1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở việt nam

45 523 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam
Người hướng dẫn PHS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị kinh doanh
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và trong khuôn khổ đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về: "Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong công cuộc CNH - HĐH đất nước hiện nay, Nhà nước ta khẳng địnhphải dựa vào nội lực là chính, tuy nhiên xuất phát từ điều kiện của nước ta làmột nước có nền kinh tế yếu kém, điểm xuất phát thấp cơ sở hạ tầng lạc hậu, thunhập quốc dân và thu nhập thấp Vì vậy nguồn vốn để CNH - HĐH trước mắtphụ thuộc nhiều từ nước ngoài mà chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài

Để thu hút đầu tư nước ngoài cho công cuộc phát triển của quốc gia, khucông nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) được đánh giá là một nhân tố quantrọng Vì ở đó các công trình hạ tầng cơ sở được tập trung, đầu tư nhanh với chấtlượng cao, hình thành các dịch vụ cần thiết và các thủ tục đơn giản đáp ứng yêucầu của các nhà đầu tư Nhiều nước đã thành công trong công cuộc CNH - HĐHxây dựng những KCN, KCX như vậy

Ở Việt Nam hiện nay KCN, KCX đã trở thành những thực thể kinh tế - xãhội không thể thiếu trong nền kinh tế, KCN,KCX đã góp phần tẳng sản lượngcông nghiệp, tăng xuất khẩu, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập người dân hìnhthành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, có được sự thành công này là do chính sáchrộng mở của Nhà nước ta nhằm thu hút FDI cho phát triển KCN, KCX Và trênthực tế lượng vốn FDI chiếm tỷ lệ rất cao trong KCN, KCX

Như vậy, để tiếp tục phát triển KCN, KCX ở Việt Nam chúng ta cần thuhút nhiều hơn nữa các nguồn vốn vào KCN, KCX đặc biệt là FDI Và trong

khuôn khổ đề tài này sẽ tập trung nghiên cứu về: "Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn Đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam".

Trang 2

Mặc dù đã có nhiều sự cố gắng và nỗ lực trong quá trình thực hiện bàiviết Nhưng chắc chắn bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót Em mongnhận được sự góp ý từ phía thầy giáo để bài viết trở nên hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cám ơn thầy giáo đã hướng dẫn giúp em hoàn thành đềtài này!

Trang 3

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC

NGOÀI VÀ KCN, KCX

1 Một số lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa với quy mô và tốc độ này cànglớn, tạo ra một nền kinh tế sôi động mà ở đó tính phụ thuộc giữa các nước cácquốc gia ngày càng tăng Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học côngnghệ và cách mạng thông tin đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấukinh tế tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia Đặc biệt là nhu cầu vốnđầu tư phát triển để công nghiệp hoá hiện đại hoá của các nước phát triển rấtlơn Mặt khác các nước phát triển đồi dào vào vốn và công nghệ muốn tìm kiếmnhững nơi thuận lợi, chi phí thấp để hạ giấ thành sản phẩm và chiếm lĩnh thịtrường tiêu thụ Chính vì vậy tạo nên một sự thu hút mạnh mẽ với đầu tư nướcngoài và đặc biệt phổ biến nhất vẫn là hình thức đầu tư trực tiếp

Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư quốc tế chủ yếu mà nhà đầu tư nướcngoài đầu tư toàn bộ hay phần lớn vốn đầu tư của các dự án nhằm giành quyềnđiều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanhdịch vụ

Đầu tư trực tiếp nước ngoài có các đặc điêm sau:

- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn của các nhà đầu tư họ tự quyết địnhđầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Hìnhthức này mang tính khả thi và hiệu qảu cao

- Chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ mọi hoạt động đầu tư nếu làdoanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp hoạtđộng tuỳ theo tỷ lệ góp vốn của mình

- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước chủ nhà có thể tiếp nhậnđược công nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm tổ chức quản lý là các mục tiêu

mà các hình thức khác không giải quyết được

Trang 4

- Nguồn vốn này không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tưdưới hình thức vốn pháp định và trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cảvốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như đầu tư lợinhuận thu được.

1.2 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hơn 10 năm kể từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đầu

tư trực tiếp nước ngoài đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được có tốc độphát triển nhanh nhất trong các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta đónggóp tích cực và ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, làmột nhân tố góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới kinh tế

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang phạm vi quốc tế Nó manglại lợi ích cho cả hai bên và đồng vốn đầu tư bỏ rất rất hiệu quả

Đặc biệt là ở các nước đang phát triển nó giải quyết được các vấn đề:

- FDI tăng cường vốn đầu tư bù đắp sự thiếu hụt về ngoại tệ góp phầntăng khả năng cạnh tranh và tăng xuất khẩu, bù đắp cán cân thnh toán

- FDI góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động tạođiều kiện tích luỹ trong nước

- FDI sẽ chuyển giao công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn,trình độ quản lý tiên tiến cho nước nhận đầu tư Xét về lâu dài điều này sẽ gópphần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thúc đẩy các ngành nghề mới đòihỏi hàm lượng công nghệ cao như điện tử tin học Chính vì vậy nó có tác dụnglớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng trưởngnhanh của nước nhận đầu tư

Từ sự chuyên giao này cũng giúp cho các nước chủ nhà có được thuật tiêntiến, kinh nghiệm trong quản lý, đội ngũ cán bộ lao động được bồi dưỡng đàotạo nhiều mặt

- FDI giúp các nước nhận đầu tư trực tiếp tiếp cận được với thị trường thếgiới, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong xu hướng khu vực hoá toàn cầu hoá

Ngày nay đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một tất yếu khách quantrong điều kiện quốc tế hoá nên sản xuất lưu thông Các quốc gia trên thế giới dù

Trang 5

có thể chế chính trị khác nhau đều cần đến vốn đầu tư nước ngoài và coi đó làmột nguồn lực cần khai thác.

Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có một số ít hạn chế cầnđược khắc phục như việc quản lý vốn do chủ đầu tư có kinh nghiệm về tranh sựquản lý của nước chủ nhà Còn nước chủ nhà không có nhiều kinh nghiệm, còn

sơ hở trong quản lý hoạt động các cơ sở có vốn nước ngoài Tình trạng gin lậnthuế, buôn lậu, ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra Tuy nhiên với vai trò to lớn củaFDI Để nhằm khắc phục những hạn chế phát huy tính tích cực nhà nước ta đã

đề ra nhiều các chính sách nhằm xác định các địa bàn dự án lĩnh vực ưu tiênkhuyến khích đầu tư giành lại chữ "tín" của cộng đồng đầu tư nước ngoài nhằmthu hút nhiều hơn nữa FDI vào Việt Nam

1.3 Các hình thức FDI trong thực tiễn

Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốnđầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng Trong nguồn vốnnước ngoài, FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với nước ta Vai trò củaFDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với nước ta, vai trò của FDI trongnhững năm qua đã được khẳng định, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và pháttriển kinh tế đất nước Đầu tư nước ngoài hiện chiếm khoảng trên 13% GDP cảnước

Cạnh tranh thu hút vốn đầu tư cũng đang diễn ra quyết liệt giữa nước tavới nhiều nước khác trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước khu vựcĐông và Nam Âu, khu vực Đông Nam Á với hoàn cảnh tương tự, nhưng có một

số mặt lợi thế hơn ta Nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đang có xuhướng chững lại Giai đoạn 1991 -1995 vốn đầu tư nước ngoài chiếm trênkhoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, giai đoạn 1996-2002 chỉ chiếm hơn18,5%

Trong thực tiễn FDI có nhiều hình thức thường được áp dụng là:

* Hợp đồng hợp tác kinh doanh theo quy định điều 7 nghị định 12/CPHợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết quả hai bên hay nhiều bên quy

Trang 6

định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu

tư kinh doanh ở Việt Nam mà không cần thành lập pháp nhân

Hình thức này có đặc điểm:

- Không ra đời một pháp nhân mới

- Cơ sở của hình thức này là hợp đồng hợp tác kinh doanh Trong hợpđồng nội dung chính phản ánh trách nhiệm quyền lợi giữa các bên với nhau(không cần đề cập đến việc góp vốn)

- Thời hạn cần thiết của hợp đồng do các bên thoả thuận phù hợp với tínhchất mục tiêu kinh doanh và được các cơ quan cấp giấy phép kinh doanh chuẩny

- Hợp đồng phải do đại diện có thẩm quyền của các bên ký Trong quátrình hợp tác kinh doanh các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình

* Doanh nghiệp liên doanh:

Theo khoản 2 điều 2 luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam quiđịnh "Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tácthành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữaChính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ nước ngoàihoặc doanh nghiệp có vốn đầ tư nước ngoài hợp tá với doanh nghiệp Việt Namhoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sởhợp đồng liên doanh

Hình thức này có đặc điểm:

- Thành lập pháp nhân mới hoạt động trên nguyên tắc hạch toán độc lậpdưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Các bên chịu trách nhiệm về phầnvốn của mình

- Phần góp vốn của bên hoặc do bên nước ngoài không hạn chế mức tối

đa nhưng tối thiểu không được dưới 30% vốn pháp định và trong quá trình hoạtđộng không giảm vốn pháp định

- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp liên doanh là hội đồngquản trị mà thành viên của nó do mỗi bên chỉ định tương ứng với tỷ lệ góp vốncủa các bên nhưng ít nhất phải là 2 người, Hội đồng quản trị có quyền quyết

Trang 7

định những vấn đề quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp theo nguyêntắc nhất trí.

- Các bên tham gia liên doanh phân chia lợi nhuận và phân chia rủi rotheo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên trong vốn pháp định hoặc theo thoả thuận giữacác bên

- Thời hạn hoạt động không quá 50 năm trong trường hợp đặc biệt đượckéo dài không quá 20 năm

* Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Theo điều 26 nghị định 12/CP qui định: "Doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thành lậptại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh

"Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công tytrách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Thời hạnhoạt động không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy phép

Ngoài 3 hình thức chủ yếu trên còn có các hình thức:

* Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT):

Theo điều 12 khoản 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: "Hợp đồngxây dựng - kinh doanh - chuyển giao là văn bản ký giữa cơ quan có thẩm quyềncủa Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kinh doanh công trình kếtcấu hạ tầng trong thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyểngiao không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam"

Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh là văn bản ký kết giữa cơquan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài xây dựngcông trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoàichuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam Chính phủ Việt Nam dànhcho nhà đầu tư kinh doanh trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư vàlợi nhuận hợp lý

* Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT):

Theo khoản 13 điều 2 luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam "Hợp đồng xâydựng chuyển giao là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của

Trang 8

Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng kết cấu hạ tầng Sau khi xâyxong nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam.Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện các dự

án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý"

Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO) trongtài liệu: "Khu chế xuất tại các nước đang phát triển" ấn hành 8/1990 đã địnhnghĩa: "KCX là khu vực tương đối nhỏ phân cách về địa lý trong quốc gia nhằmmục tiêu thu hút vốn đầu tư các ngành công nghiệp về xuất khẩu, bằng cáchcung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịchthuận lợi đặc biệt hơn so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà Trong đó,KCX nhập khẩu hàng hóa dịch vụ cho việc sản xuất để xuất khẩu và được miễnthuế trên cơ sở kho khóa cảng" (kho khoá cảng là khu hàng hóa được nhập vào

tự do mà không chịu thuế tại xuất trừ các loại hàng hóa nhập vào bằng conđường khác từ thị trường nội địa)

Hiệp hội các KCX (World EPZ Asociation) thì định nghĩa là: "KCX baohàm các khu vực, địa bàn do chính phủ nước sở tại cho phép thành lập như cảng

tự do, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do, khu ngoại thương"

Mặc dù có nhiều sự nhìn nhận đánh giá về KCX nhưng nhìn chung thì nócùng mang những đặc thù giống nhau và điển hình là:

Trang 9

- Nhập khẩu miễn thuế NVL và thủ tục giản đơn KCX không phải nộpthuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu sản phẩm Tuy nhiên những hàng hóa sảnxuất trong khu chế xuất cũng có thể bán trong thị trường nội địa nếu thị trườngnội địa có nhu cầu.

- Những doanh nghiệp trong khu chế xuất được hưởng mức thuế lợi tức là10% là mức thuế thấp nhất và được miễn thuế thu nhập công ty trong 4 năm kể

từ khi kinh doanh có lãi và giảm tiếp 50% trong 4 năm tiếp theo

- Những doanh nghiệp trong KCX thường được cung cấp thủ tục hải quannhanh chóng cho việc nhập khẩu vật liệu và xuất khẩu hàng hóa

- Những doanh nghiệp trong KCX được sử dụng cơ sở hạ tầng tốt nhưđường sá, điện thoại, điện tín

b Khu công nghiệp.

Theo nghị định số 192/CP ngày 25.12.1994 của Chính phủ, các KCNđược định nghĩa là: Các khu vực công nghiệp tập trung không có dân cư, đượcthành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợsản xuất

Việc lựa chọn vị trí để xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất là rấtquan trọng đòi hỏi phát huy được thế mạnh tiềm năng kinh tế của từng vùng

2.2 Sự cần thiết phải phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất trong nền kinh tế

Trang 10

Trong thời kỳ CNH, HĐH việc xây dựng các cụm công nghiệp tập trung

là cần thiết và được nhà nước khuyến khích Từ năm 1994 các KCN được xâydựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện để cho đầu tư nướcngoài và đặc biệt khuyến khích DN nhỏ và vừa gia nhập các khu công nghiệp.Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các cụm CN so với phát triển công nghiệptản mạn là đảm bảo tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lýmôi trường mặt khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi Các KCN, KCX được hìnhthành cũng nhằm sự phân tán các cơ sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống, vừakhông thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vừagây ô nhiễm môi trường xung quanh khu dân cư, làm ảnh hưởng đến đời sốngcủa cộng đồng dân cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khoẻ của ngườidân

Từ đầu những năm 90 đến nay sau khi xuất hiện những khu công nghiệp

và khu chế xuất ở Việt Nam và kiểm nghiệm lại kinh nghiệm của một số nướcđang phát triển đi trước chúng ta khẳng định được vai trò quan trọng của KCN,KCX Việc tập trung các doanh nghiệp chế biến nhằm thu hút vốn đầu tư nướcngoài và vốn đầu tư trong nước đã nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất thúc đẩytiến bộ khoa học công nghệ xây dựng các ngành mũi nhọn nâng cao vị trí chủđạo của công nghiệp trong nền chế biến nông lâm hải sản hỗ trợ các ngành này

và phục vụ xuất khẩu phân bố lại các khu vực san xuất và sinh hoạt thực hiện đôthị hóa nông thôn chuyển dời các cơ sở sản xuất từ nội đô ngoại vi, cải tạo môitrường sống cho dân cư đô thị, tạo thêm nhiều việc làm cho lao động thành phố

và nông thôn

Việc thành lập khu chế xuất, khu công nghiệp là tạo ra các khu vực thuậnlợi hơn cho việc phát triển kinh tế thu hút đầu tư Chính vì vai trò to lớn củaKCN, KCX rất cần thiết ở nước ta Chỉ có KCX, KCN mới tạo ra được bướcnhảy vọt, tạo ra nền kinh tế phát triển bền vững Chọn được địa điểm vị trí vàqui hoạch KCN, KCX cùng các đối tác hợp lý sẽ tạo ra cho nước ta một bộ mặtmới

3 Cơ cấu của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trang 11

Cơ cấu của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng thay đổi phù hợphơn với yêu cầu dịch chuyển cơ cấu kinh tế của đất nước Những năm đầu, vốnFDI tập trung phần lớn vào thăm dò, khai thác dầu khí (32,2) và khách sạn dulịch, căn hộ cho thuê (20,6)% Nhưng những năm gần đây, đầu tư vào khu vựcsản xuất vật chất của nền kinh tế (nhất là lĩnh vực công nghiệp) ngày càng giatăng hiện chiếm 2/3 tổng nguồn vốn đầu tư chung Trong đó, trên 60% số dự án

là đầu tư khai thác nâng cấp các cơ sơ kinh tế hiện có Cơ cấu ngành nghề đượcđiều chỉnh theo hướng ngày càng hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực sản xuấthàng xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất công nghiệp,chế biến nông lâm thủy sản và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, sử dụngnhiều lao động, ứng dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại Sự xuất hiện củanhiều công trình luôn như các nhà máy xi mâng Nghi Sơn, Sao Mai, Văn Xá,Phúc Sơn, Hải Long, các nhà máy cán thép ở Hải Phòng, Thái Nguyên, ĐồngNai, các nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy các dự án liên lạc viễn thông,điện tử, các nhà máy đường ở Ninh Bình, Thanh Hóa, Long An Góp phần tăngnhanh năng lực sản xuất của các ngành, các địa phương, và từng bước hiện đạihóa một số lĩnh vực của nền kinh tế

Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo lãnh thổ ngày một cân đối hơn Trongnhững năm đầu, vốn đầu tư được tập trung chủ yếu ở khu vực phía nam, cáctỉnh phía Bắc chỉ chiếm 25%số dự án và 20% tổng vốn đầu tư Nhưng đến cuốinăm 1999, các tỉnh phía Bắc đã chiếm 28,5% số dự án và 39%vốn đầu tư Trừviệc thăm dò và khai thác dầu khí thềm lục địa, trên 80%vốn đầu tư được tậptrung vào 3 vùng kinh tế trọng điểm là nơi có nhiều thuận lợi về kết cấu hạ tầng

và thị trường để đem lại hiệu quả sản xuất cao nhất

Hiện đã có hàng ngàn công ty nước ngoài thuộc 62 nước trong vùng lãnhthổ có dự án FDI ở Việt Nam, trong đó ngày càng xuất hiện nhiều tập đoàn,công ty xuyên quốc gia lớn, có năng lực về tài chính và công nghệ cao Ngoài

ra, chúng ta cũng chủ trương thu hút FDI của các doanh nghiệp vừa và nhỏ củanước ngoài vì đó là các doanh nghiệp năng động, thích ứng nhanh với biến độngcủa thương trường, phù hợp với đối tác Việt Nam về khả năng góp vốn, năng

Trang 12

lực tiếp thu công nghệ kinh nghiệm tổ chức quản lý, có điều kiện tạo nhiều việclàm mới Khoảng ba phần tư vốn đầu tư nước ngoài là từ các nước NICs Đông á,ASEAN, Nhật Bản

Tham gia hợp tác đầu tư với nước ngoài hiện nay chủ yếu là các doanhnghiệp quốc doanh Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiện mới có 140 dự ánliên doanh với nước ngoài (chiếm 7,8% dự án) với số vốn đăng ký là 562 triệuUSD (chiếm 1,8% vốn đăng ký) Hình thức đầu tư chủ yếu hiện nay vẫn làdoanh nghiệp liên doanh, chiếm tới 61% số dự án và 70% vốn đầu tư Do chínhsách của Việt Nam đối xử công bằng giữa các doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài theo hình thức 100% vốn nước ngoài có xu hướng tăng lên, hiện chiếm30% số dự án và 20%vốn đầu tư Đầu tư theo 100% vốn của Hàn Quốc, NhậtBản, Đài Loan cao hơn các quốc gia khác

Đến cuối năm 1998 DTNN chiếm 100% công suất khai thác dầu thô, sảnxuất lắp ráp ô tô, xe máy, tủ điện, máy in, máy giặt, tủ lạnh điều hoà nhiệt độ,máy thu băng, đầu video, sỏi PE, PES, chiếm khoảng 70% chế biến thép và kếtcấu thép, điển hình các loại: gần 43% cán thép,55% kéo sỏi, 40,7% sản phẩmmay mặc, 32% sản xuất giàydép, 21,2% xi măng, 18% chế biến thực phẩm, 14%hoá chất Tính chung, đầu tư nước ngoài đã tạo ra 25% giá trị sản xuất toànngành công nghiệp và gần 9% GDPchung của cả nước

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta đã du nhập những côngnghệ hiện đại trong các lĩnh vực viễn thông, khai thác dầu khí, hoá chất, điệntử…phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước Một số ngày

sử dụng nhiều, nguyên liệu trong nước như dệt may, sản xuất giày dép cũng cócông nghệ thuộc loại trung bình tiên tiến ở khu vực Nguồn vốn đầu tư nướcngoài cùng các phương thức kinh doanh đã tạo ra sự cạnh tranh ngay tại thịtrường trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phải đổi mới chất lượngsản phẩm và áp dụng phương pháp kinh doanh hiện đại Đầu tư nước ngoài gópphần tăng kim ngạch xuất khẩu và mở rộng nguồn thu ngân sách Năm 1999,kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bằng gấp 50lần so với năm 1991, chiếm 22,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Các

Trang 13

khoản nộp ngân sách từ các hoạt động đầu tư nước ngoài tăng nhanh trongnhững năm qua, năm 1994 là 128 triệu USD, năm 1996 là 263 triệu USD, từ

1997 đến nay khoảng trên 315 triệu USD, riêng năm 1999 giảm còn 260 triệuUSD, khu vực đầu tư nước ngoài đã giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 29vạn lao động, ngoài ra, còn gián tiếp tạo việc làm cho gần 1 triệu lao động trongcác ngành xây dựng, thương mại, dịch vụ liên quan đến đầu tư nước ngoài Thunhập bình quân của lao động Việt Nam trông doanh nghiệp đầu tư nước ngoàicao hơn cùng ngành nghề ở khu vực khác từ 30% - 50% bình quân tháng khoảng70USD và tổng thu nhập của lao động hàng năm tăng lên tới 300 - 350 triệuUSD

Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang gặp khó khăn lớn, cóchiều hướng giảm sút Hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài cònthiếu đồng bộ Một số văn bản dưới luật ban hành chậm, thậm chí "thắt lại" gâpkhó khăn cho thực hiện Việc vận dụng luật pháp chính sách còn hiện tượng tuỳtiện "trên thoáng dưới chặt"

Ngoài ra, tính ổn định của luật pháp chính sách chưa cao, chưa tạo ra sự

an tâm của các nhà đầu tư Công tác qui hoạch còn chậm, chưa chuẩn xác, việccấp pháp đầu tư vào một số sản phẩm, lĩnh vực vượt qua nhu cầu hoặc một sốnăm đầu cấp phép thiên về tiêu thụ trong nước, tuy bổ sung thêm hàng hoá chothị trường, nâng cao tính cạnh tranh, nhưng củng cố hiện tượng chèn ép sản xuấttrong nước Đầu tư trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp và vào các địa bàn khókhăn còn rất hạn chế Việc xúc tiến đầu tư chủ yếu là tuyên truyền chính sách,chưa đi vào các dự án công trình quan trọng điểm và chưa hướng mạnh vào cácthị trường đối tác có tiềm lực tài chính và công nghệ công tác quản lý Nhà nướcđối với hoạt động đầu tư nước ngoài còn những mặt yếu kém, vừa có hiện tượngbuông lỏng, vừa can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp Một số thủtục hành chính còn phiền hà dẫn đến tiêu cực của một số người thừa hành côngvụ

4 Kinh nghiệm của một số nước trong công cuộc phát triển KCN, KCX

Trang 14

KCN đầu tiên của thế giới thành lập ở Anh vào năm 1986, người ta sớmnhận ra ưu điểm của hình thức tổ chức này do đó số lượng của khu công nghiệpđược xây ngày càng tăng trên khắp thế giới.

Việt Nam là nước đi sau để thực hiện được mục tiêu "đi tắt đón đầu"trong phát triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm của các nước

đi trước để tiến hành phát triển KCN, KCX cho phù hợp với điều kiện phát triểncủa Việt Nam

4.1 Kinh nghiệm của Thái Lan

Vào những năm 60 luật KCN được ban hành từ đó cho đến nay có 40 khucông nghiệp hoạt động Nhà nước Thái Lan qui hoạch phát triển KCN dựa trênquy hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nước Những KCN do Nhà nước bảotrợ tuy bị lỗ nhưng vẫn xây dựng để đảm bảo cho phát triển như khu côngnghiệp Bắc Thái Lan Có khoảng 11 KCN được xây dựng tại những vùng khôngnằm trong qui hoạch miễn là họ có thị trường

Diện tích KCN, mặt bằng KCN có thể được mở rộng hơn so với diện tíchđược duyệt nếu được thoả thuận của người có đất mà mình được dùng Về quản

lý do cục quản lý KCN TháiLan và ngoài ra cục còn có chức năng kinh doanh

Về chính sách đối với xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, Nhà nướckhông ưu đãi cho vốn vay, tuy nhiên Nhà nước đứng ra bảo lãnh cho các Công

ty Nhà nước vay mà không phải thế chấp Mọi ưu tiên đều dành hết cho các khucông nghiệp trong nước Mọi khách hàng muốn đầu tư vào khu công nghiệp họ

sẽ được tạo điều kiện cần thiết để biết về KCN, nạng lưới KCN

4.2 Kinh nghiệm của Đài Loan

Đài Loan là một trong những quốc gia thành công trong việc phát triểnKCN, KCX Từ cuối những thập kỷ 50, Đài Loan đã nhận định được vị thế kinh

tế của mình là loại hình kinh tế hải đảo đất chật người đông, tài nguyên nghèonàn kinh tế phụ thuộc rất lớn vào ngành ngoại thương Vì vậy Đài Loan chỉ pháttriển những ngành công nghệp nhỏ sử dụng nhiều lao động Các xí nghiệp vừa

và nhỏ xuất hiện rất nhiều trong KCN, KCX và các doanh nghiệp này đượchưởng cơ sở hạ tầng thuận lợi cùng một số ưu đãi khác

Trang 15

Hiện nay Đài Loan có 3 KCX, 30 KCN, 2 KCNC Trung ương quản lý 12KCN có tầm quan trọng nhất nằm trong qui hoạch được chính quyền tự phêduyệt Các khu công nghiệp còn lại do địa phương hoặc tư nhân quản lý.

Các KCN ở Đài Loan phân bố khắp nước hầu như huyện nào cũng có khucông nghiệp, mỗi khu công nghiệp là một hạt nhân để phát triển vùng

Đây là những kinh nghiệm quí báu để cho Nhà nước Việt Nam đánh giálại tiềm năng, năng lực, định vị lại vị thế của mình để phát triển khu công nghiệpmột cách hợp lý

Trang 16

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI PHÁT TRIỂN

KCN, KCX Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

1 Quá trình hình thành và phát triển của KCN, KCX ở Việt Nam hiện nay

a Chủ trương phát triển KCN, KCX của Đảng và Nhà nước

KCN, KCX ở Việt Nam ra đời cùng với chính sách đổi mới mở cửa doĐại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm

kỳ khoá VII năm 1994 đã nêu "quy hoạch các vùng, trước hết là các địa bàntrọng điểm, các khu chế xuất, khu kinh tế đặt biệt, khu công nghiệp tập trung".Tiếp theo, Nghị quyết Đại hộ lần thứ VIII năm 1996 cũng đã xác định rõ "Hìnhthành các khu công nghiệp tập trung (bao gồm cả KCN, KCNC), tạo địa bànthuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở công nghiệp mới Phát triển mạnh côngnghiệp nông thôn và ven đô thị ở các thành phố, thị xã, nâng cấp, cải tạo các cơ

sở công nghiệp hiện có, đưa các cơ sở không có khả năng xử lý ô nhiễm ra ngoàithành phố, hạn chế việc xây dựng cơ sở công nghiệp mới xen lẫn với khu dâncư" Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trunt ương Đảng khoá VIIIcũng xác định phương hướng phát triển KCN trong thời gian tới là "phát triểntừng bước và nâng cao hiệu quả cá khu công nghiệp"

Để thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển và phân bố công nghiệp,Nhà nước Việt Nam quyết định chủ trương phát triển công nghiệp tập trung vàocác KCN, KCX theo quy hoạch xác định Phát triển KCN, KCX nhằm đáp ứngcác mục tiêu tạo đà tăng trưởng công nghiệp, tăng nguồn hàng xuất khẩu, tạoviệc làm và tăng bước phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát,phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tưe phát triển hạ tầng, hạnchế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra Đồng thời phát triển KCN, KCXcũng để thúc đẩy các cơ sở sản xuất, dịch vụ cùng phát triển, làm cơ sở cho việcphát triển các đô thị công nghiệp, phân bố hợp lý lực lượng sản xuất

Việc phân bố và hình thành các KCN, KCX phải phù hợp với quy hoạchphát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở điều kiện tự nhiên, môi trường và xã hội,

Trang 17

hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đảm bảo hiệu quả cao, pháttriển bền vững, cụ thể là:

- Có khả năng xây dựng cơ sở hạ tầng thuận lợi, có vị trí, quy mô diệntích phù hợp

- Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu, thuận lợi

ch việc vận tải,

- Thuận lợi trong việc tấp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm

- Có khả năng cung ứng lao động có chuyên môn

- Có điều kiện đảm bảo cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội

- Két hợp chặt chẽ phát triển KCN, KCX với quy hoạch đô thị và phân bốdân cư

- Đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia

b Quy hoạch tổng thể phát triển KCN.

Ngày 6 tháng 8 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số519/TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầngthời kỳ 1996 - 2010, trong đó công bố danh mục 33 KCN sẽ hình thành Sau đó,trên cơ sở nhu cầu phát triển của từng địa phương, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục

bổ sung quy hoạch và chấp thuận chủ trương, nâng tổng số KCN, KCX theo quyhoạch đến năm 2010 được chấp thuận cho đến nay là 125 Khu (trong đó có một

số khu, quyết định thành lập KCN đồng thời bổ sung quy hoạch phê duyệt)

Trang 18

Bảng 1: Số các KCN theo quy hoạch đến 2010 tại các vùng

(Nguồn: Vụ quản lý KCN, KCX - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Số liệu trên bao gồm cả các KCN đã được thành lập theo quyết định củaThủ tướng Chính phủ (nguồn Vụ quản lý KCN, KCX - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

c Quá trình hình thành các KCN, KCX.

Nếu không tính các cụm công nghiệp hình thành từ những năm 60, 70 củathế kỷ XX ở Miền Bắc hay ở Miền Nam trước giải phóng Miền Nam năm 1975,Khu chế xuấ Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào tháng 9năm 1991 với diện tích 300 ha là KCX đầu tiên ở Việt Nam Trong 12 năm qua

đã có 76 KCN, KCX được thành lập, trong đó 73 KCN, 3 KCX với tổng diệntích tự nhiên trên 15.200 ha (không kể Khu Dung Quất 14.000 ha và khu kinh tếChu Lai) trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê gần 10.600 ha

Trang 19

Bảng 2: KCN thành lập theo năm Năm Số KCN được thành lập Diện tích (ha)

(Nguồn: Vụ quản lý KCN, KCX - Bộ kế hoạch và đầu tư)

Diện tích KCN được thành lập trong các năm bao gồm cả diện tích mởrộng của các KCN đã được thành lập trước đó

Trang 20

(Nguồn: Vụ quản lý KCN, KCX - Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

- Trong tổng diện tích không tính KCN Dung Quất (rộng 14.000 ha) nằmtrong Vùng kinh tế Trọng điểm miền Trung

Như vậy, từ việc xác định quy hoạch tổng thể, đến việc thành lập KCN tạicác vùng cũng phần nào phản ánh được tiềm năng phát triển sản xuất côngnghiệp của các vùng: Các KCN, KCX phân bố không đều theo lãnh thổ, tậptrung chủ yếu tại 2 vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng Sông trong khi đó, vùng TâyNguyên mới có một KCN (diện tích 181 ha) vùng Trung du miền núi Bắc Bộ có

2 khu (139 ha)

Về quy mô, bình quân diện tích là 198 ha/ khu KCN lớn nhất (không kểKhu Dung Quất 14.000ha) là KCN Phú Mỹ I tại Bà Rịa - Vũng Tàu với diệntích 954,4 ha, KCN nhỏ nhất là KCN Bình Chiểu tại thành phố Hồ Chí Minh vớidiện tích 28ha

Trang 21

2 Tình hình thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài phát triển KCN, KCX ở Việt Nam

Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, thìviệc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được coi làcông cụ…đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội Thực tế chothấy, qua gần 17 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài ở nước ta, các khu vực cóvốn FDI đã góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng và phát triển ổn định nềnkinh tế đất nước

Qua tổng kết đến cuối năm 2004 trên phạm vi cả nước đã có 5,873 dự ánđầu tư nước ngoài được cả giấy phép đầu tư; trong đó có 4,796 dự án còn hiệulực với tổng vốn đầu tư là 43,97 tỷ USD, vốn pháp định là 19,5 tỷ USD, và1,038 dự án giải thể trước thời hạn với tổng vốn đầu tư là 14,46 tỷ USD Trong

số các dự án còn hiệu lực, có 2,304 dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanhvới tổng đầu tư là 27,71 tỷ USD, có 869 dự án đang xây dựng cơ bản với tổngvốn đầu tư là 9,95 tỷ USD Trong tổng số vốn đầu tư, có 45,5% số vốn đầu tưcấp mới theo hình thức 100% vốn nước ngoài và 42,5% theo hình thức liêndoanh, số còn lại theo hình thức BCC và BOT Đặc biệt trong những năm gầnđây, do thực hiện đồng bộ nhiều chính sách ưu đãi, cơ sở hạ tầng được chuẩn bịsẵn…cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nên việc thu hút vốn đầu tư vàocác KCN và KCX đã có bước chuyển biến mạnh mẽ Năm 2003 tổng vốn đầu tưmới và đầu tư tăng thêm vào các KCN và KCX là 1,5 tỷ USD, tăng 20% so vớinăm 2002, vốn đầu tư nước ngoài thực hiện ở các KCN, KCX cũng tăng cao đạt

856 triệu USD tăng 71% so với năm 2002 Trong khi số dự án nước ngoài vàonước ta năm 2003 giảm 18%, thì số vốn xin tăng thêm của các dự án đầu tưnước ngoài vào các KCN và KCX vẫn tăng thêm 34% Đến cuối năm 2004 cácnhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào các KCN và KCX với 1,442 dự án (không

kể 19 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng), có tổng vốn đầu tư là 11,390 triệu USD,chiếm 36,20% số dự án và chiếm tỷ trọng 29% vốn đăng ký của các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp phép trong cả nước Trong đó có

10 nước và vùng lãnh thổ có số dự án, số vốn đầu tư lớn: Nhật Bản, Đài Loan,

Trang 22

Hàn Quốc, Singgapo, Hồng Kông, Thái Lan, Hoa Kỳ, Malaisia…Nếu chỉ tínhriêng cho các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ sản xuất công nghiệp (trừdầu khí, du lịch, khách sạn, khu đô thị, khu vui chơi giải trí, bệnh viện, trườnghọc, tài chính, ngân hàng, trồng rừng…) thì tỷ trọng này chiếm trên 40% Cácdứan có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ công nghiệpđầu tư vào KCN, KCX chủ yếu là các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nướcngoài với hơn 1000 dự án chiếm trên 80% số dự án Các dự án đầu tư vào cácKCN và KCX triển khai nhanh và thuận lợi hơn so với các dự án ngoài KCN vàKCX Có thời gian xây dựng tương đối ngắn từ 1- 2 năm, cá biệt có những dự ánchỉ thực hiện trong vòng 6 tháng sau khi cấp giấy phép đầu tư đã đi vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, cơ cấu đầu tư của các dự án đầu tư vàocác KCN và KCX còn chưa đa dạng ngành nghề, mà chủ yếu tập trung vào cácngành công nghiệp nhẹ như: dệt, sợi, may mặc…và công nghiệp chế biến thựcphẩm là các dự án thu hút nhiều lao động và có tỷ trọng xuất khẩu cao Còn các

dự án công nghiệp tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực lắp ráp các sản phẩmđiện tử và sản xuất hàng tiêu dùng, còn các ngành công nghiệp nặng như vật liệuxây dựng, hoá chất, cơ điện, cơ khí…còn rất ít so với tiềm năng vốn có

Việc phát triển các KCN và KCX trong thời gian qua đã thu hút đượcnhiều nguồn vốn đầu tư cần thiết từ các nhà đầu tư để phát triển sản xuất, tănggía trị hàng công nghiệp, tăng trưởng nền kinh tế đất nước Đồng thời tạo độnglực lớn cho quá trình tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu tiêntiến của khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất, giải quyết việc làm chonhiều lao động và có điều kiện phân công lại lực lượng lao động phù hợp với xuthế hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên theo ý kiến của các chuyên gia quản lýtrong lĩnh vực này, để tạo điều kiện hơn nữa cho hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp nước ngoài trong các KCN, KCX nhằm tăng cường thuhút nhiều hơn nữa nguồn vốn FDI vào nước ta, cũng như phát triển có chấtlượng các KCN, KCX hoàn thành mục tiêu quy hoạch đến năm 2010 có 125KCN và KCX trên phạm vi cả nước, cần tập trung giải quyết các nội cung cơbản Đó là các cấp, bộ, ngành cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm

Ngày đăng: 26/04/2014, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số các KCN theo quy hoạch đến 2010 tại các vùng - một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở việt nam
Bảng 1 Số các KCN theo quy hoạch đến 2010 tại các vùng (Trang 18)
Bảng 2: KCN thành lập theo năm - một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở việt nam
Bảng 2 KCN thành lập theo năm (Trang 19)
Bảng 3: Số các KCN được thành lập tại các vùng  (đến hết tháng 2.2003) - một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở việt nam
Bảng 3 Số các KCN được thành lập tại các vùng (đến hết tháng 2.2003) (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w