Xúc tiến bán hàng đã phát huy tốt vai trò của nó trong hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp thương mại, tác động tốt đến đời sống kinh tế xãhội của dân cư, góp phần vào sự phát triển
Trang 1PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÚC TIẾN BÁN HÀNG
Tác động của xúc tiến bán hàng trong kinh doanh thương mại
1 Bản chất và vai trò của hoạt động xúc tiến bán hàng trong kinh doanh thương mại:
Tính cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như trên thị trườngquốc tế ngày càng gia tăng Với mục đích tồn tại và phát triển lâu dài, cácdoanh nghiệp thương mại phải thắng thế trên thị trường cạnh tranh, phải đạtđược ba mục tiêu: Lợi nhuận, an toàn, vị thế Muốn đạt được ba mục tiêutrong kinh doanh, các doanh nghiệp trước hết cần phải thực hiện được mụctiêu trung gian đó là tiêu thụ được hàng hoá
Xúc tiến bán hàng là hoạt động quan trọng có khả năng giúp cho doanhnghiệp đạt mức doanh thu ngày càng cao
Xúc tiến bán hàng đã phát huy tốt vai trò của nó trong hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp thương mại, tác động tốt đến đời sống kinh tế xãhội của dân cư, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế
Từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường , các doanh nghiệp thươngmại nagỳ càng quan tâm hơn đến xúc tiến bán hàng Trong thực tiễn, xúc tiếnbán hàng đã đóng một vai trò quan trọng vào sự tồn tại và phát triển của cácdoanh nghiệp thương mại Thông qua xúc tiến bán hàng , các doanh nghiệp đãtạo ra được mối quan hệ tốt giữa doanh nghiệp với bạn hàn, khách hàng, hoạtđộng tiêu thụ trở nên thuận lợi hơn và điều quan trọng nhất là doanh thu bánhàng nhờ đó mà tăng lên một cách đáng kể cả trong và ngoài nước Chính vìthế mà doanh nghiệp càng chú trọng đến công tác xúc tiến bán hàng
Xúc tiến làm cho bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng hoávào các kênh phân phối và quyết định lập các kênh phân phối một cách hợp lý
và rất nhiều trường hợp thông qua hoạt động xúc tiến mà các Doanh nghiệptạo ra được lợi ích về giá bán Do vậy xúc tiến không chỉ là công cụ hỗ trợ các
Trang 2chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà còn làm tăng cường hiệu quả cácchính sách đó
2.Mối quan hệ của “xúc tiến” với các yếu tố khác của Marketing
Chiến lược
Khách hàng
Đối thủ cạnh tranh
Thị trường mục tiêu
Trang 3gắt làm cho vấn đề tiêu thụ hàng hoá trở thành vấn đề sống còn và là mối quantâm hàng đầu với các doanh nghiệp Chính vì vậy, để tồn tại và phát triểntrong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp thương mại cần phải đạt được bamục tiêu cơ bản: mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu vị thế và mục tiêu an toàn
Để đạt được các mục tiêu trên, một mặt các doanh nghiệp thương mạicần nghiên cứu thị trường, xác định thị trường kinh doanh của doanh nghiệp,nghiên cứu kỹ hành vi mua sắm của các khác hàng, đưa ra cách thức đáp ứngnhu cầu khách hàng một cách tốt nhất trong điều kiện có thể.Mặt khác, để cókhả năng thắng thế trên thị trường cạnh tranh các doanh nghiệp cần tăngtrưởng và đổi mới thường xuyên Để thích ứng với cơ chế mới, các doanhnghiệp phải nghiên cứu cung cầu hàng hoá và xu hướng vận của môi trườngkinh doanh, tìm cách đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Muốn vậy,các doanh nghiệp phải vận dụng marketing vào hoạt động sản xuất kinh doanhnói chung và hoạt động thương mại nói riêng
Xúc tiến thương mại là một nội dung quan trọng trong Marketingthương mại Do đó, để đạt được mục tiêu trong kinh doanh, các doanh nghiệpphải thực hiện tốt xúc tiến thương mại
Trước hết chúng ta sẽ nghiên cứu về Marketing
II.Xúc tiến bán hàng trong hoạt động marketing.
1.Khái niệm Marketing:
Cùng với sự phát triển của sản xuất kinh doanh và các hoạt động thươngmại dịch vụ, nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh ngày càng được phát triển vàứng dụng rộng rãi Marketing chính là nghệ thuật ứng xử trong kinh doanhthương mại
Marketing là một từ tiếng Anh được chấp nhận và sử dụng khá phổ biếntrên toàn thế giới Thuật ngữ này đã được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1902trên giảng đường trường đại học Michigan ở Mỹ, đến năm 1910 tất cả cáctrường địa học Tổng hợp quan trọng ở Mỹ bắt đầu giảng dạy môn họcmarketing
Trang 4Marketing được truyền bá vào Nhật và Tây Âu vào những năm 50 Đếncuối những năm 60, marketing được ứng dụng ở Balan, Hungary, Rumani,Nam Tư, ở Việt Nam, từ những năm 1955, 1956 Mỹ đã đưa vào áp dụng ởmiền Nam Việt Nam Mãi đến năm 1979-1980, marketing mới được nghiêncứu rộng rãi trên phạm vi cả nước Sự ra đời của marketing ban đầu nhằm vàoviệc giải quyết mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa sản xuất và tiêu thụ hànghoá, hay nói một cách khác marketing chỉ giới hạn trong lĩnh vực bán hàng.Trong một thời kỳ dài, marketing chỉ được ứng dụng trong thương mại với tưcách là giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tiêu thụ các hàng hoádịch vụ có sẵn Theo thời gian marketing bán hàng không còn phát huy tácdụng Để tiêu thụ hàng hoá, không thể chỉ quan tâm đến mỗi khâu bán hàngtrực tiếp mà phải quan tâm đến cả hệ thông bán hàng Khi ứng dụng marketingcần phải ứng dụng vào cả hệ thống bán hàng Marketing bộ phận ra đời Theo
tư tưởng này, một hệ thống các vấn đề liên quan đến tiêu thụ hàng hoá đượcliên kết với nhau, marketing gíup cho doanh nghiệp hướng về người tiêu dùng.Như vậy, marketing bán hàng, marketing bộ phận đều gắn liền với hoạt độngthương mại của doanh nghiệp Kinh tế ngày càng phát triển, marketing bộphận không thể đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu ngày càng khó khăn và phứctạp của hoạt động tiêu thụ Từ tiềm năng vốn có của marketing, lĩnh vựcmarketing không ngừng được hoàn thiện và phát triển
Theo định nghĩa tổng quát về marketing của Philip Kotler:
Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhữngnhu cầu và mong muốn của họ thông qua trao đổi
Định nghĩa này bao trùm cả marketing trong sản xuất kinh doanh vàmarketing xã hội Để hiểu kỹ định nghĩa trên, chúng ta cần nghiên cứu một sốkhái niệm:
Nhu cầu( Needs ): là một cảm giác về sự thiếu hụt một cái gì đó mà conngười cảm nhận được Nhu cầu không phải do xã hội hay người làmmarketing tạo ra, chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành của con người
Trang 5Mong muốn( Wants ) là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoảmãn những nhu cầu sâu xa Mong muốn của con người không ngừng pháttriển và được định hình bởi các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…
Trao đổi(Exchange): là hành vi nhận từ một người hay tổ chức nào đóthứ mình muốn và đưa lại cho người hoặc tổ chức một thứ gì đó.Trao đổi giữaHàng và Hàng, Tiền – Hàng – Tiền, Hàng hoặc Tiền với các yếu tố phi vậtchất (tinh thần, tình cảm…), giữa các yếu tố phi vật chất với nhau
Trong các chức năng của marketing thì chức năng kinh tế là quan trọngnhất Chức năng kinh tế của marketing bao gồm tất cả các hoạt động có mụcđích kinh tế, liên quan trực tiếp đến dòng chuyển động của hàng hoá dịch vụ
từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Để thực hiện được chức năng này,marketing phải thực hiện các nhiêm vụ sau:
- Phân tích nhu cầu hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển của nó
- Đưa ra những thông tin mang tính chỉ dẫn cho việc xây dựng chiếnlược cũng như lập kế hoạch kinh doanh
- Tổ chức hoàn thiện hệ thống kênh tiêu thụ cũng như mạng lưới phânphối sản phẩm
Theo nhóm quan điểm về marketing hiện đại, tư tưởng chính củamarketing bao gồm:
- Doanh nghiệp chỉ bán cái thị trường cần và coi bán hàng là khâuquan trọng nhất trong chiến lược kinh doanh
- Để đạt được mục tiêu kinh doanh , doanh nghiệp phải tập trung mọi
nỗ lực của mình vào việc thoả mãn nhu cầu khách hàng
- Lợi nhuận là mục tiêu chiến lược quyết định sự tồn tại và phát triểncủa doanh nghiệp
Một nội dung quan trọng của marketing thương mại là Marketing – Mixhay còn gọi là marketing chức năng
Marketing – Mix (Marketing hỗn hợp) là sự phối hợp hay sắp xếp cácnhững thành phần của marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế sản
Trang 6xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Nếu sự sắp xếp này tốt thì làm ăn củadoanh nghiệp sẽ thành đạt và phát triển.
Marketing – Mix gồm 4 thành phần: Sản phẩm (Product), Giá cả(Price), Phân phối( Place ), Xúc tiến bán hàng (Promotion)
2 Khái niệm xúc tiến bán hàng và tầm quan trọng của công tác này.
* Khái niệm xúc tiến bán hàng.
Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động mua bán hàng hoá nhằmmục đích kiếm lợi nhuận, mua là để bán,mua tốt thì mới có khả năng bán tốt.Chính vì vậy để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp phải đẩymạnh xúc tiến thương mại, xúc tiến bán hàng
Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các nội dungchủ yếu: quảng cáo bán hàng, Marketing trực tiếp, khuyến mại, mở rộng quan
hệ công chúng, bán hàng trực tiếp
Xúc tiến bán hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực Marketing của các doanh nghiệp thương mại nhằm tìm kiếm thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại
*Vai trò của xúc tiến bán hàng trong kinh doanh thương mại
Hiện nay, xúc tiến bán hàng là hoạt động không thể thiếu được tronghoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Trong lĩnh vực kinh doanhthương mại , xúc tiến bán hàng sẽ giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội pháttriển các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trongv và ngoài nước
Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường
và tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thịtrường
Xúc tiến bán hàng là cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp thôngqua xúc tiến, các doanh nghiệp có điều kiện nhìn nhận về ưu nhược điểm củahàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình
Xúc tiến bán hàng góp phần kích thích lực lượng bán hàng của doanhnghiệp , nâng cao hiệu quả bán hàng
Trang 7Xúc tiến bán hàng kích thích người tiêu dùng mua sắm sản phẩm củadoanh nghiệp nhiều hơn Qua đó, doanh nghiệp có khả năng hướng dẫn thịhiếu của khách hàng Vì vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh cạnh tranh,nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp , một vấn đề quan trọng mangtính quyết định đến sự tồn tạivà phát triển lâu dài của doanh nghiệp là: Doanhnghiệp phải tổ chức tốt xúc tiến bán hàng.
Xúc tiến bán hàng chỉ phát huy được các vai trò trên khi các doanhnghiệp tổ chức tốt hoạt động xúc tiến bán hàng Do đó, khi đã tiến hành xúctiến bán hàng các doanh nghiệp cần phải thực hiện một cách khoa học từngkhâu từng bước thực hiện
Hoạt động xúc tiến bán hàng gồm 5 công cụ chủ yếu:
Quảng cáo là đầu tư - một sự đầu tư nhằm đẩy mạnh tiêu thụ Một sảnphẩm có chất lượng tốt, không gắn nhãn hiệu nổi tiếng, chỉ đơn thuần có mặt
Trang 8trên quầy hàng không được thông tin cho các khách hàng biết thì vẫn tiêu thụrất chậm Quảng cáo góp phần rất quan trọng để đẩy mạnh tiêu thụ.
Trong hoạt động kinh doanh thương mại, quảng cáo được coi là phươngtiện để bán hàng, phương tiện để tích luỹ tài sản vô hình cho doanh nghiệp vàphương tiện để nắm phản ứng của khách hàng về các sản phẩm kinh doanh ,đồng thời quảng cáo chính là công cụ của marketing thương mại
Hiện nay các doanh nghiệp thương sử dụng những phương tiện quảngcáo bên trong mạng lưới kinh doanh và những phương tiện quảng cáo bênngoài mạng lưới kinh doanh thương mại
Những phương tiện quảng cáo bên trong mạng lưới kinh doanh bao gồm:
- Biển đề tên cơ sở kinh doanh: Mỗi đơn vị kinh doanh phải có biển đềtên đơn vị kinh doanh ,địa chỉ Biển đề tên cần phải đặt trang trọngtrước cổng đơn vị kinh doanh
- Tủ kính quảng cáo: Là phương tiện thông dụng của các cửa hàng bán
lẻ, phòng trưng bày hàng hoá và giới thiệu sản phẩm kinh doanh củacác doanh nghiệp
- Quảng cáo qua người bán hàng: Đây là một loại “phương tiện”quảng cáo quan trọng trong kinh doanh Người bán hàng quảng cáocho khách hàng mục tiêu về hàng hoá, điểm mạnh của hàng hoá, vềdịch vụ, về giá cả, phương thức thanh toán… Để làm tốt nhân viênbán hàng cần có trình độ cũng như kỹ năng tốt trong lĩnh vực này
- Quảng cáo trên bao bì hàng hoá: Doanh nghiệp thương mại in têncủa doanh nghiệp mình trên bao bì hàng hoá Đây là phương tiệnquảng cáo bán hàng được thừơng xuyên sử dụng tại các quầy, cửahàng, siêu thị
Bên cạnh các phương tiện quảng cáo bên trong mạng lưới kinh doanh,
hệ thống phương tiên quảng cáo bên ngoài mạng lưới cũng đóng một vai tròquan trọng
Trang 9Hệ thống phương tiện quảng cáo bên ngoài mạng lưới kinh doanhthương mại bao gồm:
- Báo: Báo là một phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu, quantrọng được sử dụng nhằm vào đối tượng rông trên một phạm vi rộng
- Tạp chí: Tạp chí được xuất bản định kỳ hang tuần hoặc hàng tháng,
có độc giả là một tầng lớp có quan tâm ở mọi vùng Quảng cáo trêntạp chí có thời gian sống dài Tạp chí là phương tiện thông tin quốcgia, tính lựa chọn độc giả cao
- Radio: ngày nay, radio là phương tiện thông tin phổ biến, phạm viphát sóng lớn
- Truyền hình: ưu điểm chính của truyền hình là các nhà quảng cáo cóthể kết hợp được cả hình ảnh và âm thanh, sự chuyển động và màusắc Đây là phương tiện tác dụng nhanh, đặc biệt với một sản phẩmmới hoạc một điểm mới quan trọng của sản phẩm đã biết
- Quảng cáo bằng Pano, áp phích: Quảng cáo bằng pano,áp phíchlàhình thức quảng cáo cho phép khai thác tối đa lợi thế về kích cỡ,hình ảnh, màu sắc cũng như chủ đề của quảng cáo
- Quảng cáo qua bưu điện: bằng cách gọi điện thoại hay gửi cataloguehàng hoá qua bưu điện Phương tiện này thương được sử dụng vớinhững khách hàng quen của doanh nghiệp
- Quảng cáo trên internet: Đây là phương tiện quảng cáo mới đã vàđang được các doanh nghiệp sử dụng ngày càng phổ biến vì có thểquảng bá thương hiệu của doanh nghiệp không những trong và ngoàinước Doanh nghiệp có thể tìm kiếm cho mình thêm nhiều cơ hội tìmđược nhiều khách hàng tiềm năng
Sơ đồ 1: Những quyết định chủ yếu của người quảng cáo
Trang 10Xác định
mục tiêu
quảng cáo
QĐ về thời gian, tần
số QC
QĐ về ngân sách quảng cáo QĐ về địa
điểm
QĐ về phương tiện QC
Đánh giá hiệu quả và điều chỉnh các QC
Trang 11Quảng cáo có 3 nhóm mục tiêu:
1) Mục tiêu thông tin:
Thông tin cho thị trường biết về một sản phẩm mới
Nêu ra những công dụng của sản phẩm mới
Đưa ra những thay đổi về giá
Giải thích những nguyên tắc hoạt động của sản phẩm
Thông báo những dịch vụ hiện có
Điều chỉnh lại những ấn tượng sai
Giảm bớt những băn khoăn lo lắng về sản phẩm trước khi mua
Tạo dựng hình ảnh của công ty
2) Quảng cáo nhằm để thuyết phục:
Thuyết phục khách hàng dùng thử
Thuyết phục khách hàng mua ngay
Khuyến khích khách hàng chuyển sang dùng nhãn hiệu của công ty
Tạo nên sự ưa thích nhãn hiệu
Thay đổi nhận thức của người mua về tính chất của sản phẩm 3) Quảng cáo nhằm để nhắc nhở
Nhắc nhở người mua là sản phẩm sẽ cần cho thời gian tới
Nhắc nhở người mua nơi bán sản phẩm
Nhắc nhở người mua nhớ mua lúc hạ giá
Để cho hình ảnh sản phẩm luôn ở vị trí đầu tiên trong tâm trí của khách hàng
3.2 Marketing trực tiếp:
Trong marketing trực tiếp, người ta sử dụng thư, điện thoại và nhữngcông cụ liên lạc gián tiếp khác để thông tin một cách trực tiếp cho khách hànghoặc yêu cầu họ có phản ứng đáp lại tại bất kỳ một địa điểm nào Những công
cụ trực tiếp của marketing trực tiếp:
Marketing bằng catalogue:
Trang 12Catalogue là những bản liệt kê về danh mục các loại hàng hoá, kèm theo
là các thông số và được minh hoạ bằng những hình ảnh màu rất đẹp của hànghoá Trên catalo có cả địa chỉ và số điện thoại( ở một số công ty có thể miễnphí) để khách hàng có thể giao dịch Catalo được những người làm marketingtrực tiếp gửi qua đường bưu điện tới các khách hàng Một số công ty làm thíđiểm catalo bằng các băng video gửi cho những khách hàng tốt nhất và nhữngkhách hàng triển vọng của mình
Marketing bằng thư trực tiếp
Marketing bằng thư trực tiếp ở Mỹ là một hoạt động kinh doanh rất lớn,
có doanh số đạt tới hàng chục tỷ đô la mỗi năm Những người làm bằngmarketing bằng thư trực tiếp gửi qua đường bưu điện những thư chào hàng, tờquảng cáo, tờ gấp và những hình thức chào hàng khác( có khi họ gửi cả băngghi âm, băng ghi hình, đĩa mềm của máy tính).Ví dụ công ty thiết bị tập thểdục đã gửi qua đường bưu điện băng video giới thiệu công dụng và lợi ích củathiệt bị tập thể dục ở nhà, hãng Ford đã gửi đĩa mềm máy tính gọi là DiskDriver- Test Driver cho các khách hàng hưởng ứng quảng cáo xe mình trênmạng máy tính Nội dung của đĩa mềm đó cho phép các xe, xem những hìnhảnh hấp dẫn về các kiểu xe
Gửi thư trực tiếp ngày càng phổ biến vì nó cho phép đảm bảo tính chọnlọc cao của thị trường mục tiêu, có thể tiếp cận từng cá nhân và cho phép tiếnhành các trắc nghiệm và định lượng kết quả sớm Tuy chi phí cho 1000 ngườiđược tiếp cận cao hơn so với các phương tiện truyền thông đại chúng, nhữngngười được tiếp cận là những khách hàng có triển vọng hơn nhiều
Marketing qua điện thoại
Marketing qua điện thoại đã trở thành một công cụ chủ yếu củamarketing trực tiếp Các công ty có thể mở các số điện thoại miễn phí chokhách hàng gọi tới để đặt mua hàng hay dịch vụ do được biết qua quảng cáotrên báo chí, truyền thanh, truyền hình, qua gửi thư trực tiếp hay qua cataloguehay qqua khách hàng có thể gọi tới khiếu nại và góp ý
Trang 13Thương mại điện tử
Máy tính cá nhân có mordem qua đó người tiêu dùng có thể nhận đượccác thông tin về hàng hoá/ dịch vụ và đặt mua một cách trực tiếp qua mạngInternet, Intranet
Marketing trực tiếp tổng hợp
Marketing trực tiép đơn thuần kể ở trên chỉ dựa vào một phương tiệnquảng cáo và sự nỗ lực một lần đẻ tiếp cận và bán hàng cho một khách hàngtriển vọng Marketing trực tiếp tổng hợp – một phương thức mạnh mẽ hơn – làchiến dịch nhiều phương tiện, nhiều giai đoạn
Sơ đồ 2: Marketing trực tiếp tổng hợp
3.3.Khuyến mãi, khuyến mại
3.1.Khuyến mãi (khuyến khích người mua), khuyến mại( khuyến khích
người bán) bao gồm nhiều công cụ khác nhau, thường là ngắn hạn và có tính chất tạm thời nhằm kích thích người tiêu dùng hoặc những người phân phối sản phẩm/ dịch vụ ngay lập tức Kích thích những người thờ ơ phải mua hàng Làm cho khách hàng từ chỗ mua lần đầu tiên tới mua đều đặn, lấy được sự trung thành của khách hàng
Khái niệm khuyến mại:
Khuyến mại là hành vi của thương nhân nhằm xúc tiến việc bán hàng, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng
Khuyến mại, hay khuyến mãi trong kinh doanh thương mại được thực hiện dưới những hình thức:
Marketing trực tiếp qua điện thoại
Viếng thăm bán
h ng tr àng tr ực tiếp
Truyền thông trực tiếp
Trang 141 Phân phát hàng mẫu: là những sản phẩm/ dịch vụ được phân phát miễn phí Hàng mẫu có thể được đem đến tận nhà, gửi qua bưu điện, phát tại cửa hàng, phát kèm theo sản phẩm khác Việc phân phát hàng mẫu là một phương thức giới thiệu sản phẩm mới có hiệu quả nhất và tốn kém nhất.
2 Phiếu mua hàng ưu đãi: Người cầm phiếu này được hưởng quyền ưu đãi giảm giá khi mua một sản phẩm nhất định Phiếunày có thể gửi qua bưu điện, gói vào trong một sản phẩm kháchay đưa vào quảng cáo trong các báo và tạp chí
3 Giảm giá: là một trong những kỹ thuật xúc tiến khá phổ biến
mà các doanh nghiệp thường dùng Thông thường các doanhnghiệp thường dùng hình thức này trong dịp khai trương haytrong những ngày lễ lớn
4 Trả lại một phần tiền: Hình thức này được sử dụng cũngtương đối nhiều, ở đây, người bán giảm giá cho người muasau khi mua hàng chứ không phải tại cửa hàng bán lẻ.Ngườimau sau khi mua hàng sẽ gửi cho người bán một chứng từchứng tỏ người mua hàng đã mua hàng của doanh nghiệp vàdoanh nghiệp sẽ hoàn trả lại một phần tiền qua bưu điện
5 Thương vụ có triết giá nhỏ: là cách kích thích người muathông qua việc đảm bảo cho người tiêu dùng tiết kiệm đượcmột phần chi phí so với giá bình thường của sản phẩm Trongcách thức này, các doanh nghiệp sẽ bao gói các sản phẩmcùng loại vào với nhau và như vậy chỉ phải chi phí cho mộtbao bì
6 Thi cá cược trò chơi: Đây là hình thức tạo ra cơ may nào đócho khách hàng bằng cách tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, cáctrò chơi trong một thời gian nhất định
Trang 157 Phần thưởng cho các khách hàng thường xuyên: Để giũ cáckhách hàng thừơng xuyên, các công ty thường giảm chokhách hàng thường xuyên một tỷ lệ nhất định hoặc giảm giádưới các dạng khác như thêm một lượng hàng cùng loại Đây
là hình thức khuyến mại thường được sử dụng trong bán buôn
8 Quà tặng: Các doanh nghiệp thường có thêm quà tặng chokhách hàng Quà tặng sử dụng nhằm mục đích thúc đẩy động
cơ mua hàng của các người tiêu dùng cũng như trung gianphân phối
9 Tặng vật phẩm mang biểu tượng quảng cáo: Để làm cho têntuổi cũng như nhãn hiệu, biểu tượng của doanh nghiệp trở nênquen thuộc hơn đối với khách hàng, các doanh nghiệp thườngtiến hành tặng cho khách hàng mục tiêu nói riêng và ngườitiêu dùng nói chung những vật phẩm mang tính quảng cáonhư: Vật phẩm mang biểu tượng của doanh nghiệp, tên củasản phẩm hoặc nhãn hiệu muốn quảng cáo …
10 Dùng thử miễn phí: mời dùng thử miễn phí bột giặt kẹo cao
su, nước gội đầu, dùng thử máy vi tính, dùng thử ô tô…
11 Bảo hành sản phẩm: Đây cũng là một công cụ khuyến mạiquan trọng, nhất là khi người tiêu dùng quan tâm tới chấtlượng hơn Các hãng ngày càng cạnh tranh quyết liệt về thờigian bảo hành sản phẩm: tăng thời gian bảo hành sản phẩm,tăng thời gian bảo hành lên 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm…Đối với các trung gian phân phối của doanh nghiệp, các doanhnghiệp còn có thể sử dụng một số các hình thức xúc tiến bán hàng khácnhư:
- Chiết giá: Giảm gía so với hàng bán ghi trên hoá đơn trong từngtrường hợp mua hàng hoặc trong từng thời kỳ
Trang 16- Thêm hàng hoá cho khách mua hàng với lượng hàng hoá nhất định.Những khách hàng mua hàng ở một số lượng hoặc giá trị nhất định
sẽ được thêm một lượng hàng cùng loại để kích thích mua sắm Hìnhthức này về thực chất là giảm giá cho khách hàng
Ngoài ra, còn một số hình thức khuyến mại khác được nhà thương mại
sử dụng khi có hỗ trợ của nhà sản xuất Trong chiến lược khuyến mạiluôn luôn có nhiều chiến dịch khuyến mại Khi tổ chức thực hiện chiếnlược khuyến mại phải xây dựng các chiến dịch khuyến mại sau đó tiếnhành tổ chức thực hiện từng chiến dịch khuyến mại cần đưựoc tổ chứctheo qui trình sau:
- Xác định mục tiêu của đợt khuyến mại
Thông thường, khuyến mại nhằm vào hai đối tượng chính là: người tiêu dùng và các trung gian phân phối
Đối với người tiêu dùng, mục tiêu của đợt khuyến mại là:
Mong muốn khách hàng dùng thử sản phẩm, qua đó sẽ lôi kéohành vi mua hàng của khách hàng
Giới thiệu một sản phẩm mới hoặc đã cải tiến
Khuyến khích sử dụng lại hoặc tiêu dùng nhiều hơn đối vớinhững người đã và đang sử dụng sản phẩm
Làm cho khách hàng đến các cửa hàng bán lẻ nhiều hơn
Tăng tỷ phần tiêy thụ của công ty trên thị trường
Đối với các trung gian phân phối, mục tiêu chính của xúc tiến bán hàng là:
Kích thích các trung gian phân phối tăng lượng hàng đặt muatrong thời gian nhất định
Kích thích các trung gian phân phối chú ý hơn nữa đến hàng hoácủa công ty
Làm cho các trung gian phân phối ưu tiên hơn cho công ty trongviệc trưng bày bán hàng hoá cũng như tích cực chào hàng chocông ty
Trang 17 Cải thiện mối quan hệ làm ăn với các trung gian phân phối
Việc lựa chọn mục tiêu đúng hay sai sẽ liên quan nhiều đến vấn đề hiệuquả của xúc tiến sau này
Xác định ngân sách cho khuyến mại:
Xác định ngân sách cho khuyến mại:
Xác định ngân sách cho khuyến mại cũng là một vấn đề khó khăn và phức tạp.Tuy nhiên, thông thường người ta thường hay sử dụng cách tính xác định trênphần trăm doanh thu Bởi bằng cách này, người làm công tác xúc tiến để xácđịnh cũng như dễ kiểm soát các chi phí
Lựa chọn kỹ thuật khuyến mại:
Tuỳ theo từng mục tiêu xúc tiến xúc tiến đã lụă chọn; tuỳ thuộc vào đặctính của khách hàng mục tiêu; tuỳ thuộc vào trạng thái cạnh tranh; phản ứngđối thủ cạnh tranh trên thương trường; tuỳ thuộc vào điều kiện ngân sách dànhcho khuyến mại mà người ta tiến hành lựa chọn kỹ thuật khuyến mại cho phùhợp
Lựa chọn qui mô và xây dựng chương trình khuyến mại:
Khuyến mại là một mối quan hệ gắn bó với nhiều hoạt động nghiệp vụ khác.Khuyến mại không hoạt động cô lập, nó có quan hệ hữu cơ với các hoạt độngxúc tiến bán khác cũng như liên hệ hữu cơ với các họat động khác củaMarketing – mix
Chuẩn bị cơ sở vật chất cho đợt khuyến mại:
Việc chuẩn bị này rất quan trọng Nếu sự chuẩn bị không chu đáo, không kịpthời, chậm trễ dễ làm mất lòng tin của khách hàng vào đợt khuyến mại nóiriêng và doanh nghiệp nói chung
Quyết định lựa chọn phương tiện phát thông điệp về chương trìnhkhuyến mại:
Để các khách hàng mục tiêu có thể tham gia vào đợt khuyến mại, ngườilàm xúc tiến phải phát đi các thông điệp cần thiết Tuỳ từng loại kỹ thuậtkhuyến mại mà người ta lựa chọn cách thức phát thông điệp cho phù hợp
Trang 183.2.Tham gia hội chợ và triển lãm
Hôị chợ thương mại là xúc tiến thương mại tập trung trong một thời gian và một địa điểm nhất định, trong đó tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được trung bày hàng hoá của mình nhằm mục đích tiếp thị, ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá.
Triển lãm thương mại là xúc tiến thương mại thông qua việc trưng bày hàng hoá, tài liệu về hàng hoá để giới thiệu, quảng cáo nhằm mở rộng và thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hoá.
Hội chợ là hoạt động mang tính định kỳ được tổ chức tại một thời điểmmột thời gian nhất định, là nơi người bán và người mua trực tiếp giao dịchbuôn bán Triển lãm có hình thái giống như hội chợ nhưng mục đích củangười tham gia triển lãm không phải là bán hàng tại chỗ mà chủ yếu để giớithiệu, quảng cáo
Những doanh nghiệp đạt được kết quả cao trong hội chợ triển lãm là những doanh nghiệp thương mại làm tốt hoạt động trước, trong và sau hội chợ triển lãm
Sơ đồ 3: Tiến trình tham gia hội chợ triển lãm thương mại của các doanh
nghiệp Các hoạt động trước khi tham gia hội chợ
Ra quyết
định tham
gia
Dự trùngânsách
Chuẩn bịyếu tố vậtchất
Cuẩn bị yếu
tố con người
Tổ chức xâydựng gianhàng
Các hoạt động trong hội chợ triển lãm
Hoạt động giới thiệu – Quảng
lãm
Rút kinh nghiệm đểlập kế hoạchMarketing, chuẩn bịhội chợ triển lãm lần
Trang 19Khi quyết định tham gia hội chợ triển lãm, doanh nghiệp cần phải làmtốt công tác chuẩn bị Trước tiên đó là chuản bị về tài chính.Tiền cho hôij chợtriển lãm sẽ lấy từ ngân sách xúc tiến
Vấn đề chuẩn bị nhân sự là không thể thiếu được khi tiến hành thamgia hội chợ Các cán bộ, nhân viên thay mặt doanh nghiệp đi tham gia hội chợphải được chọn lọc kỹ càng, bởi chính họ là người thay mặt cho doanh nghiệptiếp xúc với khách hàng và bạn hàng
Thiết kế và xây dựng gian hàng là yếu tố quan trọng nhằm thu hút sựchú ý của khách hàng tham quan
Hội chợ triển lãm là dịp quan trọng để các doanh nghiệp tiếp xúc trựctiếp với khách hàng mục tiêu Thông qua giao tiếp, doanh nghiệp có thể ký kếthợp đồng tại chỗ
Sau hội chợ triển lãm, doanh nghiệp tổ chức thành công sẽ thu hút đượckhách hàng và bạn hàng Rất nhiều hợp đồng sẽ được ký kết sau hội chợ.Muốn được như vậy, doanh nghiệp cần có mối liên hệ liên tục và sát sao vớikhách hàng và bạn hàng
4 Mở rộng quan hệ với quần chúng và các hoạt động khuyếch trương khác
Mở rộng quan hệ với công chúng là một công cụ marketing quan trọngkhác nữa Công ty không những phải có quan hệ tốt với khách hàng, ngườicung ứng các đại lý của mình, mà còn phải có quan hệ đông đảo với quầnchúng có quan tâm
Công chúng là nhóm người có quan tâm hay ảnh hưởng thực tế hay tiềm
ẩn đến khả năng công ty đạt được những mục tiêu của mình
Mở rộng quan hệ với công chúng bằng các hoạt động:
- Mở rộng quan hệ với giới báo chí, tạp chí, đài phát thanh và truyềnhình Tác động để các phương tiện này đăng tải các bài viết, phát đi
Trang 20các chương trình tuyên truyền, giới thiệu về sản phẩm và về doanhnghiệp.
- Doanh nghiệp mở các chiến dịch tuyên truyền về sản phẩm của mìnhtạo dựng hình ảnh công ty trên các phương tiện thông tin đại chúng
và trên phương tiện truyền thông của công ty
- Vận động hành lang: Làm việc với các nhà lập pháp và các quanchức trong chính phủ hoặc quan chức của ngành, của địa phươngủng hộ hay huỷ bỏ một đạo luật hay một quy định nào đó
- Tham mưu: đề xuất với lãnh đạo công ty những kiến nghị về các vấn
đề có liên quan đến công chúng và về hình ảnh của công ty
Những công cụ chủ yếu để mở rộng quan hệ với công chúng trong hoạtdộng marketing của doanh nghiệp:
1 Xúât bản phẩm: Các công ty cho in và phân phát các báo cáo hàng năm,những cuốn sách nhỏ giới thiệu về sản phẩm hoặc về công ty, những tưliệu nghe nhìn, bản tin của công ty, các báo và tạp chí
2 Các sự kiện: Công ty tổ chức những họat động nhân những sự kiện như
tổ chức những hội thảo, chuyên đề, những cuộc đi chơi, triển lãm, thi vàhội thảo, lễ kỷ niệm, bảo trợ các hoạt động thể dục thể thao và văn hoá
để tiếp cạn công chúng mục tiêu
3 Tin tức: Viết bài trên các báo, tạp chí đưa tin trên đài phát thanh hoặctruyền hình.Càng tranh thủ được báo chí thì càng có điều kiện giànhđược nhiều vị trí tốt hơn để tuyên truyền cho công ty
4 Bài nói chuyện: Nói chuyện trong các hội nghị, với học sinh, sinh viênnhân dịp khai trường hay tổng kết năm học
5 Hoạt động công ích: ủng hộ các quỹ từ thiện, xây nhà tình nghĩa, lậpquỹ học bổng cho sinh viên
6 Phương tiện nhận dạng: Trong một xã hội tràn ngập các thông tin, cáccông ty phải tranh nhau hút sự chú ý về mình.Họ phải cố gắng tạo ranhững đặc điểm nhận dạng nổi bật để công chúng có thể nhận ra ngay
Trang 21tức khắc Dặc điểm nhận dạng được thể hiện trên logo ( biểu tượng )của công ty, trên các công văn, giấy tờ, danh thiếp, thư tín thương mại,biểu hiện, màu sắc đạc trưng của sản phẩm được sơn trên phương tiệnvận tải hoặc tại các văn phòng, của hàng bán sản phẩm của công ty, trêncác biển quảng cáo, nhận dạng qua quần áo , đồng phục…
5 Bán hàng trực tiếp
Bán hàng trực tiếp là hành vi thương mại của thương nhân, là sự giaotiếp trục tiếp giữa người bán hàng với khách hàng tiềm năng Trong đó, ngườibán hàng có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho người mua và nhậntiền
Bán hàng trực tiếp là nghiệp vụ cơ bản thực hiện mục đích kinh doanhcủa doanh nghiệp.Bán hàng trực tiếp là hoạt động liên quan mật thiết vớikhách hàng, ảnh hưởng tới niềm tin, uy tín và sự tái tạo hành vi mua củakhách hàng Bán hàng là vũ khí mạnh mẽ của các doanh nghiệp thương mạitrong quá trình cạnh tranh trên thương trường
Các doanh nghiệp thương mại sử dụng nhiều hình thức bán hàng khácnhau: bán hàng theo nhóm khách hàng trọng điểm; bán hàng trao tay;bán hàngqua điện thoại; bán hàng qua Internet; bán hàng qua siêu thị… Dù bán hàngtheo hình thức nào đi nữa quan hệ giữa các nhân người bán và khách hàng làkhông thể thiếu được Người bán hàng dù ở cương vị nào cũng phải hoànthành tốt nhiệm vụ của một nhân viên bán hàng
Nhân viên bán hàng là cầu nối trực tiếp công ty với khách hàng Nhữngngười bán hàng là người thay mặt với công ty quan hệ với rất nhiều kháchhàng và đồng thời cũng đem về cho cy những thông tin tình báo cần thiết vềkhách hàng
Nhân viên bán hàng có nhiêm vụ cung công chúng đáp thông tin cầnthiết về sản phẩm cũng như về doanh nghiệp cho khách hàng Đây là việc làmgiúp cho khách hàng hiểu biết về sản phẩm cũng như về doanh nghiệp hơn,nhờ đó doanh nghiệp có thể thu hút được khách hàng
Trang 22Nhân viên bán hàng phải có đủ năng lực, hiểu biết về nghệ thuật bánhàng như giao tiếp, bày bán sản phẩm,giới thiệu, giải đáp thắc mắc cho kháchhàng Để cho việc bán hàng được thuận lợi có kết quả, nhân viên bán hàngphải thực hiện tốt nhiệm vụ bán hàng.
Vì vậy, tổ chức, tuyển chọn, đào tạo, quản lý, động viên lực lượng bánhàng là một công việc mà công ty phải dành một sự quan tâm thoả đáng
Để bán được hàng hoá, người làm công tác xuc tiến cần phải trình bàycho hấp dẫn, khêu gợi sự chú ý, kích sự tò mò của khách hàng Trưng bàyhàng hoá tại nơi bán hàng nhằm tạo ra sự hấp dẫn của hàng hoá đối với kháchhàng
Thu thập thông tin là một vấn đề quan trọng cho các quyết định củadoanh nghiệp đặc biệt là những thông tin về khách hàng, do đó nhân viên bánhàng có nhiệm vụ thu thập thông tin về khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnhtranh cho doanh nghiệp
Dịch vụ phục vụ khách hàng là một trong những phương pháp cạnhtranh hữu hiệu trong giai đoạn hiện nay Các nhân viên bán hàng có nhiệm vụcung cấp các dịch vụ khác nhau cho khách hàng, tư vấn cho khách hàng trongtiêu dùng cũng như hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ xúc tiến nhanh việc giao hàng
Chào hàng là nhiệm vụ thường xuyên của các nhân viên bán hàng Chàohàng là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong một thời giannhất định và phải có các nội dung chủ yếu của hợp đòng mua bán hàng hoá.Chào hàng là một nội dung của xúc tiến bán hàng Các doanh nghiệp tổ chứcchào hàng nhằm mục đích chào bán hàng hoá Những người phụ trách chàohàng là các nhân viên bán hàng của doanh nghiệp Thuyết phục là một yếu tốcực kỳ quan trọng trong chào hàng, đó là khả năng thuyết phục người khácthayđỏi cách nghĩ và cách làm theo ý mình, là điều chủ yếu để bán được hàng
Các nhân viên bán hàng vừa là người chào hàng, vừa là người thu thậpđơn đặt hàng, vừa là người thực hiên đơn đặt hàng Chính vì vậy, người có khảnăng thuyết phục, thông minh, năng đọng và quyết đoán
Trang 23Chuẩn bị hàng hoá trước khi bán hàng là một hoạt động không kémphần quan trọng so với các hoạt động trên Nhân viên bán hàng cần nắm được
sở thích của khách hàng về hàng hoá: trọng lượng, màu sắc, cách bao gói đểphục vụ khách hàng một cách tốt nhất
Bán hàng trực tiếp là một hoạt động trung gian, nó nằm trong khâu lưuthông phân phối của quá trình tái sản xuất sản phẩm, nó là hoạt động quantrọng trong xúc tiến bán hàng, nó là hình thức giao tiếp mang tính chọn lọccao Hoạt động bán hàng trực tiếp thúc đẩy sự tương tác giữa người bán vàngười mua để dẫn tới một giải pháp có hiệu quả và tiết kiệm thời gian cho cảngười mua và người bán
Để hoạt động bán hàng đem lại hiệu quả, ngoài việc tuyển chọn và đàotạo được những nhân viên bán hàng giỏi, các doanh nghiệp thương mại cầnphải tuyển lựa và đào tạo được những quản trị viên có đủ năng lực và phẩmchất để hoàn thành tốt nhiêm vụ của người quản trị viên bán hàng Ngoài ra,việc tổ chức khoa học hoạt động bán hàng có một ý nghĩa quan trọng
Tổ chức bán hàng: Tổ chức bán hàng là một hoạt động của các cá nhânđược sắp xếp theo một trình tự nhất định để phối hợp một cách có hiệu quảcác nỗ lực của các nhân nhằm hoàn thành mục tiêu chung
Tổ chức bán hàng được thực hiện theo 3 nguyên tắc cơ bản: Nguyêntắc tổ chức theo ngành hàng ( sơ đồ 4), nguyên tắc tổ chức theo nhóm hàng( sơ đồ 5) và nguyên tắc tổ chức theo vùng địa lý( sơ đồ 6) Việc lựa chọnnguyên tắc tổ chức nào là do đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể của từngdoanh nghiệp quyết định
Sơ đồ 4: Cơ cấu tổ chức bán hàng theo ngành hàng
Bộ phận quản lý cấp
vùng
Trang 25Sơ đồ 5: Cơ cấu tổ chức bán hàng theo nhóm hàng
Bộ phận phụ trách xuất khẩu
Bộ phận phụ trách bán hàng cho chính
Bộ phận phụ trách bán lẻ
BP phụ trách bán hàng cho
KH CN
BP
PT bán hàng cho
KH trọng điểm
Châu
Cấp quản lý vùng
Cấp quản lý vùng
Các đại diện Bán hàng
Cấp quản lý khu vực Miền Nam
Cấp quản lý
Tỉnh Lạng
Sơn
Cấp quản lý Tỉnh Quảng Ninh
Cấp quản lý Thành Phố
Hà Nội
Cấp quản lý Thành Phố Hải Phòng
Trang 26Qui mô của lực lượng bán hàng trực tiếp ảnh hưởng đến ngân sách bánhàng Việc xác định ngân sách bán hàng và kiểm soát ngân sách bán hàng vàkiểm soát ngân sách bán hàng trở thành vấn đề không thể thiếu được đối vứicác doanh nghiệp thương mại.
Xây dựng ngân sách bán hàng và kiểm soát chi phí bán hàng:
Ngân sách bán hàng là một bản liệt kê các yếu tố chi phí theo chức năngliên quan đến bán hàng cá nhân ở một vùng lãnh thổ hoặc vùng hoạt động.Thông thường khi xây dựng ngân sách cho bán hàng người ta xác định mộthạn mức bằng tiền mà bộ phận bằng tiền mà bộ phận bán hàng có thể sử dụngtheo các hạng mục sau:
- Tiền lương cho nhân viên văn phòng, bộ phận phục vụ, khen thưởngđặc biệt, hoa hồng bán hàng
- Đi lại và tiếp đãi: vé xe, đi lại, tiền ăn, tiền lưu trú, tiếp khách
- Công tác tuyển dụng: đi lại, tiền ăn, chi phí cho người tuyển, quảngcáo để tuyển người
- Chi khác: chi cho thi đua, cho tăng dự trữ bảo quản, quảng cáo tạichỗ
Để xây dựng ngân sách cho bán hàng, người ta có rất nhiều cách nhưngcách xác định thông dụng nhất là dựa trên mục tiêu và nhiệm vụ, trên cở sởcác chi phí của các năm trước để tính toán
Sau khi xây dựng ngân sách những nhà quản lý cần kiểm soát cáckhoản chi phí
Qui trình bán hàng các nhân tại cửa hàng (sơ đồ 7)
Trang 27Sơ đồ 7: Các bước trong hoạt động bán hàng
1 Thăm dò - Chào bán hàng tại nhà
XĐ các ảnh hưởng mua
Lập KH chào hàng
Thực hiện chào hàng
Kết thúc chào hàng
Theo dõi kết quả
Tiềm năng
Sát hạch triển vọng
Trang 28Phần II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÚC TIẾN BÁN HÀNG CỦA CÔNG TY
XNK THIẾT BỊ - ĐIỆN ẢNH - TRUYỀN HÌNH I.Giới thiệu khái quát về công ty.
- Tên Công ty : Công ty XNK Thiết bị Điện ảnh – Truyền hình
- Tên giao dịch : VINEMATIM
- Địa chỉ : 65 Trần Hưng Đạo - Hà Nội (trụ sở chính)
Công ty Vật tư Điện ảnh được đổi tên thành Công ty Xuất nhập khẩuVật tư Điện ảnh - Video (VINEMATIM) theo quyết định số 293/QĐ ngày 25tháng 3 năm 1993 của Bộ Văn hoá Thông tin
Công ty Xuất nhập khẩu Vật tư Điện ảnh - Video đổi tên thành Công tyXNK Thiết bị Điện ảnh Truyền hình, Sáp nhập Công ty Xuất nhập khẩu Vật
tư dịch vụ kỹ thuật Điện ảnh – Video vào Công ty XNK Vật tư Điện ảnh –Video Theo quyết định số 33/2002/QĐ-BVHTT ngày 10 tháng 12 năm 2002
và 02/2003/QĐ-BVHTT ngày 17 tháng 01 năm 2003 của Bộ Văn Hoá Thôngtin
Giấy đăng ký kinh doanh số 108084
Giấy phép kinh doanh XNK số 1.17.1.008GP
1 Chức năng và các ngành kinh doanh chính:
Trang 291 Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị ngành Điện ảnh, Văn hóa, Thông tin,Phát thanh, Truyền hình Hệ thống thu phát sóng, ăn ten, Vật tư thiết bị ngành
in Các loại máy phát điện, điện tử, điện lạnh, máy điều hoà không khí, máyhút ẩm
2 Kinh doanh XNK các loại thiết bị âm thanh, ánh sáng, máy chiếuthiết bị hội thảo hội nghị, nhạc cụ, thiết bị phục vụ biểu diễn nghệ thuật, cácsản phẩm văn hóa khác và các mặt hàng tiêu dùng phục vụ ngành Văn hóathông tin
3 Sản xuất, kinh doanh và liên doanh sản xuất các loại phụ tùng vật tư,thiết bị ngành Điện ảnh, Nhiếp ảnh
4 Nhập khẩu vật tư thiết bị phục vụ các ngành giáo dục, Thể thao, Y
tế, Môi trường, Bưu chính, Viễn thông, Quảng cáo, Thiết bị cơ khí, quang học,kiểm tra, bảo vệ, đo lường, thí nghiệm và một số hàng tiêu dùng (thiết bị vănphòng điện, điện tử, trang trí nội thất ) cùng các vật tư, nguyên liệu , hoá chất
và các mặt hàng tiêu dùng khác phục vụ đời sống và phát triển kinh tế quốcdân
5 Kinh doanh các phương tiện vận chuyển và dịch vụ vận chuyển, giaonhận hàng hoá trong và ngoài nước
6 Dịch vụ tư vấn thiết kế thẩm định, dịch vụ kỹ thuật, lắp đặt, bảohành, bảo trì các vật tư thiết bị ngành hàng mà Công ty kinh doanh
7 Thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ, dịch vụ đào tạo kỹ thuậtcho những ngành hàng trên
2.Cơ cấu tổ chức, bộ máy của Công ty:
A Cơ cấu bộ máy:
1 Các phòng ban trực thuộc Công ty:
- Phòng tổ chức
- Phòng Hành chính - Giao nhận - Tổng hợp
Trang 30- Phòng Tài chính kế toán
- Phòng Xuất nhập khẩu I
- Phòng Xuất nhập khẩu II
- Trung tâm Phát triển văn hoá thông tin
- Trung tâm ứng dụng Công nghệ Điện ảnh – Truyền hình
PGĐ KINH
PHÒN
G XNK2
PHÒNG HC- GIAO NHẬN - TH
PHÒN
G XNK1
TRUNG TÂM PTVH- TTIN
PHÒNG TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN
PHÒN
G KHO
KHO (ĐÔN
G ANH)
CỬA HÀNG BÁN
LẺ
PHÒN
G KINH DOAN H
Trang 31(Nguồn văn phòng công ty tháng 12/2203
2 Các tổ chức trực thuộc Công ty:
Trung tâm Phát triển Văn hoá - Thông tin (Trung tâm I) đăng ký kinhdoanh số 312144 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 6 tháng
Trung Tâm ứng dụng công nghệ Điện ảnh – Truyền hình (Trung tâmII)
Địa chỉ: 65 Trần Hưng Đạo - Hoàn Kiếm - Hà Nội – Tel: 04-9.436640 Chuyên kinh doanh các thiết bị chuyên dùng phục vụ ngành Phát thanhTruyền hình,
các thiết bị điện tử viễn thông, các hệ thống quan sát, nghe nhìn Hệthống thu phát
sóng, ăn ten, Vật tư thiết bị ngành in Các loại máy phát điện, điện tử,điện lạnh,
Chi nhánh Công ty XNK Thiết bị Điện ảnh-Truyền hình tại thành phố
các thiết bị điện tử viễn thông tại khu vực phía nam
Đại diện giao nhận tại T.p Hải Phòng
Địa chỉ: số 17 Trần Hưng Đạo – T.p Hải Phòng
Trang 32- Tổng số cán bộ công nhân viên: 85 người trong đó:
Tốt nghiệp đại học: 64 người
+ Đại học kỹ thuật: 40 người
+ Đại học kinh tế: 15 người
+ Đại học ngoại ngữ: 7 người
+ Đại học các chuyên ngành khác: 2 người
Tốt nghiệp trung cấp kỹ thuật, thợ lành nghề: 14 người
Cán bộ công nhân viên phục vụ khác: 7 người
Ngoài ra có nhiều cộng tác viên và các chuyên gia đầu ngành về cáclĩnh vực có liên quan đến các hoạt động thường xuyên của các bộ phận chứcnăng của Công ty như: Tư vấn, công nghệ, khoa học kỹ thuật
2 Đội ngũ cán bộ:
Với bề dày kinh nghiệm và đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo chínhquy tại các trường đại học trong và ngoài nước, có lòng nhiệt tình say mê vớinghề nghiệp, được sự cộng tác tư vấn của các chuyên gia, kỹ thuật viên hàng
đầu trong lĩnh vực Điện ảnh, Âm thanh, Văn hoá Thông tin, Phát thanh Truyền hình.
Trong những năm qua, Công ty đã thực hiện tốt nhiều công trình từ khâuthiết kế, lắp đặt, cung ứng đến bảo hành, bảo trì, các công trình có giá trị cao
Trang 33đều là các hệ thống thiết bị chuyên dùng của ngành Điện ảnh, Văn hoá Thôngtin, Phát thanh Truyền hình
Đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Công ty luôn tiếp thu được các kỹ thuật
mới, cập nhật thông tin, theo kịp xu thế phát triển của thời đại
3 Cơ sở làm việc:
Trụ sở điều hành chính: 65 Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - HàNội, với tổng diện tích 700m2
Hệ thống kho tàng: 5000m2 tại kho Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội
Trung tâm Phát triển Văn hoá - Thông tin (Trung tâm I) tại 65 TrầnHưng Đạo - HN
Trung tâm ứng dụng công nghệ Điện ảnh – Truyền hình (Trung tâm II)tại 65 Trần Hưng Đạo – Hà Nội
Chi nhánh Công ty tại số 89 Lê Thánh Tôn - Quận I – Tp.HCM., diệntích 500m2
Văn phòng đại diện Công ty tại số 17 Trần Hưng Đạo - TP Hải Phòng
Năng lực tài chính:
1 Tổng số vốn kinh doanh: 9.328.840.892 đ (tính đến 31/12/2002)
Trong đó : Vốn cố định : 8.877.639.022 đ
Vốn lưu động: 451.201.870 đ
và nhiều nguồn vốn huy động khác
2 Tài khoản và ngân hàng hoạt động:
- Công ty có tài khoản tiền Việt Nam và Ngoại tệ số: 710A 00627 tại Sởgiao dịch Ngân hàng Công thương Việt Nam
- Tài khoản tiền Việt : 001.1.0015388 tại Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam
- Tài khoản ngoại tệ : 001.0.37.0080606 tại Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam
Trang 34- Tài khoản tiền Việt : 018.100.0051305 Tại Ngân hàng Vietcombank –Khu chế xuất
Tân Thuận – Chi nhánh Nhà Rồng
- Tài khoản ngoại tệ : 018.137.0051324 Tại Ngân hàng Vietcombank –Khu chế xuất
Tân Thuận – Chi nhánh Nhà Rồng
Bảng 1: Tóm tắt tài sản có và tài sản nợ trên cơ sở báo cáo tài chính
đã được kiểm toán trong vòng 3 năm tài chính vừa qua
2000-2001-2002:
VT: VN ĐVT: VNĐ ĐVT: VNĐ
1 Tổng số tài sản có 27.527.198.147 38.042.588.726 57.100.982.307
2 Tài sản có lưu động 26.711.983.037 36.849.215.323 55.430.509.227
3 Tổng số tài sản nợ 22.174.087.898 31.934.415.577 57.100.982.307
4 Tài sản nợ lưu động 22.174.087.898 31.934.415.577 49.829.338.504
5 Lợi nhuận trước thuế 377.000.712 430.423.833 1.159.870.955
6 Lợi nhuận sau thuế 256.360.525 292.688.206 788.712.249
7 Tổng doanh thu 66.795.533.948 80.987.808.646 77.648.875.347
Công ty luôn đảm bảo tình hình tài chính trong sạch, lành mạnh, đảmbảo các nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức và cáckhoản thuế khác của Nhà nước nộp vào ngân sách, qua các đợt thanh tra vàkiểm toán luôn được kết luận là đơn vị có tình hình tài chính trong sạch, luônđược bằng khen của UBND thành phố Hà Nội về thành tích nghĩa vụ nộp thuếvới Nhà nước, bằng khen của Cục Hải quan Hải Phòng và bằng khen của Bộvăn hoá thông tin về hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác Với thành tích của
mình Công ty đã được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam tặng thưởng Huân chương Lao động hạng 3.
4 Quan hệ đối ngoại :
Công ty thường xuyên có mối quan hệ và cung cấp thiết bị, máy móc,vật tư cho các Hãng phim, các Sở văn hoá thông tin, các Công ty Điện ảnh
Trang 35trong cả nước Công ty đã cung cấp, lắp đặt, chuyển giao công nghệ các hệthống thiết bị Máy chiếu phim âm thanh lập thể, hệ thống thiết bị sân khấu,Studio, hệ thống chiếu sáng cho hầu hết các Công ty Điện ảnh, các Trung tâmPHP & CB, các Sở Văn hoá Thông tin, các Hãng phim và các Đài Phát ThanhTruyền Hình trên phạm vi cả nước.
Công ty có những mối quan hệ lâu năm với các hãng có uy tín trên thếgiới về thiết bị Điện ảnh, Video, Phát thanh - Truyền hình, âm thanh, đèn ánh
sáng, điện tử chuyên dùng như: KINOTON, Electrovoice, TELEX, DOLBY, HFC, PHOTOMEC, RTI, QSC, OHAUSS, HP, DTS, PANTHER, ,
TOA, TEXA, SHURE, YAMAHA, MICROWAVE, SONY, JVC, ABE,LTM, NIKON, ARRI, KATHREIN, IKEGAMI, HITACHI, NIKON, SNELL
& WILCOX, FOR-A, GVG, SOUNDCRAFT, SHARP, TASCAM,
PANASONIC, CROWN, BOSE, PEAVEY, NEUTRIK, ALESIS, HP, IBM,
MICROSTAR, ELLA, DALET, AVID, INCITE, MATROX, IRT, DPS
Chúng tôi đã cung cấp và lắp đặt hệ thống trang thiết bị kỹ thuật phục
vụ công tác sản xuất chương trình cho các Hãng phim, chương trình phátthanh truyền hình cho hầu hết các Đài Phát thanh, Đài Truyền hình trên toàn
quốc như : Viện Phim Việt Nam, Trung Tâm Kỹ Thuật Điện ảnh Việt Nam,
Cục Điện ảnh Việt Nam, Điện ảnh QĐND, Điện ảnh CAND, Hãng Phimtruyện Việt Nam, Hãng Phim truyện I, Trung tâm PHP & Chiếu bóng các tỉnhtrên toàn quốc, Đài TH Việt nam, Đài PTTH Hà nội, Đài TH Tp Hồ ChíMinh, Đài TH Huế, Đài PTTH Đà Nẵng, Đài PTTH Hải Phòng, Đài PTTHcác tỉnh Lao Cai, Sơn La, Tuyên Quanh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ,Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, QuảngBình, Bình Định, Phú Yên