1.1.1 Khái niệm Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phươngpháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tinkhác về quản lý nhằm đánh giá tì
Trang 1và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự vận động, vươn lên đểvượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranhkhắc nghiệt của cơ chế thị trường
Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trênthương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lýtài chính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởngtrực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam Bởi lẽ, đểhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cầnphải nhanh chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhucầu về vốn, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời,
sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất Muốn vậy, các doanh nghiệp cầnnắm được những nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từngnhân tố đến tình hình tài chính doanh nghiệp Vì vậy các doanh nghiệp cầnthực hiện phân tích tài chính
Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản lýdoanh nghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, từ đó có thể nhận ranhững mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp nhằm làm căn cứ để hoạch địnhphương án hành động phù hợp cho tương lai và đồng thời đề xuất những giải
Trang 2pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính giúp nâng caochất lượng doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên nên “Đề tài: Phân tích tài chính và các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính tại công ty TNHH quảng cáo Sông Xanh” đã được chọn.
Kết cấu của chuyên đề:
Chuyên đề được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính và hiệu quả tàichính
Chương 2: Thực trạng tình hình tài chính tại công ty TNHH quảng cáoSông Xanh
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính tại công ty TNHHquảng cáo Sông Xanh
Trang 3CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÊ PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH
1.1 Những vấn đề cơ bản phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phươngpháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tinkhác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp,đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đó, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp đó, giúp người sử dụng thông tinđưa ra các quyết định quản lý, quyết định tài chính phù hợp
1.1.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuấtkinh doanh của một doanh nghiệp, và có ý nghĩa quyết định trong việc tồntại và phát triển của doanh nghiệp Do đó tất cả hoạt động sản xuất kinhdoanh đều có ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp Ngược lại,tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đốivới quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế cần phải thường xuyên, kịp thờiđánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó công tácphân tích hoạt động tài chính giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa sau:
Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tìnhhình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch ra khảnăng tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nângcao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp cũng cố tốt hơn hoạt động tàichính của mình
Trang 4Phân tích tình hình tài chính là cụng cụ không thể thiếu phục vụ chocông tác quản lý của ban quản lý doanh nghiệp, các cơ quan cấp trên, cơquan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, tìnhhình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của nhà nước, xem xétviệc cho vay vốn…
1.1.3 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính có thể được hiểu như quá trình kiểm tra, xem xétcác số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mục đích đánh giá, dự tínhcác rủi ro tiềm ẩn trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính củadoanh nghiệp Mặt khác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là đểđáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của nhiều đối tượng quan tâm đến nhữngkhía cạnh khác nhau về tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho nhữngmục đích của mình
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Phân tích tình hình tài chính nhằm mục
Hai là: định hướng các quyết định của ban giám đốc như: quyết định đầu
tư, tài trợ, phân chia lợi tức, cổ phần,…
Ba là: cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ…
Bốn là: công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý
Đối với đơn vị chủ sở hữu: Họ cũng quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả
Trang 5hành hoạt động của nhà quản trị để quyết định sử dụng hoặc bãi miễn nhàquản trị, cũng như quyết định việc phân phối kết quả kinh doanh
Đối với người cho vay: (Ngân hàng, các nhà cho vay, nhà cung cấp) mối
quan tâm của họ hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Do đó họ cầnchú ý đến tình hình và khả năng thanh toán của đơn vị cũng như quan tâmđến lượng vốn của chủ sở hữu, khả năng sinh lời để đánh giá đơn vị có khảnăng trả nợ được hay không khi quyết định cho vay, bán chịu sản phẩm chođơn vị
Đối với nhà đầu tư: Điều mà họ quan tâm đầu tiên, đó là sự an toàn của
lượng vốn đầu tư, kế đó là mức độ sinh lói, thời gian hoàn vốn Vỡ vậy họcần những thụng tin về tài chính, tình hình hoạt động, kết quả kinh doanh,tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Do đó họ quan tâm đến phân tíchtài chính của đơn vị qua các thời kỳ, để quyết định đầu tư vào đơn vị haykhông, đầu tư dưới hình thức nào
Đối với cơ quan chức năng: Như cơ quan thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế,
luật sư… thông qua thông tin trên báo cáo tài chính xác định các khoảnnghĩa vụ đơn vị phải thực hiện đối với nhà nước, cơ quan thống kê tổng hợpphân tích hình thành số liệu thống kê, chỉ số thống kê…
1.2 Nội dung phân tích tài chính.
Nội dung chủ yếu của phân tích báo cáo tài chính đi từ khái quát đến cụ thể bao gồm các nội dung sau:
Đánh giá khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích tình hình bố trí cơ cấu tài sản, nguồn vốn
Phân tích tình hình công nợ của doanh nghiệp
Phân tích tình hình luân chuyển vốn
Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trang 6Phân tích khả năng sinh lời
1.3 Các tài liệu dùng trong phân tích tài chính.
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ mụctiêu của dự đoán tài chính Từ những thông tin nội bộ đến những thông tinbên ngoài, thông tin số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phântích có thể đưa ra nhận xét, kết luận sát thực Tuy nhiên, thông tin kế toán lànguồn thông tin đặc biệt cần thiết Nó được phản ánh đầy đủ trong các báocáo kế toán của doanh nghiệp Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sởcác báo cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kếtoán
Các báo cáo tài chính gồm có:
1.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chínhcủa một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó Đấy là một báocáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại mộtthời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hìnhthành tài sản Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổnghợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả( nguồn vốn)
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu làbản cân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá mộtcách tổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sửdụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là
Trang 7 Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản,phần dưới là phần nguồn vốn
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luônluôn bằng nhau
Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
Phần tài sản : Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
Về mặt pháp lý, phần tài sản thể hiện số tiềm lực mà doanh nghiệp cóquyền quản lý, sử dụng lâu dài gắn với mục đích thu được các khoản lợi íchtrong tương lai
Về mặt kinh tế, các chỉ tiêu của phần tài sản cho phép đánh giá tổng quát
về quy mô vốn, cơ cấu vốn, quan hệ giữa năng lực sản xuất và trình độ sửdụng vốn của doanh nghiệp
Phần nguồn vốn: Bao gồm công nợ phải trả và nguồn vốn chủ
sở hữu, phản ánh các nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp
Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặtvật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn ( Nhà nước, ngânhàng, cổ đông, các bên liên doanh ) Hay nói cách khác thì các chỉ tiêu bênphần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp về tổng số vốn đóđăng ký kinh doanh, về số tài sản hình thành và trách nhiệm phải thanh toáncác khoản nợ ( với người lao động, với nhà cung cấp, với Nhà nước )
Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn thể hiện các nguồn hình thành tài sảnhiện có, căn cứ vào đó có thể biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốnđồng thời phần nguồn vốn cũng phản ánh được thực trạng tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp
Trang 8Tác dụng của phân tích bảng cân đối kế toán:
Cho biết một cách khái quát tình hình tài chính doanh nghiệpthông qua các chỉ tiêu về tổng tài sản và tổng nguồn vốn
Thấy được sự biến động của các loại tài sản trong doanh nghiệp: tài sản lưu động, tài sản cố định
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp qua các khoản phải thu
và các khoản phải trả
Cho biết cơ cấu vốn và phân bổ nguồn vốn trong doanh nghiệp
1.3.2 Báo cáo kết quả kinh doanh.
Một loại thông tin không kém phần quan trọng được sử dụng trong phântích tài chính là thông tin phản ánh trong báo cáo kết quả sản xuất kinhdoanh Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanhcho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹptrong tương lai Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúpcho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hànghoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hànhdoanh nghiệp Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinhdoanh : lãi hay lỗ trong năm Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánhkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của mộtdoanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Nó cung cấp những thông tintổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹthuật và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
Trang 9Phần I: Lãi, lỗ.
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, đượcmiễn giảm
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanhthu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước củadoanh nghiệp Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũngcho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong
kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
và vốn là bao nhiêu Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với
kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhànước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta
có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanhnghiệp
1.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong bốn báo cáo tài chính bắt buộc
mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải lập để cung cấp cho người sử dụngthông tin của doanh nghiệp Nếu bảng cân đối kế toán cho biết những nguồnlực của cải (tài sản) và nguồn gốc của những tài sản đó; và báo cáo kết quảkinh doanh cho biết thu nhập và chi phí phát sinh để tính được kết quả lói, lỗtrong một kỳ kinh doanh, thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lờicác vấn đề liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình thu
Trang 10chi ngắn hạn của doanh nghiệp Những luồng vào ra của tiền và các khoảncoi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm : lưu chuyển tiền tệ từ hoạt độngsản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyểntiền tệ từ hoạt động bất thường.
1.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính.
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin vềtình hình sản xuất kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính, đồngthời giải thích thêm một số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưađược trình bày nhằm giúp cho người đọc và phân tích các chỉ tiêu trong báocáo tài chính có một cái nhìn cụ thể và chi tiết hơn về sự thay đổi nhữngkhoản mục trong bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh “ Thuyết minh báo cáo tài chính” trình bày 7 chỉ tiêu nhằm cụ thể hoá cácchỉ tiêu mà bảng cân đối kế toán không thể nêu lên hết được bao gồm:
Chỉ tiêu 1: Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
Chỉ tiêu 2: Chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp
Khi lập hai chỉ tiêu này, phải quán triệt các nguyờn tắc chung sau:
Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu
Phần trình bày bằng số liệu phải thống nhất với số liệu trên các báocáo khác
Các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp phảithống nhất trong cả niên độ kế toán đối với các báo cáo quý Nếu có
sự thay đổi phải trình bày rõ ràng những lý do thay đổi
Trong các biểu số liệu, cột “số kế hoạch” thể hiện số liệu kế hoạch của
Trang 11 Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệpchỉ sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm.
+ Chỉ tiêu 3: “Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính” bao gồm: 3.1 Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố: phản ánh toàn bộ chiphí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp, được phânchia theo các yếu tố chi phí như sau:
Chi phí nguyên vật liệu
Chi phí nhân công
Chi phí khấu hao tài sản cố định
Chi phí dịch vụ mua ngoài
Chi phí khác bằng tiền
3.2 Tình hình tăng giảm tài sản cố định: phản ánh tổng số tănggiảm của tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính, tài sản cốđịnh vô hình theo từng nhóm tài sản trong kỳ báo cáo như nhà cửa, máymóc, thiết bị cả về nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại và lý do tăng,giảm chủ yếu
3.3.Tình hình thu nhập của công nhân viên: phản ánh tổng số thunhập bình quân của công nhân viên từ tiền lương và các khoản tiền thưởng,các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương và các khoản tiền thưởngtrước khi trừ các khoản giảm trừ trong kỳ báo cáo
3.4.Tình hình tăng giảm vốn chủ sở hữu: phản ánh tổng số tănggiảm các nguồn vốn chủ sở hữu trong kỳ báo cáo như nguồn vốn kinhdoanh, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính theo từng loại nguồnvốn và theo từng nguồn cấp như ngân sách cấp, chủ sở hữu góp, nhận vốngóp liên doanh và lý do tăng giảm chủ yếu
Trang 123.5 Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào đơn vị khác: phảnánh tổng số tăng, giảm, kết quả các khoản đầu tư vào đơn vị khác theo từngloại đầu tư trong kỳ báo cáo như đầu tư chứng khoán, góp vốn liên doanhngắn hạn, dài hạn và lý do tăng giảm chủ yếu.
3.6 Các khoản phải thu và nợ phải trả: phản ánh tình hình tănggiảm các khoản phải thu và nợ phải trả, các khoản đó quá hạn thanh toán,đang tranh chấp hoặc mất khả năng thanh toán trong kỳ báo cáo theo từngđối tượng cụ thể và lý do chủ yếu
Chỉ tiêu 4: “Giải thích và thuyết minh một số tình hình và kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh”
Chỉ tiêu 5: “Phương pháp lập một số chỉ tiêu đánh giá khái quátthực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ” bao gồm:
Bố trí cơ cấu tài sản và nguồn vốn
Khả năng thanh toán
Tỷ suất sinh lời
Chỉ tiêu 6: “ Đánh giá tổng quát các chỉ tiêu” Đây là phần doanhnghiệp tự đánh giá khái quát tình hình thực hiện các chỉ tiêu trong kỳ báocáo của mình cùng những khó khăn, thuận lợi mà doanh nghiệp gặp phảitrong kỳ báo cáo
Chỉ tiêu 7: “ Các kiến nghị”
Doanh nghiệp đề xuất các kiến nghị với các cơ quan hữu quan về cácvấn đề liên quan đến chế độ, chính sách trong hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
Trang 13Phân tích thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung những thôngtin chi tiết, cụ thể hơn về một số tình hìỡnh liên quan đến hoạt động kinhdoanh trong kỳ của doanh nghiệp Cụ thể:
Phân tích chỉ tiêu “Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố”
sẽ cho ta biết tình hình biến động của chi phí trong kỳ theotừng yếu tố chi phí: nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm tài sản cố định” sẽcho ta biết được tình hình biến động của tài sản cố định trong
kỳ theo từng loại Qua đó, đánh giá được tình hình đầu tư,trang bị tài sản cố định của doanh nghiệp và xây dựng được
kế hoạch đầu tư
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình thu nhập của công nhân viên”
sẽ giúp ta có những đánh giá chính xác hơn về sự phát triểncủa doanh nghiệp bởi vì không thể nói một doanh nghiệp kinhdoanh có hiệu quả nếu thu nhập của người lao đông có xuhướng giảm theo thời gian và thấp so với mặt bằng chungđược Thu nhập của công nhân viên phải gắn liền với kết quảkinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sởhữu” để thấy được tình hình biến động của tổng số nguồn vốnchủ sở hữu cũng như từng loại nguồn vốn chủ sở hữu củadoanh nghiệp Qua đó, đánh giá được tính hợp lý của việchình thành và sử dụng từng nguồn vốn chủ sở hữu
Trang 14 Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vàocác đơn vị khác” để nắm được tình hình đầu tư và hiệu quảđầu tư vào các đơn vị khác.
Phân tích chỉ tiêu “Các khoản phải thu và nợ phải trả” sẽ nắmđược tình hình thanh toán các khoản phải thu và các khoản nợphải trả trong kỳ của doanh nghiệp
Tình hình thanh toán các khoản phải thu và các khoản phải trả làmột trong những chỉ tiêu phản ánh khá sát thực chất lượng hoạtđộng tài chính Nếu hoạt động tài chính tốt, lành mạnh doanhnghiệp sẽ thanh toán kịp thời các khoản nợ phải trả cũng như thukịp thời các khoản nợ phải thu, tránh được tình trạng chiếm dụngvốn lẫn nhau cũng như tình trạng công nợ dây dưa kéo dài, tìnhtrạng tranh chấp, mất khả năng thanh toán
Phân tích các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận sẽ phản ánh hiệuquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các tỷ suất lợinhuận càng lớn so với trước thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanhcàng tăng
1.4 Các phương pháp phân tích tài chính.
1.4.1 Phương pháp phân tích chỉ số.
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nódựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan
hệ tài chính
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời
Trang 15chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu
và thúc đẩy quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ như:
Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đápứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêunày phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính
Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưngcho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp
Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổnghợp nhất của doanh nghiệp
1.4.2 Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến nhất và là phương phápchủ yếu trong phân tích tài chính để đánh kết quả, xác định vị trí và xuhướng biến đổi của chỉ tiêu phân tích
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳthuộc vào mục đích và yêu cầu của việc phân tích
So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc địnhmức Đây là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉtiêu kế hoạch, định mức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạchđược đề ra
So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các nămcho thấy sự biến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng củadoanh nghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh
So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuấtkinh doanh khác nhau của doanh nghiệp
Trang 16Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện cóthể so sánh được của các chỉ tiêu:
Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nộidung, cơ cấu của các chỉ tiêu
Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêunày bằng những đơn vị tính đổi nhất định
Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể sosánh bằng các chỉ tiêu tương đôí Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một sốtrường hợp, việc so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện đượchoặc không mang một ý nghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng cácchỉ tiêu tương đối thì hoàn toàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiệntượng nghiên cứu
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và
số tương đối
Số bình quân phản ánh mặt chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự pháttriển không đồng đều của các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cáchkhác, số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của các chỉ tiêu Sốbình quân có thể biểu thị dưới dạng số tuyệt đối hoặc dưới dạng số tươngđối( tỷ suất) Khi so sánh bằng số bình quân sẽ thấy mức độ đạt được so vớibình quân chung của tổng thể, của ngành, xây dựng các định mức kinh tế kỹthuật
Phân tích bằng số tuyệt đối cho thấy rõ khối lượng, quy mô của hiệntượng kinh tế Các số tuyệt đối được so sánh phải có cùng một nội dung
Trang 17Sử dụng số tương đối để so sánh có thể đánh giá được sự thay đổi kếtcấu của hiện tượng kinh tế, đặc biệt có thể liên kết các chỉ tiêu không giốngnhau để phân tích so sánh Tuy nhiên số tương đối không phản ánh đượcthực chất bên trong cũng như quy mô của hiện kinh tế Vì vậy, trong nhiềutrường hợp khi so sánh cần kết hợp đồng thời cả số tuyệt đối và số tươngđối.
1.4.3 Phương pháp phân tích Dupont.
Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệtương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các tỷ số tài chính Vìvậy, nó được gọi là phương pháp Dupont Với phương pháp này, các nhàphân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấutrong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là táchmột tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhậptrên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích
số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phépphân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp
Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tỷ số doanh lợi vốnchủ sở hữu (ROE) với tỷ số doanh lợi tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuếROA = x = (1) Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Tỷ ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:Một là: Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
Hai là : Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Trang 18Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp(ROE):
Lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
ROA = = = ROE(2) Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta cómối liên hệ giữa ROA và ROE:
Trang 19Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
= x x
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản – Nợ
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu 1
= x x
Doanh thu Tổng tài sản 1- Rd
Với Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là phươngtrình Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở hữuvào doanh lợi tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ
Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sởhữu nếu doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuậncàng cao và ngược lại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng
số lỗ
Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích pháthiện và tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp Nếu doanh lợi vốnchủ sở hữu của doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùngngành thì nhà phân tích có thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theo phươngpháp phân tích Dupont để tìm ra nguyên nhân chính xác Ngoài việc được sửdụng để so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành, các chỉ tiêu
đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệptrong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh nghiệp có thể sẽgặp phải Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ vàphương pháp phân tích Dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tàichính doanh nghiệp
Trang 20Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một
số phương pháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phươngpháp toán tài chính, kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định
Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽcác phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vìtrong phân tích tài chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ýnghĩa khi xem xét nó trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Do vậy,phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đếncác phần chi tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tàichính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các chỉ sốtổng quát về tình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêutài chính đặc trưng của doanh nghiệp, so sánh với những năm trước đó, đồngthời so sánh với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được xu hướng biến động cũngnhư khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với mức trung bình ngành rasao
1.5 Quan niệm hiệu quả tài chính và sự cần thiết nâng cao hiệu quả tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp.
1.5.1 Quan niệm hiệu quả tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp tùy từng thời kỳ kinhdoanh, có những mục tiêu kinh doanh khác nhau, đưa ra những chiến lược,cách thức kinh doanh khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả với những mụctiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận
Với doanh nghiệp, hiệu quả phải được xem xét dưới góc độ kinh tế,tài chính Hiệu quả tài chính là khía cạnh cốt lõi đánh giá hiệu quả của mộtdoanh nghiệp, thể hiện hiệu quả hoạt động về mặt tiền tệ
Trang 21Nói đến hiệu quả tức là muốn nói tới sự so sánh giữa cái bỏ ra và cáithu được Trong kinh doanh, hiệu quả chỉ mối quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra
và những kết quả đạt được
Mối quan hệ so sánh này thường được xem xét dưới hai góc độ: hiệuquả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Hiệu quả tuyệt đối: là chỉ tiêu phản ánh mức chênh lệch giữa kết quả
và chi phí, nó cho chúng ta thấy qui mô của hiệu quả
Công thức dùng để xác định hiệu quả tuyệt đối:
Hiệu quả tương đối:
Chỉ tiêu này là tỷ lệ so sánh giữa hai đại lượng: chi phí và kết quảkinh doanh, chỉ tiêu này dùng để so sánh giữa các phương án có quy môkhác nhau, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài ngành
Công thức dùng để xác định hiệu quả tương đối:
Trang 22Chỉ tiêu e2 cho biết để có một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị đầuvào, dùng để xác định mức tiết kiệm hay lãng phí nguồn lực.
Khi các đại lượng chi phí, kết quả được đánh giá thuần túy trên giác
độ tài chính, tương quan giữa các đại lượng đó thể hiện hiệu quả tài chínhtrong kinh doanh của doanh nghiệp
1.5.2 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Không có một doanh nghiệp nào có thể tồn tại và phát triển được nếukhông nâng cao hiệu quả tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh củamình
Hiệu quả tài chính đảm bảo thực hiện tái sản xuất mở rộng cho doanh nghiệp.
Kinh doanh trước hết cần phải đủ bù đắp những chi phí đã bỏ ra trongquá trình kinh doanh đồng thời điều cần thiết, quan trọng hơn là phải có tíchlũy, để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, có như vậy mới đảmbảo tồn tại và phát triển trong kinh doanh
Kinh doanh phải có tích lũy, tích lũy không ngừng tạo ra một nguồnvốn lớn đủ khả năng đổi mới công nghệ, tăng cường trang bị máy móc, thiết
bị, nâng cao khả năng cạnh tranh, đứng vững trong môi trường cạnh tranhngày càng quyết liệt
Hiệu quả tài chính bù đắp chi phí cơ hội của doanh nghiệp.
Đầu tư cho sản xuất kinh doanh một ngành hàng, một lĩnh vực này vớimong muốn đạt hiệu quả, thu lợi nhuận nghĩa là doanh nghiệp chịu mất đinhững cơ hội thu được lợi nhuận từ những ngành kinh doanh khác Kinhdoanh có hiệu quả là điều kiện cần thiết bù đắp những cơ hội bị mất đi củadoanh nghiệp
Trang 23Hiệu quả tài chính tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra gay gắt Để tồn tại đòihỏi mỗi doanh nghiệp phải tạo cho mình có được ưu thế trong cạnh tranh, ưuthế đó có thể là: chất lượng sp, giá bán, mẫu mã Trong giới hạn về nguồnlực, doanh nghiệp cần tìm mọi cách huy động tối đa các nguồn lực cho cạnhtranh Nâng cao hiệu quả tài chính tạo nguồn vốn cho việc tăng cường sứcmạnh cạnh tranh
Việc giành ưu thế trong cạnh tranh sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộngthị trường tiêu thụ sản phẩm
Nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường có mối quan hệtác động qua lại nhau Nâng cao khả năng cạnh tranh giúp doanh nghiệp cóthể mở rộng thị trường, ngược lại mở rộng thị trường giúp các doanh nghiệptăng sản lượng tiêu thụ, tăng hệ số sử dụng các yếu tố sản xuất, tức là nângcao khả năng cạnh tranh
Nâng cao hiệu quả tài chính tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Kinh doanh có hiệu quả thực hiện nâng cao khả năng cạnh tranh, mởrộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộng sản xuất là điều kiện để doanhnghiệp tồn tại và đứng vững trong kinh doanh, cho sự phát triển bền vữngcủa doanh nghiệp
Kinh doanh có hiệu quả thu được lợi nhuận, thực hiện tích lũy tái sảnxuất mở rộng, tăng cường đổi mới máy móc, thiết bị, trau dồi năng lực quản
lý, kỹ năng cho công nhân từ đó tăng năng suất lao động, giảm chi phí sảnxuất, tăng sản lượng tiêu thụ, mở rộng thi trường đó là yêu cầu cần thiết cho
sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp
Trang 241.5.3 Các chỉ tiêu và cơ sở đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Kinh doanh có hiệu quả đòi hỏi bắt buộc để doanh nghiệp có thể tồntại, phát triển Để có thể biết được doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả haykhông phải sử dụng một số các chỉ tiêu để đánh giá, hiệu quả tài chính củadoanh nghiệp
1.5.3.1 Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu:
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =
Lợi nhuận trước thuế
x 100%Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết mức lợi nhuận thu được từ một đồng doanh thubán hàng Tỷ suất này càng cao thì lợi nhuận đạt được trên doanh thu càngcao
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh:
Chỉ tiêu này phản ánh sức sinh lời của vốn, một đồng vốn bỏ vào kinhdoanh thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước lãi, thuế, phản ánh sức sinhlời của vốn
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn =
Lợi nhuận trước thuế
x 100%Tổng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh việc sử dụng nguồn vốn kinh doanh đã hiệu quảchưa Nếu chỉ sô này là nhỏ chứng tỏ việc sủ dụng nguồn vốn kinh doanh làchưa hiệu quả vì sử dụng quá nhiều vốn mà tạo ra ít lợi nhuân Nếu chỉ sốnày cao chứng tỏ công ty sử dụng vốn kinh doanh tốt, đạt hiệu quả cao vì sửdụng ít vốn kinh doanh mà lợi nhuận tạo ra là lớn
Trang 25Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu:
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu
=
Lợi nhuận trước thuế
x 100%Tổng vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu, một đồng vốnchủ sở hữu đưa vào kinh doanh tạo ra bao nhiêu dồng lợi nhuận Nó phảnánh mức độ ích lợi của vốn chử sở hữu khi đem vào kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận trên lao động:
Mức lợi nhuận bình quân trên một lao động =
Lợi nhuận ròng
Số lao động bình quânMột lao động tao ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này phản ánhmức độ, hiệu quả sử dụng lao động
Hiệu suất sử dụng lao động:
Hiệu suất sử dụng lao động =
Doanh thu thuần
Số lao động bình quânChỉ tiêu này cho biết trong kỳ một lao động bình quân tạo được baonhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng lao động Chỉ
số này cao chứng tỏ một lao động bình quân có thể tạo ra được nhiều doanhthu, còn nếu chỉ số này thấp chứng tỏ việc sử dụng lao động là chưa hiệuquả, chưa hợp lý
Hiệu suất sử dụng vốn:
Hiệu suất sử dụng vốn =
Doanh thu thuầnTổng vốn kinh doanhChỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu,
đo lường hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Với tổng vốn kinh doanh
Trang 26cao, đạt hiệu quả cao và ngược lại nếu nguồn vốn kinh doanh quá nhiềunhưng chỉ tạo được ít doanh thu chứng tỏ việc sử dụng vốn kinh doanh làchưa hợp lý, cần có biện pháp khắc phục.
1.5.3.2 Cơ sở đánh giá hiệu quả tài chính:
Mức độ hiệu quả tài chính trong kinh doanh của ngành:
Mỗi ngành có những đặc điểm kinh doanh, điều kiện kinh doanhriêng Các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành có cùng môitrường kinh doanh giống nhau, có những điều kiện kinh doanh, cũng nhưchịu những sức ép kinh doanh tương tự nhau Trong mỗi ngành kinh doanh
có một mức độ hiệu quả chung nhất định Các doanh nghiệp kinh doanhtrong ngành để đánh giá hiệu quả tài chính của mình trước tiên cần so sánhvới hiệu quả kinh doanh của ngành, hiệu quả tài chính của các doanh nghiệpcùng ngành để tự đánh giá được việc kinh doanh của mình có hiệu quả haykhông, đánh giá được khả năng cạnh tranh của mình với những đối thủ trongcùng ngành
Lãi suất tín dụng:
Là mức lãi tối thiểu có thể đạt được khi doanh nghiệp có một lượngvốn nhất định Khi quyết định đầu tư vốn cho kinh doanh người ta luôn kỳvọng phải thu được mức lợi nhuận lớn hơn lãi suất tín dụng Lãi suất tíndụng là một căn cứ để đánh giá hiệu quả tài chính trong kinh doanh củadoanh nghiệp
Mức thu nhập mong đợi:
Khi tiến hành đầu tư lựa chọn một phương án kinh doanh, lập kếhoạch kinh doanh cho một thời kỳ nhất định, trên cơ sở những điều kiện môitrường kinh doanh, những nguồn lực của mình, các doanh nghiệp xác định
Trang 27chính của doanh nghiệp, so sánh giữa chỉ tiêu mong đợi, chỉ tiêu kế hoạchvới mức thực tế đạt được, phân tích nguyên nhân, đề ra các giải pháp pháthuy những cái được, khắc phục những hạn chế từ đó góp phần nâng cao hiệuquả tài chính.
Chi phí vốn:
Phục vụ quá trình kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng nhiều nguồn vốnkhác nhau, mỗi nguồn vốn có một mức chi phí sử dụng nhất định Chi phívốn cho kinh doanh của mỗi doanh nghiệp được xác định theo công thức:
1.5.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.
Kinh doanh đạt hiệu quả, doanh nghiệp luôn phải tìm kiếm những cơhội, sẵn sàng đối phó với những nguy cơ luôn có thể xảy ra Phân tích môitrường kinh doanh là vấn đề mà mỗi doanh nghiệp phải tiến hành thườngxuyên, đó cũng chính là vấn đề xác định những yếu tố ảnh hưởng đến hiệuquả kinh doanh hay hiệu quả tài chính của doanh nghiệp
1.5.4.1 Các yếu tố khách quan:
Môi trường kinh tế:
Doanh nghiệp cần thị trường có sức mua Sức mua trong một nền kinh
tế phụ thuộc nhiều yếu tố: thu nhập, giá cả, tiết kiệm, nợ nần, khả năng vaytiền
Thực trạng nền kinh tế và xu hướng trong tương lai ảnh hưởng đếnhoạt động của doanh nghiệp Tốc độ tăng trưởng khác nhau của nền kinh tế
Trang 28trong các giai đoạn: thịnh vượng, suy thoái, phục hồi ảnh hưởng đến tiêudùng.
Mức lãi suất ảnh hưởng đến tiết kiệm, cũng tác động đến tiêu dùng,đến cầu hàng hóa của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, với mức lãi suất cao,chi phí của các doanh nghiệp tăng do phải chịu lãi suất đi vay cao, hiệu quảtài chính trong kinh doanh sẽ thấp
Lạm phát là một yếu tố quan trọng của môi trường kinh tế, với mứclạm phát cao hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống người tiêu dùng trởnên bấp bênh hơn tác động rất lớn đến nhu cầu sản xuất, tiêu dùng Lạm phátcao khiến đầu tư rủi ro cao, cầu đầu tư giảm
Cạnh tranh và các lực lượng cạnh tranh:
Trong kinh doanh các doanh nghiệp chịu tác động của các yếu tố môitrường vĩ mô, và nó còn chịu những tác động rất trực tiếp, gay gắt hơn bởinhững nhân tố trong môi trường cạnh tranh của ngành kinh doanh
Một ngành sản xuất hẹp hay ngành kinh tế kỹ thuật bao gồm nhiềudoanh nghiệp có thể đưa ra các sản phẩm và dịch vụ giống nhau, tương tựnhau có thể thay thế được cho nhau, đó là những sản phẩm, dịch vụ thỏamãn những nhu cầu cơ bản như nhau
Việc phân tích các thế lực cạnh tranh trong môi trường ngành để xácđịnh những cơ hội, những thách thức là việc làm đòi hỏi gắt gao đối với cácdoanh nghiệp nếu muốn tồn tại được trong kinh doanh
1.5.4.2 Các yếu tố chủ quan:
Đây là những nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp, tác động trựctiếp hoặc gián tiếp tới tình hình kinh doanh Bằng việc phân tích này để xácđịnh năng lực của doanh nghiệp, nhận thức được đầy đủ điểm mạnh điểm
Trang 29trung vào những nhân tố chính, những yếu tố tác động mạnh nhất tới hoạtđộng sản kinh doanh.
Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất:
Là yếu tố mang tính quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh,quyết định tới sản lượng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tới giá thành sảnxuất sản phẩm Cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến công nghệ sản xuất hiện đạitạo ra những sản phẩm có chất lượng, đáp ứng yêu cầu khách hàng, sảnlượng tiêu thụ tăng, tăng hiệu quả tài chính
Trang bị kỹ thuật kém, công nghệ sản xuất lạc hậu sẽ bị bất lợi trongkinh doanh, sản phẩm sản xuất không được thị trường chấp nhận, lạc hậu vềcông nghệ sẽ dẫn tới mất thị phần, sản lượng tiêu thụ giảm, lợi nhuận ngàycàng sút kém, hiệu quả tài chính thấp, suy giảm
Trang thiết bị máy móc tốt, có khả năng đáp ứng được cao hơn các đốithủ về yêu cầu dịch vụ là một xu thế của doanh nghiệp dịch vụ trong việclàm thỏa mãn các khách hàng, giành thị phần lớn hơn, khả năng thu nhiềulợi nhuận cao, tăng hiệu quả tài chính
Trình độ quản lý, trình độ công nhân viên.
Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất phải được kết hợp tốt,phù hợp với đội ngũ quản lý, trình độ công nhân viên Cơ sở vật chất kỹthuật và công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến phải đi kèm với đội ngũ cán
bộ quản lý có trình độ, lực lượng công nhân viên có tay nghề đủ sức vậnhành cơ sở kỹ thuật đó thì mới đem lại hiệu quả cao
Trình độ tổ chức quản lý tốt sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh theonhững mục tiêu đã được hoạch định rõ ràng, doanh nghiệp vững vàng trêncon đường của mình, ngược lại nếu trình độ tổ chức quản lý kém thì sản xuấtkinh doanh sẽ khó đạt được những mục tiêu đề ra, hiệu quả tài chính kém
Trang 30Với đội ngũ quản trị có chất lượng, biết phân tích, biết đánh giá, đưa
ra một chiến lược kinh doanh đúng đắn, nhạy bén, dự báo được xu thế biếnđộng của thị trường sẽ giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất ổn định, vữngchắc, tạo lập được sức mạnh trong cạnh tranh, kinh doanh đạt hiệu quả cao.Ngược lại, công tác quản trị kém hiệu lực sẽ đẩy doanh nghiệp theo hướngkinh doanh không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, mất dẫn chỗ đứng trên thịtrường, giải thể, phá sản
Trình độ của người lao động cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trựctiếp tới hiệu quả kinh doanh Lao động có trình độ, có kỷ luật, chấp hànhđúng mọi yêu cầu của qui trình sản xuất … sẽ tạo ra năng suất lao động, chấtlượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tăng tuổi thọ máy móc, thiết bị, giảmchi phí do hỏng hóc, sẽ tận dụng tối đa công suất máy, tạo ra một khối lượngsản phẩm lớn hơn, chất lượng hơn
Chất lượng sản phẩm
Là một yếu tố tác động trực tiếp rất lớn tới hiệu quả tài chính củadoanh nghiệp Nếu sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng tốt sẽ giúpdoanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh, tăng sản lượng tiêu thụ, mở rộng thịtrường, kích thích sản xuất
Chất lượng sản phẩm cần được hiểu như tổng hợp của các chỉ tiêu,những đặc trưng kinh tế - kỹ thuật của nó, thể hiện được sự thỏa mãn nhucầu trong những điều kiện tiêu dùng nhất định, phù hợp với công dụng sảnphẩm mà người tiêu dùng mong muốn Khi đánh giá chất lượng sản phẩmchúng ta cần nhìn nhận toàn diện trên cả hai mặt:
Thứ nhất: đó là đặc tính kinh tế - kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sửdụng của sản phẩm điều này phụ thuộc vào năng lực, trang thiết bị, máy móc
Trang 31Thứ hai: đó là mức độ thỏa mãn của khách hàng, đó là điều quantrọng nhất, mức độ thỏa mãn càng cao chứng tỏ chất lượng sản phẩm càngcao Điều này phụ thuộc vào sự ưa thích, thị hiếu, khả năng của người tiêudùng, nó tác động mạnh mẽ tới lượng sản phẩm tiêu thụ được.
Thỏa mãn khách hàng về chất lượng sản phẩm là yêu cầu đối vớidoanh nghiệp, đó là vấn đề sống còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào Nóđòi hỏi các doanh nghiệp phải bám sát được những nhu cầu mong muốn củakhách hàng, tạo ra những sản phẩm có chất lượng như mong đợi của kháchhàng có vậy mới đưa lại một hiệu quả tài chính mong đợi
Giá thành sản phẩm:
Giá thành đơn vị sản phẩm là những chi phí bỏ ra để sản xuất ra mộtđơn vị sản phẩm Chi phí đó bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chiphí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung phân bổ và những chi phíngoài sản phẩm Là cơ sở cho việc định giá bán nên giá thành sản phẩm cóảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Giá thành ảnhhưởng đến doanh thu tiêu thụ và lợi nhuận thu được từ mỗi đơn vị sản phẩm.Với mỗi giá bán được thị trường chấp nhận, giá thành sản phẩm thấp đươngnhiên doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn đồng thời tăng hiệu quảcủa doanh nghiệp
Phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu của các doanh nghiệptrong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, nó đòi hỏi các doanh nghiệptăng khả năng khai thác các yếu tố sản xuất như: sử dụng tiết kiệm nguyênvật liệu, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị, giảm các chi phíkhông cần thiết trong sản xuất…
Sản lượng tiêu thụ:
Bên cạnh giá thành, sản lượng tiêu thụ cũng là một yếu tố quyết định
Trang 32lớn sẽ tạo đà cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sửdụng máy móc thiết bị, tăng chu chuyển vốn, tạo khả năng thu hồi vốnnhanh, tiền đề để đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ.
Ngược lại sản phẩm sản xuất tiêu thụ chậm hoặc không tiêu thụ được
sẽ là thảm họa của doanh nghiệp Vì hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị thấp,không thu hồi được vốn, vốn bị ứ đọng, máy móc thiết bị ngày càng lạc hậu
Để có thể hiểu một cách sâu sắc lý thuyết về phân tích và hiệu quả tàichính thì cách tốt nhất là đi vào phân tích tình hình tài chính của một doanhnghiệp trong thực tế, và doanh nghiệp mà chuyên đề đưa ra để phân tích ởđây là công ty TNHH quảng cáo Sông Xanh
Trang 33CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG
TY TNHH QUẢNG CÁO SÔNG XANH 2.1 Giới thiệu về công ty TNHH quảng cáo Sông Xanh.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty TNHH quảng cáo Sông Xanh được thành lập vào ngày01/12/2002 Tuy mới được thành lập chưa lâu nhưng công ty đó đột phá vàolĩnh vực kinh doanh sản xuất và dịch vụ mới mẻ cộng thêm với sự quản lýchặt chẽ với những hướng đi táo bạo đó tạo được một phát triển mới chocông ty hiện tại và tương lai
Tên doanh nghiệp: CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO SÔNG XANH Tên tiếng anh: blue river advertisinh company LTD
Trụ sở chính: 20 ngõ 165 Cầu Giấy HN
Tài khoản: 0021000199950 đăng kí tại ngân hàng ngoại
thương Hà Nội – Chi nhánh Thành Công
Trang 34 Sản xuất các chương trình truyền hình.
Sản xuất các chương trình quảng cáo
Công ty có một sàn giao dịch bất động sản chủ yếu là môi giới bất
động sản trên thị trường Hà Nội
.Thị trường :
Công ty TNHH quảng cáo Sông Xanh có thị trường ổn định Hiện tại, đangphát huy hiệu quả của thị trường đã có, khai thác và phát triển thị trườngtiềm năng Thị trường mục tiêu là các công ty, tổng công ty, tập đoàn và các
Trang 35Trên cơ sở phân khúc thị trường theo khu vực địa lý, theo thu nhập và theođối tượng, Công ty xây dựng chiến lược marketing cho từng phân khúc thịtrường, nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng
Hiện tại, công ty TNHH quảng cáo Sông Xanh đang thực hiện mục tiêu giữvững và phát triển thị trường Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nỗ lực xâydựng thị trường cả nước
Nhiệm vụ:
Nghiên cứu thị trường nhu cầu khách hàng để sản xuất những sản phẩmphù hợp với nhu cầu khách hàng và phải xây dựng cho mình kế hoạch sảnxuất kinh doanh hợp lý
Không ngừng cải tiến cơ cấu quản lý, trang thiết bị sản xuất, đa dạng hoácác chủng loại sản phẩm để phù hợp với nhu cầu của khách hàng
Sử dụng hiệu quả và bảo toàn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh doanh trên
cơ sở có lãi để tái mở rộng sản xuất
Hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, người lao động và khôngngừng nâng cao trình độ của cán bộ nhân viên
2.1.3 Cơ cấu tổ chức.
Công ty được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp đó được nướcCộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2005
và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2006
Bộ máy quản lý công ty: Bộ máy quản lý của công ty gồm: Giám đốc, phó
giám đốc, Kế toán trưởng
Giám đốc : Là người đại diện theo pháp luật, người điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty và trực tiếp chỉ đạo phòng : Nội vụ, Kỹ thuật,
Trang 36Thị trường của Công ty Tổng Giám đốc chịu sự giám sát của Pháp luật vềviệc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Phó giám đốc Công ty : Phụ trách công tác nghiên cứu xây dựng và triển
khai kế hoạch SXKD toàn Công ty Điều hành hoạt động sản xuất của cácphòng ban và trực tiếp chỉ đạo phòng Kế hoạch
Phó tổng giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh củaCông ty khi được Tổng giám đốc uỷ quyền
Kế toán trưởng : Chỉ đạo, tổ chức việc thực hiện các hoạt động tài chính của
Công ty theo đúng quy định của pháp luật Đảm bảo sử dụng nguồn vốn củaCông ty có hiệu quả Kế toán trưởng trực tiếp điều hành phòng Tài chính
Trợ lý Sản xuất:
Tham mưu với Giám đốc về các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất củaCông ty; đề xuất biện pháp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để thựchiện có hiệu quả kế hoạch sản xuất của Công ty
Trợ lý Kinh doanh:
Tham mưu với Giám đốc về các vấn đề liên quan hoạt động kinh doanh củaCông ty, nhằm quảng bá, khuyếch trương thương hiệu và sản phẩm; giữvững và phát triển thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước
2.2 Phân tích khái quát tình hình tài chính.
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một cáchtổng quát tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khảquan Kết quả phân tích này sẽ cho nhà quản lý, chủ doanh nghiệp thấy rõđược thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Để phân tích
Trang 37khái quát tình hình tài chính của toàn doanh nghiệp ta cần thực hiện các nội
dung sau:
2.2.1 Phân tích tình hình biến động tài sản
bảng 2.1: bảng phân tích tình hình biến động tài sản và nguồn vốn năm 2008
đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu
đầu năm
cuối năm
% theo quy mô Chênh lệch đầu
năm
cuối năm
tuyệt đối
tương đối Tài sản
Trang 38I Vốn chủ sở hữu 728 728 15.73% 14.72% 0 0.00% II.Lợi nhuận chưa phân
phối
(Nguồn: Báo cáo tài chính cty TNHH quảng cáo Sông Xanh năm 2006, 2007, 2008)
Để đánh giá khái quát tình hình tài chính của công ty, trước hết ta tiến
hành so sánh tổng số tài sản của công ty giữa năm 2007-2008 Từ đó có thể
thấy được quy mô tài sản lớn hay nhỏ và sự biến đổi của nó
Qua bảng phân tích quy mô tài sản ta nhận thấy tổng tài sản của doanh
nghiệp cuối năm tăng so với đầu năm là 318 triệu đồng, tức là tăng 6.43%
Trong đó tài sản lưu động và đầu tư ngắn tăng 205 triệu đồng, tức là tăng
5.42% Nguyên nhân của sự biến động này là do vốn bằng tiền của doanh
nghiệp tăng 355 triệu đồng (tăng 20.60% so với đầu năm), giảm giá trị các
khoản phải thu 130 triệu đồng, tương ứng là giảm 6.54% Tài sản cố định và
đầu tư dài hạn đầu năm tăng so với cuối năm là 113 triệu đồng, (chủ yếu là
do tài sản cố định tăng) tức là tăng 9.68% Như vậy trong năm 2008 tài sản
của doanh nghiệp tăng đáng kể trong đó tài sản cố định tăng 113 triệu đồng
chứng tỏ doanh nghiệp đã đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ
cho hoạt động sản xuất, tài sản lưu động tăng 205 triệu phản ánh đây là năm
mà hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty khởi sắc, một lượng rất lớn
tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn được huy động phục vụ sản xuất kinh
doanh
Qua toàn bộ quá trình phân tích đó thể hiện trong khi qui mô hoạt động
sản xuất kinh doanh tăng lên nhưng công ty vẫn giảm được mức tồn đọng tài
sản lưu động bằng cách đẩy nhanh quá trình thu hồi các khoản phải thu