ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VỆ SINH NÔNG THÔN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG CHO VÙNG NÔNG THÔN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN Ngàn
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG
VỆ SINH NÔNG THÔN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG CHO VÙNG NÔNG THÔN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
Ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : ThS Lê Thị Vu Lan Sinh viên thực hiện : Phùng Thị Quyên
TP Hồ Chí Minh, 2013
Trang 2PH IẾU GIAO ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành : Kỹ thuật môi trường
Khảo sát đánh giá hiện trạng môi trường vệ sinh nông thôn và đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường cho vùng nông thôn huyện Cần Giuộc tỉnh Long An
Thông tin vềđiều kiện tự nhiên, môi trường và tài nguyên thiên huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
thải rắncủa địa bàn huyện
Tìm hiểu điều kiện vệ sinh môi trường của nông thôn nói chung và của huyện Cần Giuộc
Tổng hợp tài liệu, số liệu về hiện trạng môi trường,về nguồn gốc phát sinh các chất ô nhiễm
Đánh giá hiện trạng môi trường không khí, nước, chất thải rắn, vệ sinh nông thôn của huyện
Đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng môi trường phù hợp với vùng nông thôn huyện
Trang 3Tôi xin cam đoan: Đồ án tốt nghiệp này là đề tài thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc Sĩ: Lê Thị Vu Lan
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả khóa luận của mình
Sinh viên
Trang 4Thuật Công Nghệ TP Hồ Chí Minh, cũng như quý thầy cô trong khoa Môi Trường
và Công Nghệ Sinh Học đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức hữu ích cũng như những kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt 4 năm qua
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới côLê Thị Vu Lan, người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt bài đồ án tốt nghiệp này
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc, Phòng Tư liệu, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Nông
Cần Giuộc đã tạo điều kiện cho em về mặt tài liệu, số liệu cần thiết để hoàn thành bài đồ án
Cảm ơn tất cả các bạn đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và
Lời cuối cùng con xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, chân thành tới Ba Mẹ và những người thân trong gia đình, đã luôn động viên, tạo điều kiện tốt nhất để con học tập
và hoàn thành tốt bài đồ án này
Kính chúc quý Thầy Cô và các bạn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công trong công việc và cuộc sống
TP Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2013
Sinh viên
Trang 51
CHƯƠNG: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cần Giuộc là một huyện thuộc tỉnh Long An, nằm về phía Đông của tỉnh,
Cùng với quá trình phát triển chung của toàn tỉnh, các vùng nông thôn có nhiều bước phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái là một trong những mối quan tâm hàng đầu có tính chất sống còn của nhân loại ngày nay Làm thế nào để kết hợp hài hoà giữa môi trường và phát triển, giữa con người và thiên nhiên, giữa hiện tại
và tương lai Đó là mối quan tâm của các Quốc gia trên thế giới cũng như của Chính phủ Việt Nam và của toàn xã hội
Do tập quán sinh hoạt và sản xuất còn chưa tiến bộ, việc thay đổi trong thâm canh nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, các hoạt động sản xuất trong các cơ sở chăn nuôi đã tác động đến môi trường làm cho môi trường vùng nông thôn mất đi sự trong lành vốn có và ngày càng bị ô nhiễm nặng hơn Tình trạng vệ sinh môi trường kém là nguyên nhân chủ yếu gây ra những hậu quả nặng nề về sức khoẻ đối với đời sống con người
Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường cho người dân nông thôn thì việc đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của người dân huyện Cần Giuộc tỉnh Long An là điều rất cần thiết phục vụ cho việc phát triển kinh tế và môi trường bền vững
Vì vậy tôi tiến hành đề tài “Khảo sát đánh giá hiện trạng môi trường vệ
sinh nông thôn và đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện môi trường cho vùng nông thôn huyện Cần Giuộc tỉnh Long An”
Trang 6kinh tế xã hội huyện Cần Giuộc
người dân sinh sống, vấn đề vệ sinh môi trường
đây
4 Ý nghĩa của đề tài
Nêu lên mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế xã hội và môi trường và định hướng cho việc phát triển bền vững trên địa bàn huyện Cần Giuộc
Đồ án hoàn thành sẽ cung cấp đầy đủ một hệ thống cơ sở dữ liệu tin cậy về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và hiện trạng môi trường nông thôn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Đây là những thông tin quan trọng để địa phương xây dựng các chiến lược quy hoạch phát triển kinh tế cho vùng đồng thời là tiêu chí quan trọng để quản lý và bảo vệ môi trường
Tìm ra những hạn chế trong công tác quản lý môi trường, xử lý ô nhiễm, để
đề xuất các hướng giải pháp khắc phục kịp thời Giúp các nhà quản lý làm việc hiệu quả, dễ dàng hơn
Trang 7Trong những năm gần đây, với sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế diễn ra mạnh mẽ tại huyện Cần Giuộc tiền đề cho nguồn phát sinh các vấn đề về môi trường Do đó cần có các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình phát triển về kinh tế được hạn chế mức tối đa ảnh hưởng đến môi trường
5.2 Phương pháp cụ thể
dụng phiếu điều tra hiện trạng môi trường tại huyện Cần Giuộc
Mục đích: điều tra nhận thức của người dân nông thôn về việc bảo vệ môi trường thông qua việc dùng phiếu điều tra lấy thông tin trực tiếp từ người dân Thông qua việc điều tra có được cái nhìn tổng quan về điều kiện môi trường nông thôn tại huyện các phương pháp xử lý chất thải của người dân cũng như kiến thức
về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường xung quanh, rút ra được kết luận sơ bộ
về các vấn đề trên làm cơ sở so sánh với kết quả quan trắc môi trường của huyện từ
đó đưa ra các giải pháp để cải thiện tình trạng môi trường tại đây
Thực hiện điều tra: Phỏng vấn trực tiếp và phát phiếu điều tra về hộ gia đình Nội dung chính của phiếu điều tra:
- Hoàn cảnh gia đình
- Cách xử lý nước, rác thải
- Cách xử lý chất thải người và vật nuôi
- Tình hình sử dụng thuốc BVTV
- Ảnh hưởng của môi trường xung quanh đến sức khoẻ và sinh hoạt
- Ý thức tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương
Trang 8Phân bố phiếu điều tra
Mục đích điều tra: tìm hiểu về điều kiện môi trường xung quanh thông qua ý kiến người dân, ý thức bảo vệ môi trường của người dân để đánh giá môi trường địa phương, đưa ra giải pháp cải thiện môi trường
tế, lấy thông tin, số liệu cho đề tài
liệu về hiện trạng môi trường nông thôn huyện Cần Giuộc; tài liệu về tình hình quản
lý môi trường tại các cơ quan quản lý môi trường trên địa bàn huyện; tài liệu về tình hình đầu tư xử lý môi trường tại địa bàn huyện; tài liệu về nguồn gốc phát sinh các chất ô nhiễm, thành phần, tính chất, và các tác động đến môi trường của các nguồn
Trang 106
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ VỆ SINH
MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
1.1 Khái niệm nông thôn và môi trường nông thôn
1.1.1 Khái niệm nông thôn
Nông ở đây được hiểu là nghề nông, chỉ những người sinh hoạt lao động sản xuất nông nghiệp (trước đây xã hội phong kiến chia thành giai cấp xã hội theo nghề nghiệp : sĩ, nông, công, thương) Thôn chỉ những thôn làng, thôn quê, một đơn vị cơ
sở của nông thôn
Theo từ điển tiếng Việt thì nông thôn được định nghĩa là khu vực của dân cư sống tập trung, hoạt động chủ yếu để sinh sống bằng nghề nông, bằng sản xuất nông nghiệp, hay nói cách khác là đơn vị hợp thành trải qua nhiều đời khai thác để làm nông nghiệp, họ sống thành những cụm quần cư nông thôn, xây dựng nhà ở và công trình công cộng như đường làng, chợ làng, đê làng, ao làng, lũy tre làng, đình làng,… tạo ra quang cảnh môi trường nông thôn
Trên thế giới bất kì nước nào cũng có vùng nông thôn hoặc từ nông thôn đô thị hóa Tùy theo điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán lối sống của mỗi nước, mỗi vùng,… đã tạo nên cảnh quan môi trường nông thôn mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương có nét đặc thù riêng và cũng tùy theo trình độ phát triển của mỗi nước, mỗi vùng mà sinh thái môi trường nông thôn, bộ mặt nông thôn có sự phát triển khác nhau cả về hình thức và nội dung
1.1.2 Môi trường nông thôn
Qua khái niệm trên môi trường nông thôn được hiểu như sau: “ Một thành phần của môi trường tự nhiên, trong đó được cấu thành bởi những yếu tố cơ sở vật chất hạ tầng (nhà ở, vườn tược, ruộng đồng, đường giao thông,…) trong đó trọng tâm vẫn là người nông dân với những hoạt động sản xuất nông nghệp, cảnh quan nông thôn, các yếu tố được quan tâm bằng dây chuyền thực phẩm và dòng năng lượng Ngoài hoạt động sản xuất còn có những hoạt động về văn hóa xã hội, tập quán, tình cảm của những người nông dân.”
Trang 117
1.2 Hệ sinh thái môi trường nông thôn
1.2.1 Phân loại nông thôn
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có loại hình sinh thái môi trường nông thôn, từ khi xuất hiện trên địa cầu con người cần phải có nơi ở với những điều kiện sống nhất định mới có thể tồn tại được Lúc đầu từ những địa điểm cư trú, chủ yếu dựa vào điều kiện thiên nhiên sẵn có và thuận lợi cho việc làm của con người như hang động… dần dần do nhu cầu cuộc sống phát triển, con người có sự hiểu biết hơn, họ biết tập hợp thành những nhóm quần cư, thành những làng mạc Những làng mạc đầu tiên chỉ có vài người, vài gia đình rồi phát triển lên thành nhiều gia đình… Nông thôn trên thế giới nói chung từ khi xuất hiện ở thời kỳ cổ đại đều bắt đầu từ nền nông nghiệp nhỏ, mang tính chất tự cung tự cấp, sức sản xuất yếu ớt, bấp bên, hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
Tại nước ta, sinh thái môi trường nông thôn tuy có những thay đổi nhất định, những nước đang phát triển, môi trường nông thôn tuy còn lạc hậu nhưng còn giữ được những đặc thù về sinh thái môi trường riêng của nông thôn Việt Nam Nước ta
là nước có thế mạnh nông nghiệp tuy nhiên quỹ đất càng bị thu hẹp do việc tăng dân
số và đô thị hóa
Từ nguồn gốc hình thành và do quy định của các điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, các điểm nông thôn có những sắc thái khác nhau, từ đó ta có thể phân loại một số môi trường sinh thái nông thôn
Nông thôn ngoại thành
Ở gần thành phố, ven các đô thị, các thị trấn thị tứ, hệ thống giao thông thuận tiện hơn các vùng nông thôn sâu, dễ áp dụng cơ giới hóa, trình độ hiểu biết về nông nghiệp cao, về hoạt động môi trường sinh thái có phần trội hơn các vùng nông thôn khác vì có điều kiện tiếp xúc với khoa học kĩ thuật, dân cư đông hơn, về mặt kiến trúc hơn hẳn các vùng nông thôn sâu
Nông thôn thuộc vùng sâu, vùng xa
Trang 128
Vùng nông thôn này ở cách xa các thành phố, đô thị nằm xa các thị trấn, thị
tứ điều kiện giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp, ít hiểu biết về khoa học
kĩ thuật, chưa đầu tư về cơ giới hóa, sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp còn lệ thuộc vào tự nhiên Còn bị nhiều tập tục phong kiến chi phối, nghèo nàn, lạc hậu
Môi trường nông thôn miền núi
Loại hình này đã được định canh định cư đặc điểm trái ngược hẳn với những vùng nông thôn đồng bằng những phương diện địa lý, nằm trên cao Điều kiện sinh hoạt sản xuất khó khăn do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, diện tích canh tác lương thực rất ít, thường xen vào trồng cây lâm nghiệp và công nghiệp dân cư phân bố rời rạc, phân tán
Nông thôn miền trung du
Thường dựa vào các sườn đồi để canh tác cây trồng và các thung lũng để trồng lúa nước, điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi hơn miền núi, có thế mạnh trong chăn nuôi, dân cư tương đối tập trung, điều kiện giao thông đi lại cũng rất khó khăn, ở nước ta nông thôn miền trung du chủ yếu tập trung ở cấc tỉnh phía Bắc hay miền Đông Nam Bộ
Nông thôn ven biển
Cũng có đất canh tác nông nghiệp với diện tích rất nhỏ, thường kết hợp với hoạt động đánh bắt cá với sơ chế hải sản Đây là vùng sinh thái nhạy cảm, tập trung khá đông dân
Nông thôn vùng đồng bằng
Là nơi có điều kiện hoạt động thuận lợi về nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp lớn, giao thông đi lại dễ dàng, các làng mạc nông thôn có quy mô lớn, thể hiện ở số dân và diện tích canh tác Trồng trọt chủ yếu là lúa nước, trồng các cây lương thực Thí dụ một số nông thôn, các làng thuộc đồng bằng sông Hồng có mật
độ dân số cao không kém gì mật độ dân số của thành phố
Trang 139
Sự phân chia trên thường dựa vào các yếu tố tự nhiên, chủ yếu là địa hình Tuy các vùng nông thôn rất đa dạng phức tạp, nhưng sinh thái môi trường nông thôn đều có những điểm chung
Căn cứ vào phân loại trên để nhận diện cấu trúc và hoạt động của môi trường nông thôn để từ đó tìm thấy những nét đặc thù riêng của cảnh quan và sinh thái môi trường nông thôn của từng nước, từng vùng, từng miền Do đó không thể căn cứ vào địa giới hành chính làm ranh giới của môi trường nông thôn, mà phải lấy yếu tố môi trường làm cốt lõi Thí dụ, trong một tỉnh, một huyện, thậm chí một xã cũng có thể
có nhiều loại hình nông thôn khác nhau
1.2.2 Cấu trúc sinh thái môi trường nông thôn
Cấu trúc của môi trường nông thôn thể hiện qua các yếu tố sau:
Những mô hình cụm dân cư thường được gọi là thôn Làng thôn chính là những đơn vị sinh thái của môi trường nông thôn Từ lâu đời người dân nông thôn thường sống quây quần thành xóm làng trên những vùng đất mà họ có thể khai thác
để sản xuất nông nghiệp
Tùy theo từng vùng các làng thôn có những tên gọi khác nhau Thí dụ các tỉnh miền Bắc và miền Trung dùng từ làng, thôn Các tỉnh miền Nam gọi là ấp, xóm Miền núi và trung du thường gọi là bản, buôn, sóc
Mô hình cấu trúc làng thôn thường được sắp xếp, quy hoạch để có sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, trong đó chủ yếu là các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp như địa hình, khí hậu, nước,… Thí dụ một số vùng nông thôn, khu vực ăn ở thường được bố trí theo hướng mặt trời, theo chiều gió thịnh hành hoặc theo nguồn nước, quay ra sông, ra biển hoặc bố trí theo đường giao thông (điều này phụ thuộc vào yếu tố của mỗi vùng)
Do đó những hình thể làng mạc, có mô hình cấu trúc khác nhau, có làng nằm theo chiều dài, có làng nằm rải rác thành cụm, có những làng được sắp xếp như nhũng bức họa đồ, tạo nên phong cảnh hữu tình của nông thôn
Trang 1410
Cấu trúc thể hiện qua cảnh quan của làng mạc: các làng mạc luôn có những yếu tố giống nhau Chính hoạt động sản xuất nông nghiệp “tạo hình” sinh thái môi trường nông thôn có những nét chung bởi muốn sản xuất nông nghiệp thì nơi cư trú phải gắn liền với ruộng đồng, vườn, ao, chuồng, tạo ra an cư lạc nghiệp Từ đó cho thấy rõ cách bố trí sắp xếp của những làng thôn, điển hình như làng thôn Việt Nam
từ trước đến nay thường được cấu trúc, sắp xếp theo những hình dạng vừa có tính chung của vùng lại vừa có tính riêng của từng đơn vị sinh thái để phù hợp với điều kiện tự nhiên, phù hợp với phong tục, nếp sinh hoạt của từng địa phương như tại miền Bắc, miền Trung các làng thôn thường được sắp xếp như sau
Khu quần cư là khu vực ăn ở sinh hoạt, khi bước vào một làng thường thấy: Cổng làng, lũy tre, con đê đầu làng,…
Cây đa đầu làng (do tập quán)
Đường làng chỉ có đường chính, đường phụ
Giếng nước để sử dụng chung thường ở đầu làng
Đình làng là nơi thờ cúng thần linh, tổ tiên, cũng là nơi hội hợp sinh hoạt văn hóa, tổ chức vui chơi lễ hội
Trường làng: các làng mạc xa xưa thì chưa có trường làng, lớp học được tổ chức tại nhà thầy đồ, đến nay các làng thôn đều có trường làng phục vụ nhu cầu học tập
Trạm y tế
Trong khu vực ăn thì các ngôi nhà của từng hộ gia đình là những nét kiến trúc độc đáo, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và tập quán, lối sống của từng nơi, từng miền mà có những kiểu dáng khác nhau, thường bố trí theo kiểu ba gian, năm gian
và thường sử dụng những nguyên vật liệu sẵn có của địa phương để làm nhà Quanh nhà thường có vườn, ao, chuồng
Khu sản xuất trao đổi
Cánh đồng làng
Trang 1511
Chợ làng: Thời xưa các chợ làng thường rất nhỏ, họp không thường xuyên, họp theo phiên, hiện nay đã phát triển thành nơi trao đổi dịch vụ
Sông làng thường chảy qua khu vực ruộng đồng, trước hoặc sau làng
Bãi tha ma
Miếu, chùa, nhà thờ xứ đạo,…
Các làng thôn thường được bao bọc bởi các lũy tre làng, đây là các hàng rào bảo vệ tự nhiên
Cấu trúc sinh thái môi trường nông thôn thể hiện qua các thành phần của nó như vườn tược, ruộng đồng, ao hồ, đầm lầy, sông ngòi, làng xóm, những thị trấn nhỏ, đường giao thông nông thôn, các làng nghề thủ công nghiệp, cơ chế thực phẩm, nhưng quan trọng nhất là người nông dân và những hoạt động sống của họ
Cấu trúc môi trường sinh thái nông thôn thể hiện ở hoạt động nông nghiệp tạo thành dạng hình “hệ sinh thái nông nghiệp”
1.3 Hoạt động môi trường nông thôn
Tập tục: Đó là “đất lề quê thói”, nhiều phong tục tập quán được truyền lại từ
đời cha ông đến nay Có những tập tục tốt như tổ chức vui chơi, lễ hội, thờ cúng gia tiên, hiếu khách, miếng trầu là đầu câu chuyện, quy định về ma chay, cưới hỏi… nhưng bên cạnh đó cũng có những tập tục xấu như tảo hôn, ép gả, môn đăng hộ đối, chọn giờ xuất hành, chôn cất, mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ… và những tập tục khác của những dân tộc thiểu số khác
Nếp sống: Từ xưa đến nay vẫn có nếp sống tốt như sống có tôn ti trật tự, tình
làng nghĩa xóm, tôn sư trọng đạo, cần cù lao động, thật thà chất phát Bên cạnh đó vẫn còn có những nếp sống xấu như cờ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan Trong nông thôn dư luận xã hội có tác dụng hạn chế sự vi phạm đạo đức nhưng đôi khi cũng trói buột con người trong những khuôn mẫu không phù hợp với thời đại mới
Đặc thù:
Trang 1612
Sinh hoạt nông thôn mang những nét đặc thù riêng, chính từ môi trường sinh thái tạo ra nhân cách và tâm lý con người Người dân nơi đây thật thà chất phác, cần
cù lao động, sống khắc khổ và luôn cố gắng vươn lên
Mặt hạn chế trong sinh hoạt nông thôn cũng như các hoạt động văn hóa xã hội là người dân sống trong khuôn khổ của lũy tre làng nên ít muốn xa rời làng thôn,
bị hạn chế việc học tập trao đổi thông tin, tiếp thu khoa học kỹ thuật trong thời đại mới Hơn nữa sinh hoạt nông thôn thường lệ thuộc vào sản xuất thời vụ
Về hoạt động kinh tế ở nông thôn mang tính chất tự cung tự cấp, tự túc Một đặc thù nữa của môi trường nông thôn là chậm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Bờ ruộng là nơi nuôi dưỡng mầm bệnh, là môi trường sống lí tưởng của chuột, côn trùng và cỏ dại
Vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn hiện đang là vấn đề nổi cộm: chuồng trại, hố xí không hợp vệ sinh, thiếu nước sinh hoạt nhất là khu vực vùng sâu vùng
xa, hành động vứt rác bừa bãi là mầm móng của nhiều dịch bệnh và làm mất mỹ quan môi trường nông thôn
Bảng 1.1 Sự thay đổi môi trường xưa và nay
Về sản xuất và sinh thái
- Các hoạt động nông nghiệp cổ truyền
- Dựa vào các điều kiện tự nhiên và lợi
dụng các ĐKTN để tránh thiên tai
- Sử dụng hệ thống cây trồng phức tạp,
nhiều giống cây trồng năng suất thấp
nhưng phong phú về di truyền
- Lao động trên diện tích cao, chủ yếu
là lao động thủ công
Về sản xuất và sinh thái
- Các hoạt động sản xuất nông nghiệp tiên tiến hơn, hiện đại hơn nhờ áp dụng KHKT
- Khắc phục được khó khăn của tự nhiên, cải tạo chúng bằng KHKT
- Sử dụng hệ thống cây trồng đơn giản, giống cây năng suất cao nhưng nghèo về
di truyền
Trang 1713
- Hệ sinh thái phong phú, năng suất
thấp, không ổn định, ít đầu tư năng
lượng hóa thạch
- Sử dụng các chuỗi thức ăn dài, lợi
dụng xoay vòng của chất hữu cơ kết
hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi
- Lao động trên đơn vị diện tích thấp, thay năng lượng thủ công bằng năng lượng hóa thạch để tạo sự ổn định
- Sử dụng chuỗi thức ăn ngắn, nhiều chất dinh dưỡng và trả lại bằng phân hóa học, tách rời trồng trọt, chăn nuôi
Về văn hóa – xã hội và các điều kiện
khác
- Đường giao thông khó khăn, chủ yếu
là đường rừng, đường đồi núi
- Thủy lợi phụ thuộc vào kênh rạch tự
nhiên
- Trong cuộc sống bị ràng buộc bởi
nhiều luật lệ nông thôn, nhiều hủ tục mê
tín dị đoan, lễ hội rườm rà, kéo dài
- Các nhu cầu sinh hoạt, giải trí hầu như
- Hệ thống thủy lợi quy mô lớn, cung cấp
đủ nước cho sản xuất nông nghiệp
- Xóa bỏ được nhiều luật lệ, hủ tục nông thôn phong kiến, các lễ hội được tổ chức đơn giản, có ý nghĩa
- Nhu cầu giải trí, sinh hoạt tốt hơn
- Lượng thông tin nhận được nhiều và nhanh chóng hơn
(Nguồn: [1])
1.4 Vệ sinh môi trường nông thôn
1.4.1 Lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật
dụng thuốc bảo vệ thực vật thì hiện nay là 100% với trên 1.000 chủng loại thuốc, trong đó nhiều loại thuốc có độc tính cao
Trang 1814
vệ thực vật Bình quân 1 ha gieo trồng sử dụng đến 0,4 - 0,5 kg thuốc bảo vệ thực vật Sử dụng không hợp lý, không tuân thủ theo đúng những quy định nghiêm ngặt
về quy trình sử dụng nên thuốc bảo vệ thực vật gây nhiều tác hại cho chính người sử dụng thuốc và người tiêu dùng nông sản và thực phẩm có chứa dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật, đồng thời ảnh hưởng đến môi trường sống
trường, mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh khoảng 9.000 tấn chất thải nông nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc bảo vệ thực vật, trong đó không ít loại thuốc có
độ độc cao đã bị cấm sử dụng mà vẫn đem ra sử dụng đã gây ra những ảnh hưởng không tốt đến môi trường và con người
hàng chục kho bãi; 37.000 tấn hóa chất dùng trong nông nghiệp bị tịch thu đang được lưu giữ chờ xử lý Môi trường nông thôn đang phải gánh chịu những bất lợi từ hoạt động sản xuất nông nghiệp
Tác hại
Gây ô nhiễm nguồn nước: Thuốc trừ sâu gây ô nhiễm nguồn nước, gây ngộ
độc cho động vật thủy sinh Một số loại thuốc trừ sâu thường biến đổi sau khi sử dụng thành một hoặc nhiều chất chuyển hóa bền vững và độc hơn loại thuốc trừ sâu
sử dụng ban đầu
Gây ô nhiễm đất: Thuốc trừ sâu gây tồn đọng trong đất làm đất bị nhiễm độc,
gây chết các vi sinh vật có lợi trong đất; đất trở nên chua hóa nhanh, chai cứng, giảm năng suất cây trồng
Gây ô nhiễm không khí: Mùi thuốc trừ sâu từ đồng ruộng lan tỏa trong không
khí được gió đưa vào các khu dân cư, người dân hít phải thuốc sâu dễ bị nhức đầu,
ho, viêm đường hô hấp…
Theo Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia Mỹ đã cảnh báo: Sự phơi nhiễm với các hợp chất độc hại cho hệ thần kinh ở nhiều mức độ được tin rằng an toàn đối với
Trang 1915
người trưởng thành có thể dẫn đến hậu quả đối với phụ nữ mang thai, làm mất đi thường xuyên chức năng của não bộ nếu sự phơi nhiễm diễn ra trong thời gian mang thai và thời kỳ niên thiếu
Ngộ độc do rau không an toàn: Thuốc trừ sâu là những chất thuộc nhóm lân
hữu cơ rất độc, dễ gây ngộ độc cấp tính Việc tăng liều lượng thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc BVTV không theo hướng dẫn cũng như lạm dụng thuốc BVTV đã gây ra hiện tượng kháng thuốc, làm thuốc mất hiệu lực hoặc để lại tồn dư thuốc BVTV quá mức cho phép trong nông sản, thực phẩm sẽ dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hóa trên thị trường
và cũng là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sức khỏe cộng đồng
1.3.2 Vấn đề rác thải sinh hoạt nông thôn
Khi nói đến rác, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của đô thị hay các thành phố lớn Điều đó đúng nhưng chưa đủ Với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, nhất là kỹ thuật sản xuất, đóng gói bao bì, nhiều loại giấy, hộp đóng gói chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc…rất tiện lợi góp phần làm thay đổi phong cách và tập quán sống của nhiều người dân từ nông thôn đến thành thị
Về nông thôn, chúng ta dễ dàng nhận thấy ven làng, các bờ sông, con ngòi, các túi rác, có khi là cả một tải rác hay đống rác “tự do nhảy dù” chẳng có người nào thu gom, mới đầu còn là một túi rác nhỏ, dần dà chúng “tập kết” thành đống lớn dần lên qua từng ngày tạo nên cảnh quan “lạ mắt” ven đường làng, mương máng, có khi còn làm tắc dòng chảy Bên cạnh đó rác thải ở các chợ quê đã đến hồi báo động, các đống rác được chất đống lưu cữu rất nhiều ngày, ngay gần khu dân cư, bốc mùi ô uế
Mỗi năm, trong cả nước có hàng chục tấn rác thải sinh thải sinh hoạt phát sinh và theo dự báo thì tổng lượng chất thải đó vẫn tiếp tục tăng lên nhanh chóng trong thập kỷ tới Theo ông Trương Đình Bắc - Trưởng phòng Sức khoẻ và môi trường, cho biết nếu ở các đô thị lớn, trung bình một người thải ra 1kg rác/ngày thì vùng nông thôn cũng từ 0,5 - 0,6 kg rác/ngày Bình quân mỗi người thải ra 0,7 kg
Trang 20Nguyên nhân:
Do quá trình xây dựng, quy hoạch và đầu tư xây dựng khu dân cư chưa chú trọng vấn đề xử lý môi trường
tại các vùng nông thôn còn rất khiêm tốn
rác này lại không được phân loại và xử lý, hình thức thường được sử dụng nhất hiện nay đó là đốt hoặc chôn lấp Không những thế việc hình thành các bãi rác, chôn lấp rác thải chưa chú ý đến khoảng cách đối với các khu dân cư, quy mô bãi chôn rác chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên, năng lực thu gom rác yếu, công nghệ xử lý rác còn lạc hậu nên khó tránh khỏi tình trạng ô nhiễm môi trường
chặt chẽ như: Quy định chưa rõ ràng, thiếu cán bộ quản lý và thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường nên không hướng dẫn kịp thời, đầy đủ những nội dung về bảo vệ môi trường để mọi người nắm và tự giác chấp hành Ở một số nơi cán bộ địa phương cũng chưa chú trọng việc giáo dục, tuyên truyền cho người dân biết và chấp hành
rác thải chưa được thực hiện
sinh hoạt là vì thói quen của người dân đã bao đời nay là “nhắm thấy tiện là quăng” nên quanh nhà là bãi chứa rác và thiếu ý thức của người dân trong việc xử lý rác
Trang 2117
Hậu quả là rác thải sinh hoạt trở thành gánh nặng cho xã hội Ai cũng biết đó
là rác thải, là thứ bỏ đi Nhưng không phải ai cũng biết, rác thải ngày càng nhiều và
là hiểm hoạ đối với con người và môi trường
1.3.3 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi
cáo của Cục Chăn nuôi, hàng năm đàn vật nuôi thải ra 80 triệu tấn chất thải rắn, vài chục tỷ khối chất thải lỏng và hàng trăm triệu tấn chất thải khí Do vậy mà việc xử
lý chất thải chăn nuôi ngày càng được các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng và chính những người chăn nuôi quan tâm
các loại chất thải trong chăn nuôi đa phần vẫn chưa được xử lý Chất thải trong chăn nuôi được phân ra làm 3 loại: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí bao gồm
ngày càng gây ô nhiễm đang ở mức báo động, các chất thải chăn nuôi không những gây ra mùi khó chịu ảnh hưởng nặng nề đến không khí mà còn ngấm vào đất gây ảnh hưởng đến nguồn nước và từ đó ảnh hưởng đến con người
người dân xử lý một cách có hiệu quả, một số nơi còn không chôn lấp xác động vật chết mà còn đem ra thả trôi ngoài sông, suối hay vứt ở nơi ít người qua lại
nghiệp như rơm, rạ, các loại phế phẩm từ thu hoạch nông sản Trước kia thì rơm rạ dùng làm chất đốt hay sử dụng cho mục đích nào đó của người dân thì bây giờ rơm,
rạ sau khi thu hoạch xong sản phẩm thì không xử lý các chất thải còn lại mà để cho chúng tự phân hủy ngoài trời, và đó cũng là tác nhân gây ra sự ô nhiễm
1.3.4 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa
vực nông thôn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Một số các
Trang 2218
khu công nghiệp, chế xuất, liên doanh không có công nghệ xử lý môi trường hoặc không quan tâm nhiều đến việc xử lý rác thải của doanh nghiệp mình, và nếu có cũng chỉ là đối phó, hoạt động không thực sự hiệu quả từ đó đã góp phần làm ảnh hưởng đến môi trường nông thôn ngày thêm tồi tệ hơn
lẫn quy mô Trái lại vấn đề về bảo vệ môi trường lại không được chú trọng nhiều đã làm cho môi trường ngày một ô nhiễm hơn
và cải thiện môi trường làng nghề
Theo thống kê mới nhất của Tổng cục Môi trường, cả nước có khoảng 2.500 làng nghề, trong đó, có hơn 1.200 làng nghề truyền thống Trong đó làng nghề thuộc đồng bằng Bắc bộ chiếm tới 67,3%, chủ yếu tại các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, Thái Bình, Nam Định ; khu vực miền Trung chiếm 20,5%, số còn lại nằm trên địa bàn các tỉnh phía Nam như Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ
Hoạt động của các làng nghề đã và đang gây áp lực to lớn đến chất lượng môi trường Bởi phần lớn các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ, mặt bằng chật hẹp xen
kẽ với khu dân cư, quy trình sản xuất thô sơ, lạc hậu Hoạt động của các làng nghề gây lãng phí tài nguyên và phát sinh nhiều chất gây ô nhiễm môi trường, tác động trực tiếp đến môi trường sống, điều kiện sinh hoạt và sức khỏe của người dân
Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng nông thôn như đường giao thông, cống, rãnh thoát nước thải không đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất, chất thải không được thu gom và xử lý càng dẫn đến nhiều làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng Chất
Trang 2319
lượng môi trường tại hầu hết các khu vực sản xuất trong các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn Có tới 95% người lao động có nguy cơ tiếp xúc với bụi, 86,9% tiếp
xúc với nhiệt, 59,6% tiếp xúc với hóa chất (nguồn www.langnghevietnam.vn)
Ô nhiễm nguồn nước các làng nghề cũng đáng báo động Trong đó, ô nhiễm chất thải hữu cơ do chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm… gây ra Riêng tại làng nghề tinh bột Dưỡng Liễu (Hà Nội), để mỗi năm sản xuất ra 52.000 tấn sản phẩm sẽ phải thải ra 3.050 tấn COD, 934,4 tấn BOD và 2.133 tấn SS Các làng nghề dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ và mây tre đan, tái chế giấy tạo ra nước thải có hàm lượng cặn lớn và chứa nhiều chất ô nhiễm như dung môi, dư lượng các hóa chất Tại các làng nghề tái chế, trong nước thải mạ và tái chế kim loại có hàm lượng kim loại nặng độc hại vượt quy định hàng chục lần
1.3.6 Hiện trạng môi trường nước
Khoảng 40% người dân nông thôn được tiếp cận nguồn nước sạch
Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2010 - 2011 (MICS 4), dân số Việt Nam đang được sử dụng nguồn nước ăn đã được cải thiện (có thể coi là sạch) gồm: Nước máy, nước từ vòi công cộng, nước giếng khoan, giếng có bảo vệ, nước suối có bảo vệ, nước mưa và nước đóng chai Tuy các nguồn nước đã được cải thiện có thể an toàn hơn các nguồn chưa được cải thiện, nhưng không có nghĩa là nước từ các nguồn này đều an toàn theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường, các phát hiện của Điều tra MICS 2010-2011 cho thấy, hơn bảy trong số 10 người ở Việt Nam được tiếp cận nước uống và công trình vệ sinh được cải thiện Ở khu vực nông thôn, tỷ lệ người dân nông thôn được
sử dụng nước hợp vệ sinh đạt tỷ lệ 75%, trong đó có khoảng 40% nước đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế
Điều tra mới nhất của Bộ Y tế cho biết, nguồn nước giếng khoan, giếng khơi chiếm tỉ lệ cao nhất trong cơ cấu nguồn nước ăn uống và sinh hoạt của nông thôn Việt Nam (33,1% và 31,2%), nước máy chỉ chiếm 11,7%, suối đầu nguồn 7,5%,
nước mưa 2% và sông, hồ, ao chiếm 11% (nguồn www.monre.com.vn)
Trang 2420
Ông Đồng Ngọc Hải Anh – Tổ chức Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF Việt Nam) cho biết, hiện nay, các biện pháp xử lý nước được các hộ gia đình sử dụng nhiều nhất là lọc nước, để lắng, đánh phèn, sau đó đun sôi Rất ít các biện pháp
sử dụng hóa chất được áp dụng Loại nguồn nước được người dân quan tâm xử lý nhiều nhất trước khi đưa vào sử dụng là nước sông, ao hồ, nước mưa và nước giếng khoan Hầu hết giếng khơi không được xử lý trước khi đưa vào sử dụng, tuy nguồn nước này được coi là sạch nhưng vẫn có nguy cơ ô nhiễm vi sinh, đặc biệt đối với những giếng được xây dựng gần nguồn gây ô nhiễm như nhà tiêu, chuồng gia súc, hoặc không có thành chắn hoặc có vũng nước đọng quanh giếng Tuy nhiên, theo Cục Y tế Dự phòng, Bộ Y tế, hiện chỉ có khoảng 18% số hộ gia đình ở các vùng nông thôn Việt Nam có nhà tiêu hợp vệ sinh đảm bảo các yêu cầu về xây dựng cũng như bảo quản sử dụng
Theo nhận định của UNICEF, một trong những nguyên nhân trực tiếp cản trở các tiến bộ trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh là sự chưa quan tâm và đầu tư đúng của Nhà nước do còn nhiều ưu tiên quan trọng khác Bên cạnh đó, còn phải kể đến việc người dân còn rất thiếu ý thức, nhận thức cũng như kỹ năng trong sử dụng nước
và thực hành vệ sinh là một cản trở lớn cả ở khu vực đô thị và nông thôn
Hiện ở một số vùng nông thôn đã có trạm cấp nước cung cấp nước sạch nhưng tỷ lệ khá khiêm tốn, đa phần phải sử dụng nguồn nước tự xử lý Nhiều trạm cấp nước nằm đắp chiếu do thiếu kinh phí duy trì hoạt động Nhiều vùng ngoại thành vẫn sử dụng nước mưa hoặc nước giếng khoan qua xử lý sơ sài, chưa có sự kiểm định chất lượng một cách thường xuyên
Trang 2521
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Cần Giuộc
2.1.1 Vị trí địa lý
có vị trí tương đối như sau:
Trang 2622
phía Nam đang được chính phủ quan tâm đầu tư phát triển kinh tế- xã hội, cơ sở hạ tầng…
Tp.HCM bằng Quốc lộ 50 với chiều dài 12 km, nối với Quốc lộ 1A qua đường tỉnh
835, nối các huyện khác bằng các hương lộ, tỉnh lộ…
thị trấn và 16 xã, chia làm 2 tiểu vùng:
Phước Lý, Long Thượng, Phước Hậu, Mỹ Lộc, Phước Lâm, Thuận Thành, Long
An, Tân Kim, Trường Bình Tiểu vùng này đã được ngọt hóa đảm bảo nguồn nước cho phát triển sản xuất nên phát triển khá mạnh, nhất là nông nghiệp
Long Phụng, Đông Thạnh, Phước Vĩnh Đông và Tân Tập Tiểu vùng này bị nhiễm phèn nặng, mặc dù có đê Ông Hiếu nhưng chưa phát huy tác dụng nên còn rất khó khăn trong sản xuất và đời sống
Trang 27Như trong năm:
Tháng có mưa nhiều nhất là tháng 10 với lượng mưa 393 mm
Tháng ít mưa nhất là tháng 3 với lượng mưa 2,3 mm và các tháng 1, 2 là các tháng không có mưa
2.1.2.5 Độ bốc hơi
Lượng bốc hơi phân bố theo 2 mùa, mùa khô và mùa mưa khá rõ rệt Lượng bốc hơi trong mùa khô rất cao, ngược lại với mùa mưa ít biến động theo không gian Lượng bốc hơi trung bình năm là 65 – 70% lượng mưa hàng năm
2.1.3 Địa hình và tài nguyên đất:
Địa hình Cần Giuộc mang đặc trưng của đồng bằng gần cửa sông, tương đối bằng phẳng, song bị chia cắt mạnh bởi sông rạch Địa hình thấp (cao độ 0,5 – 1,2 m
Trang 2824
so với mặt nước biển), nghiêng đều, lượn sóng nhẹ và thấp dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Sông Rạch Cát (còn gọi sông Cần Giuộc) dài 32 km, chảy qua Cần Giuộc theo hướng Bắc – Nam, đổ ra sông Soài Rạp, chia Cần Giuộc ra làm 2 vùng với đặc điểm tự nhiên, kinh tế khác biệt: Vùng thượng gồm Thị trấn Cần Giuộc và 9
xã là Tân Kim, Trường Bình, Long An, Thuận Thành, Phước Lâm, Mỹ Lộc, Phước Hậu, Long Thượng, Phước Lý; Vùng hạ có 7 xã là Long Phụng, Đông Thạnh, Tân Tập, Phước Vĩnh Đông, Phước Vĩnh Tây, Phước Lại, Long Hậu
Vùng thượng có cao độ so với mặt biển 0,8 – 1,2 m, địa hình tương đối cao ráo Hiện nay, hầu hết diện tích đã được ngăn mặn nhờ hệ thống công trình thủy lợi
đê Trường Long, đê Phước Định Yên và cống – đập Trị Yên, cống – đập Mồng Gà
Vùng hạ có cao độ so với mặt nước biển 0,5 – 0,8 m, có mật độ sông rạch tự nhiên dày đặc Một số khu vực thấp cục bộ là lòng sông cổ chưa được phù sa bồi lắng lấp đầy, cao độ chỉ 0,2 – 0,4 m Công trình thủy lợi cống, đập Ông Hiếu với tuyến đê dài 11,85 km phục vụ ngăn mặn trữ ngọt cho trên 2.000 ha sản xuất lúa 2 vụ/năm Còn lại hầu hết diện tích Vùng hạ thích hợp cho sản xuất lúa 1 vụ và nuôi thủy sản
Đất Cần Giuộc thành tạo bởi phù sa trẻ của hệ thống sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ, tạo nên đồng bằng gần cửa sông với các đặc trưng sau:
● Đất mặn, phèn chiếm 48,34% diện tích tự nhiên với 10.103 ha, có thành
thơm và lúa đặc sản (Tài nguyên, Nàng thơm, Hương lài – khaodawk Mali, …) cho chất lượng cao và nuôi thủy sản nước mặn – lợ (tôm sú, cá nước lợ, cua lột, …) có hiệu quả
● Đất phù sa 4.132 ha, phân bố chủ yếu ở các xã Vùng thượng là loại đất tốt nhất, có thành phần cơ giới thịt trung bình, do khai thác lâu đời nên hàm lượng N, P,
vi lượng với nồng độ khá cao (Bore, Cobal, Kẽm, Molipden) Đây là vùng đất thích
Trang 2925
hợp cho trồng rau và lúa đặc sản chất lượng cao, do tính chất đất tạo nên lợi thế cho sản phẩm hàng hóa có hương vị đặc biệt
2.1.4 Tài nguyên nước và chế độ thủy văn:
Tài nguyên nước mặt của Cần Giuộc khá dồi dào, với sông Cần giuộc, Cầu Tràm, Mồng Gà, Kinh Hàn, Soài Rạp và hơn 180 kinh rạch lớn nhỏ khác Tuy nhiên, do gần biển Đông, chịu ảnh hưởng của thủy triều nên nguồn nước các sông đều bị nhiễm mặn (độ mặn các sông chính Vùng hạ từ 7 – 15% vào mùa khô), ảnh hưởng không tốt đến nguồn nước dùng cho sản xuất và đời sông dân cư, song lại thích hợp cho nuôi thủy sản nước lợ Từ sau ngày giải phóng đến nay, Nhà nước và nhân dân Cần Giuộc đã có nhiều nỗ lực xây dựng các công trình thủy lợi ngăn mặn, trữ ngọt như Đập Ông Hiếu, Mồng Gà, Trị Yên, hàng trăm km kinh nội đồng, nhiều cống đầu mối, đã đáp ứng một phần nhu cầu nước cho sản xuất và đời sống của nhân dân
Nguồn nước ngầm phân bố không đều trên địa bàn Cần Giuộc Ở các xã Vùng thượng nguồn nước ngầm có trữ lượng khá, các giếng khoan ở độ sâu 100 –
120 m chất lượng nước có thể khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt cộng đồng dân cư Tuy nhiên, ở các xã Vùng hạ trữ lượng nước ngầm từ ít đến rất ít, tầng nước
khai thác nước ngầm phục vụ đời sống và sản xuất phải qua các khâu xử lý rất tốn kém Hiện trên địa bàn Cần Giuộc có trên 1.200 giếng nước ngầm, hiện tượng khai thác quá mức có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước (đã có hiện tượng khai thác quá mức, gây tụt áp 1 – 2 m vào mùa khô) Nhà nước khuyến cáo dân không nên lạm dụng khai thác nước ngầm cho sản xuất mà cố gắng tận dụng nguồn nước mặt bằng cách nạo vét kinh rạch, vận hành các cống hợp lý để tăng trữ lượng nước ngọt phục
vụ nhu cầu trong mùa khô
Cần Giuộc có vị trí gần biển Đông, lại ở ngay cửa sông lớn (sông Soài Rạp) nên sông rạch ở Cần Giuộc chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều của biển Đông với biên độ triều lớn Biên độ triều trong năm biến thiên trong khoảng 3,95 m Đỉnh
Trang 3026
độ triều như vậy rất thích hợp cho việc đào ao đầm nuôi thủy sản; việc cấp nước và tiêu nước hoàn toàn tự chảy theo triều Tuy nhiên, nếu triều cường kết hợp với mưa cường độ cao, nhất là khi có lũ đầu nguồn, nhiều nguy cơ phá vỡ đê đập ngăn mặn hoặc đê bao nuôi thủy sản Trên thực tế hàng năm huyện đã phải chi hàng trăm triệu đồng để tu bổ hệ thống đê, đập ngăn mặn và cũng có vài năm dân Vùng hạ bị thiệt hại hàng trăm hecta nuôi thủy sản do mực nước triều vượt đê
2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Cần Giuộc, Tỉnh Long An
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 18,7%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng công nghiệp- xây dựng là 43,21%, thương mại- dịch vụ là 37,85% và nông nghiệp giảm xuống chỉ còn 18,9% GDP bình quân đầu người của huyện Cần Giuộc đạt 20 triệu, vượt chỉ tiêu Nghị quyết đề
ra 16%, thu ngân sách đạt khá cao Những kết quả trên cho thấy, công nghiệp – xây dựng là mũi đột phá phát triển trong 5 năm qua của huyện Cần Giuộc, với mức tăng trưởng bình quân là 30% năm Huyện đã tập trung nhiều giải pháp cho thu hút đầu
tư, trong đó công tác giải phóng mặt bằng được đẩy nhanh với tiến độ cao Toàn huyện đã san lấp và hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp và khu tái định cư với diện tích gần 650ha trên tổng số 1450ha Tại các khu công nghiệp này đã tạo ra cho 10 nghìn lao động có việc làm tại địa phương, nhất là ở các khu vực Tân Kim, Long Hậu Trong năm, huyện Cần Giuộc cũng đã khởi công xây dựng Cảng Long An với vốn đầu tư hơn một tỷ USD, sau khi hoàn thành sẽ đưa Cần Giuộc nói riêng và tỉnh Long An nói chung phát triển mạnh mẽ về công nghiệp, thương mại và dịch vụ Đây cũng là công trình chào mừng Đại hội Đảng các cấp
Song song với phát triển kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội cũng được chú trọng đầu tư, huyện Cần Giuộc đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập trung học cơ
sở vào năm 2007 Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân không ngừng được cải thiện Cơ sở vật chất và mạng lưới y tế được mở rộng khắp trên địa bàn huyện 100% các xã, thị trấn của Cần Giuộc đều đã đạt chuẩn quốc gia về y tế Các chính
Trang 3127
sách đối với người có công với nước được giải quyết cơ bản, cùng với đó là là bảo đảm tốt an sinh xã hội, đặc biệt là việc xóa nhà tranh tre dột nát cho các đối tượng khó khăn, đối tượng chính sách trên địa bàn huyện Năm 2009, Cần Giuộc đã được
Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam công nhận hoàn thành chương trình xóa nhà tre, nhà tạm
Không chỉ làm tốt việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, huyện Cần Giuộc luôn quan tâm đến công tác quốc phòng- an ninh, thế trận quốc phòng toàn dân ở đây luôn được gắn với thế trận an ninh nhân dân và ngày càng được củng cố chặt chẽ, chất lượng chuyển giao quân ngày càng được nâng cao Ông Nguyễn Văn Thiệp, Bí thư huyện ủy Cần Giuộc cho biết thêm: Công tác xây dựng Đảng được tập trung xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức gắn với thực hiện Cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đồng thời, công tác vận động quần chúng của Đảng từng bước được đổi mới, đi vào chiều sâu, ngày càng tạo được lòng tin và sự đồng thuận trong nhân dân
2.3 Định hướng phát triển
Phát huy vị thế là một huyện thuộc vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Long
An, huyện Cần Giuộc quyết tâm tập trung nguồn lực đầu tư cho phát triển theo hướng” công nghiệp đô thị- dịch vụ, thương mại- nông nghiệp” Những năm tiếp theo, cơ hội phát triển của Cần Giuộc có cả thuận lợi và thách thức đan xen Nhận thức rõ được điều này, Đảng bộ và nhân dân huyện Cần Giuộc đặt ra mục tiêu với quyết tâm cao để hoàn thành, theo đó sẽ tranh thủ kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm của những năm qua, nhiệm kỳ qua; phát huy truyền thống đoàn kết, nêu cao
ý chí tự lực, tự cường để đạt được mục tiêu đề ra; đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh
tế, trên cơ sở tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, đảm bảo an sinh xã hội; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Cùng với đó
là bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị thật
sự trong sạch, vững mạnh để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới, phấn đấu đưa Cần Giuộc trở thành huyện công nghiệp vào năm 2020
Trang 3228
Để thực hiện thành công mục tiêu đặt ra, huyện Cần Giuộc đã đề ra bốn Chương trình trong điểm đột phá quan trọng, đó là huy động mọi nguồn lực để xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, điện, nước…Chương trình an sinh xã hội; Chương trình khai thác hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chương trình nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng và chất lượng đảng viên với trọng tâm là công tác qui hoạch, đào tạo cán bộ, đồng thời, thực hiện đồng bộ nhưng giải pháp cơ bản như tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp đô thị - thương mại dịch vụ và nông nghiệp Huyện sẽ tập trung huy động mọi nguồn vốn đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội để phát triển hài hòa hai vùng kinh tế trọng điểm của huyện
Cần Giuộc đã qui hoạch hai vùng trọng điểm kinh tế của huyện là phía Tây
và phía Đông, theo đó, vùng phía Đông chủ yếu là phát triển công nghiệp đô thị- dịch vụ cảng để đưa tốc độ tăng trưởng giá trị công nghiệp là 35%, thương mại dịch
vụ là 25% và nông nghiệp giảm xuống chỉ còn khoảng 4% Còn tại khu vực phía Tây sẽ chủ yếu tập trung sản xuất nông nghiệp sạch, với chất lượng cao, phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Phát triển công nghiệp- thương mại- dịch vụ, huyện Cần Giuộc cũng quan tâm đến đẩy mạnh xã hội hóa phát triển lĩnh vực văn hóa – xã hội nhằm bảo đảm cho sự phát triển cân đối, hài hòa, tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế Theo
đó, Cần Giuộc tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo một cách cơ bản và toàn diện, xúc tiến nhanh xây dựng làng đại học Sài Gòn- Long An, phấn đấu 50% trường đạt chuẩn quốc gia, trên 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.v.v… ngoài ra, huyện còn đẩy mạnh công tác giảm nghèo một cách bền vững, bảo đảm an sinh xã hội Cùng với đó là huyện thực hiện tốt chính sách với người có công và đối tượng xã hội, nâng chất cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa đi vào chiều sâu
2.4 Cấu trúc sinh thái môi trường nông thôn huyện Cần Giuộc
Phân loại môi trường môi trường nông thôn huyện huyện Cần Giuộc
Trang 3329
Từ nguồn gốc hình thành và ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, điều kiện
xã hội, các khu vực nông thôn huyện Cần Giuộc có những sắc thái khác nhau, từ đó
ta có thể phân môi trường nông thôn huyện thành một số môi trường sinh thái như sau:
Nông thôn ngoại thành: gồm một số xã giáp ranh thành phố Hồ Chí Minh, và thị trấn Cần Giuộc như Phước Lý, Tân Kim, Trường Bình, Mỹ Lộc, Phước Lại Đây
là những vùng có hệ thống giao thông thuận tiện hơn các vùng nông thôn khác do
dễ áp dụng cơ giới hóa, trình độ hiểu biết về nông nghiệp cao, hoạt động môi trường sinh thái có phần trội hơn so với các vùng nông thôn khác vì có điều kiện tiếp xúc với khoa học kỹ thuật, dân cư đông hơn, về mặt kiến trúc hơn hẳn các vùng nông thôn còn lại
Nông thôn đồng bằng: Gồm các xã còn lại, tại các xã này hoạt động nông nghiệp phát triển nhiều hơn cũng với diện tích lớn cho trồng trọt chủ yếu là rau màu
và lúa nước, bên cạnh đó còn có một số vườn cây ăn trái Bên cạnh đó hoạt đông chăn nuôi cũng khá phát triển với nhiều trang trại nuôi heo, gà, vịt (đặc biệt tại Tân Tập với 2.666 con heo, Phước Vĩnh Đông với 58411 con gà và Phước Vĩnh Đông với 43.988 con vịt vào năm 2012)
Sự phân chia trên thường được dựa vào các yếu tố tự nhiên, xã hội Tuy các vùng nông thôn có sự khác biệt nhưng sinh thái môi trường nông thôn đều mang những đặc điểm chung của một vùng nông thôn Việt Nam
Cấu trúc sinh thái:
Cấu trúc sinh thái nông thôn tại huyện Cần Giuộc cũng như các vùng nông thôn khác của nông thôn Việt Nam
Những mô hình, cụm dân cư được gọi là ấp Ấp chính là đơn vị cơ bản của sinh thái môi trường nông thôn nơi đây Từ lâu đời người dân nông thôn sống quây quần trên những vùng đất mà họ có thể khai thác để sản xuất nông nghiệp
Trang 3430
Hình 2.2 Mô hình hệ sinh thái nông nghiệp vùng nông thôn
Mô hình cấu trúc ấp được sắp xếp, quy hoạch để có sự phù hợp với điều kiện
tự nhiên, trong đó chủ yếu là các điều kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp như điều kiện khí hậu, địa hình, nước… như khu vực nông thôn huyện thì khu vực ăn ở thường được bố trí theo hướng mặt trời, theo nguồn nước, cũng có một số nơi bố trí theo hướng gió thịnh hành, bố trí theo đường giao thông
Lương thực, nguyên liệu
Thịt
Thuốc, giống, máy móc
Phân bón
Trang 3531
CHƯƠNG 3 HIỆN TRẠNG VỆ SINH NÔNG THÔN VÀ MÔI TRƯỜNG HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
3.1 Vệ sinh nông thôn
3.1.1 Ô nhiễm do hoạt động chăn nuôi
3.1.1.1 Tình hình chăn nuôi tại huyện Cần Giuộc
Bảng 3.1 Tổng số gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện
Một số nơi người dân đã xử lý chất thải bằng công nghệ biogas nhưng vẫn còn những hộ thải trực tiếp ra môi trường Việc này gây ảnh hưởng nhiều đến môi trường xung quanh và mất đi vẻ mỹ quan
Đa số những hộ ở đây chăn nuôi với quy mô nhỏ và chưa tập trung vào công tác xử lý chất thải chăn nuôi Huyện hiện có hơn 5136 hộ chăn nuôi, trong đó chăn nuôi heo và gia cầm chủ yếu nhưng chỉ có khoảng hơn 305 hộ xây dựng hầm biogas Đa số các hộ chăn nuôi nhỏ đều không có hầm biogas nên nước thải được xả trực tiếp ra ao hồ, kênh rạch
Trang 3632
3.1.1.2 Ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi:
Chất thải chăn nuôi chưa xử lý hợp lý hay thải trực tiếp vào môi trường nước
sẽ làm suy giảm ôxy hòa tan trong nước do cơ chế tự làm sạch nhờ vi sinh vật hiếu khí, các vi sinh vật này sử dụng oxy để phân hủy hợp chất hữu cơ từ phân và chất thải chăn nuôi Thêm vào đó, trong chất thải chăn nuôi hàm lượng dinh dưỡng nitơ, photpho cao gây hiện tượng phú dưỡng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống thủy sinh vật học cho nguồn tiếp nhận Đồng thời, nước là môi trường đầy đủ các điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh sôi phát triển lan truyền các vi sinh vật gây bệnh vốn hiện diện trong phân vật nuôi rất nhiều Bên cạnh gây ô nhiễm nguồn nước mặt, chất thải chăn nuôi thấm xuống đất đi vào mạch nước ngầm sẽ gây ô nhiễm nước ngầm, nhất là các giếng mạch nông gần chuồng nuôi gia súc hay gần hố chứa chất thải không có hệ thống thoát nước an toàn
Chất thải chăn nuôi chứa lượng chất hữu cơ dể phân hủy sinh học chủ yếu là chất dinh dưỡng giàu nitơ, photpho Đây là nguồn phân bón giàu dinh dưỡng nếu bón vào đất sẽ tăng độ phì nhiêu, nếu bón phân không hợp lí hoặc phân tươi, cây trồng không hấp thu hết, chúng sẽ tích tụ lại làm bảo hòa dinh dưỡng trong đất, gây mất cân bằng sinh thái, thoái hóa đất Hơn nữa, nitrat và phophat dư sẽ chảy theo nước mặt làm ô nhiễm nước
Bên cạnh đó trong phân tươi gia súc chứa nhiều vi sinh vật gây bệnh, chúng
có thể tồn tại và phát triển trong đất, nếu dùng phân tươi bón cây không đúng kĩ thuật sẽ làm cho vi sinh vật phát tán khắp nơi tạo nguy cơ nhiễm bệnh cho người và động vật nuôi
Trang 3733
Bảng 3.2 Các loại vi khuẩn, ký sinh trùng có trong phân gia súc và điều kiện bị
diệt
Điều kiện bị diệtNhiệt độ
Thời gian (phút)
Trang 3834
Khí sinh ra trong chăn nuôi chủ yếu là do quá trình hô hấp của gia súc hay phân hủy vi sinh vật các chất thải của động vật nuôi hay thức ăn thừa,… tùy theo điều kiện nhiệt độ bên ngoài, phương thức thu gom, bảo quản và xử lý chất thải mà các loại khí sinh ra có nồng độ khác nhau, khí thường gặp trong chăn nuôi là khí
của vật nuôi, ngoài ra còn ảnh hưởng chất lượng môi trường xung quanh
Phát triển chăn nuôi cải thiện kinh tế gia đình trong điều kiện đầu tư về chuồng trại không hợp lý là một trong những nguyên nhân khiến cho nguồn nước ngầm của khu vực nông nghiệp có biểu hiện ô nhiễm bởi hàm lượng chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và vi sinh vật Phân và nước tiểu thải trực tiếp ra môi trường đất hay thoát xuống ao hồ tù đọng không thoát nước gây ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất và mùi hôi thối bốc lên từ những hố phân này gây ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng không nhỏ đến đới sống của người dân nông thôn
Nguy cơ dịch bệnh gia súc, nhiễm bệnh từ gia súc là mối lo ngại nếu không
có các biện pháp quản lý chất thải và vệ sinh chuồng trại Các bệnh dịch gia súc lớn như lở mồm, long móng,… các bệnh truyền qua vật trung gian từ gia súc cho người
3.1.1.3 Ô nhiễm do hoạt động nuôi tôm
Từ hơn 15 năm nay người dân bắt đầu sử dụng đất vào mục đích nuôi tôm, với nguồn giống tự nhiên mua từ miền Trung Từ đây tôm đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân nuôi tôm trong huyện, diện tích nuôi tôm có xu hướng gia tăng Tuy nhiên việc phát triển nuôi tôm gắn liền với đảm bảo vệ sinh môi trường đặc biệt là môi trường nước là vấn đề mà người dân cần phải hết sức quan tâm
Hiện nay trên toàn huyện có 6745 hộ nuôi tôm với diện tích 2558 ha chiếm 85% diện tích nuôi trồng thủy sản của toàn huyện tập trung nhiều ở các xã vùng hạ
là Tân Tập, Phước Vĩnh Tây, Phước Vĩnh Đông
Ảnh hưởng đến môi trường
Trang 3935
Hàm lượng thức ăn dư thừa cộng với một số loại phân bón hữu cơ và vô cơ trong quá trình xử lý ao nuôi tôm đều được xả vào kênh dẫn nước ven bờ, hệ thống cấp nước quy hoạch không tốt đã luân chuyển nước giàu dinh dưỡng từ ao nuôi này sang ao nuôi khác hay chúng luân chuyển chất bẩn từ nơi này đến nơi khác trong thủy vực
Sự làm bẩn thủy vực do các chất thải được tạo ra từ hoạt động nuôi tôm và quá trình vệ sinh ao nuôi tôm ở đầu vụ thả tôm người ta thường dùng máy bơm nạo vét và xả thẳng chất thải đáy ao vào vực nước bên cạnh, dẫn đến làm bẩn thủy vực
và sự quá tải về chất dinh dưỡng
Hoạt động nuôi tôm cũng là nguyên nhân làm nguồn nước bị nhiễm phèn Chủ yếu là do các độc chất phèn có trong đất phát tán vào môi trường nước sau đó đưa từ nơi này đến nơi khác qua hệ thống kênh rạch trong khu vực gây nên quá trình phèn hóa và xâm nhập mặn tác động mạnh mẽ đến đời sống thủy sản
Nguồn nước khu vực bị ô nhiễm do nước thải từ ao nuôi tôm sẽ lan truyền gây ra tình trạng ô nhiễm đến các hộ nuôi tôm khác trên địa bàn
Bên cạnh đó, một lượng lớn chất thải hữu cơ thải ra xung quanh môi trường
ao nuôi tôm góp phần thúc đẩy quá trình nở hoa của thực vật nổi trong các loài thực vật nổi đó có mộ số loài gây hại cho vật nuôi và sức khỏe con người như
Cyanobacterrial, Prym nesiumparvum, Diatom, Dinoflagellate, Chlococal
3.1.2 Ô nhiễm môi trường do phân bón hóa học, thuốc BVTV
3.1.2.1 Tình hình sử dụng phân bón hóa học
Thuốc BVTV không thể thiếu được trong công tác BVTV Về việc sử dụng thuốc BVTV: Tình hình sử dụng, phân bố mạng lưới bán thuốc BVTV trên địa bàn huyện rất phân tán, khó quản lý Hầu hết hóa chất bảo vệ thực vật là chất hữu cơ tổng hợp, có tính độc nguy hiểm đối với sinh vật và con người ở những mức độ khác nhau và bằng nhiều con đường khác nhau Hóa chất thấm và trong đất hay bị rữa trôi theo nguồn nước gây ngộ độc thức ăn, làm sức khỏe con người suy giảm, thậm chí gây vô sinh Những trường hợp đó xẩy ra phần lớn là do người nông dân
Trang 4036
sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật và liều lượng, không đảm bảo thời gian cách ly
từ khi phun lần cuối cùng đến khi thu hoạch
3.1.2.2 Ảnh huởng của việc sử dụng phân bón
Sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu bệnh là chìa khoá của sự thành công trong cách mạng xanh và đảm bảo nhu cầu lương thực Cây trồng đòi hỏi dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển và nhu cầu dinh dưỡng của cây ở mỗi giai đoạn lại rất khác nhau.Tuy nhiên, trong những năm gần đây,nhiều nguời đã
lo ngại về ảnh hưởng của phân bón đến môi trưòng và sức khoẻ con người Điều lo ngại này không chỉ trong những nước phát triển mà ngày càng trở nên vấn đề quan trọng ở những nước đang phát triển Thật vậy, khi người nông dân áp dụng những công nghệ hiện đại thì rất nhiều vấn đề môi trường nảy sinh:
do đó tác động xấu đến sức khoẻ con người, các động vật hoang dại và làm suy thoái các hệ sinh thái
- Gây độc hại cho lương thực , thực phẩm, thức ăn cho gia súc bởi dư luợng thuốc trừ sâu, hàm lượng nitrat và các chất kích thích sinh trưởng
- Gây ảnh hưởng tới sức khoẻ con người lao động, tới cộng động
- Một số thuốc trừ sâu làm giảm số lượng cá thể của các loài động vật sống trong đất ngay cả ở liều sử dụng Một số khác không những không gây hại, mà còn làm tăng các loài động vật sống trong đất Tác hại nặng nhẹ của các thuốc trừ sâu đến các loài động vật sống trong đất phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc, liều lượng và nồng độ, phương pháp sử dụng thuốc và điều kiện ngoại cảnh
3.1.3 Ô nhiễm môi trường do hố xí không hợp vệ sinh
Con người luôn luôn tạo ra chất thải từ chính mình, chủ yếu là phân và nước tiểu Các chất thải là nguồn mang nhiều mầm bệnh ngoài vấn đề gây mùi hôi khó chịu và mất thẩm mỹ
Theo số liệu điều tra của phòng thống kê năm 2012 toàn huyện có 28.426 hộ/40.321 hộ sử dụng nhà tiêu HVS chiếm tỉ lệ 70.5% nhưng chỉ có 27.349 hộ đạt