Tuy nhiên với diện tích trồng rừng lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài, cách chăm sóc cây trồng người dân còn ở mức độ thấp nên ở giai đoạn cây phát triển thường bị sâu bệnh hại,
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian tiến hành
Địa điểm tại xóm Làng Hỏa, Thịnh Đức II, và xóm Cầu Mai xã Văn Hán huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
Thời gian tiến hành từ: thu thập số liệu nghiên cứu, phân tích và tổng hợp tài liệu hoàn thiện đề tài từ ngày 1/2/2015 đến hết ngày 30/5/2015.
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo lai
Mô tả các triệu chứng của nấm bệnh
Xác định đường xâm nhập nấm vào cây Keo lai
Đặc điểm hình thái của nấm bệnh
Giám định nấm gây bệnh bằng hình thái
3.3.2 Đánh giá ảnh hưởng của bệnh do nấm Ceratocystis theo cấp độ dốc đến sự phát triển của bệnh hại cây Keo lai
- Tỷ lệ bị bệnh (P%), mức độ bị bệnh (R%) trung bình của nấm Ceratocystics sp Hại cây Keo lai
Xác định tỷ lệ bị bệnh (P%), và mức độ bị bệnh (R%) trung bình của bệnh hại cây keo lai ở rừng trồng theo cấp độ dốc
Đề xuất một số biện pháp phòng trừ chung đối với nấm Ceratocystis sp Gây hại trên Keo lai
Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo lai trồng tại xã Văn
Hán,huyện Đồng Hỷ,tỉnh Thái Nguyên
Quan sát đặc điểm hình dạng bên ngoài của cây Keo
Tìm dấu hiểu nhận biết bệnh
Lấy mẫu đem về phân tích
3.4.2 Mô tả các triệu chứng bệnh
Chọn cây có triệu chứng bệnh rõ ràng về mặt hình thái như vết loét, đổi màu vỏ và gỗ xung quanh vị trí loét, thường có màu đen hoặc xanh đen và có thể chảy nhựa Cây bị khô héo từ trên ngọn xuống, tán lá bắt đầu héo và vẫn còn treo trên cây khi vỏ và gỗ chuyển màu Quan sát các đặc điểm bên ngoài của thân cây hoặc cành cây bằng mắt thường hoặc kính lúp để dễ dàng nhận biết các triệu chứng bệnh.
Thu mẫu bệnh có biểu hiện gỗ bị biến màu, xì nhựa mủ ở vỏ ở các bộ phận như thân, cành và rễ để phân lập nấm bệnh
3.4.3 Phương pháp phân lập và mô tả đặc điểm hình thái của bệnh
Phân lập nấm bệnh được thực hiện bằng phương pháp bẫy nấm bằng cà rốt theo mô tả của Moller và De Vay (1968) Quá trình bắt đầu bằng cách cưa nhỏ mẫu cành, thân keo bị hại, sau đó chọn những vị trí mới bị bệnh và cắt củ cà rốt thành lát mỏng dày khoảng 4-5mm Các mẫu bệnh đã chẻ nhỏ được kẹp giữa hai lát cà rốt rồi quấn bằng parafim, đặt trong đĩa Petri ở nhiệt độ 25-28°C, và sau 3-5 ngày sẽ quan sát thấy thể quả và giọt bào tử nấm xuất hiện trên cà rốt Tiếp theo, dùng que cấy nhỏ lấy bào tử cấy trên môi trường PDA để nuôi nấm và làm thuần trên các đĩa môi trường mới, đảm bảo quá trình phân lập đạt hiệu quả cao.
3.4.4 Phương pháp giám định nấm gây bệnh bằng đặc điểm hình thái Đặc điểm hình thái của nấm bệnh:
Phương pháp xác định nguyên nhân gây bệnh héo keo lai bao gồm thu mẫu bệnh tại hiện trường và mô tả triệu chứng của bệnh để xác định dấu hiệu nhận biết Quá trình phân lập nấm bệnh được thực hiện theo phương pháp bẫy nấm trên cà rốt của Moller và De Vay (1968), đặc biệt xem xét đo đếm kích thước bào tử và đặc điểm hệ sợi nấm để xác định chính xác loại nấm gây bệnh Công tác giám định nấm dựa trên các hướng dẫn trong chuyên khảo của Wingfield và cộng sự (2010), giúp đảm bảo chẩn đoán chính xác và đáng tin cậy.
3.4.2.Phương pháp đánh giá thiệt hại của bệnh đối với rừng trồng keo lai 3.4.2.1 Đánh giá tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh theo độ dốc
Phương pháp đánh giá bệnh cây keo trong rừng trồng dựa trên khảo sát hệ thống tại các khu vực có độ dốc khác nhau, với diện tích 500 m² (20m x 25m) Trong mỗi ô tiêu chuẩn (OTC), phải đảm bảo điều tra tối thiểu 30 cây theo phương pháp hệ thống, cách nhau một hàng hoặc hai cây để đảm bảo tính đại diện Toàn bộ cây trong ô được điều tra về thân, cành và lá để xác định mức độ bị hại Dựa trên diện tích bị hại ở các bộ phận của cây, mức độ bệnh sẽ được phân cấp từ 0 đến 4, theo phương pháp của Phạm Quang Thu (2013), giúp đánh giá chính xác tình hình dịch bệnh trên đàn cây keo.
Bảng 3.1: Bảng phân cấp mức độ bị bệnh
Cấp bệnh Biểu hiện bên ngoài
0 Cây khoẻ mạnh phát triển bình thường
1 Dưới 15% thân/cành bị bệnh
4 > 50% thân/cành bị bệnh, lá bị khô, gỗ bị biến màu, cây có thể chết
Mẫu bảng 3.2: Bảng điều tra bệnh hại keo do nấm Ceratocystis sp
Ngày điều tra: Địa điểm:
Tên OTC: Tên loài: Tuổi:
Vị trí: Độ dốc: Ghi chú:
Từ kết quả phân cấp chỉ số bệnh, tính toán các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ bị bệnh: Là phần trăm số cây bị bệnh so với tổng số cây điều tra được tính theo công thức sau
Trong đó: P tỷ lệ cây bị bệnh (%) n: Số cây bị bệnh
N: Tổng số cây trong điều tra
Chỉ tiêu của từng cấp bệnh như sau:
Nếu: 0 < P < 5% Phân bố cá thể
Mức độ bị bệnh được tính theo công thức:
Trong đó: R là chỉ số bệnh của từng loại bệnh ni: Là số cây bị bệnh ở cấp bệnh thứ i vi: Là trị số của cấp bệnh thứ i
N: Là tổng số cây điều tra
V: là trị số của cấp bệnh cao nhất (4)
Mức độ bị hại của cây trồng được xác định dựa trên chỉ số bệnh trung bình của từng loại bệnh, giúp đánh giá chính xác mức độ thiệt hại Hệ thống phân loại gồm 5 cấp từ cây khỏe mạnh đến cây bị bệnh rất nặng, qua đó đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp Cách tính mức độ bị hại dựa trên các công thức đã được xây dựng, giúp người nông dân xác định mức độ nguy hiểm của bệnh để có phương án điều trị hiệu quả Việc đánh giá đúng mức độ bị hại là yếu tố quan trọng giúp quản lý dịch bệnh và nâng cao năng suất cây trồng.
25 - 50% OTC bị hại trung bình
R > 75% OTC bị hại rất nặng
3.4.2.2 Phương pháp nội nghiệp Áp dụng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp để xử lý và tính toán số liệu thu được với sự trợ giúp của các phần mềm chuyên dụng như: Excel, SSPS.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Xác định nguyên nhân gây bệnh chết héo Keo lai
4.1.1 Mô tả các triệu chứng của nấm bệnh
Cây bị nhiễm bệnh thường có dấu hiệu sinh trưởng kém và chuyển sang màu vàng, sau đó xuất hiện triệu chứng héo toàn bộ lá nhưng lá không rụng ngay mà còn bám trên thân Vỏ ngoài của thân cây bị biến đổi màu, thường là nâu đen chạy dọc theo chiều dài thân, đặc biệt tại các vết đen, chỗ thân bị xì nhựa Vết bệnh thường bắt nguồn từ những vết cắt, gãy do gió hoặc các tác nhân gây tổn thương như côn trùng hay vết nứt trên vỏ cây, sau đó lan rộng và kéo dài theo chiều dài thân Khi cắt ngang thân cây bị bệnh, phần gỗ bên trong đã bị biến màu do sợi nấm xâm chiếm, chặn đứng các mạch dẫn, gây ra hiện tượng cây không thể vận chuyển nước và chất dinh dưỡng lên lá, dẫn đến lá bị héo.
Nấm gây bệnh thường xâm nhập vào cây qua các vết thương trên thân và cành, hình thành từ hoạt động cắt tỉa, làm cỏ hoặc do các tổn thương tự nhiên như vết trầy xước do côn trùng gây hại Trong mùa mưa ẩm, những vết thương này trở thành điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của nấm bệnh Để phòng tránh, nên thực hiện các hoạt động chăm sóc, cắt tỉa vào mùa khô và luôn bôi thuốc chống nấm lên các vết cắt để giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh cho cây.
4.1.2 Xác định đường xâm nhập nấm vào cây Keo lai
Theo kết quả điều tra và đánh giá tại xã Văn Hán, cây trồng bị bệnh do nấm Ceratocystis sp gây ra, dẫn đến tình trạng sinh trưởng kém và dần chết héo Các dấu hiệu nhận biết rõ ràng giúp xác định cây bị nhiễm bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả phòng trừ và bảo vệ cây trồng Việc phát hiện sớm các biểu hiện của nấm bệnh này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì năng suất và sức khỏe cây trồng tại địa phương.
Nấm xâm nhập vào cây chủ yếu qua các vết thương trên thân và cành, thường hình thành do hoạt động khai thác, cây đổ gây trầy xước vỏ, chăn thả gia súc như trâu, bò, hoặc do gãy cành bởi báo Các hoạt động như cắt tỉa, làm cỏ và chăm sóc vào mùa mưa gây tổn thương cho thân và rễ, tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của nấm bệnh Ngoài ra, nấm còn xâm nhập qua vết tỉa cành tự nhiên hoặc trầy xước do côn trùng gây hại Do đó, việc chăm sóc cây cần tránh gây tổn thương, thực hiện tỉa cành vào mùa khô và sử dụng thuốc chống nấm sau khi cắt để phòng tránh bệnh hiệu quả.
4.1.3 Đặc điểm hình thái của nấm bệnh
Thể quả nấm bệnh hình cầu hoặc gần cầu, có màu nâu đen đến đen, chiều dài từ 150 đến 279 μm và chiều rộng từ 95 đến 192 μm, với chiếc cổ dài từ 256 đến 658 μm; phía đầu cổ có những sợi tua là nơi phát tán bào tử hữu tính Bào tử hữu tính hình mũ, dài từ 4,4 đến 9,3 μm, rộng từ 2,1 đến 4,9 μm, trong khi bào tử vụ tính dạng hình trụ, được sinh từ sợi sơ cấp, dài từ 11,7 đến 17,5 μm, rộng từ 1,8 đến 4,7 μm; bào tử vụ tính dạng hình trống, sinh từ sợi thứ sinh, dài từ 4,9 đến 10,5 μm, rộng từ 2,9 đến 6,2 μm Bào tử ốc có chiều dài từ 10,2 đến 13,5 μm và chiều rộng từ 21,3 đến 25,1 μm Dựa trên các đặc điểm về triệu chứng, bệnh trạng và cấu tạo hiển vi, nấm gây bệnh này được xác định thuộc loài Ceratocystis sp., thuộc họ Ophiostomataceae, bộ Ophiostomatales và lớp Ascomycetes.
4.1.4 Kết quả giám định nấm gây bệnh bằng hình thái
Nấm gây bệnh chết héo cho keo lai là một loại nấm nguy hiểm có khả năng lây lan nhanh chóng và gây chết hàng loạt các cây keo lai Chủng nấm Ceratocystis thể hiện hoạt tính gây bệnh rất khác nhau, làm tăng nguy cơ tác động tiêu cực đến sự phát triển của rừng trồng keo lai Việc nhận diện và kiểm soát các chủng nấm này là yếu tố then chốt để bảo vệ các cây keo khỏi bị nhiễm bệnh chết héo.
4.2.1 Tỷ lệ bị bệnh (P%), mức độ bị bệnh (R%) trung bình của nấm Ceratocystics sp Hại cây Keo lai
Bảng 4.1:Tỷ lệ bệnh và mức độ bệnh nấm Ceratocystis sp Hại keo lai phân cấp theo độ dốc tại khu vực điều tra
( 0 C) Cấp độ dốc Tỷ lệ bị bệnh
Theo bảng số liệu (Bảng 4.1), tỷ lệ mắc bệnh và mức độ bị hại do nấm Ceratocystis sp gây ra trên keo lai thay đổi theo cấp độ dốc Đặc biệt, OTC ghi nhận tỷ lệ bệnh cao nhất là 24,56%, trong khi tỷ lệ thấp nhất là 0% Mức độ bị bệnh trên OTC cũng dao động từ 0% đến 11,5%, phù hợp với xu hướng tăng theo cấp độ dốc của đất.
4.2.2 Đánh giá thiệt hại của bệnh nấm Ceratocystis sp.đối với cây Keo lai theo cấp độ dốc
Bảng 4.2: Tính giá trị trung bình tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh
N Minimum Maximum Mean Std Deviation
Qua bảng ta thấy tỷ lệ bệnh trung bình và mức độ bị bệnh trung bình lần lượt là 18.61% và 8,24% tỷ lệ bị bệnh %
Tỷ lệ bị bệnh Cây không bị bệnh
Hình 4.5: Biểu đồtỷ lệ bị bệnh trung bình % bệnh nấm Ceratocystis sp gây hại trên keo lai
Qua biểu đồ ta thấy tỷ lệ bị bệnh chiếm 18,61% trên 100% tổng số cây điều tra tỷ lệ khá thấp
Mức độ bị bệnh Cây không bị bệnh
Hình 4.6: Biểu đồ mức độ bị bệnhtrung bình do nấm Ceratocystis sp hại keo lai
Qua biểu đồ ta thấy mức độ bị hại là 8,24% trên 100% tổng số cây điều tra tỷ lệ khá thấp
Bảng 4.3: Bảng tỷ lệ bị bệnh và mức độ trung bình bị bệnh do nấm
Ceratocystis sp hại keo theo các cấp độ dốc
Tỷ lệ bị bệnh trung bình %
Tỷ lệ bị bệnh cao nhất
Tỷ lệ bị bệnh thấp nhất
Mức độ bị bệnh trung bình %
Mức độ bị bệnh cao nhất
Mức độ bị bệnh thấp nhất
25 Độ dốc cấp 1 Độ dốc cấp 2 Độ dốc cấp 3
14 Độ dốc cấp 1 Độ dốc cấp 2 Độ dốc cấp 3
Hình 4.7: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ bệnh trung bình % giữa các cấp độ dốc
Dựa trên biểu đồ 4.7 và bảng 4.3, ta nhận thấy tỷ lệ bị bệnh hại trên keo lai tại xã Văn Hán thay đổi theo cấp độ dốc, trong đó cấp độ dốc 1 có tỷ lệ bệnh trung bình đáng kể Kết quả này cho thấy mối liên hệ giữa độ dốc của đất và mức độ gây hại của bệnh trên cây keo lai, giúp người trồng và nghiên cứu có thể đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp để giảm thiểu thiệt hại Việc phân tích tỷ lệ bệnh theo các cấp độ dốc là cơ sở để hiểu rõ hơn tác động của điều kiện môi trường đến sự phát triển của bệnh hại trên keo lai tại địa phương.
22 % cấp này có tỷ lệ bị bệnh cao nhất, cấp độ dốc 2 có tỷ lệ bị bệnh 19,53% cấp độ dốc 3 có tỷ lệ bị bệnh 14,30% cấp độ này tỷ lệ bệnh thấp nhất
Hình 4.8: Biểu đồ biểu diễn mức độ bị bệnh trung bình % giữa các cấp độ dốc
Qua biểu đồ 4.8 và bảng 4.3, có thể thấy mức độ mắc bệnh nấm hại trên Keo lai theo cấp độ dốc khác nhau rõ rệt, trong đó cấp độ 1 có tỷ lệ bệnh trung bình cao nhất đạt 9,87%, trong khi cấp độ 3 lại có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất chỉ 6,01% Điều này cho thấy rằng mức độ dốc ảnh hưởng đáng kể đến mức độ bị bệnh trên cây Keo lai, với cấp độ dốc càng cao thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng tăng.
Bảng 4.4: Bảng tỷ lệ bệnh, mức độ trung bình giữa các cấp độ dốc
N Mean Std D ev iation Std Error Lower Bound Upper Bound
95% C onfidenc e Interv al for Mean
Dựa trên bảng trên, tổng số OTC bị bệnh là 33, với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở cấp độ 1 là 22,00% và mức độ bị bệnh 9,87% Ở cấp độ 2, tỷ lệ bị bệnh là 19,53% và mức độ bị bệnh 8,83%, trong khi cấp độ 3 có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất là 14,30% và mức độ bị bệnh 6,01%.
Phân tích phương sai ANOVA bằng phần mềm SPSS cho thấy sự khác biệt đáng kể trong giá trị trung bình tỷ lệ bị bệnh và mức độ bị bệnh của keo lai do nấm Ceratocystis sp theo 3 cấp độ dốc khác nhau Kết quả này cho thấy địa hình dốc ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nhiễm bệnh của cây keo lai, giúp các nhà nông nghiệp và nghiên cứu có thêm cơ sở để đưa ra các biện pháp phòng chống phù hợp Áp dụng phân tích ANOVA giúp xác định chính xác các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến dịch bệnh và tối ưu hóa các chiến lược quản lý dịch hại hiệu quả.
Bảng 4.5: Thể hiện kết quả kiểm định ANOVA
Squares df Mean Square F Sig.
Tỷ lệ bị bệnh: có ít nhất một cặp cấp độ dốc có sự khác biệt phần trăm tỷ lệ bị bệnh do nấm gây ra với P-ANOVA =0.000 < 0.05
Mức độ bị bệnh: có ít nhất một cặp cấp độ dốc có sự khác biệt phân trăm tỷ lệ bị bệnh do nấm gây ra với P-ANOVA = 0.000 < 0.05
Bảng 4.6: Bảng thể hiện kết quả kiểm định lenvenne
Test of Homogeneity of V ariances
TY _LE_BI_BE NH
Tỷ lệ bị bệnh: Có sự khác biệt giữa phương sai tỷ lệ bị bệnh giữa 3 cấp độ dốc với nhau với Plevene’test = 0.008