1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phép biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với hoạt động của con người

39 810 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phép biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với hoạt động của con người
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Bài báo khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 169,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sự hình thành triết học: triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỷ thứ VI trướccông nguyên trên các cơ sở:+ Do sự phát triển kinh tế, đặc biệt do sự phát triển của lao động và tổ chứclao động

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong thực tiễn, hoạt động của con người tồn tại trên nhiều lĩnh vực khácnhau với nhiều mục tiêu khác nhau Nhằm đạt được những mục tiêu đó, con ngườiphải nắm bắt được các mối liên hệ phổ biến và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng

để tránh mắc phải những sai lầm không đáng có Điều đó đòi hỏi phải có những lýluận đúng đắn soi đường mà trong đó triết học nói chung và phép biện chứng duyvật nói riêng đóng vai trò quan trọng nhất

Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động

và phát triển của hiện thực Do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn

là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan Hệ thống các quanđiểm của phép biện chứng duy vật, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đãtrở thành nhân tố định hướng cho quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của conngười đạt dược nhiều hiệu quả tích cực

Trang 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

PHẦN I PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG

1 Khái niệm phép biện chứng & siêu hình

+ Phép biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chungnhất của tư duy Chúng được xây dựng trên hai quan điểm đối lập là quan điểm biệnchứng và quan điểm siêu hình

+ Phép biện chứng : theo Anghen chẳng qua chỉ là môn khoa học về nhữngquy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loàingười và tư duy

+ Phép siêu hình: theo Arixtôt siêu hình học là học thuyết về những nguyên

tắc và các bản nguyên tối cao , siêu kinh nghiệm của tồn tại , của nhận thức , củavăn hóa và của con người

2 Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.

+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đốitượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có ranh giới tuyệt đối.Trong khi đó, phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệvới nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau

+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sựbiến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm bênngoài sự vật Trong khi đó phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trạng tháivận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trìnhthay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấutranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng

Như vậy phương pháp siêu hình làm cho con người “ chỉ nhìn thấy những sựvật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sựtồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự diệt vong củanhững sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sựvận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” Còn phương

Trang 3

pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo linh hoạt Nó thừa nhận trong nhữngtrường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái “ vừa là…vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó;thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.Phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiệnthực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm Còn phươngpháp biện chứng phản ánh đúng hiện thực như nó tồn tại Nhờ vậy phương pháp tưduy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thếgiới

3 Khái quát lịch sử hình thành phép biện chứng.

a Phép biện chứng cổ đại.

Giai đoạn đầu tiên của tư duy triết học biện chứng là phép biện chứng tự phátthời kỳ cổ đại và được thể hiện rõ nét nhất qua thuyết âm dương của triết học TrungQuốc và các học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại

* Hoàn cảnh ra đời:

Về hoàn cảnh ra đời của phái Âm dương còn có nhiều điểm chưa sáng tỏ nên

ở đây ta chỉ xét đến hoàn cảnh ra đời của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại

- Điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá: Xã hội Hy Lạp xuất hiện sớm vàokhoảng thế kỷ thứ VIII trước công nguyên đến thế kỷ thứ III sau công nguyên Vàothế kỷ thứ VI–IV trước công nguyên, xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp đã đạt tới hoànthiện Sự phát triển này làm xuất hiện 2 trung tâm kinh tế chính trị điển hình là Aten

và Spác, tương ứng với nó là hai thể chế khác nhau về hình thức: nhà nước chủ nôdân chủ Aten và nhà nước chủ nô quân chủ Spác Sự khác nhau đó dẫn tới cuộc nộichiến tương tàn và cuối cùng chiến thắng thuộc về thành bang Spác Đất nước HyLạp cổ đại có một nền văn minh phát triển rực rỡ Về tôn giáo, họ thờ nhiều thần và

vị thần tối cao là thần Dớt Về giáo dục, họ coi trọng đạo đức, trí dục, thể dục Vềchính trị, họ coi trọng chế độ dân chủ Về đời sống, họ sống giản dị, chất phác Vềkiến trúc, họ có tính cách điều độ cân đối Về khoa học, họ phát triển khoa học tựnhiên như toán, vật lý, thiên văn học Về văn học có Hômơ với hai tác phẩm nổitiếng là Iliat và Ôđixe Về triết học có nhiều trường phái

Trang 4

- Sự hình thành triết học: triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỷ thứ VI trướccông nguyên trên các cơ sở:

+ Do sự phát triển kinh tế, đặc biệt do sự phát triển của lao động và tổ chứclao động nô lệ, trong đó một bộ phận của xã hội là người tự do có điều kiện nghiêncứu khoa học triết học

+ Do có nhiều biến chuyển kinh tế và chính trị mà một bộ phận của tầng lớpchủ nô có điều kiện chăm lo xây dựng thế giới quan của mình để định hướng chocuộc đấu tranh

+ Do liên hệ mật thiết với các tri thức khoa học, cuộc đấu tranh tôn giáo, tínngưỡng

+ Do vị trí của Hy Lạp cổ đại thuận lợi trong giao lưu kinh tế văn hoá với cácnước phương Đông

* Đặc điểm:

Các nhà duy vật biện chứng cổ đại ngay từ thời bấy giờ đã thấy rằng, các sựvật của thế giới xung quanh ta nằm trong một mớ chằng chịt vô tận những sợi dâyliên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau, trong đó không có cái gì là vẫn y nguyênnhư cũ, đứng yên chỗ cũ mà tất cả đều vận động, biến hoá, sinh thành và tiêu vong.Nhưng do chưa đạt đến trình độ đi sâu phân tích giới tự nhiên cho nên các nhà biệnchứng cổ Hy Lạp chú ý đến sự vận động, đến sự quá độ từ cái này sang cái khác,đến những mối liên hệ nhiều hơn là chú ý đến cái đang vận động, đang quá độ vàđang liên hệ với nhau Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Anghen, là một cáchnhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của mộttrực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả của những sự nghiên cứu và thựcnghiệm khoa học Thời kì này cũng diễn ra sự giao lưu giữa Hy Lạp và các nước ẢRập phương Đông nên triết học Hi Lạp cũng chịu sự ảnh hưởng của triết họcphương Đông

* Đại biểu:

- Hêraclit(520-460 TCN): là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại Khácvới các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng chính lửa là nguồn gốc sinh ra tấtthảy mọi sự vật “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi

Trang 5

vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật

mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng Bản thân vũ trụ không phải do chúa Trời haymột lực lượng siêu nhiên thần bí nào tạo ra Nó “ mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửavĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi” Ví toàn bộ vũ trụ tựa như ngọnlửa bất diệt, Hêraclit đã tiếp cận được với quan điểm duy vật nhấn mạnh tính vĩnhviễn và bất diệt của thế giới

Dưới con mắt của Hêraclit mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thayđổi, vận động, phát triển không ngừng Luận điểm bất hủ của Hêraclit: “Chúng takhông thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” Hêraclit thừa nhận sự tồn tại vàthống nhất của các mặt đối lập nhưng trong các mối quan hệ khác nhau Chẳng hạn:

“Một con khỉ dù đẹp đến đâu thì cũng là xấu nếu đem so với một con người” Chuẩnmực của moị sự vật theo Hêraclit đó là logos bản thân logos là sự thống nhất của cácmặt đối lập Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra cáccuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau Nhờ các cuộc đấu tranh đó

mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi sự vật khác ra đời Điều đó làm cho vũ trụthường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng Vì thế đấu tranh là vương quốc củamọi cái , là quy luật phát triển của vũ trụ Bản thân cuộc đấu tranh giữa các mặt đốilập luôn luôn diễn ra trong sự hài hòa nhất định, dựa trên sự quy định củalogos.Theo Hêraclit thì đối với thế giới, cái ác, cái bần tiện là cái tương đối còn cáithiện, cái cao cả là cái tuyệt đối,nhưng đối với chúa Trời thì tất cả mọi cái đều tốtđẹp cả

a Phép biện chứng duy tâm.

Giai đoạn phát triển thứ hai của phép biện chứng là phép biện chứng duy tâm

mà đỉnh cao của nó là triết học cổ điển Đức

* Hoàn cảnh:

- Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 sau thắng lợi của hàng loạt các cuộc cáchmạng tư sản nhiều nước Tây Âu đã bước vào cách mạng công nghiệp, trong khi đónước Đức vẫn là một nước phong kiến lạc hậu, tình trạng cát cứ phân tán nhỏ lẻ phổbiến

Trang 6

- Giai cấp tư sản Đức đã hình thành nhưng nằm rải rác và phân tán ở nhữngcông quốc nhỏ, tách rời nhau vì thế giai cấp tư sản Đức nhỏ bé về số lượng, yếu kém

về thế lực chính trị Chính vì thế mà giai cấp tư sản không thể làm cách mạng hiệnthực mà chỉ làm cách mạng trong tư duy

* Đặc điểm:

- Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đứccuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

Nếu như triết học phương Tây thời cận đại bàn nhiều đến vấn đề bản thể luận

và nhận thức luận thì triết học cổ điển Đức đặc biệt đề cao vai trò tích cực của hoạtđộng con người, coi con người là chủ thể hoạt động, là nền tảng là điểm xuất phátcủa mọi vấn đề triết học

- Triết học cổ điển Đức có tính lý luận rất cao So với truyền thống trước đótriết học cổ điển Đức đã đạt tới đỉnh cao phương thức lý luận trong việc trình bàynhững tư tưởng triết học

- Có sự mâu thuẫn giữa những nội dung tư tưởng triết học mang tính khoahọc và cách mạng với những hình thức thể hiện có tính chất duy tâm, tôn giáo và cótính chất siêu hình Tính mâu thuẫn đó có nguồn gốc từ bối cảnh lịch sử của thời kìnày

- Nhược điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức là còn duy tâm do quá đề caosức mạnh của trí tuệ, hoạt động của con người trước các thành tựu kinh tế, văn hoáloài người đã đạt được, họ coi con người là chúa tể của tự nhiên và tự nhiên chỉ làkết quả hoạt động của con người

Và cho dù là dưới hình thức duy tâm nhưng triết học cổ điển Đức đã cung cấpcho chúng ta phương pháp tư duy biện chứng, sau này được Mác và Anghen khăcphục, kế thừa và nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại

*Đại biểu:

- Cantơ: Là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm Nét nổi bậttrong triết học của Cantơ là đã trình bày những quan niệm biện chứng của mình vềgiới tự nhiên

Trang 7

Triết học Cantơ là triết học nhị nguyên Một mặt ông thừa nhận sự tồn tại củathế giới các “ vật tự nó” ở bên ngoài con người Thế giới đó có thể tác động tới cãcgiác quan của chúng ta ở điểm này,Cantơ là nhà duy vật Nhưng mặt khác thế giớicác vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến cái gọi là “ thế giớivật tự nó”, chúng chỉ là “ các hiện tượng”… phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức

do lý tính tạo ra Như vậy trong lĩnh vực nhận thức luận, Cantơ cũng là người theothuyết “không thể biết”

Tính duy tâm trong triết học Cantơ còn thể hiện ở chỗ ông coi không gian,thời gian, tính nhân quả cũng như các quy luật của giới tự nhiên không phải lànhững cái thuộc bản thân giới tự nhiên, mà là sản phẩm của lý trí tiên nghiệm, cótrước kinh nghiệm Khi nhận xét về tính không nhất quán mâu thuẫn trong triết họccủa Cantơ, Lênin đã nói rằng, triết học đó là sự dung hoà chủ nghĩa duy vật với chủnghĩa duy tâm, thiết lập sự thoả hiệp giữa hai chủ nghĩa đó kết hợp hai khuynhhướng triết học khác nhau và đối lập nhau trong một hệ thống nhất

- Hêghen: Hêghen là nhà biện chứng đồng thời là nhà triết học duy tâm kháchquan Triết học của ông đầy mâu thuẫn Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạtnhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duytâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn

có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội ông cho rằng khởi nguyên của thế giớikhông phải là vật chất mà là “ ý niệm tuyệt đối” hay “ tinh thần thế giới” “Ý niệmtuyệt đối”, theo nhận xét của Lênin, chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cáchnói khác về thượng đế mà thôi.Cho nên, triết học của Hêghen chẳng qua cũng chỉ là

sự biện hộ của tôn giáo

Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầutiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa

là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Nhưng tất cả những cái đóchỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối.Trong hệ thống triết học của Hêghen, không phải ý thức,tư tưởng phát triển trong sựphụ thuộc vào sự phụ thuộc của giới tự nhiên và xã hội mà ngược lại, tự nhiên, xã

Trang 8

hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối Ý niệmtuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai.

Tóm lại, hệ thống triết học của Hêghen (gồm ba bộ phận chính là: lôgíc học,triết học về tự nhiên, triết học về tinh thần) là một hệ thống duy tâm, mà thực chấtcủa nó “là ở chỗ lấy cái tâm lý làm điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới tựnhiên” (Lênin) Tuy nhiên, phép biện chứng của Hêghen đã mâu thuẫn với hệ thốngtriết học duy tâm của ông và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của triếthọc Macxit

c ) Phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do Các Mác vàAnghen xây dựng, sau đó được Lênin phát triển Các mác và Anghen đã gạt bỏ tínhchất thần bí và kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xâydựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và

sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất

*Hoàn cảnh:

- Điều kiện kinh tế xã hội: Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản

đã tạo ra một lực lượng xã hội đối lập với chính nó đó là giai cấp vô sản Giai cấp vôsản này càng lớn mạnh, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản cũng ngàycàng gay gắt, quyết liệt Những xung đột giữa giai cấp vô sản và tư sản dã trở thànhnhững cuộc đấu tranh giai cấp Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để chống lại giaicấp tư sản trải qua nhiều giai đoạn với những hình thức khác nhau

Thời kỳ đầu, các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chỉ hướng tới những mụctiêu kinh tế hàng ngày và hình thức đấu tranh chủ yếu là kinh tế Vào khoảng nhữngnăm 30 của thế kỷ XIX, phong trào công nhân có sự thay đổi về chất Khi chế độ tưbản chủ nghĩa dược xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội và giaicấp vô sản là giai cấp bị trị thì mâu thuẫn giữa hai giai cấp này vốn mang tính chấtđối kháng ngày càng phát triển, trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp, nhiều cuộcđấu tranh lớn diễn ra Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ có sứmệnh là “kẻ phá hoại” chủ nghĩa tư bản mà con là lực lượng tiên phong trong cuộcđấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội

Trang 9

Thực tiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng vô sản, đòi hỏi phảiđược soi sáng bởi lý luận nói chung và triết học nói riêng Sự xuất hiện giai cấp vôsản cách mạng đã tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành lý luận tiến bộ và cách mạngmới Đó là lý luận thể hiện thế giới quan cách mạng của giai cấp cách mạng triệt đểnhất trong lịch sử, do đó kết hợp một cách hữu cơ tính cách mạng và tính khoa họctrong bản chất của mình Nhờ đó, nó có khả năng giải đáp bằng lý luận những vấn

đề của thời đại đặt ra

- Tiền đề lý luận: Triết học Mác ra đời ngoài những điều kiện kinh tế xã hội,

nó còn kế thừa được những yếu tố tích cực toàn bộ trong kho tàng lý luận của cácgiai đoạn trước như trong kinh tế chính trị học cổ điển Anh, trong chủ nghĩa xã hộikhông tưởng ở Pháp, trong triết học cổ điển Đức Đặc biệt trong triết học cổ điểnĐức những nội dung cách mạng toàn bộ trong phép biện chứng của Hêghen cùngnhững tư tưởng duy vật của Pháp đã làm một trong những cơ sở lý luận cho sự hìnhthành tư tưởng duy vật biện chứng trong triết học Mác Ngoài ra sự ra đời của triếthọc Mác còn kế thừa được những yếu tố tích cực toàn bộ của những tri thức khoahọc khác như trong sử học, xã hội học

- Tiền đề khoa học tự nhiên: Cùng với những tiền đề lí luận trên, những thànhtựu khoa học tự nhiên là những tiền đề cho sự ra đời của triết học Mac Sự phát triểncủa tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức do các khoa học cụ thể đem lại Vàokhoảng những năm 30 của thế kỷ XIX do nhu cầu của nền sản xuất xã hội khoa học

tự nhiên có những bước phát triển mới, nhiều phát minh khoa học lớn xuất hiện.Đáng chú ý có 3 phát minh

+1842 – 1845: ra đời định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng

+ Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 19 ra đời học thuyết tế bào

+ 1859: ra đời thuyết tiến hoá của Đácuyn

Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộ lộ rõ tính hạn chế và sựbất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới

- Kết luận: những điều kiện và tiền đề trên cho thấy sự ra đời của triết họcMác là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội và phùhợp với quy luật phát triển của nhận thức nhân loại

Trang 10

*Đặc điểm:

Sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng tronglịch sử phát triển triết học của nhân loại và nó được thể hiện qua các nội dung:

- Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại Mác

và Anghen đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, đã vận dụng thế giớiquan duy vật vào nghiên cứu xem xét các hiện tượng của đời sống xã hội

- Triết học Mác đã khắc phục được sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và biệnchứng trong các tư tưởng triết học của các giai đoạn trước nhờ đó mà thống nhấtđược chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Lần đầu tiên tronglịch sử triết học có được sự thống nhất này làm cho triết học thực sự trở thành mộtkhoa học toàn diện nhất sâu sắc nhất

- Sự ra đời của triết học Mác đã làm cho vai trò xã hội của triết học cũng như

vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học được nâng cao

- Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp vô sản trong cuộc đấutranh tự giải phóng mình Sự kết hợp lý luận của triết học Mác với thực tiễn phongtrào công nhân đã tạo nên bước chuyển về chất của phong trào từ trình độ tự phát lêntrình độ tự giác Trong triết học Mác, tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâusắc

- Triết học Mác là thế giới quan của khoa học và phương pháp luận chung,cần thiết cho sự phát triển của tất cả các môn khoa học

* Đại biểu:

- Mác và Ănghen : chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

do Mác và Ănghen sáng lập là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học Đó làmột cuộc cách mạng thực sự trong triết học về xã hội

Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu là công cụ cải tạo thếgiới Nó là công cụ nhận thức khoa học để cải tạo thế giới bằng thực tiễn cáchmạng.Vai trò xã hội của triết học và vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoahọc đã biến đổi từ khi triết học Mác ra đời Triết học Mác trở thành thế giới quankhoa học để tiếp tục phát triển khoa học và cải tạo thực tiễn

Trang 11

Để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mac đã phải cải tạo chủ nghĩa duyvật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen C.Mác đã phê phán phép biệnchứng duy tâm của Heghen một cách sâu sắc và nghiêm khắc Mác cho rằng sai lầmchủ yếu của Hêghen là ở chỗ ông quan niệm mâu thuẫn của hiện tượng như sự thốngnhất trong bản chất, trong tư tưởng, trong khi bản chất của mâu thuẫn này tất nhiên

là một cái gì đó sâu sắc hơn, cụ thể là mâu thuẫn bản chất Ở Hêghen phép biệnchứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt

nhân hợp lí của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí Mác và Ănghen đã cải tạo một cách

duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, sau khi tách “ hạt nhân hợp lí “ vốn

có của nó sau khi đã vứt bỏ lối giải thích duy tâm về các hiện tượng tự nhiên và xãhội, vứt bỏ lối qui các quá trình vật chất vào sự vận động lôgic của tư duy, vào sự tựnhận thức của ý niệm tuyệt đối

Hai ông không chỉ thoả mãn với việc cải tạo duy vật phép biện chứng duytâm mà đồng thời cũng tiến hành cải tạo một cách biện chứng chủ nghiã duy vật siêuhình trước đó Mác và Ănghen đã liên kết một cách hữu cơ, đã gắn bó thành một thểthống nhất, không tách rời chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, đã xây dựng thếgiới quan triết học khoa học, duy vật biện chứng với tư cách một học thuyết vềnhững qui luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên xã hội và nhận thức Phépbiện chứng duy vật đã được xây dựng và phát triển không chỉ với tính cách là mộtphương pháp mà còn là một lí luận khoa học triệt để, nhờ đó mà nó đã gạt bỏ sự thoảhiệp với hệ tư tưởng của các giai cấp bóc lột

Chiến công trí tụê vĩ đại trong lĩnh vực triết học của Mác và Ănghen là ở chỗhai ông đã cải tạo hoàn toàn di sản triết học một cách có phê phán cách mạng trênlập trường lí luận và xã hội chính trị mới về nguyên tắc, đã phủ nhận nó một cáchbiện chứng, trong khi vẫn duy trì và phát triển sáng tạo những thành tựu của triếthọc tiền bối

- Lênin: Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác vào quá trình giảiquyết những nhiệm vụ của cách mạng vô sản trong thời cổ đại đế quốc chủ nghĩa vàbước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.Ông đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lýluận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng

Trang 12

Lênin đã bảo vệ chủ nghĩa Mác chống lại sự xuyên tạc của những quan điểmduy vật về lịch sử, đặc biệt là học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của Mác.Đứng trước sự tăng cường ảnh hưởng của chủ nghĩa Makhơ - một học thuyết duytâm chủ quan nhằm xuyên tạc triết học Mác, Lênin đã phê phán quyết liệt nhữngquan điểm của những người theo phái Makhơ

Trong quá trình phê phán và dựa vào thành tựu khoa học lớn lao thời kỳ này,Lênin đã phát triển và bổ sung cho chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử Định nghĩa về vật chất của Lênin và sự vận dụng phép biện chứng tàitình của ông đã làm sâu sắc thêm nhiều vấn đề cơ bản của nhận thức lý luận Macxit.Phương pháp biện chứng trong việc phân tích “ cuộc khủng hoảng vật lý” đã gópphần to lớn vào việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học tự nhiên suốt từ đó đến nay.Lênin quan tâm sâu sắc tới lý luận về phép biện chứng, đặc biệt là tư tưởng biệnchứng trong triết học của Hêghen “ Những hạt nhân hợp lý” trong triết học Hêghen

đã được Lênin khai thác để làm giàu thêm phép biện chứng nhất là quy luật về đấutranh của các mặt đối lập

Lênin đã có đóng góp to lớn và quan trọng vào kho tàng lý luận triết học xãhội: vấn đề nhà nước và cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về Đảng kiểu mới.Dựa trên sự phân tích quy luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản,Lênin đã khẳng định khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một số nước, thậmchí ở một nước riêng lẻ Luận điểm đó của Lênin có ảnh hưởng to lớn đến phongtrào cách mạng thế giới Với tinh thần sáng tạo và lý luận biện chứng duy vật, coichân lý là cụ thể, khi cần thiết Lênin chấp nhận thay đổi một cách căn bản một quanniệm nào đó về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩagiáo điều hay bảo thủ Chính những điều nêu ra trên đây đã đưa chủ nghĩa Mác nóichung, triết học Mác nói riêng lên một giai đoạn mới gắn liền với tên tuổi của Lênin

và được gọi là triết học Mác – Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung

Trang 13

PHẦN II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật

a ) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

*Khái niệm : Mối liên hệ phổ biến được dùng để khái quát sự thống nhất của tínhquy định, tính tương tác, tính biến đổi của các sự vật hiện tượng

* Tính chất: các mối liên hệ của tất cả sự vật hiện tượng luôn luôn có tính kháchquan, tính phổ biến và biểu hiện trong tính đa dạng của nó

* Nội dung nguyên lý:

- Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều luôn luôn tồn tại trong các mối liên

hệ xác định (tồn tại trong các mối liên hệ phổ biến) và trong vô vàn các mối liên hệkhác nhau tức là luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến đổitác động tới nó Như vậy mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng kháchquan tất yếu tác động đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…

- Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thìcác mối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò Đó là các mối liên

hệ bên trong và bên ngoài.Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định,

Trang 14

chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật Mốiliên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật Mối liên hệbên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ này nói chungkhông giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sựvật.Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sựtồn tại,sự vận động và sự phát triển của sự vật

* Ý nghĩa:

+ Từ những nội dung trên có thể thấy: chỉ có thể nhận thức đúng và giảiquyết một cách có hiệu quả các vấn đề thực tiễn một khi thực hiện nguyên tắc toàndiện và lịch sử cụ thể Nguyên tắc này đòi hỏi:

+ Nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề nào cũng cần phải trên nhiều mặt,nhiều mối liên hệ khách quan của nó, tránh phiến diện, tránh siêu hình trong giảiquyết các vấn đề

+ Trong các điều kiện xác định cần đánh giá được vị trí vài trò khác nhau củacác mặt, các mối quan hệ, tránh được việc con người ta bị rơi vào triết trung ngụybiện

- Trong nghiên cứu khoa học người ta thường dùng các liên ngành khoa học

để cùng giải quyết một vấn đề

- Trong giải quyết vấn đề thực tiễn cũng đòi hỏi phải xác định được nhữngvấn đề ở tầm chiến lược và sách lược hoặc cần xác định được những nhiệm vụ trọngtâm và trọng điểm

b ) Nguyên lý về sự phát triển

* Khái niệm:

- Phát triển là những quá trình biến đổi với 3 đặc trưng sau:

+ Sự biến đổi về chất ở trình độ mới cao hơn

+ Quá trình biến đổi về mặt cơ cấu tổ chức hệ thống và về cơ chế phươngthức hoạt động của hệ thống

+ Là sự biến đổi diễn ra một cách toàn diện hoá

- Ví dụ:

Trang 15

+ Từ giống loài bậc thấp lên bậc cao: cá, bò sát, chim, thú, người: thuộc phạmtrù phát triển giống loài.

+ Từ phương thức bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối sang giá trị thặng dưtương đối thuộc phạm trù phát triển tư bản

- Phát triển có tính khách quan, có tính chất phổ biến, tính chất đa dạng

* Nội dung nguyên lý:

- Phát triển là những khuynh hướng khách quan và phổ biến ở trong mọi lĩnhvực của tự nhiên xã hội, nhận thức, tư duy trong giới tự nhiên đó là quá trình pháttriển từ vật chất đơn giản đến phức tạp hơn, trong nhận thức từ chưa biết chính xácđến chính xác hơn

- Tính khách quan và phổ biến ở các quá trình phát triển còn thể hiện ở chỗ:trong các quá trình biến đổi luôn luôn bao hàm khả năng, cơ hội tạo ra cái mới ởtrình độ cao hơn

- Mọi con đường của sự phát triển dưới sự tác động của nhiều nhân tố khácnhau do đó không bao giờ là con đường thẳng, luôn luôn quanh co phức tạp Trêncon đường phát triển bao hàm nhiều giai đoạn không loại trừ những bước thụt lùitạm thời

- Luận điểm về mô hình phát triển: không có một mô hình phát triển tuyệt đốicho mọi lĩnh vực Trái lại tuỳ theo các điều kiện cụ thể mà tồn tại các mô hình pháttriển đa dạng

- Quy luật phát triển: Mọi quá trình phát triển dù diễn ra với những conđường và mô hình khác nhau nhưng tất cả đều tuân theo những quy luật chung trong

đó có 3 quy luật cơ bản của mọi quá trình phát triển:

+ Quy luật thay đổi dần về lượng dẫn đến thay đổi nhảy vọt về chất ( quy luật

Trang 16

Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong hoạt động tổ chức thực tiễn cầnphải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển Trong đó có nhữngyêu cầu cơ bản sau:

+ Muốn thực hiện sự phát triển cần phải hướng vào việc tạo sự biến đổi vềchất của sự vật ở trình độ mới

+ Trọng tâm và mấu chốt của sự phát triển phải là tạo ra những biến đổi vềcấu trúc hệ thống, phương thức hoạt động, cách thức tổ chức nhờ đó tạo ra chất mới

2 Các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng

a ) Cái riêng và cái chung

* Khái niệm cái riêng và cái chung

- Cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhấtđịnh

- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tínhkhông những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sựvật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

* Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung

- Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng, nhờ có cái riêng cái chung nói lên

sự tồn tại của nó nhưng sự tồn tại của cái chung chỉ được nhận biết bằng kết quả củaquá trình tư duy của quá trình khái quát hoá, còn sự tồn tại của cái riêng có thể nhậnbiết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giác quan Ví dụ không có cáicây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể Nhưng cây cam,cây quýt cây đào… nào cũng có rễ, có thân có lá, có quá trình đồng hoá dị hoá đểduy trì sự sống Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ và đượcphản ánh trong khái niệm “ cây” Đó là cái chung của những cái cây cụ thể Rõ ràngcái chung tồn tại thực sự nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cáiriêng

- Cái riêng bao giờ cũng liên hệ với cái chung bằng cách này hay cách khác.Mỗi cái riêng suy cho cùng đều là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất vì thếngoài những quy luật riêng của nó, nó còn bị chi phối bởi những quy luật chung củathế giới vật chất nên cái riêng đều có liên hệ với cái chung Ví dụ nền kinh tế của

Trang 17

mỗi quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cáiriêng.Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung – cầu, quy luật quan

hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó làcái chung.Như vậy sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung

- Cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng được tách ra khỏi cái riêng vì thếcái chung bao giờ cũng lệch lạc, phiến diện còn cái riêng là cái phong phú, đầy đủ,toàn bộ vì trong mỗi cái riêng bên cạnh những đặc điểm chung nó còn có những yếu

tố đơn nhất, cá biệt mà nhờ đó chúng ta mới phân biệt được sự khác nhau giữanhững sự vật hiện tượng Tuy vậy cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phảnánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêngcùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồntại và phát triển của cái riêng

- Cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiệnnhất định Sự chuyển hoá này được thực hiện thông qua mối quan hệ cái cá biệt vàcái phổ biến Ví dụ sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổicủa môi trường diễn ra bằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêngbiệt Do phù hợp với điều kiện mới đặc tính đó được duy trì và bảo tồn ở nhiều thế

hệ và trở thành phổ biến ở nhiều cá thể Những đặc tính không phù hợp với điềukiện mới sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất

* Ý nghĩa:

- Cái chung và cái riêng thống nhất với nhau, và khác biệt nhau ở cái đơnnhất – cái đặc trưng riêng có của sự vật Chính vì vậy, để nhận thức sâu sắc và thấuđáo một đối tượng nào đó, không thể chỉ dừng lại ở những thuộc tính chung và ápdụng một cách máy móc, chủ quan theo những công thức để giải quyết sự việc, tráilại cần phải nắm vững cả những nét đặc trưng riêng có của từng sự vật, hiện tượng,

để hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người đạt hiệu quả như mong muốn

- Giữa cái chung và cái đơn nhất có sự chuyển hoá lẫn nhau Từ đó sự vậtmới dần được ra đời Nếu yếu tố mới ấy phù hợp với quy luật phát triển khách quanthì chúng sẽ mở rộng dần phạm vi tồn tại, tức cái đơn nhất trở thành cái phổbiến.Nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần tạo điều kiện thuận lợi để “ cái

Trang 18

đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trởthành “cái đơn nhất”.

- Vì cái riêng gắn bó với cái chung, không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫntới cái chung, cho nên khi giải quyết những vấn đề riêng một cách đúng đắn thìkhông thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, tức những vấn đề lý luận,nguyên tắc liên quan đến các vấn đề riêng đó, nếu không sẽ sa vào tình trạng mòmẫm, tuỳ tiện, vô nguyên tắc

b ) Nguyên nhân và kết quả

* Khái niệm nguyên nhân và kết quả

- Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một

sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một biến đổi nhất định nào đó

- Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữacác mặt trong một sự vật hoặc giữa sự vật với nhau gây ra

- Ví dụ cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là nguyên nhândẫn đến kết quả là cuộc cách mạng vô sản nổ ra

* Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

- Nguyên nhân và kết quả luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong đó nguyênnhân luôn có trước kết quả, còn kết quả chỉ xuất hiện khi có sự tác động của nguyênnhân Vì thế nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh Tuy nhiên không phải sựvật, hiện tượng nào tồn tại trong mối quan hệ trước sau về mặt thời gian cũng là mốiquan hệ nhân quả Do đó, cần phân biệt sự khác nhau của quan hệ nhân quả vớivòng tuần hoàn Liên hệ nhân quả có quan hệ sản sinh còn vòng tuần hoàn chỉ là sựlặp lại cái cũ sau một khoảng thời gian vận động biến đổi nào đấy

- Cần phân biệt sự khác nhau giữa nguyên nhân với nguyên cớ Nguyên nhân

có trước kết quả sản sinh ra kết quả Nguyên cớ có trước kết quả nhưng không sảnsinh ra kết quả nên nguyên cớ không thuộc phạm trù nhân quả và thông thườngnguyên cớ là cái che lấp nguyên nhân

- Một nguyên nhân có thể sản sinh ra nhiều kết quả và nhiều nguyên nhân cóthể chỉ sản sinh ra một kết quả Đây là tính phức tạp của quan hệ nhân quả Nếunhiều nguyên nhân tác động theo cùng một chiều sẽ đẩy nhanh quá trình sản sinh ra

Trang 19

kết quả, nâng cao chất lượng cho kết quả Nếu nhiều nguyên nhân nhưng tác độngngược chiều nhau sẽ hạn chế quá trình sản sinh ra kết quả Ví dụ trong nền kinh tếnhiều thành phần ở nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế vừa tác động hỗ trợnhau, vừa mâu thuẫn, thậm chí còn cản trở nhau phát triển Muốn phát huy được tácdụng của các thành phần kinh tế để phát triển sản xuất thì phải tạo điều kiện cho cácthành phần kinh tế đều có điều kiện phát triển, trong đó thành phần kinh tế nhà nướcphải giữ vai trò chủ đạo Nếu không như vậy nền kinh tế sẽ hỗn loạn và năng lực sảnxuất của các thành phần kinh tế có thể triệt tiêu lẫn nhau.

- Sau khi hình thành kết quả có tác động ngược trở lại nguyên nhân làm biếnđổi nếu như nguyên nhân đó vẫn tồn tại Ví dụ trình độ dân trí thấp do kinh tế kémphát triển, ít đầu tư cho giáo dục Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trở việc ápdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy kìm hãm sản xuất phát triển

- Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn cho nhau Cùng một sự vậtmột hiện tượng khi đặt trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng khi đặt trong quan

hệ khác lại là kết quả và ngược lại

* Ý nghĩa

- Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ cơ bản và quan trọng, thường gắn liềnvới đặc trưng bản chất của sự vật, hiện tượng Vì vậy một trong những nhiệm vụhàng đầu của các khoa học là vạch ra những mối liên hệ nhân quả của chúng

- Mối liên hệ nhân quả thể hiện trong thực tế rất phức tạp và đa dạng, cùngmột sự biến đổi xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau và vai trò của cácnguyên nhân là khác nhau Vì vậy muốn giải quyết một vấn đề nào đó, trước hết vàsau cùng phải xét từ nguyên nhân cơ bản để có biện pháp giải quyết đúng đắn, thíchhợp

- Muốn tác động vào sự vật phải tác động vào nguyên nhân của chúng theonhững hình thức phù hợp, đồng thời biết khai thác vận dụng kết quả đã đạt được đểnâng cao nhận thức, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của sự vật

- Một hiện tượng trong mối liên hệ này là kết quả trong mối quan hệ khác lànguyên nhân Để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy, cần phải xem xét nó trongquan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong quan hệ mà nó là kết quả

Ngày đăng: 26/04/2014, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w