1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khảo sát đặc điểm chụp cắt lớp vi tính của tổn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín

126 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Đặc Điểm Chụp Cắt Lớp Vi Tính Của Tổn Thương Mạc Treo Và Ruột Non Do Chấn Thương Bụng Kín
Tác giả Nguyễn Trạc Luân
Người hướng dẫn TS. Võ Tấn Đức, TS. Nguyễn An Thanh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chẩn Đoán Hình Ảnh
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Y Học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1 Chấn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín (16)
    • 1.2 Vai trò của các phương tiện chẩn đoán tổn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín (0)
    • 1.3 Phân độ tổn thương ruột non và mạc treo (25)
    • 1.4 Chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán tổn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín (28)
    • 1.5 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước (36)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu (0)
    • 2.2 Cỡ mẫu (40)
    • 2.3 Phương pháp nghiên cứu (40)
    • 2.4 Thu thập các biến số nghiên cứu (41)
    • 2.5 Quá trình thực hiện nghiên cứu (53)
    • 2.6 Y đức (56)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (57)
    • 3.1 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu (57)
    • 3.2 Xác định đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của mẫu nghiên cứu (62)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (88)
    • 4.1 Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu (88)
    • 4.2 Đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của mẫu nghiên cứu (93)
    • 4.3 Giá trị của các đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán tổn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín (112)
  • KẾT LUẬN (115)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (118)
  • PHỤ LỤC (124)

Nội dung

3.3 Xác định giá trị của các đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong chẩnđoán tổn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín.. 81 4.3 Giá trị của các đặc điểm hình ảnh chụp

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Cỡ mẫu

TT MT-RN có tỷ lệ thấp chỉ khoảng 1-5%, do đó chúng tôi chọn phương pháp lấy mẫu thuận tiện để đảm bảo hiệu quả nghiên cứu Tất cả bệnh nhân nằm trong nhóm dân số mục tiêu, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn chọn mẫu và không vi phạm các tiêu chuẩn loại trừ sẽ được đưa vào nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu hồi cứu, cắt ngang mô tả.

2.3.2 Thời gian tiến hành nghiên cứu

2.3.3 Địa điểm tiến hành nghiên cứu

Khoa chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện Chợ Rẫy.

Hồ sơ bệnh án điện tử và phần mềm quản lý kết quả chụp CLVT

Sử dụng các máy chụp CLVT đa lát cắt (64 đến 128 lát cắt): Siemens Somatom Definition AS 64 và 128 lát cắt.

Phần mềm quản lý hình ảnh (PACs), đĩa DVD lưu trữ hình ảnh chụp CLVT của bệnh nhân.

Phần mềm PACs hoặc phần mềm Radiant DCOM Viewer

Phần mềm Microsoft Excel 2016 và phần mềm SPSS 20.0

Thu thập các biến số nghiên cứu

Bảng 2.1 Các biến đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

STT Tên biến Loại biến Định nghĩa – Giá trị biến

1 Tuổi Định lƣợng Tuổi = năm nhập viện – năm sinh. Đơn vị tính là tuổi.

Giới tính ghi nhận trong hồ sơ:

Nguyên nhân chấn thương Định tính

Hồi cứu hồ sơ, ghi nhận nguyên nhân chấn thương, gồm 4 giá trị:

- Tai nạn giao thông (TNGT)

- Tai nạn lao động (TNLĐ)

- Tai nạn sinh hoạt (TNSH)

- Khác b) Đặc điểm chấn thương

Bảng 2.2 Các biến về đặc điểm chấn thương của nhóm TT MT-RN

STT Tên biến Loại biến Định nghĩa – Giá trị biến

Vị trí tổn thương Định tính

Ghi nhận kết quả tường trình phẫu thuật:

Tá tràng/Hỗng tràng/Hồi tràng

5 Loại tổn Định tính Ghi nhận kết quả tường trình phẫu thuật: thương - Mạc treo đơn thuần

- Phối hợp mạc treo và ruột non

Tổn thương cơ quan khác trong vùng bụng Định tính

Ghi nhận kết quả tường trình phẫu thuật: Có/Không

Nếu có nghi ngờ tổn thương, cần tiến hành khảo sát các bộ phận như gan, lách, thận, tụy, bàng quang, tuyến thượng thận, xương sườn, cột sống, khung chậu và các cơ quan khác để đánh giá chính xác mức độ tổn thương.

Bảng 2.3 Các biến về đặc điểm chấn thương của nhóm TT tạng khác trong ổ bụng

STT Tên biến Loại biến Định nghĩa – Giá trị biến

Chỉ định phẫu thuật của nhóm

TT tạng khác trong ổ bụng Định tính

Ghi nhận kết quả tường trình phẫu thuật:

Gan/Lách/Thận/Tụy/Bàng quang/Cơ quan khác c) Đặc điểm chụp CLVT của TT MT-RN

Bảng 2.4 Các biến về đặc điểm chụp CLVT của TT MT-RN

STT Tên biến Loại biến Giá trị biến

8 Hơi tự do ổ bụng Định tính Có/ không

9 Mất liên tục thành ruột Định tính Có/ không 10

Thành ruột bắt thuốc kém hoặc không bắt thuốc Định tính Có/ không

11 Dày thành ruột Định tính Có/ không

Tụ máu trong thành ruột/cạnh quai ruột Định tính Có/ không

13 XHHĐ mạch máu mạc treo Định tính Có/ không

14 Giả phình MMMT Định tính Có/ không

15 Cắt cụt MMMT Định tính Có/ không

16 Khối máu tụ mạc treo Định tính Có/ không

17 Thâm nhiễm mỡ mạc treo Định tính Có/ không

18 Dịch tự do ổ bụng Định tính Có/ không

19 Máu tự do ổ bụng Định tính Có/ không

Hơi tự do trong ổ bụng được định nghĩa là sự hiện diện của khí nằm bên ngoài đường tiêu hóa và trong khoang phúc mạc, có thể được xác định qua hình ảnh y học Sử dụng cửa sổ phổi với trung tâm cửa sổ là -600 và độ rộng cửa sổ 1500 giúp nhận diện chính xác hơi tự do này trong ổ bụng Hiểu rõ các biến số này là cần thiết để chẩn đoán hình ảnh hiệu quả và chính xác hơn.

Hơi tự do ổ bụng đƣợc chia thành hai dạng nhỏ:

Hơi trôi nổi tự do: những ổ hơi trong phúc mạc nằm sát thành bụng trước hoặc cách xa đoạn ruột tổn thương trên 3 cm [37].

Hơi dạng bóng lốm đốm: những ổ hơi nằm khu trú cạnh tổn thương ruột, dạng bóng nhỏ xen lẫn các chất chứa của ruột [37].

Hình 2.1 Đặc điểm hơi tự do ổ bụng

Hơi tự do ổ bụng xuất hiện với hai dạng phân bố chính là dạng trôi nổi tự do, nằm trước gan như hình A, và dạng bóng lốm đốm gần quai ruột bị tổn thương như hình B Đây là những dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh ổ bụng, góp phần xác định mức độ tổn thương nội tạng (Nguồn: Iaselli F., 2015)

Mất liên tục thành ruột là tình trạng mất tính liên tục của thành ruột do tổn thương rách hoặc vỡ toàn bộ các lớp của thành ruột, gây rò rỉ nội dung bên trong ra ngoài Hiện tượng này được xem là mất liên tục khi xuất hiện ở ít nhất hai mặt phẳng khác nhau, thể hiện rõ qua các hình ảnh chẩn đoán y học Đặc biệt, sự mất liên tục của thành ruột cần được phát hiện sớm để đảm bảo điều trị kịp thời, nhằm giảm thiểu biến chứng và phục hồi chức năng tiêu hóa Hiểu rõ về định nghĩa và đặc điểm của mất liên tục thành ruột giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và quản lý bệnh.

Hình 2.2 Đặc điểm mất liên tục thành ruột

Hình ảnh mất liên tục thành ruột (mũi tên lớn) cùng hơi tự do ổ bụng dạng bóng lốm đốm (mũi tên nhỏ) “Nguồn: Kim H., 2004”[37].

Thành ruột bắt thuốc kém hoặc không bắt thuốc được xác định dựa trên so sánh mức độ bắt thuốc của thành ruột non trong thì tĩnh mạch với thì không tiêm thuốc, giúp đánh giá khả năng hấp thụ của quai ruột Việc so sánh đậm độ của quai ruột với các quai ruột non lân cận trong thì tĩnh mạch là phương pháp chính để xác định quai ruột có bắt thuốc hay không Điều này giúp cung cấp thông tin chính xác về chức năng hấp thụ thuốc của thành ruột, hỗ trợ trong quá trình chẩn đoán và điều trị.

Dày thành ruột là gì? Đây là hiện tượng tăng độ dày của thành ruột non, thường được đánh giá qua ký thuật hình ảnh như siêu âm hay CT scan Bề dày thành ruột non được so sánh với các quai ruột lân cận để xác định mức độ bất thường Thông thường, bề dày thành ruột non vượt quá 3mm khi ruột không chứa dịch hoặc thức ăn, là dấu hiệu cảnh báo các vấn đề về tiêu hóa hoặc viêm nhiễm Việc đánh giá chính xác độ dày thành ruột giúp chẩn đoán các bệnh lý như viêm ruột, loét hoặc các tổn thương cấp tính khác một cách chính xác hơn.

Hình 2.3 Đặc điểm thành ruột bắt thuốc kém

Hình chụp CLVT vùng chậu cho thấy một đoạn quai ruột non (mũi tên) hấp thụ thuốc cản quang kém hơn so với các quai ruột lân cận, giúp nhận diện chính xác các bất thường tiêu hóa.

Hình 2.4 Đặc điểm dày thành ruột

Tụ máu trong thành ruột/cạnh quai ruột Định nghĩa: Khối giới hạn rõ có đậm độ máu (35 – 80 HU) bên trong thành ruột hoặc nằm cạnh quai ruột [32].

Hình 2.5 Đặc điểm khối máu tụ trong thành ruột

Hình chụp CLVT cho thấy khối máu tụ (mũi tên) có giới hạn rõ nằm trong thành của tá tràng D2 (mũi tên) “Nguồn: Iaselli F., 2015” [32].

XHHĐ mạch máu mạc treo được định nghĩa là sự thoát mạch của thuốc cản quang ra khỏi lòng mạch máu mạc treo, thể hiện qua hình ảnh tiêm thuốc tương phản Vùng xuất huyết hoạt động được xác định dựa trên sự xuất hiện của đậm độ cao tương đương chất cản quang nằm ngoài lòng mạch máu, có sự thay đổi về hình dạng theo thời gian trên các hình ảnh sau tiêm thuốc tương phản, cho thấy vùng bị tổn thương đang hoạt động.

Hình 2.6 Đặc điểm xuất huyết hoạt động mạch máu mạc treo

Hình chụp CLVT mô tả hình ảnh xuất huyết ở hoạt động mạch máu mạc treo, với đậm độ cao của chất cản quang thể hiện rõ trên các thì chụp khác nhau Trong hình A phản ánh giai đoạn động mạch, còn hình B thể hiện giai đoạn tĩnh mạch, cho thấy sự thay đổi kích thước của các mạch máu qua các thì chụp Nguồn: Iaselli F.

Giả phình MMMT được định nghĩa là mất sự đều đặn của thành mạch mạc treo, thay vào đó là các cấu trúc dạng túi đậm độ tương đương mạch máu Túi giả phình xuất hiện như các vùng có đậm độ cao liên tục với mạch máu và ít thay đổi về hình dạng theo thời gian trên các hình ảnh chụp cắt lớp có cấu trúc chất cản quang rõ nét.

Cắt cụt MMMT Định nghĩa: Mất sự liên tục của mạch máu mạc treo [35] (hình 2.8).

Hình 2.7 Đặc điểm giả phình mạch máu mạc treo

Hình chụp CLVT mặt phẳng coronal cho thấy có hình ảnh giả phình mạch máu mạc treo (mũi tên) của nhánh động mạch hỗng tràng, với bờ mạch máu mất sự đều đặn, cho thấy các dấu hiệu bất thường về cấu trúc mạch máu Nghiên cứu này được mô tả bởi Atri M vào năm 2008, góp phần giúp chẩn đoán chính xác các bệnh lý liên quan đến mạch máu mạc treo Đặc biệt, hình ảnh giả phình mạch máu là một dấu hiệu quan trọng để phát hiện các tổn thương hoặc bệnh lý mạch máu, giúp bác sĩ đưa ra chẩn đoán và xử lý kịp thời.

Hình 2.8 Đặc điểm cắt cụt mạch máu mạc treo

Một nhánh của động mạch mạc treo tràng trên bị cắt cụt (mũi tên) kèm

Khối máu tụ mạc treo Định nghĩa: Cấu trúc dạng khối đậm độ cao không đồng nhất (35-80 HU) nằm trong mạc treo [14].

Hình 2.9 Đặc điểm khối máu tụ mạc treo

Hình chụp CLVT cho thấy khối máu tụ mạc treo rõ ràng, nằm bên trong mạc treo và giới hạn rõ ràng Vùng xung quanh khối máu tụ là mô mạc treo thâm nhiễm mỡ, cho thấy sự tổn thương và phù nề khu vực này Đây là dấu hiệu quan trọng giúp chẩn đoán chính xác tình trạng máu tụ mạc treo.

Thâm nhiễm mỡ mạc treo Định nghĩa: Sự tăng đậm độ tương đương đậm độ mô mềm của mỡ mạc treo với đường bờ và giới hạn không rõ [14].

Hình 2.10 Đặc điểm thâm nhiễm mỡ mạc treo

Dịch tự do ổ bụng Định nghĩa: Đậm độ dịch (< 25 HU) nằm tự do trong ổ bụng [35].

Hình 2.11 Đặc điểm dịch tự do ổ bụng

Máu tự do ổ bụng Định nghĩa: Dịch ổ bụng có đậm độ 35 - 80 HU [14].

Hình 2.12 Đặc điểm máu tự do ổ bụng

Quá trình thực hiện nghiên cứu

Dựa trên hồ sơ bệnh án điện tử và phần mềm quản lý kết quả chụp CLVT, chúng tôi lập danh sách các bệnh nhân có chẩn đoán chấn thương bụng kín, nghi ngờ có thủng tạng rỗng Quá trình này giúp xác định chính xác những trường hợp cần theo dõi và xử lý y tế kịp thời Việc sử dụng phần mềm quản lý kết quả chụp CLVT hiện đại tăng hiệu quả trong việc phân loại và đánh giá các bệnh nhân bị chấn thương bụng kín Đây là bước quan trọng trong quy trình chẩn đoán chính xác và nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân.

Lựa chọn bệnh nhân phù hợp với tiêu chuẩn chọn mẫu là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác của nghiên cứu Bệnh nhân không nằm trong các tiêu chuẩn loại trừ sẽ được thực hiện chụp cắt lớp vi tính (CLVT) theo kỹ thuật đã đề cập, nhằm cung cấp dữ liệu hình ảnh chất lượng cao, phù hợp với mục đích nghiên cứu hoặc chẩn đoán Quy trình chọn lựa này giúp đảm bảo tính khoa học, chính xác và đáng tin cậy của kết quả cuối cùng.

Sơ đồ 2.1 Quy trình chọn bệnh nhân cho mẫu nghiên cứu

Bước 2: Thu thập thông tin chung

Thông tin về tên, tuổi, giới và nguyên nhân chấn thương được thu thập từ hồ sơ bệnh án điện tử theo mẫu phiếu thu thập số liệu (phụ lục 1), đảm bảo tính chính xác và đầy đủ để phân tích dữ liệu y tế.

Bước 3: Thu thập hình ảnh chụp CLVT

Hình ảnh chụp CLVT của bệnh nhân được thu thập qua phần mềm quản lý hình ảnh PACs, đảm bảo việc lưu trữ và truy xuất dễ dàng Các trường hợp không được lưu trữ trên PACs được thu thập bằng cách sao đĩa lưu trữ trong khoa chẩn đoán hình ảnh, giúp duy trì dữ liệu toàn diện và thuận tiện cho quá trình chẩn đoán và nghiên cứu.

- Hình ảnh đƣợc đọc trực tiếp trên phần mềm PACs hoặc phần mềm Radiant DCOM Viewer cho các bệnh nhân sao lưu đĩa.

- Khảo sát hình ảnh chụp CLVT trên mặt phẳng ngang và các mặt phẳng tái tạo, ghi nhận những đặc điểm hình ảnh của TT MT-RN.

- Kết quả đƣợc ghi theo mẫu của phiếu thu thập số liệu.

Bước 4: Nhập và xử lý số liệu

- Thông tin trong phiếu thu thập số liệu sẽ được lưu trữ bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0.

- Các biến số định tính đƣợc mô tả bằng tần số, tỉ lệ phần trăm.

- Các biến số định lƣợng đƣợc mô tả bằng số trung bình, trung vị.

Các tỉ lệ trong phân tích thống kê thường được so sánh bằng phép kiểm Chi-Square hoặc phép kiểm Fisher để đảm bảo độ chính xác của kết quả Đặc biệt, phép kiểm Fisher thường được sử dụng khi kích thước mẫu nhỏ hơn 20 hoặc số quan sát trong bảng 2x2 dưới 5, nhằm nâng cao độ tin cậy của phân tích Việc lựa chọn phương pháp phù hợp giúp đảm bảo tính chính xác trong cả các nghiên cứu có mẫu nhỏ hoặc dữ liệu phân phối không chuẩn.

- Các giá trị trung bình đƣợc so sánh bằng phép kiểm t-test nếu có phân phối chuẩn hoặc Wilcoxon/Mann – Whitney nếu có phân phối không chuẩn.

- Các phép kiểm đƣợc xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

Bước 5: Trình bày kết quả và so sánh

Các bệnh nhân trong danh sách được phân thành hai nhóm dựa trên kết quả Thăm dò phẫu thuật: nhóm có tổn thương mạc treo ruột non (TT MT-RN) và nhóm không có tổn thương này, được gọi là nhóm các tổn thương tạng khác trong ổ bụng Phân loại này giúp xác định chính xác tình trạng và hướng điều trị phù hợp cho từng nhóm bệnh nhân Việc chẩn đoán rõ ràng qua kết quả phẫu thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản lý và điều trị các bệnh lý nội soi ổ bụng.

- Mô tả số lƣợng, trung bình, tỷ lệ các biến số đặc điểm chung, hình ảnh chụp CLVT ở nhóm TT MT-RN và nhóm TT tạng khác trong ổ bụng.

Trong bài viết này, chúng tôi đã so sánh sự khác biệt về tỷ lệ các biến số đặc điểm hình ảnh chụp CLVT giữa hai nhóm bệnh nhân: nhóm TT MT-RN và nhóm TT tạng khác trong ổ bụng Kết quả cho thấy có những biến đổi đáng kể về tỷ lệ các đặc điểm hình ảnh giữa hai nhóm, phản ánh sự khác biệt trong cơ chế bệnh lý và phân tích hình ảnh y học Phân tích này giúp nâng cao khả năng nhận diện chính xác các hình ảnh chụp CT của các bệnh lý liên quan, hỗ trợ quá trình chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn Sự khác biệt về tỷ lệ các đặc điểm hình ảnh này cũng cung cấp dữ liệu quan trọng để các bác sĩ có thể phân biệt rõ ràng hơn giữa các trạng thái lâm sàng khác nhau trong chẩn đoán hình ảnh y học.

RN đơn thuần và TT MT-RN kèm tạng khác.

Các biến số có tỷ lệ mang sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sẽ được phân tích để tính độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị dự đoán dương, giá trị dự đoán âm, tỉ số chênh OR, khoảng tin cậy 95% của OR và chỉ số đồng thuận κ Trong đó, nếu chỉ số Kappa bằng hoặc thấp hơn 0, điều này cho thấy không có sự đồng thuận giữa các phương pháp hoặc các quan sát được thực hiện.

Chỉ số Kappa phản ánh mức độ đồng thuận giữa các đánh giá hoặc phân loại Kappa từ 0,01 đến 0,2 thể hiện mức đồng thuận thấp, trong khi từ 0,21 đến 0,4 cho thấy mức đồng thuận dưới trung bình Mức Kappa từ 0,41 đến 0,6 được xem là trung bình hoặc vừa phải, còn từ 0,61 đến 0,8 thể hiện mức đồng thuận tốt, giúp đánh giá chính xác hơn về độ phù hợp giữa các bên.

+ Kappa từ 0,81 đến 1: Chỉ số đồng rất tốt

Các biến này được đưa vào phân tích hồi quy logistic đa biến để tính điểm số chụp CLVT, dựa trên tham số β trong mô hình hồi quy Đường cong ROC được vẽ dựa trên thang điểm này để xác định ngưỡng cắt tối ưu cho việc phân loại, đồng thời đánh giá độ chính xác của phương pháp chẩn đoán qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC), giúp xác định khả năng phân biệt giữa các trường hợp mắc và không mắc bệnh.

Trong đánh giá chẩn đoán, điểm số chia thành các mức độ như sau: từ 0,8 đến 0,9 được xem là tốt, trong khi từ 0,7 đến 0,8 là khá tốt Điểm từ 0,6 đến 0,7 không được coi là tốt, và điểm từ 0,5 đến 0,6 mang ý nghĩa không có giá trị Phương pháp chẩn đoán chính được sử dụng ở đây là bảng điểm phân độ chụp CLVT Tuy nhiên, tiêu chuẩn vàng để xác định chính xác vẫn là chẩn đoán dựa trên tường trình phẫu thuật.

Y đức

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên hồ sơ và hình ảnh chùm tia Cộng hưởng từ (CLVT), đảm bảo không gây tổn hại sức khỏe cho bệnh nhân Các dữ liệu của bệnh nhân được bảo mật tuyệt đối và các hình ảnh sử dụng trong đề tài được xóa tên để đảm bảo quyền riêng tư Danh sách bệnh nhân được viết tắt nhằm duy trì tính bảo mật và an toàn thông tin.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm 91 bệnh nhân có độ tuổi từ 17 đến

Bệnh nhân trung bình 69 tuổi, tuổi trung vị của nhóm TT MT-RN là 39,5 tuổi, với các trường hợp nhỏ tuổi nhất là 19 tuổi và lớn nhất là 69 tuổi Trong khi đó, nhóm TT tạng khác trong ổ bụng có tuổi trung vị là 32 tuổi, với các bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 17 và lớn nhất là 62 tuổi.

Phần lớn bệnh nhân mắc bệnh TT MT-RN nằm trong nhóm tuổi từ 31 đến 48 tuổi, trong khi đó, bệnh nhân TT tạng khác trong ổ bụng chủ yếu ở độ tuổi từ 20 đến 41 tuổi Sự khác biệt về độ tuổi giữa hai nhóm này có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,011 < 0,05, theo phép kiểm Mann–Whitney.

Biểu đồ 3.2 Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới tính

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỉ số nam/nữ trong nhóm tổn thương tạng ruột non (TT-MT-RN) là 2,7/1, với 32 nam và 12 nữ bệnh nhân, chiếm tỷ lệ lần lượt 72,7% và 27,3% Tỉ số này cao hơn so với nhóm các tổn thương tạng khác trong ổ bụng, có tỉ lệ nam/nữ là 6,8/1, tương ứng 41 nam và 6 nữ bệnh nhân Những kết quả này cho thấy nam giới chiếm đa số trong các trường hợp tổn thương tạng trong ổ bụng, đặc biệt là trong nhóm tổn thương tạng ruột non.

TT MT-RN xảy ra ở bệnh nhân nam nhiều hơn nữ.

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ số giới tính giữa nhóm bệnh nhân TT MT-RN và nhóm bệnh nhân tạng khác trong ổ bụng (p = 0,08 > 0,05, theo phép kiểm Chi bình phương), cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể đến phân bổ giữa các nhóm này.

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

Biểu đồ 3.3 Phân bố nguyên nhân chấn thương của mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi về nguyên nhân chấn thương bụng kín, TNGT chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cả hai nhóm, với tỷ lệ lần lượt là 70,5% và 74,5% Các nguyên nhân khác như TNLĐ và TNSH có tỷ lệ khá thấp, từ 8,5% đến 13,6%, đóng vai trò ít hơn trong các nguyên nhân gây chấn thương bụng kín.

3.1.4 Đặc điểm lâm sàng riêng của các nhóm trong mẫu nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm lâm sàng riêng của nhóm TT MT-RN

Ruột non và mạc treo 24 (54,5 %)

Tổn thương cơ quan khác vùng bụng đi kèm

Trong nghiên cứu của chúng tôi, hỗng tràng là vị trí tổn thương mạc treo và ruột phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ 47,8% Đa số bệnh nhân chỉ có tổn thương tại một vị trí duy nhất, với tỷ lệ lên đến 84,1%, cho thấy tính chất tập trung của các tổn thương trong nhóm bệnh này.

Về phân loại tổn thương TT MT-RN, có 9 trường hợp tổn thương mạc treo đơn thuần (20,5 %), 11 trường hợp tổn thương ruột non đơn thuần (25,0

%) và 24 trường hợp phối hợp tổn thương mạc treo và ruột non (24/44 trường hợp) Trong 44 trường hợp TT MT-RN của chúng tôi, có 18 trường hợp (40,9

%) có kèm theo tổn thương tạng trong ổ bụng khác.

Biểu đồ 3.4 Phân bố tổn thương đi kèm của nhóm TT MT-RN

Trong nhóm TT MT-RN có kèm tổn thương tạng khác, gan, lách và thận là các tạng đặc thường gặp bị tổn thương kèm theo Các tổn thương xương phổ biến nhất là tổn thương cột sống và khung chậu, trong khi đó, các tổn thương ít gặp hơn như túi mật và xương sườn.

3.1.4.2 Nhóm TT tạng khác trong ổ bụng

Biểu đồ 3.5 Chỉ định phẫu thuật của nhóm TT tạng khác trong ổ bụng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các ca phẫu thuật trong nhóm tạng khác trong ổ bụng chủ yếu liên quan đến tổn thương ở gan, lách và tụy, với số lượng lần lượt là 11, 20 và 13 ca Các chỉ định phẫu thuật do tổn thương thận và bàng quang cũng được ghi nhận, phản ánh mức độ phổ biến của các tổn thương này trong quá trình điều trị chấn thương nội tạng bụng.

(3) ít gặp hơn Ngoài ra còn các chỉ định phẫu thuật khác ít gặp nhƣ tổn thương cơ hoành, túi mật, phẫu thuật nội soi thám sát…

Xác định đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của mẫu nghiên cứu

3.2.1 Đặc điểm mất liên tục thành ruột

Biểu đồ 3.6 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm mất liên tục thành ruột

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mất liên tục thành ruột ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng liệu pháp MT-RN là 27,3%, với 12 trường hợp ghi nhận Ngược lại, trong nhóm các bệnh lý tạng khác trong ổ bụng, chỉ có 1 trường hợp nghi ngờ mất liên tục thành ruột, chiếm tỷ lệ 2,1% Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tần suất mất liên tục thành ruột giữa các nhóm, góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị.

Chúng tôi kiểm định sự khác biệt về đặc điểm mất liên tục thành ruột giữa hai nhóm TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng Kết quả cho thấy giá trị p < 0,05, cho thấy có sự khác biệt thống kê đáng kể giữa hai nhóm trong đặc điểm này Phân tích này cung cấp thông tin quan trọng về đặc điểm giải phẫu học của các nhóm bệnh nhân, góp phần vào việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt các đặc điểm mất liên tục thành ruột trong các nhóm khác nhau để cải thiện kết quả lâm sàng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả kiểm định chính xác Fisher với giá trị p = 0,001 cho thấy mức độ khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 Điều này cho thấy đặc điểm mất liên tục thành ruột có giá trị phân biệt rõ ràng giữa nhóm bệnh TT MT-RN và nhóm bệnh tạng khác trong ổ bụng.

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

T ỷ lệ m ất li ên t ụ c th àn h r u ột có không

3.2.2 Đặc điểm hơi tự do ổ bụng

Biểu đồ 3.7 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm hơi tự do ổ bụng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ hơi tự do ổ bụng ở nhóm TT MT-RN lên đến 63,6%, cao hơn nhiều so với chỉ 6,4% ở nhóm TT tạng khác trong ổ bụng Các bệnh nhân trong nhóm chứng có hình ảnh hơi tự do ổ bụng chủ yếu là những người đã trải qua phẫu thuật do chấn thương cơ hoành, vỡ bàng quang trong phúc mạc hoặc tràn khí trong khoang tiền phúc mạc Điều này cho thấy tỷ lệ hơi tự do ổ bụng ở nhóm bệnh nhân TT MT-RN cao hơn rõ rệt so với nhóm bệnh nhân TT tạng khác trong ổ bụng.

Nghiên cứu của chúng tôi đã kiểm định sự khác biệt về đặc điểm hơi tự do ổ bụng giữa hai nhóm TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng, với giá trị p = 0,000 (Phép kiểm chính xác Fisher) Vì p < 0,05, kết quả này cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm Do đó, đặc điểm hơi tự do trong ổ bụng có thể phân biệt rõ ràng giữa nhóm MT-RN và nhóm tạng khác.

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

T ỷ lệ h ơ i t ự d o ổ b ụ n g có không do ổ bụng có giá trị gợi ý phân biệt hai nhóm bệnh TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng.

Bảng 3.2 Liên quan giữa hơi tự do ổ bụng dạng trôi nổi tự do và phân nhóm bệnh nhân TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng

Hơi dạng trôi nổi tự do Nhóm bệnh

TT tạng khác trong ổ bụng

Bảng 3.3 Liên quan giữa hơi tự do ổ bụng dạng bóng lốm đốm và phân nhóm bệnh nhân TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng

Hơi dạng bóng lốm đốm Nhóm bệnh

TT tạng khác trong ổ bụng

Trong nhóm TT MT-RN, có 28 trường hợp có hơi tự do ổ bụng, trong đó 23 trường hợp có hơi dạng trôi nổi tự do và 16 trường hợp có hơi dạng bóng lốm đốm Có tổng cộng 11 trường hợp xuất hiện cả hai dạng hơi tự do, 17 trường hợp chỉ có hơi dạng trôi nổi tự do và 5 trường hợp chỉ có hơi dạng bóng lốm đốm Đây là các đặc điểm quan trọng giúp nhận biết và đánh giá mức độ tự do của hơi trong ổ bụng dựa trên hình ảnh y học.

Trong nghiên cứu, có 5 trường hợp chỉ có hơi dạng bóng lốm đốm, trong đó 4 trường hợp tổn thương nằm ở tá tràng và 1 trường hợp ở hồi tràng Tất cả 12 trường hợp có đặc điểm “mất liên tục thành ruột” đều đi kèm với hơi tự do ổ bụng dạng bóng lốm đốm, nằm cạnh quai ruột liên quan đến mất liên tục thành ruột Trong nhóm các tạng khác trong ổ bụng, 3 trường hợp có hơi tự do đều xuất hiện ở dạng trôi nổi tự do, không có đặc điểm bóng lốm đốm.

Chúng tôi phát hiện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm hơi tự do ổ bụng dạng "trôi nổi tự do" giữa nhóm TT MT-RN và nhóm TT tạng khác trong ổ bụng (p = 0,000 < 0,05, Phép kiểm chính xác Fisher) Ngoài ra, cũng ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm hơi tự do ổ bụng dạng "bóng lốm đốm" giữa hai nhóm này (p = 0,000 < 0,05, Phép kiểm chính xác Fisher), cho thấy các đặc điểm này có tính phân biệt rõ ràng giữa các nhóm nghiên cứu.

3.2.3 Đặc điểm thành ruột bắt thuốc kém

Biểu đồ 3.8 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm thành ruột bắt thuốc kém

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

T ỷ lệ t h àn h r u ột b ắt t h u ốc k ém có không

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thành ruột bắt thuốc kém ở nhóm TT MT-RN là 29,4%, cao hơn nhiều so với nhóm TT tạng khác trong ổ bụng chỉ 2,1% Một trường hợp trong nhóm TT tạng khác ghi nhận do phẫu thuật cắt thân đuôi tụy vì chấn thương, kèm hình ảnh đoạn hỗng tràng sau góc Treitz bắt thuốc kém Kết quả này cho thấy tỷ lệ thành ruột bắt thuốc kém ở nhóm TT MT-RN vượt trội so với các nhóm tạng khác trong ổ bụng, nhấn mạnh sự khác biệt trong khả năng hấp thu thuốc giữa các nhóm.

Kiểm định sự khác biệt về đặc điểm này giữa hai nhóm TT MT-RN và

Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm bệnh TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng với p = 0,003 (Phép kiểm chính xác Fisher), chứng tỏ thành ruột bắt thuốc kém là đặc điểm phân biệt quan trọng.

3.2.4 Đặc điểm khối máu tụ trong thành ruột/cạnh quai ruột

Biểu đồ 3.9 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

T ỷ lệ m áu t ụ t ro n g th àn h ru ột /c ạn h q u ai r u ột có không khối máu tụ trong thành ruột/cạnh quai ruột

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ khối máu tụ trong thành ruột hoặc cạnh quai ruột ở nhóm TT MT-RN là 15,9%, cho thấy mức độ phổ biến đáng kể của tình trạng này Ngoài ra, trong nhóm khối máu tụ tạng khác trong ổ bụng, ghi nhận có hai trường hợp túi máu tụ cạnh quai ruột (4,3%), đặc biệt là khối máu tụ cạnh tá tràng sau chấn thương tụy Những phát hiện này góp phần quan trọng trong việc đánh giá và chẩn đoán các tổn thương nội bộ sau chấn thương bụng.

Kiểm định sự khác biệt về đặc điểm này giữa hai nhóm TT MT-RN và

Trong phân tích, giá trị p của TT tạng khác trong ổ bụng là 0,084, vượt quá ngưỡng 0,05 theo phép kiểm chính xác Fisher, cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm.

3.2.5 Đặc điểm dày thành ruột

Biểu đồ 3.10 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm dày thành ruột

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

T ỷ lệ d ày t h àn h r u ột có không

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ dày thành ruột ở nhóm TT MT-RN là 70,5 % Ở nhóm TT tạng khác trong ổ bụng, tỉ lệ dày thành ruột ở mức 38,6 % Tỷ lệ dày thành ruột ở nhóm TT MT-RN cao hơn nhóm TT tạng khác trong ổ bụng Kiểm định sự khác biệt về đặc điểm này giữa hai nhóm TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng, chúng tôi thu đƣợc giá trị p = 0,001 (Phép kiểm Chi bình phương) Do p < 0,05, nghĩa là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm trên Nhƣ vậy, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận đặc điểm dày thành ruột có giá trị gợi ý phân biệt hai nhóm bệnh TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng.

3.2.6 Đặc điểm xuất huyết hoạt động mạch máu mạc treo

Biểu đồ 3.11 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm XHHĐ MMMT

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ XHHĐ MMMT ở nhóm TT MT-RN là 11,4 %, đa số các trường hợp TT MT-RN chúng tôi không thấy có hình ảnh XHHĐ MMMT Ở nhóm TT tạng khác trong ổ bụng, chúng tôi

TT MT-RN TT tạng khác trong ổ bụng

T ỷ lệ X H H Đ M M M T có không không thấy có hình ảnh XHHĐ MMMT (0 trường hợp) Tỷ lệ XHHĐ MMMT ở nhóm TT MT-RN cao hơn nhóm TT tạng khác trong ổ bụng.

Kết quả kiểm định cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về đặc điểm xã hội học của bệnh nhân MMMT giữa hai nhóm TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng, với giá trị p = 0,023 (phép kiểm chính xác Fisher) Điều này cho thấy đặc điểm MMMT có thể giúp phân biệt giữa hai nhóm bệnh, góp phần nâng cao quá trình chẩn đoán và điều trị.

3.2.7 Đặc điểm giả phình mạch máu mạc treo

Biểu đồ 3.12 Phân bố mẫu nghiên cứu theo đặc điểm giả phình MMMT

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ giả phình MMMT ở nhóm

BÀN LUẬN

Đặc điểm lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1 So sánh tuổi trung bình của BN TT MT-RN với các tác giả khác

Tác giả Cỡ mẫu Tuổi trung bình

Nguyễn Hoàng Linh (2017) [2] 83 38,2 Nguyễn Duy Hùng (2020) [31] 62 40,8

Theo tổng quan y văn, bệnh nhân TT MT-RN thường ở độ tuổi từ 20 đến 50 tuổi, lứa tuổi chủ yếu lao động và điều khiển phương tiện giao thông

Tuổi trung bình của bệnh nhân mắc TT MT-RN trong nghiên cứu của chúng tôi là 40,3 tuổi, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Duy Hùng và Mostafa Atri Tuy nhiên, tuổi trung bình của chúng tôi cao hơn so với các tác giả Andrew Petrosoniak và Nguyễn Hoàng Linh, với lần lượt là 38,5 tuổi, do sự khác biệt về quy mô mẫu và đặc điểm bệnh nhân Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất trong nghiên cứu của các tác giả này là 13 tuổi, trong khi của Claire Faget là 9 tuổi, thấp hơn nhiều so với bệnh nhân nhỏ tuổi nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là 19 tuổi Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp và tương đồng với tài liệu y văn hiện có.

Bảng 4.2 So sánh tuổi trung bình theo nhóm TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng với các tác giả khác

Nhóm TT tạng khác trong ổ bụng p n Tuổi n Tuổi

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có sự khác biệt về tuổi trung bình giữa hai nhóm TT MT-RN và TT tạng khác trong ổ bụng (p = 0,011, kiểm định Mann–Whitney) Trong khi đó, các tác giả Mostafa Atri, Claire Fage và Nguyễn Duy Hùng không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi trung bình giữa hai nhóm này, có thể do nhấn mạnh vào sự khác biệt về cỡ mẫu.

Bảng 4.3 So sánh tỉ lệ giới tính của bệnh nhân TT MT-RN với các tác giả khác

Tác giả n Nam Nữ Nam /Nữ

Claire Faget (2015) [23] 56 76,7 % 23,3 % 3,3Mostafa Atri (2008) [12] 38 59,3 % 40,7 % 1,5Nguyễn Hoàng Linh (2017) [2] 83 63,9 % 36,1 % 7,0Nguyễn Duy Hùng (2020) [31] 62 87,2 % 12,8 % 6,8

Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc TT MT-RN ở nam giới cao hơn nữ giới, with giới tính nam/nữ thường dao động từ 2/1 đến 4/1 Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ này là 2,7/1, với 72,7% bệnh nhân nam và 27,3% nữ, phản ánh sự vượt trội của bệnh ở nam giới Kết quả này phù hợp với các tài liệu y học và ý kiến của tác giả Claire Faget, nhưng cao hơn so với các nghiên cứu của Mostafa Atri và thấp hơn so với các tác giả Nguyễn Hoàng Linh và Nguyễn Duy Hùng, có thể do khác biệt về cỡ mẫu nghiên cứu. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình cho SEO và muốn đảm bảo mỗi đoạn văn đều mạch lạc, phải không? Chúng tôi hiểu điều đó! Để giúp bạn, hãy xem xét [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/RGF0QUCC) Công cụ này có thể giúp bạn tạo ra những bài viết chất lượng cao, tối ưu SEO chỉ trong vài phút, giúp bạn tiết kiệm thời gian và chi phí Trong bài viết của bạn về tỉ lệ mắc bệnh TT MT-RN giữa nam và nữ, bạn có thể nhấn mạnh rằng tỉ lệ nam giới mắc bệnh cao hơn (2.7/1 trong nghiên cứu của bạn), tương đồng với nhiều nghiên cứu khác nhưng có sự khác biệt nhỏ do cỡ mẫu khác nhau.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ giới tính giữa nhóm TT MT-RN và nhóm tạng khác trong ổ bụng lần lượt là 2,7/1 và 6,8/1, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,08 > 0,05, kiểm định Chi bình phương) Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Claire Faget và Mostafa Atri, đều cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ giới tính giữa hai nhóm trong ổ bụng.

Bảng 4.4 So sánh nguyên nhân chấn thương của bệnh nhân TT MT-RN với các tác giả khác

Tác giả Nguyên nhân chấn thương

Khác 4,5 % 5,1 % 0 % 10,0 % Mẫu nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trong 44 ca bệnh nhân TT MT-

RN, nguyên nhân chấn thương được ghi nhận nhiều nhất là TNGT với tỉ lệ 70,5 %, theo sau đó là TNSH (13,6 %) và TNLĐ (11,4 %), còn lại là nguyên nhân khác.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nguyên nhân chấn thương do TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất, phù hợp với các nghiên cứu khác về nguyên nhân phổ biến gây chấn thương TNGT thường gây ra các tổn thương phức tạp do lực tác động lớn, dẫn đến nhiều chấn thương phối hợp Đặc biệt, tỷ lệ chấn thương do TNGT trong nghiên cứu của chúng tôi và của hai tác giả Việt Nam đều vượt quá 70%, cho thấy mức độ phổ biến và tác động nghiêm trọng của vấn đề này.

Theo nghiên cứu của Kordzadeh (2015), tỷ lệ này đạt 60%, điều này có thể được giải thích do kích thước mẫu nhỏ (n = 20) của nghiên cứu cũng như sự khác biệt về đặc điểm dân số.

4.1.4 Vị trí tổn thương, loại tổn thương, tổn thương tạng khác đi kèm.

Bảng 4.5 So sánh vị trí tổn thương của BN TT MT-RN với các tác giả khác

Theo tổng quan y văn, hỗng tràng là vị trí tổn thương thường gặp nhất, tỉ lệ tổn thương tá tràng trong TT MT-RN khoảng dưới 20 % [69].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, vị trí tổn thương phổ biến nhất là hỗng tràng chiếm 47,7 %, tiếp theo là hồi tràng với tỷ lệ 38,6 % Trong khi đó, tá tràng có tỷ lệ tổn thương thấp nhất chỉ đạt 13,6 %, phù hợp với các nghiên cứu của Nguyễn Duy Hùng (2020) và Huỳ Kim (2004), đều ghi nhận tỷ lệ tổn thương tại tá tràng dưới 20 %.

Tỉ lệ tổn thương hồi tràng của chúng tôi cao nhẹ so với các tác giả khác, nhưng sự khác biệt này không lớn và có thể do ảnh hưởng của cỡ mẫu nghiên cứu.

Bảng 4.6 So sánh tổn thương tạng khác đi kèm của BN TT MT-RN với các tác giả khác

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 18 trong số 44 bệnh nhân (40,9%) mắc ít nhất một tổn thương cơ quan khác trong ổ bụng, điển hình là lách, gan và thận Những tạng này cũng được xác định là dễ bị tổn thương nhất trong các nghiên cứu của Nguyễn Duy Hùng (2020) và Mostafa Atri (2008) Ngoài ra, y văn cũng ghi nhận gan và lách là hai tạng thường gặp tổn thương nhất trong các chấn thương bụng kín, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chẩn đoán chính xác các tổn thương này để đảm bảo điều trị hiệu quả.

Đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của mẫu nghiên cứu

4.2.1 Đặc điểm mất liên tục thành ruột

Trong chẩn đoán Thủng thành ruột do chấn thương bụng kín, đặc điểm mất liên tục thành ruột có độ đặc hiệu cao, cho thấy sự tổn thương toàn bộ các lớp của thành ruột Hầu hết các lỗ thủng do chấn thương bụng kín là nhỏ, làm cho khó phát hiện rõ trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CLVT).

Bảng 4.7 So sánh đặc điểm hình ảnh mất liên tục thành ruột ở bệnh nhân

TT MT-RN với các tác giả khác

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 12 ca (27,3%) trong số 44 bệnh nhân TT MT-RN có đặc điểm mất liên tục thành ruột, cho thấy tần suất xuất hiện khá cao Theo nghiên cứu của Claire Faget (2015) [23], tỷ lệ bệnh nhân TT MT-RN mắc đặc điểm này là 33,9%, cao hơn so với kết quả của tác giả Mostafa Atri (2008) [12] với 11% Các số liệu này cho thấy mức độ khác nhau về đặc điểm mất liên tục thành ruột ở các nghiên cứu khác nhau, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định chính xác đặc điểm lâm sàng trong chẩn đoán và điều trị bệnh TT MT-RN.

[31] là 28,6 % Các kết quả của tác giả Claire Faget (2015) [23] và Nguyễn Duy Hùng (2020) [31] khá tương đồng với nghiên cứu của chúng tôi và y văn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đặc điểm mất liên tục thành ruột cao hơn so với nghiên cứu của Mostafa Atri (2008), điều này có thể do khác biệt về cỡ mẫu, nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố mẫu trong kết quả nghiên cứu về các đặc điểm lâm sàng của bệnh lý tiêu hóa.

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận một bệnh nhân trong nhóm không

Trong trường hợp này, bệnh nhân nghi ngờ có hình ảnh mất liên tục thành ruột liên quan đến TT MT-RN, đi kèm với vỡ hoành và hơi tự do ổ bụng, cho thấy tình trạng tổn thương nghiêm trọng Tuy nhiên, qua chẩn đoán hình ảnh, không phát hiện thấy TT MT-RN trên TTPT, giúp loại trừ khả năng có hình ảnh mất liên tục thành ruột liên quan đến tổn thương đó Hơi tự do trong ổ bụng có thể xuất phát từ khoang ngực do tràn khí màng phổi sau gãy xương sườn, đặc biệt ở bệnh nhân chấn thương ngực bụng Đánh giá chính xác các dấu hiệu này rất quan trọng để xác định phương pháp điều trị phù hợp và ổn định tình trạng bệnh nhân.

Hình 4.1 Đặc điểm mất liên tục thành ruột

Một quai ruột vùng hố chậu trái mất liên tục (mũi tên), đƣợc thể hiện trên mặt phẳng axial (hình bên trái) và coronal (hình bên phải).

“Nguồn: BN Huỳnh Thị Đ., nữ, 40 tuổi, Số nhập viện: 2210040190”.

Mất liên tục thành ruột là đặc điểm rất đặc hiệu cho u trung mô ruột (TT MT-RN), với 27,3% ca mắc trong nhóm TT MT-RN so với chỉ 2,1% trong các bệnh lý khác của ổ bụng, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tỷ số chênh của đặc điểm này là 17,250, chứng minh rằng mất liên tục thành ruột là dấu hiệu gợi ý chẩn đoán chính xác cho TT MT-RN Đặc điểm này có độ đặc hiệu rất cao lên đến 97,9%, nhưng độ nhạy lại thấp (22,7%), giúp phân biệt rõ ràng hơn trong quá trình chẩn đoán Nghiên cứu của Claire Faget (2015) và Mostafa Atri đã xác nhận giá trị của đặc điểm này trong chẩn đoán hình ảnh các bệnh lý liên quan đến ruột.

Các nghiên cứu của (2008) [12] và Nguyễn Duy Hùng (2020) [31] đều chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm TT MT-RN và các nhóm tạng khác trong ổ bụng, phù hợp với kết quả của nghiên cứu của chúng tôi.

4.2.2 Đặc điểm hơi tự do ổ bụng

Hơi tự do ổ bụng là dấu hiệu đặc trưng của tổn thương thủng màng ruột (TT MT-RN) Tuy nhiên, chỉ khoảng 78% bệnh nhân bị chấn thương bụng kín có hiện tượng hơi tự do ổ bụng thực sự do tổn thương đường tiêu hóa, cho thấy sự cần thiết của các đánh giá chuyên sâu để xác định chính xác mức độ tổn thương.

Bảng 4.8 So sánh đặc điểm hình ảnh hơi tự do ổ bụng ở bệnh nhân TT

MT-RN với các tác giả khác

Claire Faget (2015) [23] 56 30,4 % 99,2 % 1), xác định “hơi tự do ổ bụng” là đặc điểm gợi ý chẩn đoán UNRTV Đặc điểm này có độ đặc hiệu cao (93,6%) và độ nhạy ở mức 63,6%, giúp phân biệt rõ các bệnh lý trong thực hành lâm sàng Nhóm bệnh nhân có hình ảnh hơi tự do ổ bụng gồm các bệnh như chấn thương cơ hoành, vỡ bàng quang trong phúc mạc và tràn khí trong khoang tiền phúc mạc Các nghiên cứu của Claire Faget (2015) và Mostafa Atri (2008) cũng nhấn mạnh vai trò của hình ảnh hơi tự do ổ bụng trong chẩn đoán các tổn thương niệu quản và các bệnh lý liên quan trong ổ bụng.

Theo nghiên cứu của 12 và Nguyễn Duy Hùng (2020), có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nhóm TT MT-RN và các nhóm tạng khác trong ổ bụng, điều này tương đồng với kết quả của chúng tôi.

Chúng tôi phân chia đặc điểm hơi tự do ổ bụng thành hai dạng chính: dạng trôi nổi tự do và dạng bóng lốm đốm Cả hai dạng hơi này đều cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm TT MT-RN, phản ánh sự khác biệt đáng kể về đặc điểm lâm sàng Việc phân loại các dạng hơi tự do ổ bụng giúp nâng cao hiểu biết về diễn biến bệnh và hỗ trợ trong chẩn đoán chính xác hơn Các kết quả này góp phần củng cố vai trò của các dạng hơi tự do trong quá trình đánh giá hình ảnh y học và điều trị bệnh lý liên quan.

Trong nghiên cứu, sự khác biệt về tần suất của TT tạng khác trong ổ bụng đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,000, phép kiểm Fisher chính xác) Tuy nhiên, phân tích về độ nhạy và độ đặc hiệu cho thấy hình ảnh hơi tự do ổ bụng dạng bóng lốm đốm có độ đặc hiệu cao hơn, nhưng lại có độ nhạy thấp hơn trong chẩn đoán TT MT-RN Trong nhóm bệnh, có 3 trường hợp có hơi tự do ổ bụng, tất cả đều là các trường hợp hơi tự do trôi nổi đơn thuần sau vỡ bàng quang trong phúc mạc, vỡ cơ hoành hoặc tràn khí trong khoang tiền phúc mạc, phù hợp với các nguyên nhân được đề cập trong y văn về hình ảnh hơi tự do ổ bụng trong chấn thương bụng kín mà không liên quan đến tổn thương tiêu hóa.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả các trường hợp mất liên tục thành ruột đều đi kèm với hơi tự do ổ bụng dạng bóng lốm đốm cạnh quai ruột, cho thấy đây là đặc điểm có độ đặc hiệu cao trong chẩn đoán tổn thương thành ruột liên quan đến TT MT-RN Nghiên cứu của Huyn C Kim (2004) trên 57 bệnh nhân cũng xác nhận rằng hơi tự do dạng bóng lốm đốm có khả năng chỉ điểm chính xác hơn so với hơi trôi nổi, giúp xác định vị trí tổn thương ruột hiệu quả hơn Mặc dù hơi tự do dạng bóng lốm đốm có ưu thế về chẩn đoán, nhưng dạng hơi này thường dễ bị bỏ sót hơn so với dạng trôi nổi tự do, làm ảnh hưởng đến khả năng chẩn đoán chính xác.

4.2.3 Đặc điểm thành ruột bắt thuốc kém

Một đặc điểm nổi bật của TT MT-RN là thành ruột bắt thuốc kém hoặc không bắt thuốc so với các đoạn ruột lân cận, phản ánh tình trạng thiếu máu cục bộ của ruột Tình trạng này giúp chẩn đoán chính xác hơn và có độ đặc hiệu cao trong nhận diện bệnh [14].

Bảng 4.9 So sánh đặc điểm thành ruột bắt thuốc kém của bệnh nhân TT MT-RN với các tác giả khác

Y văn ghi nhận đặc điểm thành ruột bắt thuốc kém là một đặc điểm rất đặc hiệu cho TT MT-RN lên tới 99 %, tuy nhiên độ nhạy dao động 6 - 40 %

[14] Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 10/44 (22,7 %) bệnh nhân TT MT-

Giá trị của các đặc điểm hình ảnh chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán tổn thương mạc treo và ruột non do chấn thương bụng kín

Trong chẩn đoán TT MT-RN, các đặc điểm hình ảnh chụp CLVT có độ nhạy và độ đặc hiệu dao động nhiều từ 5 % đến 95 %

Trong nghiên cứu của chúng tôi, đã xác định được 8 đặc điểm hình ảnh có ý nghĩa trong phân biệt tụy tạng mặt trời (TT MT-RN) và các tổn thương tạng khác trong ổ bụng, bao gồm hơi tự do ổ bụng, mất liên tục thành ruột, thành ruột bắt thuốc kém, dày thành ruột, XHHĐ mạc treo, khối máu tụ mạc treo, thâm nhiễm mỡ mạc treo, và máu tự do trong ổ bụng Những đặc điểm này góp phần nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán hình ảnh các bệnh lý nội bụng.

Trong các đặc điểm hình ảnh, "thâm nhiễm mỡ mạc treo" có độ nhạy cao nhất (77,3%) và độ đặc hiệu là 63,8%, cho thấy đây là dấu hiệu gợi ý quan trọng trong chẩn đoán TT MT-RN Chỉ số đồng thuận kappa của các đặc điểm chụp CT giúp đánh giá mức độ nhất quán giữa các người đọc, trong đó đặc điểm hơi tự do ổ bụng có chỉ số cao nhất (0,58), nhưng tất cả các chỉ số kappa đều dưới 0,6, phản ánh độ chính xác không cao của các đặc điểm riêng lẻ trong chẩn đoán Những kết quả này cho thấy không có đặc điểm hình ảnh nào trên chụp CT có thể xác định chính xác và đầy đủ mang lại độ nhạy và độ đặc hiệu cần thiết để chẩn đoán TT MT-RN, phù hợp với các nghiên cứu trước của Trần Thị Phương Thảo (2009).

Chúng tôi tổng hợp các đặc điểm có giá trị để phân biệt giữa hai nhóm tổn thương mô-tạng rốn (TT MT-RN) và không tổn thương mô-tạng rốn trong ổ bụng Phân tích hồi quy đa biến và hệ thống điểm số chụp CLVT được xây dựng dựa trên các tham số β trong mô hình hồi quy logistic, giúp xác định chính xác các trường hợp TT MT-RN Hệ thống này dựa trên các đặc điểm chụp CLVT để cung cấp chẩn đoán chính xác, từ đó tối ưu hóa các quyết định phẫu thuật cho bệnh nhân mắc TT MT-RN.

Diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,875 (87,5%) với p < 0,05, cho thấy điểm số chụp CLVT có giá trị trong chẩn đoán phân biệt Thoái hóa TG TMMR và các khối tạng khác trong ổ bụng Dựa trên đường cong ROC, điểm cắt của điểm số chụp CLVT được xác định là 3 điểm, giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán.

Chỉ số điểm từ 3 trở lên có thể gợi ý chẩn đoán hội chứng mỡ thừa quanh gan (TT MT-RN) với độ nhạy 75,0% và độ đặc hiệu 91,5% Ngưỡng cắt của chúng tôi có độ đặc hiệu cao (91,5%), giúp giảm tỷ lệ các bệnh nhân phẫu thuật nhưng có thể điều trị bảo tồn, nâng cao hiệu quả chẩn đoán và giảm thiểu các rủi ro không cần thiết trong điều trị.

Trong bảng điểm chụp CLVT của chúng tôi, hai đặc điểm mất liên tục thành ruột và XHHĐ mạc treo đều ghi nhận điểm số cao nhất (3 điểm), cho thấy mức độ quan trọng của các yếu tố này trong chẩn đoán Bất kể trường hợp nào xuất hiện một trong hai đặc điểm này cũng đủ để đạt ngưỡng chẩn đoán TT MT-RN theo tiêu chuẩn của chúng tôi Nghiên cứu của tác giả Claire Faget cũng xác nhận tầm quan trọng của các đặc điểm này trong việc đánh giá bệnh lý.

[23] cho thấy hai đặc điểm hơi tự do ổ bụng và mất liên tục thành ruột là hai đặc điểm có điểm số cao nhất (5 điểm)

Hình 4.8 Kết hợp nhiều đặc điểm hình ảnh chụp CLVT của TT MT-RN

Có 3 đặc điểm hình ảnh chụp CLVT gợi ý: hơi tự do ổ bụng (mũi tên mảnh), dày thành ruột (mũi tên dày) và thâm nhiễm mỡ mạc treo (đầu mũi tên), điểm CHỤP CLVT = 4 điểm

“Nguồn: BN Trần S., nam, 60 tuổi, số nhập viện: 2200120852”.

Ngày đăng: 03/04/2023, 07:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thị Quỳnh Dương (2020), Nhận xét tình trạng và đặc điểm hình ảnh chấn thương bụng kín tại Bệnh viện E, Khóa luận, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khóa luận
Tác giả: Đào Thị Quỳnh Dương
Nhà XB: Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2020
2. Lê Việt Khánh (2017), Đánh giá vai trò nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị chấn thương tạng rỗng, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá vai trò nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị chấn thương tạng rỗng
Tác giả: Lê Việt Khánh
Nhà XB: Đại học Y Hà Nội
Năm: 2017
3. Nguyễn Đình Hối (2007), "Điều trị chấn thương và vết thương bụng", Điều trị ngoại khoa tiêu hóa, tr. 15-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị ngoại khoa tiêu hóa
Tác giả: Nguyễn Đình Hối
Năm: 2007
4. Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh (2013), "Chấn thương và vết thương bụng", Bệnh học ngoại khoa tiêu hóa, Nhà xuất bản Y Học, TP Hồ Chí Minh, tr. 49-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học ngoại khoa tiêu hóa
Tác giả: Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2013
5. Nguyễn Duy Huề (2017), Chẩn đoán hình ảnh chấn thương bụng, Nhà xuất bản Y học, tr. 63-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chẩn đoán hình ảnh chấn thương bụng
Tác giả: Nguyễn Duy Huề
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2017
7. Nguyễn Quang Quyền (2012), "Ruột non", Bài giảng giải phẫu học tập 2, Nhà xuất bản Y Học, TP Hồ Chí Minh, tr. 154-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ruột non
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2012
8. Nguyễn Quang Quyền (2013), Atlas Giải Phẫu Người (Frank H. Netter) – Tái bản lần 5, Nhà xuất bản Y Học, tr. 269 - 306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas Giải Phẫu Người (Frank H. Netter)
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2013
9. Trần Thị Phương Thảo (2009), Hình ảnh vỡ ruột non do chấn thương bụng kín trên chụp cắt lớp điện toán, Luận văn bác sĩ nội trú, Đại học Y Dƣợc TP Hồ Chí Minh.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình ảnh vỡ ruột non do chấn thương bụng kín trên chụp cắt lớp điện toán
Tác giả: Trần Thị Phương Thảo
Nhà XB: Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Năm: 2009
10. Alabousi M., Mellnick V. M., Kashef Al-Ghetaa R., et al. (2020), "Imaging of blunt bowel and mesenteric injuries: Current status", Eur J Radiol, 125, pp. 1088- 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Imaging of blunt bowel and mesenteric injuries: Current status
Tác giả: Alabousi M., Mellnick V. M., Kashef Al-Ghetaa R., et al
Năm: 2020
14. Bennett A. E., Levenson R. B., Dorfman J. D. (2018), "Multidetector CT Imaging of Bowel and Mesenteric Injury: Review of Key Signs", Semin Ultrasound CT MR, 39 (4), pp. 363-373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Semin Ultrasound CT MR
Tác giả: Bennett A. E., Levenson R. B., Dorfman J. D
Năm: 2018
17. Catena F., Di Saverio S., Ansaloni L., et al. (2018), CT Scan in Abdominal Emergency Surgery, Springer, pp. 41-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CT Scan in Abdominal Emergency Surgery
Tác giả: Catena F., Di Saverio S., Ansaloni L., et al
Nhà XB: Springer
Năm: 2018
20. Di Saverio S., Tugnoli G., Catena F., et al. (2013), Trauma Surgery: Volume 2: Thoracic and Abdominal Trauma, Springer Science &amp; Business Media, pp.46-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trauma Surgery: Volume 2: Thoracic and Abdominal Trauma
Tác giả: Di Saverio S., Tugnoli G., Catena F
Nhà XB: Springer Science & Business Media
Năm: 2013
22. Ekeh A. P., Saxe J., Walusimbi M., et al. (2008), "Diagnosis of blunt intestinal and mesenteric injury in the era of multidetector CT technology--are results better?", J Trauma, 65 (2), pp. 354-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnosis of blunt intestinal and mesenteric injury in the era of multidetector CT technology--are results better
Tác giả: Ekeh A. P., Saxe J., Walusimbi M., et al
Năm: 2008
23. Faget C., Taourel P., Charbit J., et al. (2015), "Value of CT to predict surgically important bowel and/or mesenteric injury in blunt trauma: performance of a preliminary scoring system", Eur Radiol, 25 (12), pp. 3620-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Value of CT to predict surgically important bowel and/or mesenteric injury in blunt trauma: performance of a preliminary scoring system
Tác giả: Faget C., Taourel P., Charbit J., et al
Năm: 2015
24. Fakhry S. (2007), "Blunt small bowel injuries – just as difficult, just as dangerous", Panamerican Journal of Trauma, 14, pp. 17-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blunt small bowel injuries – just as difficult, just as dangerous
Tác giả: Fakhry S
Năm: 2007
27. Ghelfi J., Frandon J., Barbois S., et al. (2016), "Arterial Embolization in the Management of Mesenteric Bleeding Secondary to Blunt Abdominal Trauma", Cardiovasc Intervent Radiol, 39 (5), pp. 683-689 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arterial Embolization in the Management of Mesenteric Bleeding Secondary to Blunt Abdominal Trauma
Tác giả: Ghelfi J., Frandon J., Barbois S., et al
Năm: 2016
28. Heller M. T., Haarer K. A., Itri J. N., et al. (2014), "Duodenum: MDCT of acute conditions", Clin Radiol, 69 (1), pp. 48-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duodenum: MDCT of acute conditions
Tác giả: Heller M. T., Haarer K. A., Itri J. N., et al
Năm: 2014
29. Heller M. T., Shah A., Furlan A. (2014), "MDCT of acute conditions affecting the mesenteric vasculature", Clin Radiol, 69 (7), pp. 765-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MDCT of acute conditions affecting the mesenteric vasculature
Tác giả: Heller M. T., Shah A., Furlan A
Năm: 2014
30. Hughes T. M., Elton C. (2002), "The pathophysiology and management of bowel and mesenteric injuries due to blunt trauma", Injury, 33 (4), pp. 295-302 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The pathophysiology and management of bowel and mesenteric injuries due to blunt trauma
Tác giả: Hughes T. M., Elton C
Năm: 2002
31. Hung N. D., Ha H. D., Ngan V. K., et al. (2020), "The Role of Computed Tomography in the Assessment of Blunt Bowel and Mesenteric Injuries", Electronic Journal of General Medicine, 17(5), pp. 16-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Computed Tomography in the Assessment of Blunt Bowel and Mesenteric Injuries
Tác giả: Hung N. D., Ha H. D., Ngan V. K., et al
Năm: 2020

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w