Một số nghiên cứu trên thế giới [24], [25], [70] khảo sát trên bệnh nhân có hội chứng vành cấp không ST chênh lên NSTE-ACS, những biến cố timmạch nặng 1 tháng, 6 tháng của nhóm CTMVQD sớ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Đoàn hệ tiến cứu và không can thiệp
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu Ước tính cỡ mẫu so sánh 2 tỷ lệ
N: Cỡ mẫu cho mỗi nhóm bệnh nhân. p 1 , p 2 : tỉ lệ tương ứng ở mỗi nhóm dân số p = (p1 + p2)/2
Trong phân tích thống kê, Zα thể hiện giá trị của phân phối chuẩn tại phân vị x với mức ý nghĩa α, hay ngưỡng xác suất sai lầm loại I Khi α = 0,01, trị số Zα/2 là 2,57, tương ứng với xác suất 99% trong khoảng tin cậy Zβ là trị số của phân phối chuẩn tại ngưỡng xác suất sai lầm loại II, β, với ví dụ β = 0,10 thì Zβ = 1,28 Để ước tính cỡ mẫu phù hợp trong nghiên cứu, cần xác định rõ các trị số Zα và Zβ dựa trên mức ý nghĩa và độ mạnh của thử nghiệm. -**Sponsor**Bạn là một người sáng tạo nội dung và cần trợ giúp viết lại bài viết của mình? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/7gINwOdw), bạn có thể nhận được ngay các bài viết được tối ưu hóa SEO dài 2.000 từ, giúp tiết kiệm hơn 2.500 đô la mỗi tháng so với việc thuê người viết! Giống như có một đội ngũ nội dung riêng mà không gặp rắc rối! Điều này giúp bạn dễ dàng có được những câu quan trọng thể hiện ý nghĩa của đoạn văn mạch lạc, tuân thủ các quy tắc SEO.
Cỡ mẫu cho các biến cố tim mạch nặng khác nhau đã được xác định dựa trên tỷ lệ tử vong và tái phát không tử vong sau nhồi máu cơ tim không ST chênh lên Cụ thể, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân hoặc nhồi máu cơ tim tái phát không tử vong tại 6 tháng sau NMCT là 0,223 đối với nhóm điều trị nội khoa đơn thuần, theo nghiên cứu VINO Trong khi đó, tỷ lệ này giảm còn 0,062 khi bệnh nhân được điều trị tái tưới máu bằng phương pháp đặt stent qua nội mạch (PCI), cho thấy hiệu quả rõ rệt của các biện pháp can thiệp trong giảm thiểu các biến cố tim mạch nặng.
Như vậy nghiên cứu này cần phải thu thập ít nhất 120 bệnh nhân ở mỗi nhóm.
2.2.3 Các bước tiến hành nghiên cứu
Thu thập dữ liệu từ bệnh nhân Chúng tôi trực tiếp hỏi bệnh sử, tiền sử và khám lâm sàng kỹ lưỡng bệnh nhân khi nhập viện:
Trong quá trình hỏi bệnh, bệnh nhân được khám kỹ theo mẫu bệnh án riêng, chú ý đến tiền sử cá nhân và gia đình liên quan đến các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh ĐMV, bệnh mạch máu não và rối loạn lipid máu Các triệu chứng cơ năng của NMCT cấp không ST chênh lên bao gồm cơn đau thắt ngực, khó thở và các dấu hiệu đi kèm khác, giúp chẩn đoán chính xác và đưa ra phương án điều trị phù hợp.
Khám lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá tình trạng toàn diện của bệnh nhân, bao gồm các dấu hiệu sinh tồn như huyết áp, nhịp tim, và tình trạng thay đổi của các cơ quan khác Đánh giá bệnh tim mạch giúp xác định mức độ suy giảm chức năng tim, hỗ trợ chẩn đoán chính xác trong giai đoạn cấp của NMCT không ST chênh lên Ngoài ra, việc phân độ Killip giúp xác định mức độ suy tim cấp tính, từ đó hướng dẫn phương pháp điều trị phù hợp để cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.
Trong quá trình chẩn đoán bệnh, bệnh nhân sẽ được thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cận lâm sàng như điện tâm đồ, X-quang ngực, siêu âm tim, xét nghiệm men tim, NT-ProBNP, đường máu, điện giải đồ, lipid máu, urê, creatinine máu, công thức máu và chức năng đông máu Các xét nghiệm này giúp đánh giá chính xác tình trạng sức khỏe của tim mạch, phân tích chức năng các cơ quan, từ đó hướng tới chẩn đoán chính xác và lên phác đồ điều trị phù hợp.
Theo dõi bệnh nhân trong quá trình điều trị tại bệnh viện:
Tất cả bệnh nhân bị bệnh lý tim mạch, dù được can thiệp mạch vành qua da hay điều trị nội khoa, đều cần được theo dõi chặt chẽ tại đơn vị chăm sóc tích cực mạch vành để đảm bảo quản lý tình trạng sức khỏe hiệu quả Các bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên sẽ được điều trị dựa trên các khuyến cáo mới nhất của Hội Tim mạch Việt Nam và Trường Môn Tim/Hội Tim Hoa Kỳ, nhằm tối ưu hóa kết quả điều trị và giảm thiểu biến chứng.
Sau thủ thuật, bệnh nhân cần được làm các xét nghiệm điện tâm đồ, men tim và sinh hóa ngay lập tức, sau đó theo dõi trong 24-48 giờ và trước khi ra viện Việc kiểm tra định kỳ này giúp phát hiện sớm các biểu hiện bất thường như đau ngực, khó thở hoặc tụt huyết áp, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân Đồng thời, các xét nghiệm này cũng cần thực hiện bất cứ khi nào xuất hiện các triệu chứng lâm sàng bất thường nhằm đảm bảo chẩn đoán chính xác và xử trí kịp thời.
Theo dõi bệnh nhân sau xuất viện:
Mọi bệnh nhân sau khi xuất viện đều được theo dõi chặt chẽ tại phòng khám Tim mạch của Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Chợ Rẫy Trong trường hợp bệnh nhân không tái khám đúng lịch, chúng tôi sẽ chủ động liên hệ qua điện thoại để đảm bảo chăm sóc liên tục Quá trình theo dõi được diễn ra trong vòng 6 tháng nhằm phát hiện sớm các biến cố tim mạch nghiêm trọng, đảm bảo sức khỏe và sự an toàn của bệnh nhân.
2.2.4 Các biến số nghiên cứu
Giới: là biến định tính gồm 2 giá trị nam và nữ.
Tuổi là biến định lượng liên tục được tính từ năm sinh đến thời điểm bệnh nhân nhập viện, phản ánh mức độ ảnh hưởng của tuổi tác đến sức khỏe Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung phân tích nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên để đánh giá các yếu tố liên quan đến độ tuổi cao.
Chỉ số khối cơ thể (BMI) gồm có 4 mức phân loại dùng để chẩn đoán béo phì cho người trưởng thành Châu Á Trong đó, BMI được sử dụng để xác định mức độ gầy, bình thường, thừa cân hoặc béo phì dựa trên các giá trị cụ thể Việc đánh giá chính xác chỉ số BMI giúp theo dõi sức khỏe và phòng ngừa các bệnh có liên quan đến cân nặng Các bác sĩ dựa vào phân loại BMI để đề xuất các phương pháp giảm cân hoặc duy trì cân nặng hợp lý cho từng cá nhân.
< 18,5; bình thường khi BMI từ 18,5 - < 23; thừa cân khi BMI từ 23 - 240 mg% (5,2 mmol/L), LDL-c > 160 mg% (3,4 mmol/L), HDL-c 200mg% (1,7 mmol/L) [55]
- Đái tháo đường: gọi là có đái tháo đường khi đường huyết lúc đói ≥
126 mg% (7mmol/L) hoặc HbA1c ≥ 6,5% hoặc bệnh nhân đang điều trị đái tháo đường [15]
Bệnh thận mạn được xác định khi độ thanh lọc creatinine ước đoán dưới 60ml/phút kéo dài trên 3 tháng hoặc khi bệnh nhân đã được chẩn đoán mắc bệnh thận mạn hoặc đang phải thực hiện lọc thận chu kỳ Độ thanh lọc creatinine ước đoán (ml/phút) là chỉ số quan trọng để đánh giá chức năng thận, được tính dựa trên công thức Cockcroft-Gault [47], giúp xác định mức độ suy giảm chức năng thận một cách chính xác và phù hợp để lên kế hoạch điều trị.
Vấn đề y đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này không can thiệp vào quá trình điều trị của bệnh nhân, đảm bảo tính khách quan và an toàn cho người tham gia Tất cả các quyết định điều trị đều do bệnh nhân hoặc thân nhân họ cùng với các bác sĩ tại khoa Tim mạch Can thiệp và cấp cứu của Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Chợ Rẫy quyết định, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
- Tất cả thông tin về bệnh nhân đều được giữ bí mật.
- Nghiên cứu đã được thông qua hội đồng y đức Đại học Y DượcTPHCM
LƢỢC ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân NSTEMI (≥ 60 TUỔI & GRACE ≥ 140)
Đặc điểm dân số NC
Tử vong do mọi nguyên nhân
Suy tim cấp nội viện
Xác định tỷ lệ Xác định tỷ lệ
Tử vong do mọi nguyên nhân
Tử vong do tim mạch
Tái nhập viện do tim mạch
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tỉ lệ của 2 nhóm điều trị
Bảng 3.1: Tỉ lệ của 2 nhóm điều trị Phương pháp điều trị Số bệnh nhân Tỉ lệ (%)
Nhân xét: Tổng số bệnh nhân trong nghiên cứu là 301 bệnh nhân Nhóm bệnh nhân điều trị nội khoa chiếm tỉ lệ 59,8 %, nhóm CTMVQD 40,2 %.
Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Bảng 3.2 Đặc điểm về tuổi Đặc điểm thống kê
(Trung bình ± độ lệnh chuẩn) p
Tuổi trung bình cả 2 nhóm 75,2 ± 9,5 Tuổi trung bình nhóm nội khoa 75,3 ± 9,2
0,861 Tuổi trung bình nhóm can thiệp 75,1 ± 9,8
Tuổi trung bình nhóm CTMVQD 75,1 ± 9,8
Nhận xét: Tuổi trung bình của bệnh nhân khá cao, trung bình là 75,2 ± 9,5.
Trong nghiên cứu, nhóm bệnh nhân có độ tuổi từ 60 trở lên, trong đó bệnh nhân nhỏ nhất là 60 tuổi và bệnh nhân cao tuổi nhất là 96 tuổi, đảm bảo phạm vi tuổi cao tuổi Không có sự khác biệt đáng kể về tuổi giữa hai nhóm nghiên cứu, cho thấy các nhóm đều bao gồm đối tượng cao tuổi ở các độ tuổi khác nhau Các dữ liệu này cung cấp thông tin quan trọng về phân bổ tuổi và sự đa dạng của nhóm nghiên cứu cao tuổi.
Bảng 3.3 Đặc điểm về nhóm tuổi
Nhận xét: Nhóm tuổi cao nhất là nhóm ≥ 80 tuổi, sự khác biệt về nhóm tuổi giữa 2 nhóm nghiên cứu không ý nghĩa thống kê.
3.2.2 Đặc điểm về giới tính
Bảng 3.4 Đặc điểm về giới tính
Trong nghiên cứu, tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới trong cả hai nhóm, với sự khác biệt giới tính có ý nghĩa thống kê (p=0,01) Cụ thể, tỷ lệ nam giới trong nhóm CTMVQD vượt trội so với nhóm điều trị nội khoa, cho thấy giới tính nam chiếm phần lớn hơn trong nhóm này.
3.2.3 Đặc điểm về chỉ số khối cơ thể (BMI):
Bảng 3.5 Đặc điểm về BMI Đặc điểm thống kê
BMI (Trung bình ± độ lệch chuẩn) p
BMI trung bình cả 2 nhóm (n01) 23,7 ± 3,4
BMI trung bình nhóm nội khoa (n0) 23,8 ± 3,2
0,419 BMI trung bình nhóm can thiệp (n1) 23,5 ± 3,8
Nhận xét: Chỉ số khối cơ thể trung bình là 23,7 ± 3,4 Chỉ số khối cơ thể giữa nhóm 2 nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt nhau.
Bảng 3.6 Đặc điểm về BMI ≥ 23
Nhận xét: Tỉ lệ chỉ số khối cơ thể BMI ≥ 23 của nhóm nội khoa cao hơn nhóm CTMVQD, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p = 0,333.
3 2.3 Đặc điểm về bệnh nhân có hút thuốc lá
Bảng 3.7 Đặc điểm về bệnh nhân có hút thuốc lá
Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân có hút thuốc lá 58,5% Nhóm CTMVQD có hút thuốc lá nhiều hơn nhóm nội khoa, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=0,049.
3.2.4 Đặc điểm về tiền căn bệnh nội khoa
Bảng 3.8 Đặc điểm về tiền căn bệnh nội khoa
Trong nghiên cứu, tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao đến 93,4% tổng số mẫu, không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm (p=0,355) Rối loạn lipid máu cũng phổ biến, chiếm 69,4%, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,127) Đái tháo đường type 2 có mặt ở 41,2% các bệnh nhân, không khác biệt đáng kể giữa các nhóm (p=0,607) Tuy nhiên, bệnh thận mạn có tỷ lệ khác biệt rõ rệt, với 24,3% chung, trong đó nhóm có bệnh thận mạn có tỷ lệ cao hơn đáng kể (32,8%) so với nhóm không mắc bệnh (11,6%) (p