Báo cáo đề tài khoa học sinh viên: Đánh giá các phương pháp thành lập bản đồ địa hình trong khảo sát thiết kế đường sắt, khái quát về máy toàn đạc điện tử, nghiên cứu về ảnh hưởng của độ lớn góc đứng đến độ chính xác đo độ cao của máy toàn đạc điện tử, khái quát lý thuyết đo cao lượng giác, ảnh hưởng độ lớn góc đứng đến độ chính xác đo độ cao.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
-***** -
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI KHOA HỌC SINH VIÊN
1 Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TRONG
KHẢO SÁT THIẾT KẾ ĐƯỜNG SẮT
2 Sinh viên thực hiện:
3 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn Chính
HÀ NỘI- 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
-***** -
BÁO CÁO
ĐỀ TÀI KHOA HỌC SINH VIÊN
1 Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TRONG
KHẢO SÁT THIẾT KẾ ĐƯỜNG SẮT
2 Sinh viên thực hiện:
3 Giáo viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Văn Chính
HÀ NỘI- 2010
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua với sự tiến bộ vượt của khoa học công nghệ, nhiều thiết bị đo đạc hiện đại xuất hiện như máy toàn đạc điện tử, hệ thống định vj toàn cầu (GPS)…công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi Những điều đó đã ảnh hưởng rất nhiều đến công tác khảo sát thiết kế các công trình xây dựng trong đó có lĩnh vực xây dựng đường sắt
Trong lĩnh vực khảo sát thiết kế đường sắt đã ứng dụng các thiết bị
đo đạc hiện đại và công nghệ thông tin từ nhiều năm nay Các thiết bị đo đạc hiện đại như máy toàn đạc điện tử, hệ thống định vị toàn cầu (GPS) đã
sử dụng để thành lập lưới khống chế trắc địa, đo vẽ bản đồ địa hình, bố trí công trình….Trong công tác khảo sát địa hình phục vụ thiết kế, bản đồ địa hình đóng vai trò quan trọng và là số liệu địa hình cơ bản phục vụ công tác thiết kế Hiện nay khi thiết kế các tuyến đường có tốc độ cao chủ yếu được thực hiện trên bản đồ địa hình số
Trong trắc địa có rất nhiều phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình với nhiều ưu, nhược điểm khác nhau Bản đồ địa hình sử dụng trong các ngành
kỹ thuật khác nhau cũng có những đặc điểm cụ thể Do vậy cần căn cứ vào yêu cầu, mục đích sử dụng để lựa chọn phương pháp thành lập bản đồ địa hình phù hợp đáp ứng yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật
Đề tài “Đánh giá các phương pháp đo thành lập bản đồ địa hình
trong khảo sát thiết kế đường sắt” với mục đích đánh giá các phương
pháp thành lập bản đồ địa hình với các đặc điểm khác nhau từ đó đề xuất phương pháp thành lập bản đồ địa hình phù hợp phục vụ thiết kế đường sắt đảm bảo mụcc tiêu tối ưu về kinh tế và kỹ thuật Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng và hoàn thiện góp phần hoàn thiện quy trình khảo sát đường sắt
Trang 4MỤC LỤC
Trang Đặt vấn đề 01
Mục lục 02
Chương I: Khỏi quát về máy Toàn Đạc Điện Tử 04
I.1 Cấu tạo chung của máy toàn đạc điện tử 04
I.1.1 Máy đo xa điện tử 05 I.3.3 Đo cao 12 I.3.4 Đo bình đồ 12 I.3.5 Bố trí công trình 13 I.2.6 Chức năng đo gián tiếp (Tie Distance) 14 I.2.7 Chức năng giao hội nghịch (Free Station) 15
I.2.8 Chức năng đo chiều cao chướng ngại vật ( Remote
I.2.9 Đo và tính diện tích 15
Chương II: nghiên cứu về ảnh hưởng của độ lớn góc đứng đến
độ chính xác đo độ cao của máy tđđt 17
II.1 Khỏi quát lý thuyết đo cao lượng giác 17 II.1.1 Đo cao phía trước 17
II.2.2 Sai số trung phương đo độ cao 22
II.3 ảnh hưởng độ lớn góc đứng đến độ chính xác đo độ
Kết luận và kiến nghị 39 Tài liệu tham khảo 40
Trang 5CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ
ĐỊA HÌNH
I.1 KHÁI NIỆM BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
Bản đồ địa hình là hình chiếu thu nhỏ và đồng dạng của bề mặt trái đất lên mặt phẳng
Thực chất của đo vẽ bản đồ địa hình là xác định vị trí của các đối tượng đo vẽ (các điểm đặc trưng của địa hình, địa vật) trên thực địa rồi dùng các kí hiệu bản đồ để biểu diễn chúng lên mặt phẳng tờ giấy theo một
tỷ lệ nào đó
Hiện nay có 02 phương thức thể hiện bản đồ:
- Bản đồ truyền thống: Thể hiện trên các vật liệu truyền thống như
giấy, da động vật, phim…
- Bản đồ số: Là loại bản đồ được biên tập và lưu trữ trên máy tính
Hiện nay bản đồ số được sử dụng thông dụng
Dựa vào tỷ lệ người ta chia bản đồ làm ba loại như sau:
- Bản đồ tỷ lệ lớn: gồm các tỷ lệ:1:5000, 1:2000, 1:1000 và lớn hơn
- Bản đồ tỷ lệ trung bình: gồm các tỷ lệ: 1:10000, 1:25000, 1:50.000
và 1:100.000
- Bản đồ tỷ lệ nhỏ: gồm các tỷ lệ nhỏ hơn 1:100.000
I.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH
I.2.1 Phương pháp đo ảnh
1 Bản chất và nhiệm vụ của phương pháp đo ảnh
Phương pháp đo đạc chụp ảnh (gọi tắt là phương pháp đo ảnh) ra đời trong những năm 50 của thế kỷ 19 với những ứng dụng đầu tiên của kỹ thuật chụp ảnh vào công tác trắc địa địa hình và vào lĩnh vực đo đạc kiến trúc của các nhà khoa học Ngày nay phương pháp đo ảnh đó trở thành một ngành khoa học quan trọng của kỹ thuật đo đạc với những cơ sở lý thuyết hoàn chỉnh và những hệ thống máy móc chính xác và hiện đại
Trang 6Bản chất của phương pháp đo ảnh là một phương pháp đo gián tiếp thông qua hình ảnh hoặc các nguồn thông tin thu được của đối tượng đo Nhiệm vụ của phương pháp đo ảnh là xác định trạng thỏi hình học của đối tượng đo, bao gồm: vị trí, hình dáng, kích thước và mối quan hệ tương hỗ của các đối tượng đo
Phương pháp đo ảnh được coi là một phương pháp viễn thám hiện đại trong lĩnh vực khoa học về trái đất
Phương pháp đo ảnh có hai quá trình cơ bản:
1 Quá trình thu nhận hình ảnh hoặc các thông tin ban đầu của đối tượng đo được thực hiện trong một thời điểm nhất định với nhiều
phương thức khác nhau như:
Chụp ảnh đối tượng đo với các loại thiết bị chụp ảnh và vật liệu cảm quang khác nhau
Thu nhận các thông tin bức xạ của đối tượng đo bằng các hệ thống quét điện tử khác nhau
Quá trình thu nhận hình ảnh của đối tượng đo bằng phương pháp đo ảnh được thực hiện bằng phương pháp "chụp ảnh quang học" theo nguyên
lý của phép chiếu xuyên tâm (Photogrammetry) hay bằng phương pháp
"quét ảnh điện tử" (Electronny - photogrammetry) với hai phương thức:
+ Chụp ảnh trên không: Tức là các thiết bị chụp ảnh được đặt trên
các thiết bị trên không, như: máy bay, vệ tinh nhân tạo hay trên các con tàu
vũ trụ v.v… Hình ảnh thu được là các ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh
+ Chụp ảnh mặt đất: Tức là thiết bị chụp ảnh được đặt trên mặt đất
2 Quá trình dựng lại và đo đạc trên mô hình của đối tượng đo từ các ảnh chụp hoặc các thông tin thu được có thể thực hiện bằng 3
phương pháp cơ bản sau trên các hệ thống thiết bị tương ứng:
• Phương pháp tương tự (Analog)
• Phương pháp giải tích (Analyse)
• Phương pháp số (Digital)
Trang 7Trên các mô hình đó được xây dựng theo tỷ lệ thu nhỏ trong phũng người ta sẽ thu được các số liệu cần thiết cho các nhiệm vụ đo đạc khác nhau
- Nhanh chóng thu được các tư liệu đo đạc trong thời gian chụp ảnh, giảm nhẹ công tác ngoài trời, tránh các ảnh hưởng của thời tiết đối với công tác đo đạc
- Có thể đo trong cùng một thời điểm nhiều điểm đo khác nhau của các đối tượng đo Do đó không những cho phép đo các vật thể tĩnh (như địa hình, địa vật) mà cũng có thể đo các vật thể đang vận động cực nhanh (như quỹ đạo của tên lửa, máy bay v.v…) hoặc vận động cực chậm (sự biến dạng của các công trình xây dựng v.v…)
- Quy trình công nghệ của phương pháp rất thuận lợi cho việc tự động hoá công tác đo, nâng cao hiệu suất công tác và tính kinh tế của phương pháp
- Nhược điểm chủ yếu của phương pháp đo ảnh là trang bị kỹ thuật cồng kềnh và đắt tiền, đòi hỏi những điều kiện nhất định trong sử dụng và bảo quản, đặc biệt là đối với khí hậu nhiết đới ở nước ta
Ngày nay ở nhiều nước trên thế giới, phương pháp đo ảnh đã trở thành một phương pháp cơ bản trong công tác đo vẽ bản đồ địa hình các loại và được gọi tắt là phương pháp trắc địa ảnh Ngoài lĩnh vực địa hình,
Trang 8phương pháp đo ảnh cũn được ứng dụng rộng rói trong các ngành khoa học
kỹ thuật khác như khai thác má, bảo tồn di tích
Phương pháp chụp ảnh mặt đất là phương pháp bổ sung cho
phương pháp chụp ảnh hàng không trong công tác đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn ở vùng đồi núi, đặc biệt là vùng núi đá khó đi lại Ngày nay với những thành tựu phát triển hiện đại về kỹ thuật và công nghệ, phương pháp đo ảnh có khả năng đáp ứng được các yêu cầu đa dạng về thành lập bản đồ địa hình, bản đồ địa chính các loại tỷ lệ và các nhiệm vụ đo đạc trong các lĩnh vực khác
3 Tình hình phát triển ngành trắc địa ảnh ở Việt Nam
Ngành trắc địa ảnh cũng như ngành Trắc địa và bản đồ nói chung là một trong những ngành khoa học kỹ thuật non trẻ của nước ta Chỉ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ngành Trắc địa và bản đồ ở nước ta mới được chú ý xây dựng và phát triển
Năm 1958 chúng ta đó tiến hành chụp ảnh điều tra khảo sát rừng với
sự giúp đỡ của CHDC Đức (cũ) Nhưng đến năm 1965, chúng ta mới bắt đầu sử dụng phương pháp đo ảnh hàng không vào việc đo vẽ bản đồ địa hình tỷ lệ cơ bản Nhà nước 1:50000 và 1:25000
Về công tác bay chụp, đó bắt đầu sử dụng các máy chụp ảnh và máy bay chụp ảnh có tính năng và chất lượng tốt hơn, như máy ảnh MRB 15/2323 (của CHDC Đức) AFA -TE 70 và máy bay AN-30 của Liên Xô
Hiện nay ở nước ta đó có rất nhiều cơ sở sản xuất xây dựng các xí nghiệp đo vẽ ảnh với các máy móc chính xác hiện đại như: Tổng cục Địa chính, Cục Địa chất -Khoáng sản, Cục Bản đồ Quân đội, Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn, Bộ Xây dựng v.v…
Trang 9Hình I-1: Ảnh vệ tinh
I.2.2 Phương pháp đo điểm
Nguyên lý của phương pháp này là chia bề mặt đất thành các điểm đặc trưng về địa hình và địa vật gọi là điểm chi tiết, tiến hành đo vẽ các điểm chi tiết thu được bản đồ Có nhiều phương pháp đo điểm chi tiết nhưng thông dụng và phổ biến hiện nay là phương pháp toàn đạc với dụng cụ là máy toàn đạc điện tử Phương pháp đo điểm thích hợp khi đo vẽ bản đồ địa hình tỷ lệ lớn
Trang 102 3
M'
M S
Hình I-2: Các phương pháp toàn đạc đo điểm chi tiết
Dựa vào S và ta sẽ chuyển được vị trí của các điểm chi tiết lên bản
vẽ Độ cao của điểm chi tiết được xác đinh bằng phương pháp đo cao lượng giác
Việc thành lập bản đồ địa hình bằng phương pháp toàn đạc được chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn đo ngoài thực địa các giá trị góc bằng , góc đứng V và khoảng cách S gọi là công tác tác nghiệp
+ Giai đoạn tính trong phòng các giá trị khoảng cách ngang S độ chênh cao h va độ cao H góc bằng , vẽ các điểm chi tiết lên bản vẽ
* Trình tự thực hiện đối với dụng cụ là máy kinh vĩ+ mia đứng:
- Công tác chuẩn bị
+ Thành lập lưới khống chế đo vẽ
+ Đặt máy vào điểm trạm đo (là điểm khống chế đo vẽ) Sau khi định tâm, cân bằng máy, xác định giá trị MO
+ Đo chiều cao máy (i) bằng thước hoặc mia
+ Định hướng ban đầu 00o về điểm khống chế lân cận (vị trí bàn độ trái)
- Đo các yếu tố điểm chi tiết
Trang 11+ Người cầm mia: dựng mia lên điểm chi tiết cần đo
+ Người đứng máy: quay máy đến ngắm mia đặt ở điểm chi tiết
Tại mỗi điểm chi tiết tiến hành các thao tác:
+ Đọc số trên mia theo dây trên, dây giữa, dây dưới
+ Đọc số trên vành độ ngang
+ Đọc số trên vành độ đứng
Kết quả đo ghi vào sổ
Để tránh trùng lặp hoặc bá sót cần phải phân vùng cho các trạm đo Tuy nhiên giữa các trạm đo cần phải “đo chờm” để kiểm tra
Cùng với công tác đọc số cần vẽ phác sơ đồ vị trí điểm khống chế, điểm chi tiết để tránh nhầm lẫn khi đo vẽ bản đồ
- Tính toán
Tính tọa độ và độ cao các điểm khống chế
Tính khoảng cách nằm ngang từ máy đến điểm chi tiết:
S = K.n.cos2V (I-1)
Tính độ chênh cao của các điểm chi tiết so với trạm máy
l i V n K
h sin 2
2
1
(I-2) Tính độ cao các điểm chi tiết:
Hi=Hmáy+ h (I-3)
- Vẽ bản đồ
+ Chấm các điểm khống chế theo phương pháp tọa độ vuông góc
+ Chuyển các điểm chi tiết theo phương pháp tọa độ cực và vẽ đường
đồng mức
+ Hoàn thiện bản đồ
* Trình tự thực hiện đối với dụng cụ là máy toàn đạc điện tử (TĐĐT):
- Công tác chuẩn bị
+ Đặt máy TĐĐT vào vị trí, thực hiện các thao tác dọi tâm, cân máy,
đo chiều cao máy
Trang 12+ Định hướng về điểm lưới khống chế gần nhất bằng thao tác trên bàn phím của máy
- Đo các yếu tố, vẽ điểm chi tiết
Dựng gương tại các điểm chi tiết, người đứng máy ngắm gương và ấn phím chứng năng để đo và ghi dữ liệu, thời gian đo và ghi dữ liệu cho mỗi điểm chi tiết tiến hành trong vài giây
2 Phương pháp tọa độ vuông góc
Dùng khi đo vẽ địa vật gần lưới khống chế Ví dụ cần đo vẽ một ngôi nhà gần cạnh II-III (hình I-2) Dùng dụng cụ đo góc vuông để xác định vị trí đỉnh góc vuông tại 1, 2, 3 Đo độ dài đoạn II-1; 1-2; 2-3; 1-1’; 2-2’; 3-3’
3 Phương pháp giao hội góc
Dùng để đo vẽ địa vật độc lập ở cách xa lưới khống chế Ví dụ, cần đo
vẽ gốc cây C (hình I-2) Đặt máy kinh vĩ tại I và II đo góc II -I- C = 1 và góc I- II- C = 2
4 Phương pháp giao hội cạnh
Dùng để đo vẽ địa vật gần lưới khống chế Ví dụ cần đo vẽ góc bờ rào
M (hình I-2) khi đã biết điểm IV và M’ Như vậy chỉ cần đo đoạn M’M và IVM
Thực tế khi đo điểm chi tiết cần áp dụng một cách linh hoạt, tuỳ theo địa hình và số người tham gia để tiến hành sao cho có lợi nhất
5 Phương pháp dùng GPS
Trang 13Nhiều quốc gia phát triển đã sử dụng GPS để thành lập bản đồ địa hình Nguyên tắc là vị trí các điểm chi tiết được xác định bằng phương pháp đo GPS với thời gian đo mỗi điểm trong vài giây
Ưu điểm của phương pháp: Độ chính xác cao, chất lượng kết quả đo
ít chịu ảnh hưởng do người đo Có thể tiến hành trong nhiều điều kiện thời tết khác nhau Không cần lập lưới khống chế đo vẽ
Nhược điểm của phương pháp: Yêu cầu cao về trình độ người đo,
điều kiện thu tín hiệu GPS
Trang 14I.3.1 Khái niệm
Trước đây bản đồ thường được vẽ bằng tay trên giấy và cac vật liệu truyền thống, các thông tin được thể hiện nhờ các đường nét, màu sắc, hệ thống kí hiệu và các ghi chú
Ngày nay cùng với sự phát triển của các nghành điện tử tin học, sự phát triển của phần cứng máy tính, các thiết bị đo đạc, ghi tự động, các loại máy in, máy vẽ có chất lượng cao không ngừng được hoàn thiện Công nghệ thông tin thực sự đó thâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sông xa hội, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyờn thiên nhiên đất đai Sự ra đời của hệ thống thông tin địa lý Gis và hệ thống thông tin đất đai LIS đó tạo ra một bước ngoặt chuyển từ phương thức quản lý thủ công trước đây sang một phương thức mới, quản lý, xử lý dữ liệu trên máy tính,
Bản đồ là một thành phần quan trọng, là một trong hai dạng dữ liệu
cơ bản của một hệ thống thông tin địa lý Các đối tượng địa lý được thể hiện trên bản đồ dựa trên mô hình toán học trong không gian 2 chiều hoặc 3 chiều Bản đồ số có thể được hiểu như là một tập hợp có tổ chức được lưu
Trang 15bằng các file dữ liệu, có thể thể hiện hình ảnh bản đồ giống như bản đồ truyền thông trên màn hình máy tính, có thể thông qua các thiết bị máy in, máy vẽ để in ra giấy như bản đồ thông thường
I.3.2 Các loại dữ liệu và mô hình cơ bản của bản đồ số
- Cơ sở dữ liệu bản đồ được hình thành từ bốn dạng dữ liệu cơ bản: dạng điểm, dạng đường, dạng vùng và dạng chú giải, chú thích
+ Số liệu dạng điểm như Point, cell, symbol là dạng số liệu đơn giản nhất Chúng là những đối tượng vụ hướng chỉ có vị trí trong không gian không có chiều dài
+ Số liệu dạng đường như Line, Arc, Polyline: Đường bao gồm cả các cung là các đối tượng 2 chiều, chúng không những có vị trí trong không gian mà cũng có cả độ dài
+ Số liệu dạng vùng như Polygon, area: Vùng là các đối tượng hai chiều, chúng không những có vị trí, độ dài mà cũng có cả độ rộng
+ Số liệu dạng chú thích, mô tả
- Các loại dữ liệu trên được lưu trữ trong 2 mô hình dữ liệu không gian cơ bản là mô hình vector và mô hình raster
+ Mô hình vector: Trong mô hình Vector vị trí của các điểm, đường,
đa giác đều được xác định chính xác Vị trí của mỗi đối tượng được định nghĩa bởi một cặp tọa độ (X,Y) hoặc là một chuỗi các cặp tọa độ
Một điểm được xác định bằng một cặp tọa độ Một đường thực chất
là tập hợp của các điểm được xác định bằng chuỗi các cặp tọa độ Một vùng thực chất là tập hợp của các đường được khộp kín do đó được xác định bằng chuỗi các cặp tọa độ nhưng cặp tọa độ đầu và cuối là trùng nhau
+ Mô hình Raster: Là phương pháp đơn giản nhất để lưu trữ các dữ liệu số liệu không gian Trong dạng mô hình này, các số liệu không gian được tổ chức thành các Pixel mỗi một điểm được mô tả bằng 1 Pixel mỗi đường được mô tả bằng chuỗi Pixel Cấu trúc Raster ít phù hợp cho việc
Trang 16biểu diễn các đường vì thường làm xuất hiện sự gấp khúc cho các đường, Một đa giác được biểu diễn bằng một nhóm pixel
I.3.3 Đặc điểm của bản đồ số
- Mỗi bản đồ số có một cơ sở toán học bản đồ nhất định như hệ quy chiếu, hệ tọa độ Các đối tượng bản đồ được thể hiện thống nhất trong cơ
sở toán học này
Nội dung, mức độ chi tiết thông tin, độ chính xác của bản đồ số đáp ứng được hoàn toàn các yêu cầu như bản đồ trên giấy thông thường, nhưng hình thức đẹp hơn Bản đồ số không có tỉ lệ như bản đồ thông thường Kích thước, diện tích các đối tượng trên bản đồ số đúng bằng kích thước các đối tượng ngoài thực địa
- Khi thành lập bản đồ số, các công đoạn thu thập dữ liệu, xử lý dữ lệu đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề cao, tuân theo các quy định chặt chẽ về phân lớp đối tượng, cấu trúc dữ liệu, tổ chức dữ liệu Nếu thành lập bản
đồ địa chính thì giữ nguyên được độ chính xác của số liệu đo đạc, không chịu ảnh hưởng của sai số đồ họa
- Nghiên cứu đánh giá tình hình vừa khỏi quát vửa tỉ mỉ
- Hạn chế lưu trữ bản đồ bằng giấy Vì vậy chất lượng bản đồ không
bị ảnh hưởng bởi chất liệu lưu trữ Nếu nhân bản nhiều thì giá thành bản đồ
rẻ hơn rất nhiều
- Chỉnh lý tái bản dễ dàng, nhanh chóng, tiết kiệm
- Bản đồ số có tính linh hoạt hơn hẳn bản đồ giấy thông thường, có thể dễ dàng thực hiện các công việc như:
+ Các phép đo tính khoảng cách, diện tích, chu vi
+ Xây dựng các bản đồ theo yêu cầu người sử dụng
+ Phân tích.xử lý thông tin để tạo ra các bản đồ chuyên đề rất khó có thể thực hiện bằng tay như bản đồ 3 chiều, nội suy đường bình đồ thành lập bản đồ độ dốc, chồng ghép bản đồ
Trang 17+ Bản đồ ra nhiều tỉ lệ khác nhau theo yêu cầu 1 cách dễ dàng nhanh chóng
+ Tìm kiếm thông tin theo yêu cầu
+ Ứng dụng công nghệ đa phương tiện, liên kết dữ liệu thông qua hệ thống mạng cục bộ, diện rộng, toàn cầu
Mỗi bản đồ số có tối đa 64 lớp khác nhau được đánh số từ 0 tới 63 hoặc được đặt tên riêng
Các lớp trong bản đồ có cùng một hệ tọa độ, cùng tỉ lệ, cùng hệ số thu phóng Lớp là một thành phần của bản vẽ, có thể bật hoặc tắt trên màn hình Khi tất cả các lớp được bật ta có bản đồ hoàn chỉnh
Trong một lớp thông tin, các đối tượng chỉ thuộc vào một loại đối tượng hình học duy nhất: điểm, đường , vùng, hoặc chú giải, chú thích Các đối tượng trong bản đồ có các thuộc tính: vị trí, lớp, màu sắc, kiểu đường nét, lực nét
I.3.2 Các phương pháp thành lập bản đồ số
1 Các nguồn dữ liệu để thành lập bản đồ số bao gồm:
- Số liệu đo đạc mặt đất bằng máy toàn đạc, toàn đạc điện tử, GPS