1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng

96 1,5K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hàm lượng một số kim loại nặng (As, Cd, Pb) trong trọng gạo trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Trường học Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Vật liệu môi trường, Nông nghiệp, Công nghệ thực phẩm
Thể loại Luận văn Thạc sĩ, Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Nghiên cứu hàm lượng một số KLN trong gạo trên địa bàn tỉnh Tiền Giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng” nhằm đánh giá hiện trạng ô nhiễm KLN As, Sb,Cd trong m

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Thực phẩm là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu đối với sự sống của con người Trong quá trình phát triển kinh tế mạnh mẽ con người đã tạo ra nhiều

sản phẩm, vật chất tốt đặc biệt những sản phẩm về thực phẩm được chế biến

từ nguyên liệu là gạo như các loại bánh và một số đồ uống Điều đó là cơ sở

tạo nên một cuộc sống no đủ về dinh dưỡng cho mọi người, cho từng lứa tuổi Tuy nhiên, hiện nay thực phẩm mà do chính con người tạo ra lại có nhiều

thực phẩm không tốt có chứa nhiều hàm lượng kim loại nặng (KLN) như: As,

Zn, Pb, Ni, Cu, Ni, Cd, do các nguồn ô nhiễm từ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, khai khoáng, phát thải vào đất, nước và không khí theo dây chuyền sẽ tích tụ lại và từ đó ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu dùng

2 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, dân số trên 80 triệu và 100% người Việt Nam sử dụng lúa

gạo làm lương thực chính và có đến 70% khẩu phần ăn được chế biến từ gạo

Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế

giới Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng khoảng 600 triệu tấn Nước ta có hai vùng trồng lúa chính là Đồng Bằng Sông

Hồng ở phía bắc và Đồng Bằng Sông Cửu Long ở phía Nam Hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33 - 34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại

là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia

Việt Nam có điều kiện thuận lợi về mặt địa hình, khí hậu và xuất phát từ

một nền nông nghiệp lâu đời Điều đó giúp cho ngành lương thực Việt Nam đạt nhiều thành công, đồng thời giải quyết việc làm cho người lao động cũng như đóng góp vào kim nghạch xuất khẩu chung của cả nước, từng bước đưa nước ta trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới Tuy nhiên,

gạo Việt Nam không có tên tuổi nổi tiếng như các loại gạo của các nước khác

Trang 2

như Thái Lan, Ấn Độ Điều đó chứng tỏ một phần là do nước ta chưa xây

dựng được thương hiệu Việt, Phần còn lại có phải là do gạo mình chưa đạt được chất lượng nghiêm ngặt của các nước trên thế giới không? ví dụ như ngưỡng an toàn theo tiêu chuẩn về hàm lượng Pb trong gạo ăn của FAO/WHO (< 0,1 mg/kg) hay Châu Âu (< 0,2 mg/kg) và Bộ Y tế Việt Nam (<0,2 mg/kg), hàm lượng As trong gạo theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam (<1mg/kg), còn theo tiêu chuẩn sạch của Nhật Bản hàm lượng As trong gạo (<0,2 mg/kg) Việc tích lũy kim loại nặng (KLN) trong gạo là do trong đất, trong nước tưới hoặc trong phân bón bị nhiễm kim loại nặng Kết quả phân tích hàm lượng KLN trong một số loại đất ở Việt Nam (Bảng 0.1) cho thấy ô nhiễm đất được xem là tất cả những hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất gây ô nhiễm, Ô nhiễm đất sẽ làm đảo lộn cân bằng hệ sinh thái, suy giảm các chất dinh dưỡng và phá hủy cấu trúc của đất

Bảng 0.1: Hàm lượng kim loại nặng ở tầng đất mặt trong một số loại đất ở

vùng ĐBSCL

DĐ 0,52 <0,36 1,45 134,7 <0,57 <0,51 1,1 Đất phù sa

vùng ĐBSH

DĐ 0,24 <0,36 <0,83 43,8 <0,57 0,29 0,6 Đất xám phát

Trang 3

Đất phèn TS 1,9 25,9 8823 26,0 12,4 23,4 21,4

DĐ 0,48 <0,36 19,8 14,5 1,14 <0,51 4,89 QCVN

cứu sự tích lũy KLN trong đất nông nghiệp xung quanh khu công nghiệp Đình Trám tỉnh Bắc Giang những nghiên cứu này đều cho thấy hàm lượng KLN trong các hoạt động của con người khi thải vào môi trường đều tác động lên môi trường đất và từ môi trường đất ảnh hưởng tới cây trồng, và cuối cùng

là dẫn tới ảnh hưởng tới sức khỏe con người Năm 2007 gạo Việt Nam đã bị

ngừng xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản do chưa đáp ứng các tiêu chuẩn về

dư lượng hóa chất

Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì vậy việc phát triển nghành công nghiệp là điều tất yếu, tuy nhiên cùng với sự phát triển

của các nghành công nghiệp mạnh mẽ chúng ta lại không đi cùng với việc bảo

vệ môi trường cho tốt cho nên hàm lượng các KLN tồn dư trong môi trường

sống nhiều và do đó làm cho thực phẩm do con người làm ra cũng bị nhiễm các KLN Con người khi sử dụng các sản phẩm bị nhiễm độc chắc chắn sẻ ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe, điều rất nguy hiểm là sự ảnh hưởng này lại kéo dài nhiều năm mới thể hiện ra bên ngoài Vì thế, chúng ta cần xác định xem thực phẩm (gạo) có bị nhiểm các KLN không để từ đó chúng ta biết cách

sử dụng thực phẩm một cách an toàn và có hiệu quả hơn

Trang 4

Lượng gạo xuất khẩu hàng năm chủ yếu là gạo của các tỉnh thuộc Đồng

Bằng Sông Cửu Long (chiếm 90%) và ở ĐBSCL lúa được trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang Trong các tỉnh này thì Long An và Tiền Giang là 2 tỉnh hiện đang có ngành công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ, điều này dẫn tới các nguồn gây ô nhiễm nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của người dân đồng

thời ảnh hưởng tới thực phẩm được trồng ở đây Do thời gian và kinh phí cho quá trình nghiên cứu hạn hẹp không thể nghiên cứu được cả 2 tỉnh, nên đề tài

chỉ tập trung nghiên cứu hàm lượng KLN là As (có trong điều kiện tự nhiên)

và hàm lượng Pb, Cd (có trong điều kiện nhân tạo) và được nghiên cứu tại xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang thuộc ĐBSCL

Đề tài “Nghiên cứu hàm lượng một số KLN trong gạo trên địa bàn tỉnh

Tiền Giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng” nhằm đánh giá hiện trạng ô nhiễm KLN (As, Sb,Cd) trong một số loại gạo chính đang sử dụng trên thị trường cụ thể là tại xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh

Tiền Giang (các loại giống lúa này được trồng ở ĐBSCL) và những ảnh hưởng có thể có đến sức khỏe người tiêu dùng Đề tài được thực hiện với hy

vọng làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý ra các quyết định phù hợp, đồng thời cũng làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề được thực hiện với hai mục tiêu cụ thể sau:

Xác định hàm lượng tổng số của một số kim loại nặng (As, Cd, Pb) trong

gạo đang được tiêu dùng tại xã Bình Xuân, tỉnh Tiền Giang thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước

Đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của các mẫu gạo khảo sát đối với người tiêu dùng tại xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang

4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài triển khai thực hiện các nội dung sau:

- N ội dung 1: Tổng hợp, biên hội các tài liệu liên quan

Trang 5

• Tài liệu “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm, kỳ đầu của tỉnh Tiền Giang”

• Tài liệu “Phân tích tác động các chính sách và chiến lược nâng cấp chuỗi ngành hàng lúa gạo” của tạp chí Khoa Học –trường Đại Học Cần Thơ

• Tài liệu “nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng trong đất nông nghiệp và nước mặt xung quanh KCN Đình Tráng tỉnh Bắc Ninh ”

• Các bài báo mạng, các trang web liên quan

• Sách “ Đánh giá rủi ro sức khỏe môi trường và hệ sinh thái”của tác giả

Lê thị Hồng Trân

• The Toxicity Assessment of Heavy Metals and Their Species in Rice

của trường University of Cincinnati

• Sách “phương pháp phân tích Phổ nguyên tử” của nhà xuất bản ĐH

Quốc Gia Hà Nội

• Đồ án quy hoạch nông thôn mới xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh

Tiền Giang giai đoạn 2011 - 2020

- N ội dung 2: Khảo sát hiện trạng sử dụng gạo tại xã Bình Xuân, thị xã

Gò Công, tỉnh Tiền Giang

• Điều tra tên và sản phẩm gạo trên thị trường xã

• Lấy mẫu đại diện

- N ội dung 3: Nghiên cứu hàm lượng As, Pb, Cd trong các loại gạo chính

tại xã Bình Xuân

• Phân tích mẫu bằng cách phá mẫu rồi phân tích trên thiết bị Kỹ thuật

HG – AAS, ICP - MS

• Ghi nhận, phân tích và xử lý kết quả

- N ội dung 4: Đánh giá ảnh hưởng đến sức khỏe của các mẫu gạo khảo

sát đối với người tiêu dùng

Trang 6

- Lấy kết quả từ phiếu khảo sát để tính toán sự ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng

• So sánh Kết quả mẫu phân tích với tiêu chuẩn quy định về hàm lượng KLN trong thực phẩm (gạo) để xem có mẫu nào bị thôi nhiễm về KLN không?

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Sơ đồ nghiên cứu

Hình 0.1: Sơ đồ trình tự nghiên cứu Giải thích sơ đồ: Để tiến hành nghiên cứu thì trước hết phải tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu bằng cách tìm và tổng hợp các tài liệu liên quan Sau đó đi điều tra tên và sản phẩm gạo trên thị trường (có mấy loại gạo, nguồn gốc xuât xứ…) Tiếp đến tiến hành thu mua các loại gạo trên thị trường đưa về phòng thí nghiệm tiến hành phân tích Sau khi có kết quả phân tích thì so sánh với tiêu chuẩn xem kết quả đó có vượt tiêu chuẩn cho phép không? Bên cạnh đó

Thu mua một số loại gạo trên

thị trường về làm mẫu phân Điều tra tên và sản phẩm gạo trên thị trường

Đưa các mẫu gạo đã chuẩn bị ở

trên về phòng thí nghiệm và

tiến hành phân tích

Khảo sát hiện trạng sử dụng gạo tại xã Bình Xuân thông qua phiếu khảo sát

Đánh giá rủi ro sức khỏe đối với người tiêu dùng

Nhận xét và đưa ra kết luận chung

Tổng hợp các tài liệu liên quan

So sánh kết quả phân tích với

Tiêu chuẩn cho phép

Trang 7

dùng phiếu khảo sát đễ khảo sát người tiêu dùng sử dụng gạo nào cho bữa ăn hàng ngày, độ tuổi và cân nặng của người dân như thế nào Khi có kết quả khảo sát và kết quả phân tích thì tiến hành đánh giá rủi ro ảnh hưởng người tiêu dùng, cuối cùng đưa ra nhận xét và kết luận chung cho quá trình nghiên cứu.

5.2 Phương pháp cụ thể

Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) để thu thập thông tin (về kinh tế hộ, liều lượng, nguồn gốc và cách thức sử dụng thực phẩm, ) 20 hộ dân được phỏng vấn, thu thập thông tin (các hộ dân này đều sử dụng gạo của Đồng Bằng Sông Cửu Long).Trong 30 phiếu khảo sát thì có 8 phiếu sử dụng gạo 504; 5 phiếu gạo Jacmine; 5 phiếu gạo Đài Loan; 6 phiếu gạo 64; 3 phiếu Nàng Thơm; 2 phiếu gạo Tài Nguyên Sữa; 3 phiếu gạo Hương Lài

Phương pháp thu thập và xử lý mẫu

Tổng số có 4 vị trí lấy mẫu được chọn ngẫu nhiên bao gồm 40 mẫu (10 loại gạo) Các mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm và được bảo quản trong túi nylông (PE) trong điều kiện mát

Phân tích KLN trong gạo

Mẫu gạo được công phá bằng dung dịch HNO3 đặc (65%) với tỷ lệ chiết rút 2:15 (2 g gạo: 15 ml HNO3 đặc); dung dịch sau khi công phá được định mức, lọc qua giấy lọc băng xanh và sử dụng để xác định hàm lượng As trên thiết bị HG – AAS, xác định hàm lượng Cd, Pb trên thiết bị ICP - MS

Phương pháp đánh giá rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của các mẫu gạo khảo sát đối với người tiêu dùng

Nhằm đánh giá rủi ro ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng

Cụ thể các phương pháp được trình bày ở chương 2

Trang 8

6 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là cây lúa được trồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long Khảo sát một số loại gạo chính đang được người tiêu dùng tại xã Bình Xuân đang sử dụng Lúa trên địa bàn xã sau khi thu hoạch thì hầu hết bán cho các tiểu thương rồi sau đó mua gạo trên thị trường về sử dụng (các loại gạo trên thị trường chủ yếu được trồng ở các tỉnh ĐBSCL)

o Thơm Thái (giống xuất xứ ở Thái Lan nhưng đang được trồng ở ĐBSCL trong đó có Tiền Giang)

Gạo thơm Thái xuất xứ tại Thái Lan, hạt gạo nhỏ màu trắng hơi đục Hạt gạo có mùi thơm nhẹ, cơm dẻo, mềm Hiện được trồng nhiều tại đồng bằng sông Cửu Long

o Gạo Tài Nguyên Long An

Lúa Tài Nguyên là lúa mùa, được thu hoạch sau 6 tháng gieo trồng và chỉ trồng được một vụ mỗi năm Tài Nguyên được trồng nhiều ở đồng bằng sông Cửu Long, nhất là Long An Tài Nguyên có nhiều giống ngon như Tài Nguyên Thạnh Trị (Sóc Trăng) nhưng ngon nhất là gạo Tài Nguyên của vùng chuyên canh Chợ Đào (Cần Đước, Long An) Hạt gạo Tài Nguyên có màu trắng đục Khi nấu, cho cơm ráo, mềm, xốp, ngọt cơm Đặc biệt, cơm vẫn ngon khi để nguội Gạo Tài Nguyên Long An được xem là loại gạo ngon nhất của dòng gạo khô xốp, là loại gạo khoái khẩu của những người thích cơm khô Đặc biệt, cơm gạo Tài Nguyên rất thích hợp làm nguyên liệu cho món cơm chiên

o Thơm Đài Loan (giống xuất xứ ở Đài Loan nhưng được trồng ở ĐBSCL):

Lúa Thơm Đài Loan có xuất xứ từ Đài Loan, được trồng nhiều ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Gạo Thơm Đài Loan hiện rất được ưa chuộng tại Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam Hạt gạo nhỏ, màu trắng trong, cho cơm dẻo mềm, ngọt cơm, mùi thơm đặc trưng

o Jasmine 85:

Trang 9

Lúa Thơm Jasmine là giống lúa ngắn ngày được trồng chủ yếu ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long Hạt gạo Thơm Jasmine có kích thước lớn, dài, màu trắng trong, cho cơm dẻo, thơm nhẹ, cơm vẫn dẻo khi để nguội

o Hương Lài:

- Gạo Hương Lài trong

Thơm Lài cũng là giống lúa mùa được trồng nhiều ở vùng Cần Đước, Long An Hạt gạo Hương Lài trong có màu trắng trong, dài hạt, cơm dẻo, mềm, ngọt cơm Hạt gạo to, có mùi hương hoa lài Đặc biệt tỏa mùi rất thơm khi nấu Cơm vẫn thơm và dẻo khi nguội

- Gạo Hương Lài sữa

Thơm Lài cũng là giống lúa mùa được trồng nhiều ở vùng Cần Đước, Long An Hạt gạo Hương Lài sữa có màu trắng trong, dài hạt, cơm dẻo, mềm, ngọt cơm Hạt gạo nhỏ, có mùi hương hoa lài Đặc biệt tỏa mùi rất thơm khi nấu Gạo thơm lài rất thích hợp với người lớn tuổi, thanh thiếu niên thích gạo dẻo Cơm vẫn thơm và dẻo khi nguội

o Nàng Thơm Chợ Đào:

Nàng Thơm là giống lúa mùa nổi tiếng của vùng Long An, mỗi vụ lúa Nàng Thơm kéo dài 6 tháng và mỗi năm chỉ trồng được một vụ Hạt gạo Nàng Thơm này màu hơi ngà ngà và ngay khi chưa nấu ngửi cũng

đã có mùi thơm Ở giữa hột gạo đã chà xát có ẩn một vết đục nhẹ Ðể trong bao nylon đến 4, 5 tháng sau gạo còn thơm Nhưng có lẽ vì gạo

có một chất dầu nên không để lâu được vì đến khoảng 10 tháng là ăn mất ngon Ðiểm đặc biệt hơn nữa là khi nấu chín, hột gạo bóng mượt như có ai trộn dầu vào, ăn vừa thơm vừa dẻo, cho cơm có mùi thơm dịu, ngọt cơm và vẫn ngon ngay cả khi đã nguội

o Gạo 504:

Lúa 504 được mệnh danh là giống lúa “xóa đói giảm nghèo” Đây là giống lúa ngắn ngày được trồng nhiều ở vùng Đồng bằng Sông Cửu

Trang 10

Long, có đặc tính kháng sâu bệnh tốt và cho năng suất cao Hạt gạo to,

màu trắng đục, cho cơm khô, nở, rất thích hợp với các bếp ăn

o Gạo 64:

Lúa 64 là giống lúa ngắn ngày được, trồng nhiều ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long Hạt gạo to, có màu trắng trong, hơi bạc bụng Gạo 64 cho cơm dẻo, mềm, rất thích hợp với các bếp ăn

o Nếp (được trồng ở nhiều tỉnh)

o Nàng nhen:

Gạo đặc sản Bảy Núi chính là loại gạo Nàng Nhen, loại gạo thứ 3 trong

cả nước được bảo hộ chỉ dẫn địa lý (gạo địa phương khác không được lấy tên Bảy Núi) sau Tám Xoan (Hải Hậu, Nam Định) và Một Bụi Đỏ (Hồng Dân, Bạc Liêu) Gạo Nàng Nhen là loại gạo đặc trưng của vùng này, được trồng chủ yếu ở huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Địa hình núi kết hợp với kỹ thuật canh tác của người Khơme, chủ yếu là nước mưa (mỗi năm chỉ một vụ vào mùa mưa) Gạo Nàng Nhen hạt nhỏ, thon dài, hạt bóng, màu trắng hơi hồng, cơm khô, vị ngọt dịu, thơm ngon

7 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát một số hộ gia đình đang sử dụng gạo của ĐBSCL đang sống và làm việc tại xã Bình Xuân, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang

8 Ý nghĩa của đề tài

- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các dữ liệu có tính tham khảo cho UBND xã Bình Xuân về tình trạng ô nhiễm kim loại nặng (KLN) trong gạo (nếu có) từ đó xã có thể có giải pháp hợp lý để xử lý chất thải, vệ sinh môi trường và cải tạo đất trồng…

- Nâng cao nhận thức cho những người trực tiếp có liên quan đến sản xuất lúa của địa phương, cũng như tăng thêm vốn hiểu biết về phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong các hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân

- Góp phần tích cực vào việc bảo vệ cộng đồng

Trang 11

- Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý đất cho xã Bình Xuân nói riêng và cho tỉnh Tiền Giang nói chung, để thực hiện đúng chỉ thị và quy chế quản lý

và cải tạo đất nông nghiệp và áp dụng quy trình GAP trong việc trồng lúa để hạt gạo đạt được yêu cầu về chất lượng phục vụ cho việc xuất khẩu vẫn dữ được vị trí số 1 trên thế giới đồng thời đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng

- Cung cấp các dữ liệu cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Kim loại nặng và nguồn gốc phát sinh KLN trong thực phẩm

Thuật ngữ KLN nhằm nói tới bất cứ một nguyên tố nào có khối lượng

riêng lớn (d > 5 g/cm3) và thể hiện độc tính ở nồng độ thấp Tuy nhiên, độ độc của KLN còn phụ vào nồng độ của từng chất

Kim loại nặng ban đầu một phần được sinh ra từ các quá trình hoạt động địa hoá của khoáng vật mẹ và đi vào đất thông qua quá trình phong hoá hoá học Tuy nhiên, với quá trình phong hoá hoá học thì lượng kim loại đi vào đất

là không đáng kể mà chủ yếu kim loại đi vào đất là do các hoạt động sản xuất của con người Các hoạt động đó bao gồm:

- Hoạt động sản xuất công nghiệp

+ Công nghiệp nhựa: Co, Cr, Cd, Hg

+ Công nghiệp dệt: Zn, Al, Ti, Sn

+ Công nghiệp sản xuất vi mạch: Cu, Ni, Cd, Zn, Sb

+ Bảo quản gỗ: Cu, Cr, As

+ Mỹ nghệ: Pb, Ni, Cr

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp

+ Sử dụng phân bón hoá học: As, Cd, Mn, U, V và Zn trong một số phân phốt phát

+ Sử dụng phân chuồng: As, Cu, As, Zn

+ Sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật: Cu, Mn và Zn trong thuốc trừ nấm,

As và Pb trong thuốc sử dụng đối với cây ăn quả

+ Nước tưới: có thể thải ra Cd, Pb, Se

- Hoạt động khai khoáng quặng chứa kim loại

+ Đào, xới và cặn thải - nhiễm bẩn thông qua phong hoá, xói mòn do gió thải ra As, Cd, Hg, Pb Cặn thải khếch tán do sông - trầm tích trên đất do lũ, nạo vét sông… thải ra As, Cd, Hg, Pb

+ Vận chuyển trong quá trình tuyển quặng - vận chuyển theo gió lên trên đất thải ra As, Cd, Hg, Pb Khai khoáng - nhiễm bẩn do bụi thải

Trang 13

+ Công nghiệp luyện kim: As, Cd, Cr, Cu, Mn, Ni, Pb

+ Khói linh động: Mo, Pb cùng với Br, Cl và V

+ Đốt cháy xăng, dầu (bao gồm các trạm xăng): As, Pb, Sb, Se, U, V,

Zn và Cd

- Kim loại từ rác thải

+ Bùn cặn: Cd, Cr, Cu, Hg, Mn, Mo, Ni, Pb, V, Zn

+ Rửa trôi từ đất: As, Cd, Fe, Pb

+ Phế thải: Cd, Cr, Cu, Pb, Zn

+ Đốt rác, bụi than: Cu và Pb

Các dạng tồn tại đó của KLN đều đi sâu vào đất nông nghiệp làm ảnh hưởng tới cây trồng

1.2 Ảnh hưởng của KLN tới sức khỏe con người

Ngày nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và hình thành nhiều thành phố lớn, vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên nghiêm trọng Khói từ nhà máy, từ hoạt động giao thông làm ô nhiễm bầu khí quyển Nước thải từ các nhà máy, khu dân cư làm ô nhiễm nguồn nước Phế thải từ các khu công nghiệp, các làng nghề và việc sử dụng phân bón hoá học, bùn thải, thuốc bảo

vệ thực vật trong nông nghiệp làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn tài nguyên đất Tất cả những nguồn gây ô nhiễm này đều là nguyên nhân của sự tích tụ quá mức hàm lượng KLN trong đất và nước

Với sự tích tụ quá mức lượng KLN trong môi trường đất đã làm cho thảm

thực vật trên mặt đất bị mất đi, nhiều loài không thể sống được ở những vùng đất chứa lượng KLN quá cao Đất giảm lượng tích luỹ mùn và trở nên chặt hơn, nghèo dinh dưỡng hơn Những cây có thể mọc được ở những vùng đất

Trang 14

chứa lượng KLN cao thì ngay trong bản thân chúng cũng sẽ chứa lượng KLN

nhất định, và lượng KLN nhất định này cao hơn mức bình thường mà chúng

có được do chúng hút các chất dinh dưỡng trong đất Các KLN tích luỹ trong đất từ đó đi vào nông sản, thực phẩm và theo chuỗi thức ăn KLN trong đất sẽ được tích tụ trong thực vật và vào cơ thể con người Nếu cơ thể con người tích tụ lượng KLN càng lớn sẽ gây ra nhiều loại bệnh nguy hiểm ảnh hưởng

tới sức khoẻ, và tính mạng của con người

Tính độc của một số KLN tồn dư trong gạo và trong cơ thể con người: (H2N2) - Kim loại nặng là những kim lợi có khối lượng riêng lớn hơn 5g/cm3

Một số kim loại nặng có thể cần thiết cho sinh vật, chúng được xem là nguyên

tố vi lượng Một số không cần thiết cho sứ ống, khi đi vào cơ thể sinh vật có thể không gây độc hại gì Kim loại nặng gây độc hại với môi trường và cơ thể sinh vật khi hàm lượng của chúng vượt quá tiêu chuẩn cho phép

Tính độc của Chì (Pb)

- Chì (Pb): là nguyên tố có độc tính cao đối với sức khoẻ con người Chì gây độc cho hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên, tác động lên hệ enzim có nhóm hoạt động chứa hyđro Người bị nhiễm độc chì sẽ bị rối loạn

bộ phận tạo huyết (tuỷ xương) Tuỳ theo mức độ nhiễm độc có thể bị đau bụng, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp, tai biến não, nhiễm độc nặng có thể gây tử vong Đặc tính nổi bật là sau khi xâm nhập vào cơ thể, chì ít bị đào thải

mà tích tụ theo thời gian rồi mới gây độc

- Chì đi vào cơ thể con người qua nước uống, không khí và thức ăn bị nhiễm chì

- Chì tích tụ ở xương, kìm hãm quá trình chuyển hoá canxi bằng cách kìm hãm sự chuyển hoá vitamin D

- Tiêu chuẩn tối đa cho phép theo QCVN 8-2:2011/BYT nồng độ chì trong thực phẩm: 0,025 mg/kg theo thể trọng từng người

Trang 15

Tính độc của Thuỷ ngân (Hg)

- Thuỷ ngân (Hg): tính độc phụ thuộc vào dạng hoá học của nó Thuỷ ngân nguyên tố tương đối trơ, không độc Nếu nuốt phải thuỷ ngân kim loại thì sau

đó sẽ được thải ra mà không gây hậu quả nghiêm trọng Nhưng thuỷ ngân dễ bay hơi ở nhiệt độ thường nên nếu hít phải sẽ rất độc Thuỷ ngân có khả năng

phản ứng với axit amin chứa lưu huỳnh, các hemoglobin, abumin; có khả năng liên kết màng tế bào, làm thay đổi hàm lượng kali, thay đổi cân bằng axit bazơ của các mô, làm thiếu hụt năng lượng cung cấp cho tế bào thần kinh Trẻ em bị ngộ độc thuỷ ngân sẽ bị phân liệt, co giật không chủ động Trong nước, metyl thủy ngân là dạng độc nhất, nó làm phân liệt nhiễm sắc thể

và ngăn cản quá trình phân chia tế bào

- Thuỷ ngân đưa vào môi trường từ các chất thải, bụi khói của các nhà máy luyện kim, sản xuất đèn huỳnh quang, nhiệt kế, thuốc bảo vệ thực vật,

Mangan đi vào môi trường nước do quá trình rửa trôi, xói mòn, do các chất

thải công nghiệp luyện kim, acqui, phân hoá học

Trang 16

Tính độc của kẽm (Zn)

Zn là dinh dưỡng thiết yếu và nó sẽ gây ra các chứng bệnh nếu thiếu hụt cũng như dư thừa Trong cơ thể con người, Zn thường tích tụ chủ yếu ở trong gan, là bộ phận tích tụ chính của các nguyên tố vi lượng trong cơ thể, khoảng

2 g Zn được thận lọc mỗi ngày Zn còn có khả năng gây ung thư đột biến, gây

ngộ độc thần kinh, sự nhạy cảm, sự sinh sản, gây độc đến hệ miễn nhiễm Sự thiếu hụt Zn trong cơ thể gây ra các triệu chứng như bệnh liệt dương, teo tinh hoàn, mù màu, viêm da, bệnh về gan và một số triệu chứng khác

Tính độc của đồng (Cu)

Nguyên liệu dẫn đến ngộ độc Cu của con người có thể do uống nước qua

hệ thống dẫn nước bằng Cu, ăn thực phẩm có chứa lượng Cu cao như chocolate, nho, nấm, tôm,…, bơi trong các hồ bơi có sử dụng thuốc diệt tảo (Algaecides) có chứa Cu để làm vệ sinh hồ, uống bia hay rượu Cu là một

chất độc đối với động vật: Đối với người 1 g/kg thể trọng đã gây tử vong, từ

60 – 100 mg/kg gây buồn nôn

Cu ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ do thiếu hụt cũng như dư thừa

Cu thiết yếu cho việc sử dụng sắt (Fe), bệnh thiếu máu do thiếu hụt Fe ở trẻ

em đôi khi cũng được kết hợp với sự thiếu hụt Cu

Tính độc của Arsenic (As)

Arsen là kim loại có thể tồn tại ở dạng tổng hợp chất vô cơ và hữu cơ Trong tự nhiên tồn tại trong các khoáng chất Nồng độ thấp thì kích thích sinh trưởng, nồng độ cao gây độc cho động thực vật

- Nguồn tự nhiên gây ô nhiễm Arsen là núi lửa, bụi đại dương Nguồn nhân tạo gây ô nhiễm Arsen là quá trình nung chảy đồng, chì, kẽm, luyện thép, đốt rừng, sử dụng thuốc trừ sâu…

- Arsen có thể gây ra 19 căn bệnh khác nhau Các ảnh hưởng chính đối

với sức khoẻ con người: làm keo tụ protein do tạo phức với Arsen III và phá

huỷ quá trình photpho hoá; gây ung thư tiểu mô da, phổi, phế quản, xoang…

Trang 17

- Tiêu chuẩn tối đa cho phép theo QCVN 8-2:2011/BYT nồng độ Arsenic trong thực phẩm: ≤ 0,015 mg/kg theo thể trọng từng người

Tính độc của Cadmium (Cd)

Cd trong môi trường thường không độc hại nhiều nhưng nguy hại chính đối với sức khoẻ con người từ Cd là: sự tích tụ mãn tính của nó ở trong thận

Ở đây, nó có thể gây ra rối loạn chức năng nếu tập trung ở trong thận lên trên

200 mg/kg trọng lượng tươi Thức ăn là con đường chính mà Cd đi vào cơ thể, nhưng việc hút thuốc lá cũng là nguồn ô nhiễm KLN, những người hút thuốc lá có thể thấm vào cơ thể lượng Cd dư thừa từ 20 – 35 μgCd/ngày

Cd đã được tìm thấy trong Protein mà thường ở trong các khối của cơ thể

và những Protein này có thể tìm thấy trong nấm, đậu nành, lúa mì, cải bắp và trong một số loại thực vật khác Cd là một KLN có hại, nó vào cơ thể qua thực phẩm và nước uống, Cd dễ dàng chuyển từ đất lên rau xanh và bám chặt

ở đó Cadimi xâm nhập vào cơ thể được tích tụ ở thận và xương; gây nhiễu hoạt động của một số enzim, gây tăng huyết áp, ung thư phổi, thủng vách ngăn mũi, làm rối loạn chức năng thận, phá huỷ tuỷ xương, gây ảnh hưởng đến nội tiết, máu, tim mạch

Tiêu chuẩn tối đa cho phép theo QCVN 8-2:2011/BYT nồng độ Cadmi trong thực phẩm: 0,02 mg/kg theo thể trọng từng người

Đây là một kim loại nặng nguy hiểm, nếu cơ thể hấp thụ Cd quá nhiều sẽ gây nguy hại cho xương cốt và nội tạng

Bảng 1.1 Sự phát thải toàn cầu của một số nguyên tố kim loại nặng

Trang 18

(Nguồn: Galloway & Freedmas, 1982 [10])

Bảng 1.2 Hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp ở một số vùng của

Trang 19

QCVN 03:2008 50 70 200 2

(Nguồn: Hồ Thị Lam Trà & Kazuhico Egashira, 2001)

1.3 Ngành g ạo Việt Nam

Gạo là sản phẩm từ cây lúa và nằm trong một quá trình sản xuất nông nghiệp, thường bao gồm những khâu chính sau: làm đất, chọn thóc giống, gieo hạt, ươm mạ, cấy, chăm bón (bón phân, đổ nước), gặt và xay xát

Việt Nam được thiên nhiên ban tặng cho những vùng đồng bằng đất đai màu mỡ, người nông dân có kinh nghiệm trong khai thác, chăm sóc và phát triển các giống lúa nước, loại cây lương thực chính nuôi sống loài người

Hình 1.1: Gạo Hương Lài và lúa gạo Thơm Đài Loan

Trang 20

Hình 1.2: Các sản phẩm và phế phẩm được sản xuất từ trồng lúa

Trang 21

Theo sử liệu mà các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học đã tìm

thấy và chứng minh thì Việt Nam là một trong những nơi khởi thủy trồng cây lúa nước ở Đông Nam Á, có niên đại cách nay từ 10.000 - 12.000 năm Năm

1890, Việt Nam đã có tên trên bản đồ xuất khẩu gạo của thế giới, năm 1913

miền Hậu Giang đã xuất khẩu gạo ra thế giới Cây lúa Việt Nam gắn liền với

lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Nhờ lúa gạo, dân tộc

Việt Nam đã đấu tranh, bảo vệ và xây dựng tổ quốc Và lúa gạo đã góp phần đưa Việt Nam vươn lên và từng bước hội nhập với thế giới Trong 22 năm qua, Việt Nam xuất khẩu trên 75 triệu tấn gạo, trị giá 23 tỷ USD

Bảng 1.3: Giá trị dinh dưỡng của lúa gạo tính theo % chất khô so với một số

Tinh bột: Hàm lượng tinh bột 62,4% Là nguồn chủ yếu cung cấp calo Giá

trị nhiệt lượng của lúa là 3594 calo Tinh bột được cấu tạo bởi Amylose và amylopectin Amylose có cấu tạo mạch thẳng và có nhiều ở gạo tẻ Amylopectin có cấu tạo mạch ngang và có nhiều ở gạo nếp

Protêin: Các giống lúa Việt Nam có hàm lượng Protêin chủ yếu trong khoảng 7- 8% Các giống lúa Nếp có hàm lượng prôtêin cao hơn lúa tẻ

Lipit: Chủ yếu ở lớp vỏ gạo Nếu ở gạo xay là 2,02% thì ở gạo đã xát chỉ còn 0,52%

Trang 22

Vitamin: Trong lúa gạo còn có 1số vitamin nhất là vitamin nhóm B như B1, B2, B6, PP lượng vitamin B1 là 0,45 mg /100 hạt ( trong đó ở phôi 47

%, vỏ cám 34,5 %, hạt gạo 3,8%)

B ộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là bộ chủ quản, quản lý việc sản

xu ất lúa gạo của Việt Nam

1.4 Ngành l úa gạo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long

ĐBSCL là vùng có sản lượng lúa gạo hàng hóa lớn nhất Việt Nam Cụ thể năm 2009, sản lượng lúa hàng hóa (13,42 triệu tấn) qui gạo của vùng là 7,74 triệu tấn (sau khi đã trừ tiêu dùng, chăn nuôi, làm giống và tiêu dùng công nghiệp của vùng này) Vì vậy, lượng gạo xuất khẩu hàng năm chủ yếu là từ

ĐBSCL (chiếm hơn 90%)

Bảng 1.4: Cân đối sản xuất và tiêu dùng lúa gạo giữa các vùng năm 2009

STT

SL lúa (tr

tấn)

SL g ạo quy đổi (tr.t ấn) (1)

SL g ạo thất thoát (tr.tấn) (2)

SL g ạo

th ực (tr.t ấn) (3)

SL g ạo

sử dụng (tr.tấn) (4)

Cân đối SL gạo thực và

sử dụng (tr.tấn)

Ch ỉ số cân đối

25,79 4,58 2,01 4,13 0,65 0,88 13,54

4,66 0,83 0,36 0,75 0,12 0,16 2,47

21,13 3,75 1,65 3,38 0,54 0,72 11,07

13,54 2,99 0,01 2,86 0,74 1,97 3,33

7,59 0,76 1,01 0,52 -0,20 -1,25 7,74

1,56 1,25

1,18 0,72 0,37 3,33

Chú thích : (1) Gạo = 66%*lúa; (2) Thất thoát lúa trên đồng 9,8%+ Thất

thoát sau xay xát 9,83%

(3) = (1) – ( 2); (4) Giống & chăn nuôi 6.6% + tiêu dùng (dân số*135kg) + tiêu dùng công nghiệp 2%

Nông dân trồng lúa vùng ĐBSCL đã và đang trồng 47 giống lúa khác nhau

Trang 23

và đang thử nghiệm 9 loại giống mới (Nguyễn Công Thành, 2010), trong đó

có một số giống có chất lượng cao nhưng cũng có nhiều loại giống có chất lượng gạo trung bình và thấp, ví dụ như giống IR50404 trong sản xuất vụ Hè Thu năm 2009 có chất lượng thấp, khó tiêu thụ ở nội địa và xuất khẩu Việt Nam tham gia vào thị trường gạo thế giới với khối lượng giao dịch lớn và tập trung vào những mùa vụ cụ thể trong năm, điều này ít nhiều làm thay đổi cung và tác động lớn đến giá gạo thị trường thế giới Hơn nữa, ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, kết quả vụ mùa cũng như chu kỳ nhập khẩu của một số quốc gia như Indonesia, Phillipines sẽ làm biến động giá và lượng của thị trường lúa gạo Việc điều hành xuất khẩu gạo của Việt Nam hiện nay chủ yếu qua Chính phủ

Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 quy định định hướng điều hành xuất khẩu gạo: “Bộ Thương mại phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Uỷ ban nhân dân các tỉnh có sản lượng lúa hàng hoá lớn và Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) điều hành việc xuất khẩu gạo hàng năm theo nguyên tắc bảo đảm về an ninh lương thực; tiêu thụ hết lúa hàng hoá và bảo đảm giá lúa có lợi cho nông dân, đồng thời phù hợp với mặt bằng giá cả hàng hoá trong nước; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các giải pháp xử lý khi các nguyên tắc này không được bảo đảm hài hoà” Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm về việc dự báo và tính toán khối lượng gạo hàng hoá có thể xuất khẩu sau khi trừ đi các nhu cầu tiêu dùng cá nhân trong nước, làm giống, chăn nuôi, tiêu dùng công nghiệp và dự trữ Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua những hợp đồng Chính phủ (G2G) là khá lớn (năm 2007 chiếm 66,4% tổng lượng gạo xuất khẩu, năm 2008: 49,2% và chiếm 42,7% năm 2009) (VFA, 2009) Đặc biệt trong năm 2008, chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định để điều tiết sự biến động giá trong nước và xuất khẩu ngành hàng lúa gạo:

• Ngày 21/2/2008: Thủ tướng ký văn bản số 266/TTg-KTTH phê duyệt

Trang 24

xuất Phân tích SWOT chuỗi ngành hàng lúa gạo

Bảng 1.5: Thuận lợi và khó khăn của các tác nhân ngành hàng lúa gạo ở

ĐBSCL

Vật tư đầu vào:

• Điều kiện giao thông thuận lợi

• Cầu lớn hơn cung

• Ít cơ sở sản xuất tập trung

(trungtâm giống của các tỉnh hay

trung tâm khuyến nông (57,1%);

Viện, trường đại học (42,9%) và

các công ty hay cơ sở kinh doanh

lúa giống khác

Đầu vào

Vật tư đầu vào:

• Bán chịu cho nông dân nhiều, chậm

và khó thu hồi vốn (78,57%)

• Thiếu vốn kinh doanh

• Kênh mương cạn, vận chuyển khó khăn

• Cạnh tranh cao

Giống:

• Thiếu lò sấy, sân phơi, máy tách hạt

• Lúa giống sản xuất ra không phù

hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương nên khó tiêu thụ

• Đánh giá nhu cầu thị trường chưa chính xác thị trường dẫn đến sản xuất không đáp ứng được nhu cầu

• Số lượng và chất lượng giống không

ổn định

• Giá bán không ổn định, phụ thuộc vào giá lúa hàng hóa trên thị trường

• Thiếu kho dự trữ lúa giống

• Chưa có thương hiệu

• Hiện tại chủ yếu sản xuất và bán

trực tiếp cho nông dân, chưa có công

Trang 25

• Thuỷ lợi nội đồng thuận lợi

• Lựa chọn đầu vào dễ dàng

• Cơ giới hoá trong sản xuất

• Được vay vốn trong sản xuất lúa

• Quản lý sản xuất của nông hộ tốt

Nông dân

• Đầu ra không ổn định

• Thương lái không mua đúng giá sàn do Nhà nước qui định

• Dịch bệnh xuất hiện nhiều

• Chi phí đầu vào cao

• Thiếu vốn trong sản xuất

• Thiếu công nghệ trong sản xuất lúa

• Thiếu kho dự trữ lúa, thiếu sân phơi lúa

• Bán thông qua “Cò lúa”

• Không kiểm soát được chất lượng đầu vào

• Có uy tín, có mối quen

• Được công ty hỗ trợ vốn

• Biết được thông tin về giá cả thị

trường một cách thường xuyên

• Có sẵn nguồn vốn từ gia đình

• Giao thông thuận lợi

• Nhiều nguồn đầu vào đầu ra

• Giá cả biến động thất thường

• Cạnh tranh giữa các thương lái

• Thiếu kho chứa để dự trữ lúa

• Thiếu vốn trong mua bán lúa

• Không đăng ký kinh doanh nên không được hỗ trợ khi vay vốn trong kinh doanh

• Lợi nhuận thấp

Trang 26

1.5 Giới thiệu sơ lược về tỉnh Tiền Giang

Tỉnh Tiền Giang nằm ở tả ngạn Sông Tiền, giáp với biển Đông Chiều dài Sông Tiền chảy qua địa phận Tỉnh Tiền Giang là 103 km, có chiều dài bờ biển Đông là 32 km Nằm trên trục giao thông quan trọng của cả nước, là cửa ngỏ vào Miền Tây Nam Bộ một địa bàn giao lưu khối lượng lớn nông sản, hàng hóa của miền Tây với Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông Nam

Bộ

a) Tọa độ địa lý: Tiền Giang nằm trong giới hạn:

- Từ 105049' 07" đến 106048'06" kinh độ Đông

- Từ 10012'20" đến 10035'26" vĩ độ Bắc

b) Ranh giới hành chính: Được xác định như sau:

- Phía Đông giáp biển Đông

- Phía Tây giáp Tỉnh Đồng Tháp

- Phía Nam giáp Tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long

- Phía Bắc giáp Tỉnh Long An, Thành phố Hồ Chí Minh

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh 250.830,33 ha (chiếm 6,17% DTTN của ĐBSCL), dân số 1.677.986 người (chiếm 10,06%), gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 8 huyện) với 169 đơn vị cấp xã (7 thị trấn,

16 phường, 146 xã) Trong đó, thành phố Mỹ Tho (đô thị loại 2), là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh, đồng thời cũng là trung tâm, là hội điểm giao lưu văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch từ lâu đời của các tỉnh trong vùng, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90 km về hướng Bắc

Nhìn chung, với các điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế và giao thông thủy

bộ, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng… Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam

Trang 27

Khí hậu

Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long với đặc điểm: Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm Khí hậu phân hóa thành hai mùa tương phản rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc

Trang 28

hợp cho trồng cây ăn trái

Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% diện tích tự nhiên với 36.621,23 ha, chiếm phần lớn diện tích huyện Gò Công Đông, Gò Công Tây, Tân Phú Đông, thị xã

Gò Công và một phần huyện Chợ Gạo Về bản chất, đất đai thuận lợi như nhóm đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc thường xuyên

Việc trồng trọt thường chỉ giới hạn trong mùa mưa có đủ nước ngọt, ngoại trừ các loại cây chịu lợ như dừa, sơri, cói Một ít diện tích được tiếp ngọt về hoặc có trữ nước mưa trong ao thì có thể tiếp tục trồng trọt vào mùa khô Loại đất này khi có điều kiện rửa mặn sẽ trở nên rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp với chủng loại cây trồng tương đối đa dạng

Chương trình ngọt hóa Gò Công bằng biện pháp ngăn mặn và đưa nguồn nước ngọt dồi dào về đã mở ra một diện tích lớn đất tăng vụ mùa khô hoặc đầu mùa khô Riêng đất ven biển là thích nghi cho rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản

Nhóm đất phèn: Chiếm 19,4 % diện tích tự nhiên với 48.661,06 ha, phân

bố chủ yếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc 3 huyện Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước Đây là loại đất hình thành nên trầm tích đầm lầy ven biển tạo thành trong quá trình biển thoái, nên loại đất này giàu hữu cơ và phèn Hiện nay, ngoài tràm và bàng là 2 cây cố hữu trên đất phèn nông, đã tiến hành trồng khóm và mía có hiệu quả ổn định trên diện tích đáng kể Ngoài ra, một số diện tích khác cũng đã bước đầu được canh tác có hiệu quả với một số mô hình như trồng khoai mỡ và các loại rau màu, trồng lúa 2 vụ và

cả trồng cây ăn quả trên những diện tích có đủ nguồn nước ngọt và có khả năng chống lũ

Đất phèn mặn chiếm diện tích nhỏ phân bố dọc bờ thấp (đất biền) bị ngập triều ven các lạch triều và bưng trũng

Nhóm đất cát giồng: Chỉ chiếm 3% diện tích tự nhiên với 7.524,91 ha, phân bố rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở huyện Gò Công Đông Do đất cát giồng có địa hình cao, thành

Trang 29

phần cơ giới nhẹ nên chủ yếu sử dụng làm thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu

Phần diện tích đất còn lại chủ yếu là sông rạch và mặt nước chuyên dùng

có tổng diện tích là: 18.842,25 ha, chiếm 7,51 % tổng diện tích tự nhiên được phân bố đều khắp các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh

Nhìn chung, đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa (chiếm 55 %), thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4 % là nhóm đất phèn và 14,6 % là nhóm đất phù sa nhiễm mặn… Trong thời gian qua được tập trung khai hoang, mở rộng diện tích, cải tạo và tăng vụ thông qua các chương trình khai thác phát triển vùng Đồng Tháp Mười, chương trình ngọt hóa Gò Công, đã từng bước mở rộng vùng trồng lúa năng suất cao, vườn cây ăn trái sang các huyện phía Đông và vùng chuyên canh cây công nghiệp thuộc huyện Tân Phước

Khu vực kinh tế nông nghiệp

Là khu vực kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (trên

45 % GDP), trong thời gian qua được quan tâm đầu tư phát triển tương đối toàn diện theo hướng đa dạng hóa cơ cấu sản xuất, phát huy thế mạnh của từng vùng sinh thái, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế

Về lương thực: Thành tựu nổi bật của sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua là sản lượng lương thực luôn đạt và vượt mục tiêu 1 triệu tấn/năm, sản lượng lương thực không những đáp ứng yêu cầu tại địa phương mà còn xuất ra ngoài tỉnh, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và cung ứng nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu

Về diện tích lúa: Diện tích gieo trồng cây lúa đạt 241.772 ha; sản lượng đạt 1,33 triệu tấn Diện tích cây màu thực phẩm ước đạt 37.841 ha, sản lượng đạt 620,5 ngàn tấn, tăng 4,9 % Diện tích cây ăn trái đạt 68,9 ngàn ha, tăng 1,9%, sản lượng thu hoạch 1,108 triệu tấn, tăng 13,5 % so năm 2010 Bên cạnh đó, tình hình dịch hại trên cây lúa diễn biến khá phức tạp, đặc biệt là rầy

Trang 30

nâu xuất hiện cao hơn cùng kỳ năm trước, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá tái xuất hiện trên diện rộng; xuất hiện bệnh chổi rồng trên trên 5.200 ha nhãn và UBND tỉnh cũng đã công bố dịch bệnh chổi rồng trên nhãn và thực hiện quyết liệt nhiều biện pháp phòng, chống đến nay tình hình cơ bản đã ổn định

Về năng suất: tăng khá nhanh từ 4,63 tấn/ha tăng lên 5,15 tấn/ha (2005), trong đó, cao nhất là vụ Đông Xuân (6,16 tấn/ha)

Về sản lượng: Trong vòng 10 năm, sản lượng lúa toàn tỉnh luôn đạt trên 1 triệu tấn/năm và biến động trong khoảng 1,2 - 1,3 triệu tấn/năm, trong đó tham gia xuất khẩu mỗi năm gần 200.000 tấn gạo

• Khu vực kinh tế công nghiệp

Tổng giá trị sản xuất công nghiệp: Năm 2000 đạt 1.178 tỷ đồng; đến năm

2005 đạt 2.626 tỷ đồng và đến năm 2010 đạt 8.521 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân (giai đoạn 2001 - 2010) khoảng 21,9 %/năm đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực II trong GDP của tỉnh Trong đó, khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng bình quân

19 %/năm; khu vực kinh tế nhà nước tăng bình quân 7,7 %/năm; khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng bình quân 25,6 %/năm

Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất (24,3

%); khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (chiếm tỷ trọng cao nhất trong ngành công nghiệp) tăng 20,1 %; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,5 % so với năm 2010

Tình hình thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp khá khả quan Đến nay, đã thu hút được 9 dự án với vốn đầu tư đăng ký gần 373,6 triệu USD Trong đó, KCN Tân Hương thu hút 5 dự án, cấp giấy chứng nhận đầu tư cho

4 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 16,7 triệu USD; KCN Long Giang đã thu hút và cấp giấy chứng nhận đầu tư 4 dự án, vốn đầu tư đăng ký 356,8 triệu USD, diện tích cho thuê 57,15 ha

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất công nghiệp vẫn còn những khó khăn, hạn chế như: nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu cho sản xuất

Trang 31

công nghiệp nhất là trong các khu công nghiệp, tuyển dụng lao động ở một số doanh nghiệp gặp khó khăn; cơ sở hạ tầng nối kết còn hạn chế; đa số các cơ

sở sản xuất công nghiệp có qui mô nhỏ, trình độ công nghệ chưa cao, sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp còn thấp Ngoài ra, tình hình an ninh trật tự tại khu công nghiệp cũng khá phức tạp cần được quan tâm giải quyết để không ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh

Tình hình phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh: Tỉnh

Tiền Giang được Chính phủ cho chủ trương thành lập 4 KCN là: KCN Mỹ Tho, KCN Tân Hương, KCN Long Giang, KCN Soài Rạp Đến nay các KCN

và CCN Trung An đã thu hút được 53 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký đầu

tư là 225,45 triệu USD và 1.620,9 tỷ đồng; đã thu hút được 12.000 lao động

đến làm việc Tình hình đầu tư cơ sở hạ tầng các KCN

Dân số: Tiền Giang là một tỉnh đông dân, qua các công tác điều tra dân số

năm 2010 dân số toàn tỉnh là 1,678 triệu người, mật độ dân số 669 người/km2(cao gấp 1,6 lần Đồng Bằng Sông Cửu Long và 3 lần so với cả nước) Trong

10 năm 2000 - 2010 dân số tang 64.369 người, bình quân mỗi năm tang them

6.437 người, tốc độ tăng bình quân 0,39 %/năm

Lao động: Lao động trong độ tuổi của tỉnh Tiền Giang tăng từ 851.747

người năm 2000 (52,63 % dân số); năm 2005 là 926.458 người (54,53 % dân số); năm 2010 là 988.718 người (58,92 % dân số) Trong 10 năm (2001 - 2010) lao động trong độ tuổi tăng thêm 136.971 người, bình quân hàng năm tăng thêm 13.697 lao động mới

Giao thông đường bộ: Tổng chiều dài mạng lưới giao thông đường bộ của

Trang 32

án ngọt hóa Gò Công và dự án đê biển Gò Công Trên cơ sở các dự án trên, hàng trăm km kênh trục, kênh cấp 2 được nạo vét, 5 trục thoát lũ qua Quốc lộ

1 được khai thông, cùng với hàng chục cống ngăn mặn, tiêu úng và các trạm bơm điện được xây dựng hệ thống thuỷ lợi đã góp phần tích cực trong việc tăng vụ, tăng sản lượng, khai hoang mở rộng diện tích nông nghiệp, đa dạng hoá cây trồng và góp phần phát triển hệ thống giao thông thuỷ bộ, phục vụ nước sinh hoạt cho nhân dân

• Đánh giá chung về điều kiện t

Trang 33

tăng Quá trình phát triển kinh tế - xã hội

đã và đang tác động xấu đến môi trường như: ô nhiễm về bụi, không khí do xây dựng; ô nhiễm từ nước thải và chất thải ở các cơ sở sản xuất công nghiệp

- tiểu thủ công nghiệp; ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp do việc sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan…

Trang 34

Bảng 1.6: Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2011 của tỉnh Tiền

1.6 Tổng quan về địa phương khảo sát

Xã Bình An có diện tích tự nhiên 2.786,41 ha, vị trí nằm ở phía Tây Bắc

của thị xã Gò Công, tiếp giáp với 3 xã Bình Đông, Tây Trung, Long Chánh

Bảng 1.7: Hiện trạng sử dụng đất đến năm 2011 xã Bình Xuân

Chỉ tiêu Tổng số Đơn vị tính Cơ cấu (%)

1739,62 1646,5 1322,64 322,86 93,12 142,13

62,4 59,1 47,5 11,6 3,3 5,1

Trang 35

Đất phi nông nghiệp

nguồn thu nhập chính góp phần ổn định cuộc sống của người dân Trong

những năm qua, ngành nông nghiệp của địa phương có nhiều tiến bộ, việc áp

dụng các phương pháp mới, các mô hình mới vào trong sản xuất có nhiều

chuyển biến, cụ thể như: thực hiện thâm canh tăng năng suất; chủ động trong

việc lựa chọn các giống có năng suất và chất lượng cao trên cây lúa Trong

các loại cây trồng thì cơ cấu đất phục vụ sản xuất lúa chiếm đa số (70 %)

trong tổng diện tích đất nông nghiệp của xã

Cây lúa được gieo trồng phân tán tại các ấp trên địa bàn xã Sản xuất lúa

trong xã phát triển mạnh theo hướng chất lượng cao, đặc sản (diện tích sản

xuất lúa chất lượng cao hàng năm chiếm từ 50 -70 %) canh tác 3 vụ/năm

Diện tích gieo trồng và sản lượng lúa luôn tăng qua các năm từ giai đoạn 2001

- 2011 Tình hình tiêu thụ lúa chủ yếu là tư thuơng xuống mua, chưa có sự

liên kết giữa các doanh nghiệp với nông dân

Biểu đồ 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa xã Bình Xuân 2000 - 2011

Trang 36

Về dân số, năm 2010 dân số trung bình là 16.527, năm 2015 dân số trung bình là 18.253 Số người trong độ tuổi lao động: năm 2010 là 10.105, năm

2015 là 11.405 Số người lao động trong ngành nông nghiệp 6.194 (năm 2010), 5.132 (năm 2015) Người lao động trong ngành nông nghiệp chiếm nhiều hơn

1.7 Tình hình nghiên cứu hàm lượng KLN trong gạo trên thế giới

Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ gạo lớn trên thế giới Tuy nhiên, tuần san

Tân Thế kỷ số mới nhất và một số tờ báo khác của Trung Quốc ngày 15/2 như Kim Lăng vãn báo đã dẫn nghiên cứu của các chuyên gia nông nghiệp thuộc Đại học Nông nghiệp Nam Kinh cho biết có khoảng 10% trong số gạo bán trên thị trường nước này chứa hàm lượng kim loại Cadmium (Cd) vượt tiêu chuẩn Điều tra của một tờ báo tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc cho biết hơn 10.000 tấn gạo nhiễm độc kim loại Cadimi, một chất gây ung thư, đã bị một công ty quốc doanh tuồn ra các chợ tại tỉnh này suốt từ năm 2009, Gạo nhiễm độc Cadimi rất phổ biến tại Hồ Nam do đất, nguồn nước và không khí đều bị nhiễm bẩn ( gạo ở khu vực này vẫn được mua nhiều và gạo nhiễm Cd ở

Hồ Nam chủ yếu được xay xát từ lúa siêu sản) Nhưng dù có hàm lượng Cadimi vượt xa mức cho phép Kết luận trên được đưa ra sau khi các nhà nghiên cứu lấy mẫu 91 loại gạo từ các chợ tại 6 vùng sản xuất nông nghiệp tại Trung Quốc năm 2007 Kết quả xét nghiệm cho thấy 10 % số mẫu gạo có chứa hàm lượng kim loại Cadimi vượt chuẩn Sở dĩ gạo của lúa siêu sản có chứa Cd cao là do bộ rễ của chúng phát triển và có ưu thế về gen, nên bên cạnh khả năng hấp thụ các loại chất dinh dưỡng có trong đất mạnh hơn lúa thường, lúa siêu sản cũng có xu hướng hấp thụ Cd trong đất canh tác nhiều hơn lúa thường

Liên quan đến sức khỏe, và mối quan tâm đặc biệt về dinh dưỡng, hai mươi (20) mẫu lúa gạo của các giống khác nhau và nguồn gốc thu được từ thị trường Mỹ đã được nghiên cứu cho 24 yếu tố bằng phương pháp khối phổ ghép plasma cảm ứng (ICP-MS) Asen trong Jasmine nâu và gạo trắng

Trang 37

(Hoàng gia Thái Lan), Basmati nâu và gạo trắng (Hoàng gia Ấn Độ), và Nishiki nâu và gạo trắng (JFC California, Mỹ) cũng được nghiên cứu bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp ghép khối phổ (HPLC – ICP - MS) với ICP-

MS Kim loại Selenium trong Basmati nâu và gạo trắng (Royal Ấn Độ) cũng được nghiên cứu bằng phương HPLC-ICP-MS Nghiên cứu này chỉ ra yếu tố thiết yếu được tích lũy nhiều trong gạo nâu Có các kim loại nặng Cadmium, Chì, Antimon, và Crom trong các mẫu lúa thử nghiệm, có 34 đến 333 ppb

Arsen được tìm thấy trong gạo Hàm lượng Arsen trong hầu hết các mẫu gạo

trắng trong khoảng 150 đến 225 ppb

Theo C ục Kiểm soát ô nhiễm của Thái Lan, trong 1.180 triệu tấn gạo sản

xuất tại huyện Mac Sot có đến 91 % bị tích tụ Cadimi, trong đó có 130 triệu

tấn là không an toàn lương thực Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Thái Lan đã công bố loại gạo nổi tiếng Hương Lài (Jasmine) của vùng Phra That Phadaeng thuộc huyện Mac Sot, tỉnh Tak của nước này (từng đoạt giải thưởng trong nước các năm 2002-2003), đã chứa hàm lượng cadmi ở mức không thể chấp nhận được IWMI dự báo nạn ô nhiễm gạo bởi cadmi đã ảnh hưởng đến 50.756 cư dân thuộc 8 địa phương trong khu lòng chảo nói trên và 106.413 cư dân ở huyện Mac Sot - những người trực tiếp tiêu thụ lương thực,

thực phẩm từ các làng nói trên

Ở Mỹ, người ta cũng đã nghi ngờ có sự ô nhiễm nhôm trong sữa bột Năm

1989, người ta đã mổ tử thi hai em bé và phát hiện hàm lượng nhôm rất cao ở não của hai em bé đó Những nghiên cứu khoa học tiến hành ở Mỹ tại các xí nghiệp sản xuất nhôm đã đi đến kết luận: khi hít phải nhôm bụi vào phổi với

thời gian dài cũng gây ra nguy cơ suy thoái não theo kiểu bệnh Alzheimer

Việc xâm nhập nhôm vào cơ thể còn do các loại thuốc chống tan để làm nhẹ các vết bỏng của dạ dày, cũng như các loại thuốc khử mùi mồ hôi (như hôi nách) làm ngăn cản sự thoát mồ hôi Các loại thuốc chữa bỏng dạ dày chứa các loại muối nhôm có tác dụng trung hoà lượng axit tăng lên trong dạ dày

Trang 38

Những người uống loại thuốc đó hàng ngày đã hấp thụ một lượng nhôm cao

gấp 5 lần so với lượng nhôm chứa trong thức ăn hàng ngày

1.8 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên c ứu của TS Nguyễn Mạnh Khải, Khoa Môi trường, Đại học Khoa

h ọc Tự nhiên Hà Nội cùng các đồng nghiệp: được tiến hành tại làng nghề tái

chế nhôm xã Văn Môn (huyện Yên Phơng), làng nghề tái chế sắt phường Châu Khê (thị xã Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh Mẫu lúa (gạo) được lấy tại ruộng

của 2 làng nghề và 2 vùng đối chứng tương ứng Hàm lượng Pb, As trung bình của gạo trồng tại 2 làng nghề đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 2 vùng đối chứng nhưng vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo quy định của Bộ Y

tế Liều lượng kim loại nặng đưa vào hàng tuần (AWD) của Pb, As đối với người dân từ gạo sống ở 2 làng nghề Văn Môn và Châu Khê cao hơn gần 1,5-

2 lần so với AWD tương ứng của vùng đối chứng nhưng vẫn tháp hơn so với PTWIPb và PTWIAs (ngưỡng liều lượng an toàn) theo khuyến nghị của JECFA/WHO

Tình hình ô nhiễm As trong đất mỏ ở Việt Nam: Các dạng ô nhiễm môi

trường tại các mỏ đã và đang khai thác khoáng sản rất đa dạng như ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm và là một thực tế đáng báo động cần sớm có giải pháp xử lí Công đoạn nào của quá trình khai thác khoáng sản cũng gây nên ô nhiễm kim loại vào đất, nước, không khí và vào cơ thể sinh vật Sự nhiễm bẩn kim loại không chỉ xảy ra khi mỏ đang hoạt động mà còn tồn tại nhiều năm sau khi mỏ ngưng hoạt động Kết quả thăm dò địa chất đã phát hiện được khoảng 5000 mỏ và điểm quặng, trong đó mỏ khoáng sản kim loại là 90 Diện tích đất đã sử dụng trong khai thác thiếc là trên 300 ha, trong khi đó diện tích được hoàn thổ chỉ là 55,8 ha, chiếm gần 20% Tuy nhiên, đất đã được hoàn thổ thì chất lượng kém chưa đáp ứng cho việc canh tác Theo kết quả phân tích đất trồng ở khu vực mỏ thiếc Sơn Dương (Tuyên Quang) có hàm lượng

As là 642 mg/kg trong khi quy chuẩn của Việt Nam cho đất dân sinh là 12 mg/kg (QCVN 03:2008) Trước đó, Nguyễn Văn Bình và cộng sự 2000 khi

Trang 39

nghiên cứu sự phân bố của As trong khu vực mỏ thiếc này cũng đã xác định

sự có mặt của As trong các mẫu đất, nước, bùn thải ven suối cao hơn tiêu chuẩn cho phép và là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Một số tác giả, khi nghiên cứu hàm lượng của KLN tại một số vùng khai thác

mỏ đặc trưng của Việt Nam cho rằng, hàm lượng As trong hầu hết các mẫu đất và trầm tích tại các mỏ nghiên cứu vượt QCVN 03:2008 cho đất dân sinh nhiều lần

Theo ngu ồn tin từ trang web diễm đàn dân trí ngày 30/4/2011: Các nhóm

thực phẩm thường xuyên có trong khẩu phần ăn của trẻ 2 - 3 tuổi nhiễm hàm lượng kim loại nặng vượt mức cho phép trong 1 nghiên cứu của Viện dinh dưỡng đã làm nhiều người lo lắng.Kết quả nghiên cứu 12 nhóm thực phẩm có trong khẩu phần ăn của trẻ từ 24 - 36 tháng tuổi ở 4 quận nội thành Hà Nội được Viện Dinh dưỡng quốc gia vừa đưa ra cho thấy, nhiều mẫu có hàm lượng kim loại nặng vượt ngưỡng cho phép Theo đó, nhóm thực phẩm ăn hàng ngày bị nhiễm chì cao nhất ở rau muống và thịt heo (5/8 mẫu nhiễm chì), sau đó đến gạo (5/12 mẫu) Tôm, cam và quýt có 1/4 số mẫu vượt quá tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng chì Về chỉ tiêu kim loại nặng Cadmi, thực

phẩm vượt quá quy định cho phép của Bộ Y tế nhiều nhất là gạo (3/12 mẫu),

thịt heo 2/8 mẫu, thịt bò 2/4 mẫu Theo quy định của Bộ Y tế, giới hạn chì tố

quá hàm lượng này đều gây ảnh hưởng nhiều tới sức khoẻ ngườ

1.9 Đánh giá rủi ro của chất ô nhiễm trong thực phẩm đến sức khỏe con

người

1.9.1 Đánh giá rủi ro sức khỏe theo định nghĩa của Codex

Đánh giá rủi ro sức khỏe theo định nghĩa của Codex liên quan đến “Đánh giá khoa học xảy ra của các tác động bất lợi đến sức khỏe được biến đến hoặc

tiềm năng từ sự phơi nhiễm của con người vớ những mối nguy hại thực

phẩm” (Anony mous 1995)

Bốn bước chính trong quy trình bao gồm :

Trang 40

- Nhận biết mối nguy hại

- Đặc tính mối nguy hại

- Đánh giá phơi nhiễm

- Đặc tính rủi ro

Định nghĩa bao gồm cả sự diễn tả định lượng và định tính của các rủi ro cho việc đánh giá bất kỳ mối nguy hại nào tới súc khỏe con người đòi hỏi 2

yếu tố đặc trưng cơ bản:

- Sự phơi nhiễm của cộng đồng người đến các mối nguy hại xác định

- Sức chịu đựng của dân số đến một cấp độ phơi nhiễm nào đó

Những tác động sức khỏe có hại riêng lẻ liên quan đến những mầm bệnh nhiễm các kim loại nặng thường là kết quả từ một sự phơi nhiễm cấp tính,thay

vì tiếp xúc lâu dài mãn tính với một số bệnh do những kim loại nặng gây ra

Ngày đăng: 26/04/2014, 12:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 0.1: Sơ đồ trình tự nghiên cứu - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 0.1 Sơ đồ trình tự nghiên cứu (Trang 6)
Bảng 1.2. Hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp ở một số vùng của - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Bảng 1.2. Hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp ở một số vùng của (Trang 18)
Hình 1.1:  G ạo Hương Lài và lúa gạo Thơm Đài Loan - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 1.1 G ạo Hương Lài và lúa gạo Thơm Đài Loan (Trang 19)
Hình 1.2: Các sản phẩm và phế phẩm được sản xuất từ trồng lúa - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 1.2 Các sản phẩm và phế phẩm được sản xuất từ trồng lúa (Trang 20)
Bảng 1.6:    Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2011 của tỉnh Tiền - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Bảng 1.6 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2011 của tỉnh Tiền (Trang 34)
Hình 1.3:  Mô hình HRA - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 1.3 Mô hình HRA (Trang 41)
Hình 1.4:  Sơ đồ các con đường phơi nhiễm - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 1.4 Sơ đồ các con đường phơi nhiễm (Trang 42)
Bảng 2.1:       Tổng hợp số liệu lấy mẫu tại xã Bình Xuân - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu lấy mẫu tại xã Bình Xuân (Trang 44)
Bảng 2.2.   Phiếu khảo sát một số của hàng bán gạo trên địa bàn xã Bình - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Bảng 2.2. Phiếu khảo sát một số của hàng bán gạo trên địa bàn xã Bình (Trang 46)
Bảng 2.3: Phiếu khảo sát một số hộ gia đình sử dụng gạo trên địa bàn xã Bình  Xuân - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Bảng 2.3 Phiếu khảo sát một số hộ gia đình sử dụng gạo trên địa bàn xã Bình Xuân (Trang 47)
Hình 2.4: Ống thạch anh (tế bào hấp thu) - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 2.4 Ống thạch anh (tế bào hấp thu) (Trang 51)
Hình 2.9:  Hệ thống nguồn của ICP – MS - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 2.9 Hệ thống nguồn của ICP – MS (Trang 53)
Hình 2.8: Cấu tạo chung của quá trình phân tích mẫu - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 2.8 Cấu tạo chung của quá trình phân tích mẫu (Trang 53)
Hình 2.10: Quá trìn h phân tích mẫu trên thiết bị ICP - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
Hình 2.10 Quá trìn h phân tích mẫu trên thiết bị ICP (Trang 54)
5.1. Sơ đồ nghiên cứu ............................................................................. - nghiên cứu hàm lượng một số kim loại năng (as, cd, pb) trọng gạo trên địa bàn tỉnh tiền giang và ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe người tiêu dùng
5.1. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w