lập thang lương, bảng lương của Công ty mình Xem lại quy trình xác định tiền lương cho mỗi công việc có thống nhất không, việc phân tích giá trị công việc có đầy đủ và chính xác không, tiền
lương và giá trị công việc có gắn liền với nhau một cách đầy đủ không Mỗi
vị trí thang lương có dựa trên khả năng và kinh nghiệm của nhân viên hay không, mức lương có công bằng không, mức lương của công ty mình so với các công ty khác cùng ngành có chênh lệch quá hay không
Mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp là phấn đấu đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh Việc trả lương, trả công tác động trực
tiếp đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp Vì vậy nhà quản lý cần phải biết
hệ thống tiền lương và tiền công của công ty mình có đáp ứng được nhu cầu
của môi trường hiện tại hoặc kế hoạch tương lai của doanh nghiệp không,
tổng quỹ lương là bao nhiêu, có công việc nào được trả lương quá cao hoặc quá thấp không, công việc nào chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng quỹ lương
và tốc độ tăng lương so với tốc độ tăng năng suất lao động ra sao.Việc trả
lương xứng đáng cho người lao động sẽ khuyến khích họ làm việc, tạo niềm tin cho bản thân họ, làm cho họ hết lòng vì công việc, tạo điều kiện cho họ tự
khẳng định năng lực cá nhân của mình Mặt khác nó sẽ nâng cao uy tín, củng
cố vị trí của công ty trên thương trường , giúp công ty tồn tại và phát triển
vững chắc trong xã hội cạnh tranh đầy gay go và quyết liệt
Trang 311.4 Kết luận chương I:
- Với cơ sở lý luận về tiền lương trong doanh nghiệp, được xây dựng theo pháp luật của Việt nam Thông qua đó nó là kim chỉ nang cho người lãnh đạo doanh nghiệp, người làm công việc tổ chức, công đoàn và tất cả người lao động hiểu về quyền hạn cũng như trách nhiệm trong công việc mà mình đang làm
- Với thời gian có hạn cũng như trình độ chuyên môn hạn chế Những
cơ sở lý luận mà tôi đã đưa ra có thể là chưa đủ để áp dụng vào hoạt động của một doanh nghiệp, tổ chưc kinh doanh trong thời kỳ đổi mới với nhiều biến động tích cực có, tiêu cực có… Nhưng có thể khẳn định nó đã đáp ứng vào tính cấp bách và thực tế tại đơn vị mà tôi đng công tác là Cửa hàng thực phẩm quận 8
- Thông qua cơ sở lý luận này lãnh đạo đơn vị sẽ thực hiện tốt hơn về tiền lương tại đơn vị của mình
Trang 32C HƯƠNG 2
T HỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG
TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV VISSAN- CỬA HÀNG
THỰC PHẨM QUẬN 8 2.1 Gi ới thiệu chung về cửa hang thực phẩm quận 8
2.1.1 Lịch sử thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Việt Nam kỹ nghệ súc sản (VISSAN):
Công ty VISSAN trước đây là lò giết mổ Tân Tiến, được xây dựng và khánh thành vào ngày 18-5-1974
Theo quyết định 143/TCQĐ ngày 16-3-1976 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, lò giết mổ Tân Tiến được chuyển thành Công ty thực phẩm 1, là một đơn vị chuyên kinh doanh thực phẩm tươi sống, hạch toán kinh tế độc lập Nhiệm vụ của Công ty là chuyên mua heo, trâu bò tổ chức giết mổ và chế biến dự trữ, buôn bán và cải tạo ngành theo hướng quốc doanh hóa Trong giai đoạn này việc phân phối thịt heo được thực hiện theo chế độ cung cấp cho cán bộ công nhân lực lượng vũ trang
Năm 1979 thực hiện chủ trương phân cấp quản lý cho địa phương, quận, huyện Công ty lần lượt chuyển giao các cửa hàng thực phẩm địa phương quản lý
Cuối năm 1984 và những năm 1985, 1986, Công ty đã phát triển nhiều mặt hàng tham gia với nhà nước phát triển đàn heo thành phố, tổ chức chế biến và đảm nhận xuất khẩu
Trên cơ sở phát triển và qui mô về mặt quản lý, căn cứ theo quyết định
số 235/ HĐBT và các thông tư hướng dẫn 16/TT của Bộ nội thương Công ty được xếp hạng Công ty hạng nhất (QĐ 101/QĐ -VB ngày 8/8/1986) để thực hiện việc thống nhất quản lý ngành thịt heo, trâu bò trên địa bàn thành phố, trên tinh thần văn bản số 3486/VB ngày 20/81987 Công ty đã tiếp nhận và
Trang 33thành lập mười hai Cửa hàng thực phẩm quận hình thành mạng lưới bán lẻ làm vệ tinh cho Công ty Đến 8/1989 Công ty thực phẩm 1 được phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp theo quyết định 580/QĐ-VB ngày 27/9/89 Ngày 16/11/1989 theo quyết định số 711/QĐ - VB Công ty thực phẩm 1 được đổi tên thành Công ty Việt Nam kỹ nghệ súc sản
Theo quyết định của Chính phủ về việc cổ phần hóa các công ty nhà nước Năm 2007 Công Ty VISSAN chuyển đổi thành Công Ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, với thành viên duy nhất là Tổng Công ty thương mại Sài Gòn thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố hồ Chí Minh
Trong năm 1992, Công ty bắt đầu sản xuất đồ hộp, năm 1995 nhập dây chuyền sản xuất của Pháp để sản xuất thịt nguội Với sự phát triển và lớn mạnh về nhiều mặt Công ty VISSAN hiện đang phấn đấu vươn lên giữ vai trò chủ đạo trong thị trường xuất khẩu, củng cố lực lượng, mở rộng quyền chủ động sản xuất kinh doanh cho các đơn vị trực thuộc, xây dựng công ty ngày càng vững mạnh đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh tế khác nhau, đồng thời thực hiện nghĩa vụ quản trị chăm lo đời sống nhân dân lao động thành phố
Trang 34Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty TNHH 1TV VISSAN
(Nguồn: Phòng tổ chức nhân sự công vissan)
2.1.2 Lịch sử thành lập Chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên Việt Nam kỹ nghệ súc sản (VISSAN)-Cửa hàng thực
phẩm quận 8
2.1.2.1 Quá trình h ình thành cửa hàng thực phẩm quận 8
Là một trong 12 Cửa hàng chi nhánh dưới sự quản lý trực tiếp của Ban
tổng giám đốc Chi nhánh Cửa hàng thực phẩm Quận 8 được thành lập
năm 1979 theo chủ trương về phân cấp quản lý của nhà nước
12 Đơn
vị kinh doanh Cửa hàng, Trạm
Chi nhánh
Hà N ội
Phòng Kinh doanh
Văn phòng
Phòng
t ổ chức
Phòng KCS
Chi nhánh
Đà Nẵng
6 kho xưởng
SX khu lưu trữ
và nhà giết mổ
V ăn phòng
t ại Nga
Phòng
kế
h oạch đầu tư
Phòng Tài chính-
KD Rau quả
Xí nghiệp chế biến thực phẩm
Trang 35Chi nhánh Cửa hàng thực phẩm quận 8 trực thuộc sự quản lý của Ban
Tổng giám đốc Là chi nhánh hoạch toán độc lập và được thực hiện các
hoạt động về kinh doanh và tuyển dụng nhân sự theo pháp luật, hàng
tháng trích 25% hiệu quả kinh doanh nộp về Công ty
Nghành nghề kinh doanh của chi nhánh: Kinh doanh thịt heo, trâu,
bò, thịt gia cầm, hải sản(không gây ô nhiễm môi trường), thịt chế biến,
thịt hộp, trứng gà vịt, kinh doanh các mặt hàng công nghệ phẩm và tiêu dùng khác Kinh doanh rau củ quả các loại, rau quả chế biến, lương
thực(các loại ngũ cốc), lương thực chế biến(mì ăn liên), các loại gia vị và hàng nông sản./
Hiện nay ngoài việc kinh doanh mặt hàng chính là thịt heo được phân
phối tại các Chợ trong địa bàn Quận 8 thì Cửa hàng còn có 3 Cửa hàng
giới thiệu sản phẩm trực thuộc tại các Quận 7, Quận 8 Ngoài việc kinh doanh mặt hàng thịt heo thì tại các Cửa hàng giới thiệu sản phẩm còn kinh doanh thịt bò, thịt gia cầm, hải sản(không gây ô nhiễm môi trường),
thịt chế biến, thịt hộp, trứng gà vịt, kinh doanh các mặt hàng công nghệ
phẩm và tiêu dùng khác Kinh doanh rau củ quả các loại, rau quả chế
biến, lương thực(các loại ngũ cốc), lương thực chế biến(mì ăn liên), các
loại gia vị và hàng nông sản
Địa chỉ trụ sở tại: 42 Đinh Hòa, Phường 13, Quận 8, TP Hồ Chí Minh, số điện thoại 083 8555269, fax 08 3 9502980
Ngoài trụ sở chính Cửa hàng thuê mặt bằng để mở 3 Cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại số 24G Nguyễn Thị Tần, Phường 2, Quận 8, tại số
248 Lê Văn Lương, Phường Tân Hưng, Quận 7 và tại số 52 Đường số 1,
phường Tân Phú, Quận 7
Trưởng chi nhánh: Ông Nguyễn Văn Huỳnh
Trang 36Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức cửa hàng thực phẩm quận 8
S Ơ ĐỒ TỔ CHỨC CỬA HÀNG
Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban tại cửa hàng:
+ Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Cửa hàng trưởng, Cửa hàng phó
và các Tổ trưởng, tổ phó
Cửa hàng trưởng là người đại diện Cửa hàng chịu trách nhiệm trước Công ty, được bổ nhiệm bởi Ban tổng giám đốc Và là người chịu trách nhiệm cao nhất về toàn bộ hoạt động của Cửa hàng trước Ban Tổng giám đốc và các
cơ quan quản lí nhà nước có liên quan
Điểm bán
52
5 chợ
ở quận
Trang 37Cửa hàng phó do Cửa hàng trưởng bổ nhiệm và có sự đồng thuận của Ban Tổng giám đốc Cửa hàng phó là người giúp việc cho Cửa hàng trưởng
và chịu trách nhiệm trước Cửa hàng trưởng về toàn bộ những hoạt động có liên quan đến lĩnh vực đã được phân công quản lí
Các Tổ trưởng, tổ phó chức năng là người tham mưu cho Cửa hàng
trưởng để điều hành các hoạt động của Cửa hàng Các chức danh này do Cửa hàng trưởng bổ nhiệm
Tổ trưởng tổ nghiệp vụ chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện các nhiệm
vụ về việc thu mua heo về giết mổ và phân phối, đồng thời trực tiếp thay Cửa hàng trưởng theo dõi 3 Cửa hàng giới thiệu sản phẩm của Cửa hàng
Tổ trưởng tổ kế toán chịu trách nhiệm tổ chức, thực hiện các nhiệm vụ
về kế toán và công tác tổ chức tại Cửa hàng
Tổ phó nghiệp vụ: Là người giúp việc cho tổ trưởng nghiệp vụ Một tổ phó phụ trách các Cửa hàng giới thiệu sản phẩm và một tổ phó phụ trách bán
thịt heo tại các chợ và trực tiếp điều hành các hoạt động của tổ khi tổ trưởng
vắng mặt Tổ phó chịu trách nhiệm trước Tổ trưởng về các công việc được phân công trách nhiệm
2.1.2.2 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của Cửa hàng
2.1.2.2.a Đặc điểm về sản phẩm:
Với chức năng và nhiệm vụ mà công ty giao phó là được tự hoạch toán độc lập Hoạt động kinh doanh chính của cửa hàng là mua bán Heo và mua bán các mặt hàng công nghệ thực phẩm
Về mặt hàng thịt heo: Cửa hàng tiến hành đến các trang trại heo uy tín tại Đồng nai và Bình dương để mua heo về tiến hành giết mổ và phân phối cho các mậu dịch viên của cửa hàng tại các chợ trên địa bàn quận 8, đồng thời
Trang 38tiến hành pha lóc để bán lẻ tại các cửa hàng giới thiệu sản phẩn tại quận 7, quận 8
Về mặt hàng công nghệ phẩm: cửa hàng mua hàng hóa từ các công ty
và các đại lý để về bán tại các quần giới thiệu sản phẩm
2.1.2.2.b Đặc điểm về công nghệ, máy móc thiết bị:
Với đặc điểm là mua hàng hóa về phân phối nên nhìn chung máy móc thiết bị tại cửa hàng chủ yếu là các máy vi tính dùng cho công việc kế toán và bán hàng
Về bất động sản: Ngoài trụ sở chính tại số 42 đường Đinh Hòa, phường
13, Quận 8, TP Hồ Chí Minh thì cửa hàng còn quản lý các sạp bán thịt tại các chợ Xóm Củi, Chợ Rạch Ông, Chợ Phạm Thế Hiển trên địa bàn quận 8
Doanh nhu cầu cần mở rộng hệ thống phân phối nên cửa hàng đã thuê mặt bằng tại quận 7 và quận 8
2.1.2.2.c Đặc điểm về lao động:
Nhân tố lao động luôn được Cửa hàng coi trọng vì con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển Đảm bảo về số lượng, chất lượng lao động luôn được Cửa hàng đưa lên hàng đầu Để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh cần phải hình thành được một lực lượng lao động
tối ưu và phân công bố trí lao động hợp lý Hiện nay, cửa hàng vẫn không
ngừng sắp xếp bố trí sao cho có được đội ngũ cán bộ CNV chính quy, nòng
cốt, có đủ trình độ văn hóa khoa học, kỹ thuật và tay nghề cao, có đủ sức khỏe
để đảm bảo những công việc công ty giao phó Có thể nói lao động là nguồn
lực vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất của bất cứ doanh nghiệp nào Bên cạnh những nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương thì lao động là một trong
những nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất
Để tìm hiểu về đặc điểm lao động của cửa hàng, ta đi xem xét các biểu
thống kê về lao động sau đây: