Đánh giá hiệu quả của dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng trong việc cải thiện môi trường nước lưu vực kênh tàu hủ - Bến Nghé - Kênh Đôi - Kênh Tẻ.
Trang 1ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI BÌNH HƯNG TRONG VIỆC CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC KÊNH TÀU HỦ - BẾN NGHÉ –
KÊNH ĐÔI – KÊNH TẺ
Chuyên ngành: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Hoàng Hưng Sinh viên thực hiện : Đoàn Thị Bích Trâm MSSV: 0951080095 Lớp: 09DMT1
TP Hồ Chí Minh, 2013
Trang 2“Đánh giá hiệu quả của Dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng trong việc cải thiện môi trường nước lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ” là do bản thân em tự tìm hiểu, nghiên cứu và trích dẫn từ các tài liệu tham khảo cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của GS.TS Hoàng Hưng
Các thông tin và kết quả nêu trong đồ án là trung thực, không trùng với đồ án của các tác giả khác
Em xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
TP.HCM, ngày tháng năm 2013
Đoàn Thị Bích Trâm
Trang 3trường và Công nghệ sinh học, Trường Đại học Kỹ thuật công nghệ TP.HCM đã nhiệt tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức cho em trong 4 năm học vừa qua
Em xin chân thành cám ơn thầy Hoàng Hưng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo
em, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này Đồng thời em xin cảm ơn anh Tấn, anh Lợi, anh Thế thuộc Phòng quản lý nước thải của Trung tâm Điều hành chống ngập nước, chị Trang cùng các chị thuộc Phòng thí nghiệm và anh Phước thuộc Ban giám đốc Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng cùng toàn thể nhân viên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em thu thập số liệu và tài liệu để em thực hiện đề tài đồ án này
Con xin cám ơn Ba, Mẹ đã luôn bên cạnh động viên, ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con học tập
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô trong trường, trong khoa, gia đình bạn bè, người thân dồi dào sức khỏe và thành công Đồng kính chúc toàn thể nhân viên tại Trung tâm điều hành chống ngập nước và Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong cuộc sống
Đoàn Thị Bích Trâm
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Các kết quả đạt được của đề tài 3
6 Kết cấu của đồ án 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC KÊNH TÀU HỦ - BẾN NGHÉ – KÊNH ĐÔI – KÊNH TẺ 5
1.1 Khái quát về lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 5
1.1.1 Giới thiệu về lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 5
1.1.2 Khí hậu 6
1.1.3 Đặc trưng các yếu tố khí tượng cơ bản 6
1.1.4 Đặc điểm chế độ thủy văn 12
1.1.5 Chế độ thủy triều 18
1.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ trước khi xây dựng dự án 18
1.2.1 Nguồn nước mặt 18
1.2.2 Nguồn nước ngầm 30
1.2.3 Nguồn nước thải 32
CHƯƠNG 2 MÔ TẢ TÓM TẮT DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI BÌNH HƯNG 34
2.1 Tên dự án 34
Trang 52.2 Tên cơ quan chủ đầu tư 34
2.3 Mục tiêu thực hiên dự án 34
2.4 Nội dung cơ bản của dự án 34
2.4.1 Vị trí dự án 34
2.4.2 Diện tích mặt bằng 35
2.4.3 Hệ thống hạ tầng giao thông, cấp điện, nước tại khu vực dự án 36
2.4.4 Các nguồn gây ô nhiễm từ các hoạt động của dự án 36
2.4.5 Công suất hoạt động 39
2.4.6 Sơ đồ công nghệ nhà máy 39
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC CỦA NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI BÌNH HƯNG VÀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC LƯU VỰC KÊNH TÀU HỦ - BẾN NGHÉ – KÊNH ĐÔI – KÊNH TẺ TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 44
3.1 Đánh giá sơ bộ hiệu quả xử lý nước của nhà máy XLNT Bình Hưng trong năm 2011 và 2012 44
3.1.1 Hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) 44
3.1.2 Nhu cầu Oxy sinh hóa (BOD 5 ) 46
3.1.3 Nhu cầu Oxy hóa học (COD) 49
3.1 4 Coliform 52
3.1.5 Nitơ tổng 53
3.1.6 Photpho tổng 56
3.2 Kết quả theo dõi, so sánh và đánh giá chất lượng nước lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009, 2010, 2011 và 2012 59
3.2.1 Nhiệt độ 59
3.2.2 pH 62
3.2.3 Oxy hòa tan (DO) 65
3.2.4 Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD 5 ) 68
3.2.5 Nhu cầu oxy hóa học (COD) 71
3.2.6 N-NH 4 + 74
Trang 63.2.7 N-NO 3 - 77
3.2.8 Dầu tổng 79
3.2.9 Coliform 81
3.2.10 PO 4 3- 82
3.2.11 Clorua (Cl - ) 84
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ NHỮNG HIỆU QUẢ MÔI TRƯỜNG MÀ DỰ ÁN MANG LẠI CHO LƯU VỰC KÊNH TÀU HỦ - BẾN NGHÉ – KÊNH ĐÔI – KÊNH TẺ 86
4.1 Cảnh quan lưu vực 86
4.2 Cải thiện chất lượng nước 92
4.3 Chống ngập nước 94
4.4 Những tác động khác 97
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHẦN PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC A PHIẾU KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG LƯU VỰC KÊNH TÀU HỦ - BẾN NGHÉ – KÊNH ĐÔI – KÊNH TẺ 1
PHỤ LỤC B CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN 4
PHỤ LỤC C MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI BÌNH HƯNG 11
PHỤ LỤC D KẾT QUẢ ĐO NHANH VÀ PHÂN TÍCH MẪU ĐẠI DIỆN VÀ KẾT QUẢ THEO DÕI CỤ THỂ CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĐẦU VÀO ĐẦU RA TẠI NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI BÌNH HƯNG 19
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8Đôi – kênh Tẻ năm 1999 33
Bảng 3.1 Kết quả theo dõi hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước thải đầuvào và
đầu ra tại Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và 2012 44
Bảng 3.2 Kết quả theo dõi nhu cầu Oxy sinh hóa trong nước thải đầuvào và đầu ra
tại Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và 2012 46
Bảng 3.3 Kết quả theo dõi nhu cầu Oxy hóa học trong nước thải đầuvào và đầu ra
tại Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và 2012 49
Bảng 3.4 Kết quả theo dõi Coliform tổng trong nước thải đầuvào và đầu ra tại Nhà
máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và 2012 52
Trang 9XLNT Bình Hưng năm 2011 và 2012 53
Bảng 3.6 Kết quả theo dõi hàm lượng Photpho tổng trong nước thải đầuvào và đầu
ra tại Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và 2012 56
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp kết quả tính toán hiệu quả xử lý chất ô nhiễm của Nhà
máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và năm 2012 58
Bảng 3.8 Kết quả khảo sát nhiệt độ nước lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh
Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009, 2011 và 2012 60
Bảng 3.9 Kết quả khảo sát pH lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh
Tẻ qua các năm 2009 – 2012 62
Bảng 3.10 Kết quả khảo sát Oxy hòa tan tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé –
kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009 – 2012 65
Bảng 3.11 Kết quả khảo sát nhu cầu Oxy sinh hóa tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến
Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009 – 2012 68
Bảng 3.12 Kết quả khảo sát nhu cầu Oxy hóa học tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến
Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009 – 2012 71
Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ các năm 2009 – 2012 74
Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009, 2011 và 2012 77
Bảng 3.15 Kết quả khảo sát hàm lượng dầu tổng trong nước tại lưu vực kênh Tàu
Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ năm 2009 79
Bảng 3.16 Kết quả khảo sát chỉ số Coliform tổng trong nước tại lưu vực kênh Tàu
Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ năm 2009 – 2012 81
- Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ năm 2011 và năm 2012 82
Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ năm 2011 84
Bảng 4.1 Bảng thống kê số lần ngập và số vị trí ngập nước tại TP.HCM năm 2009
– 2012 96
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Bản đồ lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 5 Hình 1.2 Diễn biến mực nước cao nhất sông Sài Gòn ghi nhận tại trạm Phú An 15 Hình 1.3 Diễn biến mực nước thấp nhất sông Sài Gòn ghi nhận tại trạm Phú An.17 Hình 2.1 Vị trí xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng 35
Hình 2.2 Phối cảnh nhà máy 35
Hình 2.3 Sơ đồ tuyến cống thu gom nước thải 40 Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) đầu vào và đầu ra tại
Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và năm 2012 45
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn nhu cầu Oxy sinh hóa đầu vào và đầu ra tại Nhà máy
XLNT Bình Hưng năm 2011 và năm 2012 48
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn nhu cầu Oxy hóa học (COD) đầu vào và đầu ra tại Nhà
máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và năm 2012 51
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn hàm lượng Nitơ tổng số trong nước thải đầu vào và đầu
ra tại Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và năm 2012 55
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn hàm lượng Photpho tổng số trong nước thải đầu vào và
đầu ra tại Nhà máy XLNT Bình Hưng năm 2011 và năm 2012 57
Hình 3.6 Diễn biến nhiệt độ ở 9 điểm khảo sát vào tháng 7 và tháng 11 qua 3 năm
2009, 2011 và 2012 61
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch pH nước lưu vực kênh Tàu Hủ -Bến Nghé
– kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 63
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch Oxy hòa tan trong nước lưu vực kênh Tàu
Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 66
Hình 3.9 Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch nhu cầu Oxy sinh hóa trong nước lưu vực
kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 69
Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch nhu cầu Oxy hóa học trong nước kênh
lưu vực Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 72
kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 75
Trang 11Hình 3.12 Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch nồng độ N-NO3- trong nước kênh lưu vực
Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 78
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn hàm lượng dầu tổng trong nước tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 80
Hình 3.14 Đồ thị biểu diễn nồng độ PO43- trong nước tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 83
Hình 3.15 Đồ thị biểu diễn nồng độ Cl- trong nước tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ 85
Hình 4.1 Hình ảnh những dãy nhà nhếch nhác năm xưa 87
Hình 4.2 Hình ảnh rác dưới chân cầu Chà Và ngày xưa 88
Hình 4.3 Đoạn cầu số 5 ngày xưa 88
Hình 4.4 Rác tù đọng tại chân bờ kênh Tẻ 88
Hình 4.5 Khu vực cầu Chánh Hưng chiều tối ngày 20/5/2013 90
Hình 4.6 Đường Bến Vân Đồn tháng 2/2013 90
Hình 4.7 Khu vực cầu Chà Và ngày nay 90
Hình 4.8 Người dân câu cá và tắm tại kênh Tàu Hủ - Bến Nghé 91
Hình 4.9 Rác vẫn còn tồn đọng tại Bến Vân Đồn_quận 4 92
Hình 4.10 Mỗi ngày công nhân môi trường đô thị vét hàng ngàn tấn rác thải trên kênh 94
Hình 4.11 Biểu đồ thống kê số lần ngập, số vị trí ngập nước TP.HCM năm 2009 – 2012 96
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước là một trong số những nhu cầu thiết yếu của con người và là một yếu tố đầu vào quan trọng của các hoạt động kinh tế như lĩnh vực xây dựng, ăn uống, du lịch, nông nghiệp,… Khi mức sống của người dân càng cao, trình độ sản xuất ngày càng hiện đại thì nhu cầu về nước là ngày càng lớn, việc thỏa mãn nhu cầu này thực
sự là một thách thức đối với hầu hết mọi quốc gia trên thế giới
Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng hiện nay cũng phải đối mặt với vấn đề nước sạch ngày càng khan hiếm trong khi nhu cầu dùng nước của người dân ngày càng cao Mặt khác, với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, ý thức của người dân còn kém TP.HCM đang đối mặt với những vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, trong đó đáng chú ý hơn cả là ô nhiễm môi trường nước Cũng như Hà Nội, hiện tượng nước thải
ở TP.HCM không được xử lý, đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi rất phổ biến mà chủ yếu là nước thải sinh hoạt chiếm lưu lượng lớn Nước thải sinh hoạt chưa qua
hệ thống xử lý được thải trực tiếp ra các kênh rạch, làm gia tăng ô nhiễm chất hữu
cơ và vi sinh vật trong nước Theo Trung tâm Chất lượng nước và môi trường – Phân viện Quy hoạch khảo sát thủy lợi Nam Bộ, chất lượng nước tại hệ thống kênh
kim loại nặng,…vượt quá nhiều lần cho phép so với quy chuẩn Tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống người dân TP.HCM Do đó, vấn đề xử lý nước thải sinh hoạt để tránh tình trạng xả thải trực tiếp ra kênh rạch là rất cấp bách và cần thiết nhằm cải thiện môi trường nước góp phần xây dựng thành phố xanh sạch và đẹp hơn
Dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải (XLNT) Bình Hưng là Dự án xử lý
một trong năm gói thầu trong Dự án cải thiện môi trường nước thành phố Nhằm đánh giá cụ thể hiện trạng xử lý nước thải cũng như những tác động mà Nhà máy
Trang 13mang lại trong việc cải thiện chất lượng nước Thành phố nói chung và lưu vực kênh
Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ nói riêng, người thực hiện đã chọn đề tài:
“Đánh giá hiệu quả của Dự án xây dựng Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng trong việc cải thiện môi trường nước lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ”
3 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá những hiệu quả môi trường và kinh tế - xã hội mà Dự án xây dựng Nhà máy XLNT Bình Hưng đã mang lại cho lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ từ khi đi vào hoạt động cho đến nay
Đưa ra kết luận và đề xuất giải pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa hiệu quả
dự án và hạn chế những tác động tiêu cực mà dự án mang lại
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu: thu thập các số liệu và tổng hợp tài liệu, các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài từ các cơ quan có chức năng như: phòng xử lý nước thải thuộc Trung tâm điều hành chống ngập nước TP.HCM; phòng thí nghiệm, ban giám đốc và phòng điều hành của Nhà máy XLNT Bình Hưng
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: khảo sát thực tế tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ và Nhà máy XLNT Bình Hưng
Trang 14- Phương pháp so sánh: so sánh kết quả thu thập được giữa các năm với nhau
và với các quy chuẩn Việt Nam (QCVN) để đánh giá chất lượng môi trường tại khu vực
- Phương pháp thống kê : thu thập các thông tin, dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực dự án Thống kê các phiếu điều tra, khảo sát
- Phương pháp lấy ý kiến cộng đồng: điều tra, khảo sát, lấy ý kiến của những người dân đã sinh sống và làm việc lâu năm tại lưu vực nghiên cứu
năm tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
Văn Kiệt và người dân sống dọc kênh Đôi đoạn đường Phạm Thế Hiển
Phương pháp này sẽ thu thập được những thông tin và phản ánh từ nhiều góc
độ quan điểm, mang tính dân chủ cao nhưng nhược điểm của phương pháp này là
dễ nhận được những phản hồi mang tính cá nhân cao
5 Các kết quả đạt được của đề tài
- Đánh giá sơ bộ về hiệu quả xử lý nước thải của Nhà máy XLNT Bình Hưng thông qua số liệu khảo sát chất lượng nước đầu vào và đầu ra năm 2011 và 2012
- Đánh giá chất lượng nước lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ qua các năm 2009, 2010, 2011, 2012 Từ đó so sánh với chất lượng nước lưu vực trước khi xây dựng dự án
- Khảo sát ý kiến người dân,đồng thời đánh giá những hiệu quả mà dự án
mang lại cho lưu vực: cảnh quan lưu vực, chất lượng nước, tình trạng ngập nước,…
6 Bố cục báo cáo
Đồ án gồm 4 chương với các nội dung sau:
- Mở đầu
Trang 15- Chương 1: Tổng quan về lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
- Chương 2: Mô tả tóm tắt dự án
- Chương 3: Đánh giá sơ bộ hiệu quả xử lý nước của Nhà máy XLNT Bình Hưng và chất lượng nước lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ trong những năm gần đây
- Chương 4: Đánh giá những hiệu quả môi trường mà Dự án mang lại cho lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
- Kết luận, kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC KÊNH TÀU HỦ - BẾN NGHÉ – KÊNH ĐÔI – KÊNH TẺ
1.1 Khái quát về lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
1.1.1 Giới thiệu về lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
Lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ là một trong những tuyến kênh huyết mạch của TP.HCM Đây là tuyến sông cấp V với bề rộng khoảng
35 – 40 m, các bến thủy hoạt động trong phạm vi bề rộng 12 m
Hình 1.1 Bản đồ lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
Kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ trải dài qua các quận 4, 5, 6,
7, 8 và quận 11 với tổng số 88 phường xã Vùng này gồm phần lớn trung tâm thành phố tiếp giáp với bờ sông Sài Gòn Kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ
Trang 17vốn là tuyến đường thủy trọng yếu đưa thuyền từ các tỉnh miền Tây Nam Bộ và khu vực Chợ Lớn về bến Bạch Đằng, có lịch sử vận tải hơn 300 năm qua, hình thành cùng lúc với sự hình thành của đất Gia Định năm xưa và cũng chính là TP.HCM ngày nay Nó đã đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển của vùng đất trù phú này
Từ một dòng kênh “vạm vỡ” thuở ban đầu, trải qua bao thăng trầm lịch sử và
sự chèn ép của con người, kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ đã dần trở thành một dòng chảy “ốm yếu, hấp hối” giữa lòng thành phố đang phát triển Một thời gian dài tuyến đường thủy Tàu Hủ - Bến Nghé bị bỏ hoang, bùn đất bồi lắng làm dòng kênh cạn dần; nhà cửa nhếch nhác, tạm bợ, rác nổi lềnh bềnh trên dòng kênh cho đến cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 Theo đánh giá của Viện Kinh tế TP.HCM năm 1998 về dòng kênh này thì “dọc 2 bên bờ có nhiều nhà cửa xây cất lấn chiếm mỗi bên 10 – 15 m; có nhiều ghe thuyền, các chợ đầu mối thu gom hàng hóa và rác đủ các loại từ các chợ được đổ bừa bãi xuống dòng nước; ở các chân cầu rác đổ tạo thành từng đống lớn” Sự đánh giá đó chỉ phản ánh phần nào nỗi đau đớn trầm uất của một dòng kênh bị con người bức tử đằng đẵng hàng chục năm trời
28 tháng 8
1.1.3 Đặc trưng các yếu tố khí tượng cơ bản
1.1.3.1 Nhiệt độ
Trang 1826,9 0C (tháng 1/2011) Điều đáng lưu ý nhất đối với nhiệt độ là sự dao động nhiêt
nắng nóng, ban đêm và sáng sớm vẫn có sương Đây là điều kiện thuận lợi cho cây cối phát triển và xanh tốt quanh năm Tuy nhiên sương cũng gây giá lạnh đối với những người lao động ngoài trời vào ban đêm Nhiệt độ không khí trung bình ngày trong năm của TP.HCM cao hơn các nơi khác trong địa bàn khu vực phía Nam từ
Một thống kê khác của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hiền Thuận, Phó phân viện trưởng Phân viện Khí tượng Thuỷ văn phía Nam cũng cho thấy, nhiệt độ trung bình tại TP.HCM liên tục tăng lên Đặc biệt, trong 5 năm 2001 - 2005, nhiệt độ trung bình
C so với giai đoạn 1991 - 2000, bằng mức tăng của 40 năm trước đó Trong khi đó, theo các nhà khoa học trên thế giới, việc
Theo thống kê mới nhất là năm 2012, nhiệt độ trung bình luôn ở mức 36 – 37
khu vực Nam Bộ) Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người dân, đặc biệt
là người già, trẻ em và sẽ tiếp tục gây ra những hậu quả lớn nếu chúng ta không có biện pháp khắc phục trong tương lai
Bảng 1.1 Diễn biến nhiệt độ trung bình các năm tại trạm Tân Sơn Hòa năm 2005 –
Trang 19Bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía Nam và Tây Nam (Nguồn: Thông tin về khí hậu thời tiết trên webside của TP.HCM năm 2011)
Mùa mưa năm 2011 kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tổng cộng cả năm là 1.953,8 mm Lượng mưa mùa mưa chiếm khoảng 79% tổng lượng mưa cả năm Mưa lớn tập trung vào tháng 7, tháng 8 và tháng 11 Mưa ở TP.HCM mang tính mưa rào nhiệt đới Có những cơn mưa lớn gây ngập úng đường phố và những nơi thấp trũng 20 - 80 cm
Bảng 1.2 Diễn biến lượng mưa các năm tại trạm Tân Sơn Hòa năm 2005 – 2011
Trang 20Bảng 1.3 Diễn biến độ ẩm tương đối trung bình các năm tại trạm Tân Sơn Hòa
Trang 21Lượng bốc hơi hằng năm tương đối lớn: 1.399 mm
Lượng bốc hơi lớn trong các mùa khô, bình quân trong các tháng nắng lượng bốc hơi từ 5 - 6 mm/ngày đêm (tháng 3, 4)
1.1.3.5 Số giờ nắng
Số giờ nắng trung bình/tháng 160 - 270 giờ Nhiệt độ không khí trung bình 27
0
C Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm
ô nhiễm môi trường đô thị (Nguồn: thông tin về thời tiết khí hậu TP.HCM trên websize của TP.HCM năm 2011)
Năm 2011 có tổng cộng 1.892,9 giờ nắng Tháng có số giờ nắng thấp nhất trong năm 2011 là tháng 12 (chỉ khoảng 109,7 giờ) và tháng có số giờ nắng cao nhất trong năm 2011 là tháng 8 (vào khoảng 198,1 giờ)
Trang 22Bảng 1.4 Diễn biến số giờ nắng các năm ghi nhận tại trạm Tân Sơn Hòa năm 2005
Trang 23Tuy nằm trong khu vực bão nhiệt đới Thái Bình Dương nhưng thành phố ít bị ảnh hưởng, từ một vài cơn bão cuối mùa (tháng 11 – 12) Những cơn dông nhiệt đới mùa hè có gió xoáy tới 20 m/s, có lúc tới 36 m/s
Về cơ bản TP.HCM thuộc vùng không có gió bão Năm 1997, do biến động bởi hiện tượng El-Nino gây nên cơn bão số 5, chỉ một phần huyện Cần Giờ bị ảnh hưởng ở mức độ nhẹ
1.1.3.7 Bức xạ
Tổng lượng bức xạ các tháng mùa khô cao hơn các tháng mùa mưa gần 100
1.1.3.8 Áp suất không khí
Trung bình 1.006 – 1.012 mb, các tháng mùa khô áp suất khá cao, giá trị cao nhất xảy ra vào tháng 12 (1.020 mb), còn các tháng mùa mưa áp suất thấp (chỉ ở mức 1.008 mb)
1.1.4 Đặc điểm chế độ thủy văn
Nhìn chung, chế độ thủy văn lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ phụ thuộc rất nhiều vào chế độ mưa và chế độ triều từ sông Sài Gòn Do vậy chế độ thủy văn biến đổi lớn theo không gian và thời gian: mưa nhiều thì dòng chảy mạnh, mưa ít thì dòng chảy yếu, thủy triều mạnh thì dòng chảy mạnh hơn, xâm nhập sâu vào đất liền, có biên độ lớn, khi triều kém thì ngược lại
Khí hậu trong lưu vực có hai mùa chính (mùa mưa và mùa khô) nên chế độ dòng chảy ở lưu vực cũng hình thành hai chế độ tương ứng: chế độ dòng chảy mùa mưa và mùa khô Sự biến đổi dòng chảy hai mùa rất tương phản nhau
Dòng chảy mùa lũ thường bắt đầu vào tháng 6, 7 (nghĩa là xuất hiện sau mùa mưa từ 1 – 2 tháng và kết thúc vào tháng 9) Các tháng đầu mùa mưa là thời kỳ chuyển tiếp giữa mùa lũ và mùa kiệt, thường là tháng 5 và 6 Lưu lượng vào tháng 6
có thể đạt 60 – 75% lưu lượng trung bình năm
Trang 24Mùa kiệt thường bắt đầu vào tháng 12 và kéo dài tới hết tháng 5 năm sau Trong mùa khô, lượng mưa rất ít nên dòng chảy yếu Hằng năm lưu lượng kiệt nhất trong năm rơi vào tháng 3, 4
Mạng lưới sông, rạch nằm trong lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ khá chằng chịt và dày đặc với tổng chiều dài các kênh, rạch chính là 25.400 m và chiều dài các chỉ lưu là 10.950 m Bao gồm các hệ thống chính:
Kênh Tàu Hủ - kênh Đôi – kênh Tẻ: chiều dài kênh rạch chính là 19.500
m Chiều dài các chỉ lưu:
Trang 25Bảng 1.5 Diễn biến mực nước cao nhất sông Sài Gòn ghi nhận tại trạm Phú An
Trang 26Mực nước cao nhất trung bình năm
Trang 27Bảng 1.6 Diễn biến mực nước thấp nhất sông Sài Gòn ghi nhận tại trạm Phú An
Trang 28Mực nước cao nhất trung bình năm:
Trang 291.1.5 Chế độ thủy triều
Chế đô thủy triều ở sông Sài Gòn thuộc chế độ bán nhật triều không đều với chu kỳ T = 12,83 h, mực nước đỉnh triều biến động từ 96 đến 128 cm và mực nước chân triều biến động từ -211 cm đến -122 cm Sự chênh lệch mực nước này tạo ra dòng chảy thấm gây mất ổn định bờ
Khi thủy triều vào sông, năng lượng sóng triều giảm do ma sát với lòng sông
và bờ sông Mùa kiệt tốc độ triều C = 25 – 28 km/h tương ứng ta có chiều dài của sóng bán nhật triều λ = C x T = ( 25 – 28) x 12,83 = 320 – 360 km Tốc độ dòng
chảy chịu ảnh hưởng của thủy triều vào mùa kiệt v = 0,75 – 1 km/h (Nguồn: Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ tập 11, số 11- 2008)
Theo báo cáo của Đài khí tượng thủy văn Nam Bộ, đỉnh triều chiều 16/10/2012 đạt 1,59 m (bằng với đỉnh triều lịch sử tháng 12/2011) và vào chiều ngày 17/10/2012, đỉnh triều đạt đến 1,61 m tại trạm Phú An trên sông Sài Gòn Đây
là đỉnh triều cao nhất từ trước đến nay (Nguồn: chong-ngap-cho-TP-HCM/228902.vov)
http://vov.vn/Xa-hoi/Giai-phap-Trong những năm gần đây, triều cường ở TP.HCM cao bất thường và theo dự báo của cơ quan khí tượng thủy văn thì triều cường năm sau luôn cao hơn năm trước, triều cường kéo dài cùng với tình trạng quy hoạch thiếu đồng bộ (chúng ta đang chống ngập nhưng lại cho xây dựng nhà ở quận 1, quận 3 và xây thêm đường như đại lộ Nguyễn Văn Linh, đường Nguyễn Thị Thập,…đây là những hệ thống ngăn cản sự thoát nước), hệ thống cống không vận hành hiệu quả như: hệ thống đóng cống chưa đồng bộ, chỉ là hệ thống cống nối dài chứ chưa mở rộng khẩu độ để thoát nước đã gây ra hiện tượng ngập lụt trong thành phố trên phạm vi rộng gây thiệt hại không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt của người dân cũng như cơ sở hạ tầng thành phố
1.2 Hiện trạng chất lượng môi trường nước tại lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé – kênh Đôi – kênh Tẻ trước khi xây dựng dự án
1.2.1 Nguồn nước mặt
Trang 30Các kênh này được giới hạn hai đầu bởi sông Cần Giuộc và sông Sài Gòn Tổng chiều dài của kênh Tàu Hủ - kênh Đôi – kênh Tẻ là 19,5 km Hệ thống kênh này nhận nước thải sinh hoạt và cả nước thải công nghiệp từ các quận nói trên Rạch Bến Nghé với chiều dài 5,9 km nhận nước thải từ quận 1 và quận 4 Việc thải bừa bãi chất thải rắn cùng với hàng loạt các “cầu cá” ven kênh đã làm cho chất lượng nước kênh ngày càng trở nên xấu hơn
Chất lượng nước kênh Tàu Hủ - Bến Nghé
Kết quả khảo sát chất lượng nước kênh Tàu Hủ - Bến Nghé cho thấy:
- Do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều nên chất lượng nước kênh khác nhau trong ngày Nhìn chung, chất lượng nước kênh lúc triều cường tốt hơn nhiều so với lúc triều kiệt nhờ khả năng pha loãng tự nhiên Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các vị trí khảo sát cả lúc triều cường và triều kiệt, các chỉ tiêu vật lý, vô
cơ, hữu cơ và vi sinh đều vượt quá quy chuẩn Việt Nam quy định về chất lượng nước nguồn loại B (QCVN 5942 : 1995) Nồng độ COD của nước thải dao động trong khoảng từ 70 – 152 mg/l lúc nước lớn và 86 – 152 mg/l vào lúc nước ròng,
tại cầu Khánh Hội gần cửa sông, vào lúc nước ròng, nồng độ COD cũng xấp xỉ 100 mg/l ( 86 mg/l phía bờ trái và 96 mg/l ở giữa dòng), thậm chí mẫu nước phía bờ phải còn lên đến 512 mg/l Điều này chứng tỏ chất lượng nước kênh chịu ảnh hưởng rất nhiều của thủy triều, dòng chảy, mức độ pha loãng và nhất là tải lượng ô nhiễm của nguồn nước xả vào kênh
- Vào lúc nước xuống, trừ mặt cắt tại cầu Khánh Hội có giá trị DO = 0,2 mg/l, tại các mặt cắt còn lại, giá trị DO ở cả 3 vị trí (phía bờ phải, giữa dòng và phía
bờ trái) đều bằng 0 mg/l Điều này chứng tỏ nước kênh ở đây bị ô nhiễm nặng và các sinh vật nước không thể sống và phát triển được Với số lượng Coliform vượt quá tiêu chuẩn cho phép của nguồn loại B hơn 10.000 MPN/100ml, nước kênh sẽ là nguồn lan truyền nhanh chóng các loại bệnh truyền nhiễm như dịch tả, thương hàn, kiết lỵ,… Đó là chưa kể đến những thành phần độc hại có trong nước thải công nghiệp chưa xử lý có thể gây ra các bệnh như ung thư, bệnh da liễu,…
Trang 31- Nồng độ N-NH3 trong tất cả mẫu nước dao động trong khoảng 0,3 mg/l – 3,3 mg/l lúc nước lên ( đặc biệt tại mặt cắt cầu Khánh Hội giá trị này tại phía bờ phải là 44 mg/l) Lúc nước xuống là 2,8 – 12,9 mg/l (riêng mẫu bờ trái tại mặt cắt cầu Khánh Hội lên đến 36 mg/l)
- Những chỉ tiêu về kim loại nặng ở tất cả các vị trí mặt cắt lấy mẫu đều thấp hơn so với tiêu chuẩn cho phép về chất lượng nước nguồn loại A kể cả vào thời điểm nước ròng Tuy nhiên, lượng nước thải công nghiệp xả vào kênh không tập trung nên dòng kênh vẫn có khả năng tự làm sạch khá tốt đối với những chỉ tiêu về kim loại
- Dư lượng thuốc trừ sâu có trong nước kênh dao động khoảng từ vết – 2,10 mg/l (loại Cl) và vết – 0,63 mg/l (loại P) Với nồng độ này, dư lượng thuốc trừ sâu
có trong nước kênh đã vượt quá hàng chục ngàn lần so với tiêu chuẩn nước bảo vệ thủy sản
Trang 32Bảng 1.7 Chất lượng nước kênh Tàu Hủ - Bến Nghé khi thủy triều lên năm 1999
Mặt cắt
Cầu Khánh Hội
Cách cầu KH 500m
Ngã 3 kênh Tàu Hủ và rạch Xóm Củi
Rạch Xóm Củi, cách kênh Đôi 200m
Cầu Quới Đước
Hợp lưu rạch
Lò Gốm và kênh Tàu Hủ
Cách kênh Ngang số 3 khoảng 100m về phía hạ lưu
Trang 34Bảng 1.8 Chất lượng nước kênh Tàu Hủ - Bến Nghé khi thủy triều xuống năm 1999
Mặt cắt
Cầu Khánh Hội
Cách cầu
KH 500m
Ngã 3 kênh Tàu Hủ và rạch Xóm Củi
Rạch Xóm Củi, cách kênh Đôi 200m
Cầu Quới Đước
Hợp lưu rạch Lò Gốm và kênh Tàu
Hủ
Cách kênh Ngang số 3 khoảng 100m về phía hạ lưu
Trang 36 Chất lượng nước kênh Đôi – kênh Tẻ
Kết quả khảo sát chất lượng nước kênh Đôi – kênh Tẻ cũng tương tự như kênh Tàu Hủ - Bến Nghé:
- Vào thời điểm triều kiệt, nồng độ Oxy hòa tan tại các mặt cắt đều bằng 0 mg/l Nồng độ COD dao động trong khoảng 74 – 177 mg/l so với lúc triều cường là
mg/l Tương tự như kênh Tàu Hủ - Bến Nghé, kênh Đôi – kênh Tẻ cũng nằm giữa hai sông là sông Sài Gòn và sông Chợ Đệm, do đó vùng nước thuộc các mặt cắt: Cầu Nhị Thiên Đường, Bến đò Chánh Hưng và cầu chữ Y là vùng nước tù đọng, đen ngòm và hôi thối Tại mặt cắt cầu Tân Thuận, nồng độ COD thấp hơn so với giá trị COD ở các mặt cắt khác đó là nhờ lượng nước từ sông Sài Gòn đổ vào kênh lúc triều cường giúp pha loãng nước kênh ở khu vực cầu Tân Thuận khiến cho chất lượng nước kênh tốt hơn Nồng độ Coliform ở mặt cắt này dao động trong khoảng
với kênh Tàu Hủ - Bến Nghé khoảng 2.100 hộ) và trung bình có 8,4 người/hộ, lượng nước thải sinh hoạt hằng ngày thải từ 33.600 người dân ở đây đã làm cho chất lượng nước kênh ngày càng trở nên tồi tệ hơn
loại B gấp khoảng 5 lần cùng với nồng độ COD và N-Org cao cho thấy trong dòng kênh luôn phải tiếp nhận các nguồn chất thải hữu cơ mới Quá trình phân hủy các chất hữu cơ tuy xảy ra liên tục nhưng vẫn chậm hơn nhiều so với tốc độ xả chất thải xuống kênh Hàm lượng dầu trong nước dao động trong khoảng 1,2 – 11,3 mg/l lúc nước lớn và từ 2,1 – 14,1 mg/l lúc nước ròng
- Nồng độ kim loại nặng có trong nước kênh thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quy định về nguồn loại A ngay cả lúc nước ròng Dư lượng thuốc trừ sâu loại Clo dao động trong khoảng từ vết – 0,86 mg/l và loại P dao động trong khoảng từ vết – 0,09 mg/l (lúc nước ròng)
Trang 37Bảng 1.9 Chất lượng nước kênh Đôi – kênh Tẻ khi thủy triều lên năm 1999
Mặt cắt Cầu Nhị
Trang 39Bảng 1.10 Chất lượng nước kênh Đôi – kênh Tẻ khi thủy triều xuống năm 1999
Mặt cắt Cầu Nhị
Thiên Đường