1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận Văn Thạc Sĩ) Nghiên Cứu Đề Xuất Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Trong Đánh Bắt Xa Bờ Tại Thành Phố Đà Nẵng.pdf

107 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng
Tác giả Trần Thị Thu Trang
Người hướng dẫn PGS.TSKH. Nguyễn Trung Dũng
Trường học Trường Đại học Thủy Lợi
Chuyên ngành Kinh tế và Quản lý
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 740,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Thủy Lợi, Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế và Quản lý, Bộ môn Quản lý xây dựng đã giúp đỡ, tạo mọi điều k[.]

Trang 1

Thủy Lợi, Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế và Quản lý, Bộ môn Quản lý xây dựng đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học PGS.TSKH Nguyễn Trung Dũng đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp các thông tin khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Kinh tế và quản lý - Trường Đại học Thủy lợi, đã giảng dạy tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn các cán bộ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng; bà con ngư dân đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình điều tra thực tế tại địa phương để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân và bạn

bè đã luôn ủng hộ, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, Ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN THỊ THU TRANG

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận án này là trung thực và không sao chép từ bất

kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu

đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, Ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN THỊ THU TRANG

Trang 3

M ỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐÁNH BẮT XA BỜ VÀ VIỆC PHÂN

TÍCH HIỆU QUẢ CỦA NÓ 1

1.1 Đánh bắt xa bờ - Khái niệm và tổng quan chung về kỹ thuật đánh bắt 1

1.1.1 Khái niệm về đánh bắt xa bờ 1

1.1.2 Kỹ thuật truyền thống và hiện đại trong nuôi trồng và đánh bắt xa bờ 3

1.2 Hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ 6

1.2.1 Khái niệm 6

1.2.2 Phân tích hiệu quả kinh tế trong mô hình kinh tế học về đánh bắt thủy sản 9

1.2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế và hiệu quả kinh tế 10

1.3 Kinh nghiệm về đánh bắt xa bờ của Nhật Bản 11

1.3.1 Giới thiệu chung về ngành đánh bắt thủy sản ở Nhật Bản 11

1.3.2 Đánh bắt xa bờ tại Nhật Bản 13

1.4 Cơ sở pháp lý quốc tế cho phát triển đánh bắt xa bờ của Việt Nam 17

1.4.1 Luật biển năm 2012 của Việt Nam 17

1.4.2 Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) 23

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH BẮT XA BỜ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28

2.1 Đặc điểm của khu vực nghiên cứu 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

2.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 31

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng 39

2.2.1 Điều kiện tự nhiên 39

Trang 4

2.2.2 Các yếu tố kinh tế - xã hội 40

2.2.3 Các yếu tố về kỹ thuật và trình độ của ngư dân 41

2.2.4 Các chính sách về đánh bắt xa bờ của Việt Nam 41

2.3 Phân tích thực trạng đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng 41

2.3.1 Thực trạng đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng 41

2.3.2 Hiệu quả kinh tế của hoạt động đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng 57

2.3.3 Những vấn đề còn tồn tại 62

Kết luận chương 2 65

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐÁNH BẮT XA BỜ Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66

3.1 Định hướng và chiến lược của thành phố Đà Nẵng về phát triển đánh bắt xa bờ 66

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng 77

3.2.1 Tăng cường hành lang pháp lý cho đánh bắt xa bờ 77

3.2.2 Chính sách hỗ trợ cho ngư dân làm chủ biển đảo về tài chính, an ninh và an toàn trong đánh bắt 80

3.2.3 Hiện đại hóa đội tàu thuyền đánh bắt cá xa bờ 83

3.2.4 Nâng cao trình độ của ngư dân 87

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.2: Sản lượng khai thác cá ngừ theo nghề 16

Bảng 1.1: Tổng giá trị đánh bắt tại Biển Bắc năm 1999 theo phân đoạn tàu 8

Bảng 2.1: Số lượng tàu theo công suất 43

Bảng 2.2: Thống kê số lượng tàu cá cải hoán và đóng mới 44

Bảng 2.3: Số lượng tàu cá năm 2012 theo quận, huyện 45

Bảng 2.4: Bảng tổng hợp máy định vị và thông tin liên lạc 47

Bảng 2.5: Thống kê tàu cá theo cơ cấu nghề nghiệp 47

Bảng 2.6: Thống kê tàu cá theo cơ cấu nghề đối với tàu thuyền dưới 20CV 48

Bảng 2.7: Thống kê tàu cá theo cơ cấu nghề đối với tàu thuyền từ 20CV đến 90CV 48

Bảng 2.8: Thống kê tàu cá theo cơ cấu nghề đối với tàu thuyền từ 90CV trở lên 49

Bảng 2.9: Cơ cấu nghề khai thác hải sản của các quận, huyện 49

Bảng 2.10: Biến động nghề khai thác qua các năm 50

Bảng 2.11: Lao động tham gia hoạt động khai thác hải sản 52

Bảng 2.12: Diễn biến tổ đội đoàn kết sản xuất trên biển 55

Bảng 2.13: Sản lượng khai thác hải sản trung bình theo nhóm công suất tàu 58

Bảng 2.14: Thu nhập bình quân đầu người 59

Bảng 2.15: Hiệu quả đánh bắt hải sản theo các nghề 60

DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí 10

Hình 1.2: Sự gia tăng số lượng tàu cá 15

Trang 6

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông còn gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Nam Trung Hoa

4 EEZ Exclusive Economic Zones Vùng đặc quyền kinh tế

5 DWT Deadweight Tonnage Đơn vị đo năng lực vận tải an toàn

của tàu thủy tính bằng tấn

6 GPS Global Positioning System Hệ thống định vị toàn cầu

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia ven biển ở Đông Nam Á, được thiên nhiên ban tặng cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thuỷ hải sản Với bờ biển dài 3260

km trải dài suốt 13 vĩ độ Bắc Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về các vùng khí hậu, thời tiết, chế độ thuỷ học… Ven bờ có nhiều đảo, vùng vịnh và hàng vạn hecta đầm phá, ao hồ sông ngòi nội địa, thêm vào đó lại có ưu thế về vị trí nằm ở nơi giao lưu của các ngư trường chính, đây là khu vực được đánh giá là có trữ lượng hải sản lớn, phong phú về chủng loại và nhiều đặc sản quý

Việt nam có thế mạnh về khai thác và nuôi trồng thuỷ sản trên cả 3 vùng nước mặn, ngọt, lợ Khu vực đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2 thuộc 4 khu vực được phân chia rõ ràng về mặt thuỷ văn đó là: Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, khu vực biển miền Trung, khu vực biển Đông Nam và vùng Vịnh Tây Nam, hàng năm có thể khai thác 1,2-1,4 triệu tấn hải sản, có độ sâu cho phép khai thác ở nhiều tầng nước khác nhau Ở vùng vịnh Bắc Bộ và Tây Nam Bộ có độ sâu phân bố giống nhau với 50% diện tích sâu dưới 50 m nước và độ sâu lớn nhất không quá 100 m Biển Đông Nam Bộ, độ sâu từ 30-60 m chiếm tới 3/4 diện tích, độ sâu tối đa ở khu vực này là 300 m Biển miền Trung có độ sâu lớn nhất, mực nuớc 30-50 m, 100 m chỉ cách bờ biển có 3-10 hải lý, độ sâu từ 200-500 m chỉ cách bờ 20-40 hải lý, vùng sâu nhất đạt tới 4000-5000 m

Trong suốt sự nghiệp hình thành, bảo vệ và xây dựng đất nước, biển đã, đang

và sẽ đóng vai trò hết sức to lớn Chính vì vậy, phát triển và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên đồng thời với bảo vệ môi trường biển đã trở thành mục tiêu chiến lược lâu dài trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Thành phố Đà Nẵng là trong những tỉnh ven biển có tiềm năng lớn để phát triển ngành thủy hải sản, với bờ biển dài 92 km, có vùng lãnh hải lớn với ngư trường rộng trên 15.000 km2 Biển thành phố Đà Nẵng có nhiều động vật biển phong phú với trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài và tổng trữ lượng khoảng trên 1 triệu tấn hải sản các loại Hàng năm, thành phố

Trang 8

Đà Nẵng có khả năng khai thác trên 150.000-200.000 tấn hải sản các loại

Với tiềm năng thủy hải sản như vậy, các cấp lãnh đạo thành phố Đà Nẵng luôn quan tâm hỗ trợ kinh phí cho ngư dân phát triển tàu công suất lớn, thể hiện sự quyết tâm của lãnh đạo thành phố trong việc đầu tư phát triển tàu đánh bắt xa bờ để phục vụ phát triển kinh tế, đồng thời góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước Hiện nay, thành phố Đà Nẵng có 1.374 tàu, trong đó tàu có 90 CV trở lên là

211 tàu Xu hướng đóng tàu đánh bắt xa bờ ngày càng tăng nhờ các chính sách hỗ trợ trên

Bên cạnh đó, vẫn còn những khó khăn đối với hoạt động đánh bắt xa bờ của thành phố Thực tế cho thấy, thiếu vốn đầu tư để đánh bắt hải sản xa bờ đang là vấn

đề bức thiết đối với ngư dân có nhu cầu đóng mới, nâng cấp tàu thuyền và mua sắm lưới, ngư cụ Trong khi đó việc tiếp cận vốn vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại để đóng mới, cải hoán các phương tiện khai thác hải sản hết sức khó khăn Chính vì vậy ngư trường vùng khơi nhiều chỗ bị bỏ trống, tạo cơ hội cho tàu nước ngoài xâm nhập trái phép vùng biển có chủ quyền của Việt Nam để khai thác trộm hải sản

Ngoài ra còn nhiều khó khăn cần giải quyết để đánh bắt xa bờ như thiếu nhân lực cho nghề cá Bởi lao động khai thác hải sản có tính đặc thù, đi biển dài ngày, điều kiện lao động khắc nghiệt, nhiều rủi ro và không ổn định Phần lớn lao động nghề cá hiện nay chưa qua đào tạo, trình độ chuyên môn kỹ thuật chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, khai thác thủ công là chủ yếu, chưa đầu tư, sử dụng thiết bị công nghệ hiện đại Mặt khác, một số cảng, bến cá trong quá trình khai thác đã xuống cấp và thiếu trang thiết bị như cầu cảng thiếu hệ thống đệm chống va, cọc neo buộc tàu, luồng tàu bị bồi lắng nên ra vào khó khăn Đối với đội tàu dịch vụ hậu cần nghề cá chưa đáp ứng được xu thế phát triển của đội tàu đánh bắt xa bờ, do sức chở hạn chế, thiếu sự liên kết giữa dịch vụ hậu cần với tàu khai thác hải sản

Thực trạng khai thác thủy sản trên cho thấy, để ngư dân đánh bắt xa bờ trước mắt cần phải tổ chức lại sản xuất từ việc khai thác đến hiện đại hóa đội tàu cho phù hợp với từng nhóm nghề, ngư trường Để đạt được điều này, thành phố và các đơn

Trang 9

vị chức năng liên quan cần có những động thái tích cực xây dựng các giải pháp đồng bộ để phát triển hoạt động đánh bắt xa bờ

Trên cơ sở những phân tích trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu

đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng” nhằm phân tích và đánh giá được thực trạng đánh bắt xa bờ tại thành

phố Đà Nẵng Từ đó luận văn này sẽ đưa ra một số đề xuất về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

2.2 Phạm vi nghiên cứu

a Phạm vi về nội dung: nghiên cứu hoạt động đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này

b Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại vùng biển thành phố Đà Nẵng

c Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu trong một số năm gần đây (2005-2013) và đề xuất giải pháp đến năm 2020

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Đánh giá thực trạng đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần trong xây dựng các kế hoạch, chính sách quản lý đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận của đề tài

Cách tiếp cận trong triển khai các nội dung nghiên cứu của đề tài là kế thừa tối

đa các tư liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu hiện có, đặc biệt là thông tin liên quan đến các giải pháp nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

Kế thừa, đúc rút, học hỏi kinh nghiệm trong và ngoài nước các kết quả nghiên cứu đã có trên cơ sở chọn lọc và điều chỉnh phù hợp Các công trình nghiên cứu

Trang 10

hiện đã và đang thực hiện ở các cơ quan, đơn vị bao gồm cả những số liệu cơ bản về tài nguyên, môi trường và giải pháp nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ tại thành phố

Đà Nẵng sẽ được thu thập, phân tích, tổng hợp và nghiên cứu, sử dụng trong đề tài

Đề tài đã tiến hành thu thập các số liệu, tài liệu có liên quan đến hoạt động đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013, bao gồm:

- Số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, thủy hải văn

- Số liệu thống kê về tình hình kinh tế-xã hội

- Số liệu thống kê, tài liệu liên quan đến số lượng tàu thuyền, công suất tàu…

- Số liệu thống kê về lao động trong ngành thủy hải sản

- Các tài liệu, kết quả của đề án nâng cao hiệu quả đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

- Các số liệu, báo cáo, quyết định có liên quan đến công tác quản lý, hỗ trợ đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

- Các báo cáo tình hình thực hiện kinh tế xã hội từ năm 2012;2013

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính, sau đây:

- Phương pháp kế thừa (tổng hợp, phân tích các nghiên cứu thực hiện trước đây, kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có cả trong và ngoài nước): Kế thừa tất

cả các kết quả nghiên cứu đã có trên cơ sở chọn lọc và điều chỉnh cho phù hợp là rất cần thiết

- Phương pháp điều tra, nghiên cứu thực địa: thu thập thông tin, số liệu từ thực

tế của hoạt động đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng

- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp thông tin, dữ liệu: Sử dụng các phần mềm Word, Excel để tổng hợp, phân tích các số liệu đã thu thập được về tình hình đánh bắt xa bờ tại Đà Nẵng để phân tích và đánh giá về hiện trạng khai thác cũng như hiệu quả kinh tế của hoạt động đánh bắt xa bờ để từ đó đưa ra các giải pháp hợp lý

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ ĐÁNH BẮT XA BỜ VÀ VIỆC

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA NÓ

1.1 Đánh bắt xa bờ - Khái niệm và tổng quan chung về kỹ thuật đánh bắt

1.1.1 Khái niệm về đánh bắt xa bờ

Việt Nam, tự hào là quốc gia có rừng vàng, biển bạc, được thiên nhiên phú cho nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế nói chung, phát triển trong ngành thuỷ sản nói riêng Với bờ biển dài hơn 3200 km trải dài suốt 13 vĩ độ Bắc Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về các vùng khí hậu, thời tiết, chế độ thuỷ học, đồng thời lại

có nhiều đảo, vùng vịnh, đầm phá, ao hồ sông ngòi nội địa, thêm vào đó lại có ưu thế về vị trí nằm ở nơi giao lưu của các ngư trường chính, Việt Nam được đánh giá

là khu vực phong phú cả về trữ lượng lẫn chủng loại thủy hải sản

Hiện nay, Việt Nam đang có những thay đổi nhất định trong cơ cấu đánh bắt

để theo kịp xu hướng chung của thế giới Đội ngũ tàu thuyền đánh bắt đã có những điều chỉnh và cải biến rõ rệt, chủ yếu tập trung đẩy mạnh phát triển đội tàu có khả năng đánh bắt xa bờ, hạn chế việc đóng tàu có công suất nhỏ nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản ven biển, tổ chức lại hệ thống khai thác hải sản trong cả nước Đánh bắt xa bờ là xu thế phát triển tất yếu của ngành thuỷ sản để tăng nhanh sản lượng đồng thời tận dụng triệt để ưu thế về chủng loại của quốc gia

Thế kỉ 21 là thế kỉ của biển và đại dương Điều đó có nghĩa là, xu thế chung của thế giới đang hướng đến mục tiêu vươn ra khơi, chiếm lĩnh biển, đại dương Việt Nam, một quốc gia biển cũng không thể nằm ngoài xu thế chung đó

Vậy thế nào là đánh bắt xa bờ? Theo định nghĩa của Wikipedia, đánh bắt xa

bờ là hoạt động đánh bắt cá trong vùng nước sâu (hơn 30 mét) và tại một khoảng cách nhất định tính từ đất liền

Theo quyết định số 393/TTh của Thủ tướng chính phủ, đánh bắt xa bờ tạm thời quy định là đánh bắt ở vùng biển được giới hạn bởi đường đẳng sâu 30 mét từ

bờ biển trở ra đối với vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Đông và Tây Nam Bộ, Vịnh Thái Lan, và đường đẳng sâu 50 mét từ bờ biển trở ra dối với vùng biển miền Trung

Trang 12

Tàu đánh cá xa bờ là tàu có lắp máy chính công suất từ 90 CV trở lên; có đăng

ký hành nghề đánh cá xa bờ tại địa phương nơi cư trú hoặc giấy phép hành nghề đánh cá xa bờ do cơ quan bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản cấp

Đánh bắt xa bờ góp phần không nhỏ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước

Đánh bắt xa bờ nhằm khai thác được nguồn thủy sản tiềm năng xa bờ Nguồn thủy hải sản xa bờ vừa có trữ lượng lớn vừa đa dạng, phong phú về chủng loại, đồng thời lại có giá trị kinh tế cao Do đó, đánh bắt xa bờ không chỉ góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế mà còn hiện thực hóa ước mơ vươn khơi của quốc gia Đánh bắt xa bờ giảm thiểu tình trạng khai thác cạn kiệt đối với nguồn thủy sản gần bờ Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, phần lớn quốc gia lựa chọn hình thức đánh bắt ven bờ vừa đáp ứng nhu cầu về thủy hải sản và vừa không đòi hỏi chi phí lớn, trình độ khoa học kỹ thuật cao Tuy nhiên, theo đà tăng trưởng kinh

tế, chỉ tập trung vào đánh bắt vùng hải sản ven bờ đã làm cho trữ lượng hải sản ven

bờ ngày càng cạn kiệt và khó phục hồi Từ đó dẫn đến tài nguyên biển bị suy giảm,

hệ sinh thái môi trường biển bị mất cân bằng, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và các vấn đề an sinh xã hội khác Mặt khác, sản phẩm thủy hải sản ven bờ thường có giá trị thấp Trong hoàn cảnh đó, đánh bắt xa bờ là một giải pháp thiết thực Vừa tránh gây cạn kiệt cho nguồn thủy hải sản ven bờ vừa góp phần cung cấp được nguồn thủy hải sản đa dạng, có giá trị cao

Ngoài ra, đánh bắt xa bờ còn góp phần bảo vệ an ninh trên biển và chủ quyền quốc gia Thực hiện chính sách ngư dân “bám biển”, vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia

Đánh bắt xa bờ là hoạt động có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần thực hiện mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển

Trang 13

1.1.2 Kỹ thuật truyền thống và hiện đại trong nuôi trồng và đánh bắt xa bờ

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp đánh bắt cá, có thể

kể đến như: Địa điểm đánh bắt cá; loài cá; điều kiện thời tiết, tình trạng biển; chi phí sử dụng thuyền, thiết bị và nhiên liệu và yêu cầu của thị trường

Một số phương pháp thường được sử dụng trong đánh bắt xa bờ như:

- Sử dụng lưới bắt cá: có rất nhiều loại lưới bắt cá Lưới bắt cá thường kéo dài, hẹp và bằng phẳng, có phao nổi ở viền lưới

- Phương pháp câu: các phương pháp câu dòng thường được sử dụng nhất là câu tay, câu chạy và câu vàng cá Câu vàng cá được sử dụng để đánh bắt cá có giá trị cao như cá hồng, cá ngừ…

- Phương pháp sử dụng mồi câu: Phương pháp này được thiết kế để đánh bắt các loại cá di chuyển nhanh như cá ngừ, cá maclin và cá thu…

- Phương pháp lưới rê, lưới vét: Lưới rê, lưới vét là phương pháp đánh bắt cá quan trọng, đặc biệt là đối với các loài ở vùng biển sâu Lưới rê, lưới vét được sử dụng để bắt một loạt các loài cá như cá tuyết và mực…

- Phương pháp đánh cá bằng lưới rùng Đan Mạch: Lưới rùng Đan Mạch được

sử dụng để bao vây và cuối cùng cái bẫy cá Một túi lưới, tương tự như trong hình dạng một túi lưới kéo được điều hành bởi một sợi dây thừng dài có trọng số cố định Hai dây được sử dụng để bao vây cá và cũng để chuyên chở ròng

- Phương pháp sử dụng lưới vây: Lưới vây được sử dụng để bắt các loài như

cá ngừ, cá thu Máy bay trinh sát trên không thường được sử dụng để xác định vị trí đánh bắt Mạng lưới vây được đặt vòng tròn xung quanh đàn cá

Trang 14

- Phương pháp nạo vét: Nạo vét được sử dụng để thu thập sò điệp và hàu Để thu thập sò điệp, tàu cá kéo theo khung thép cứng nạo vét dọc theo đáy biển

b) Kỹ thuật đánh bắt hiện đại

Ngày nay có rất nhiều cách thức để tìm được một địa điểm câu cá tốt Các thiết bị dẫn đường điện tử và thiết bị tìm kiếm cá hết sức tinh vi có thể xác định khu vực đánh bắt chỉ cách vùng khai thác tốt nhất vài mét Có thể kể đến như:

Máy định vị màu bằng âm thanh: Máy định vị màu bằng âm thanh được sử dụng để tìm kiếm cá và hiển thị độ sâu, đường nét của đáy đại dương Các thông tin được hiển thị trên một màn hình màu

Máy ghi màu từ lưới: Máy ghi màu được sử dụng kết hợp cùng máy định vị màu bằng âm thanh Màn hình cung cấp thông tin chuyên ngành trên lưới và cá bị mắc vào đó, sử dụng dữ liệu từ máy định vị bằng âm thanh gắn trực tiếp vào lưới Máy ghi màu hiện đại cũng có thể đo chiều rộng của lưới, mức độ đầy cá của lưới

và thậm chí nhiệt độ ở miệng lưới Thuyền trưởng có kinh nghiệm còn có thể xác định được không chỉ có bao nhiêu cá mà còn về chủng loại cá được đánh bắt

Các thiết bị điện tử công nghệ cao giúp hoạt động đánh bắt hiệu quả hơn Radar: Radar được sử dụng để phát hiện các đối tượng trên bề mặt lên đến 30-

40 km Radar hoạt động trong không khí Các đối tượng khi xuất hiện được hiển thị như là các đốm sáng trên màn hình radar

Hệ thống dẫn đường vệ tinh: Các thuyền trường cũng sử dụng một hệ thống định vị vệ tinh để xác định vị trí của tàu Một màn hình nhỏ hiển thị vị trí của tàu -

vĩ độ và kinh độ - trong một vài mét Vệ tinh cũng đang ngày càng được sử dụng phổ biến trên biển để có được thông tin về thời tiết, nhiệt độ bề mặt nước biển, độ cao sóng, hướng gió và vị trí của cá và các tàu khác

Ở Việt Nam, kỹ thuật đánh bắt xa bờ cũng có những cải tiến nhất định Có thể

kể đến như:

Nghề lưới kéo là nghề đã phát triển lâu đời ở Việt Nam Tuy vậy, trong thời gian qua đã có nhiều tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng Nghiên cứu ứng dụng mẫu lưới kéo đảm bảo khai thác hiệu quả ở vùng biển xa bờ, cải tiến độ mở miệng lưới,

Trang 15

tăng kích thước mắt lưới phần miệng lưới và cánh lưới, nâng cao tốc độ dắt lưới, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nghề lưới kéo tôm

Nghề lưới rê được phân loại với nhiều hình thức khác nhau, nhưng phổ biến là phân loại theo tầng nước đánh bắt, với loại hình đánh bắt gồm: rê tầng đáy, rê tầng mặt, rê hỗn hợp,… Hiện nay nhiều địa phương đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật của nhóm nghề này để khai thác các đối tượng có giá trị kinh tế cao: Cá Hồng,

cá Lượng, Cá mú, cá kẽm, cá Lạc, cá ngừ… đây là nghề đánh bắt có hiệu quả, tính chọn lọc cao các đôi tượng có giá trị kinh tế, chi phí sản xuất thấp

Nghề lưới vây cũng có một số tiến bộ như tăng chiều dài và chiều cao của lưới

để khai thác ở vùng biển khơi.Vấn đề sử dụng tời để hỗ trợ khai thác ở vùng biển khơi đã được ứng dụng nhằm giảm cường độ lao động, tăng hiệu suất thu lưới Sử dụng máy dò ngang cho nghề lưới vây khơi đã nâng cao hiệu quả đánh bắt nhiều lần Hiện nay, nhiều địa phương đã ứng dụng công nghệ kỹ thuật khai thác bằng nghề lưới vây khơi kết hợp máy dò ngang đạt hiệu quả kinh tế

Nghề lưới chụp mực 4 tăng gông là nghề mới phát triển trong những năm gần đây, nhờ ứng dung công nghệ và khoa học kỹ thuật mới nghề lưới chụp mực 4 tăng gông đã du nhập vào Việt Nam Xuất phát từ tập tính của mực đến gần nguồn sáng

để bắt mồi, nhưng lại sợ ánh sáng mạnh lên chủ yếu mực nấp dưới thân tàu Điều này cho thấy sử dụng lưới chụp mực 4 tăng gông đánh bắt có hiệu quả kinh tế cao hơn sử dụng lưới chụp mực 2 tăng gông

Công nghệ Khai thác cá ngừ đại dương bằng nghề câu vàng được phát triển trong thời gian gần đây, với đặc tính của loại cá ngừ đại dương có xu hướng di cư thẳng đứng giữa ngày và đêm (ban đêm cá đi nổi, ban ngày cá lặn xuống sâu) Vì vậy vàng câu được thiết kế làm sao phai tăng được hiệu suất đánh bắt

Công nghề kỹ thuật khai thác bằng nghề lồng bẫy được sử dụng để khai thác Ghẹ, Ốc hương, Cá Chình và một số loại cá đáy khác

Đặc biệt, công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch trên tàu cá đã có những tiến bộ trong bảo quản sản phẩm sau quá trình đánh bắt được nghiên cứu ứng dụng

Trang 16

như: Sử dụng hầm bảo quản bằng xốp cách nhiệt, bằng công nghệ composite vừa tăng chất lượng sản phẩm và kéo dài thời gian đánh bắt, bảo quản sản phẩm bằng công nghệ đá vảy trên tàu khai thác xa bờ; sử dụng công nghệ bảo quản mực ống, mực xà… để nâng cao chất lượng và giá trị và chất lượng sản phẩm đã mang lại hiệu quả tốt cho ngư dân

1.2 Hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ

1.2.1 Khái niệm

Có rất nhiều định nghĩa về hiệu quả kinh tế Định nghĩa đầu tiên của hiệu quả kinh tế là đề cập đến việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội: Tối đa hóa sản xuất hàng hoá và dịch vụ

Trong điều kiện tương đối, một nền kinh tế được gọi là có hiệu quả nếu có thể cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ cho xã hội mà không sử dụng nhiều tài nguyên hơn Trong điều kiện tuyệt đối, một nền kinh tế có thể được gọi là hiệu quả nếu thỏa mãn các điều kiện: không còn cách phân bổ nguồn lực nào làm cho một cá nhân tốt hơn mà không làm cho cá nhân khác tồi tệ đi; không thể tăng sản lượng mà không làm tăng số lượng yếu tố đầu vào; quá trình sản xuất tiến hành tại mỗi đơn vị chi phí thấp nhất có thể (Wikipedia, 2010)

Theo Samuelson và Nordhaus (năm 1984), thì: "Hiệu quả kinh tế đạt được khi

xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó" Quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao Một số tác giả khác cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ

lệ giữa sự gia tăng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế

Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm

Trang 17

này là tác giả Manfred Kuhn (năm 1990), theo ông: "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế

Hai tác giả Whohe và Doring (năm 1990), lại đưa ra hai khái niệm về hiệu

quả kinh tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau "Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và "Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân

tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí

Tác giả Farrell (năm 1957) cho rằng hiệu quả của một công ty bao gồm hai thành phần: hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng của công ty tạo ra được tối đa sản lượng từ một tập hợp các yếu tố đầu vào nhất định Hiệu quả phân bổ phản ánh khả năng của công ty sử dụng các yếu

tố đầu vào theo tỷ lệ tối ưu, đưa ra giá tương ứng của họ và công nghệ sản xuất Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý và

sử dụng phổ biến đó là: hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng hoặc một quá trình kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 18

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả

kinh tế như sau: hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng, phân bổ các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Hiệu quả kinh tế được đánh giá bằng mối liên hệ giữa giá trị sản lượng đầu ra với chi phí của đầu vào cần thiết

Hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ có nguồn gốc từ những cuộc khảo sát về kinh tế của ngư dân tham gia trong ngành thủy sản

Tác giả Whitmarsh (năm 2000) nghiên cứu trên đánh giá của cả hai lợi nhuận thực tế của Vương quốc Anh hải sản và lợi nhuận tiềm năng của họ cũng thuộc quyền quản lý thủy sản thay thế chế độ Đây không chỉ cung cấp các hoạt động kinh

tế hiện tại của thủy sản mà còn thay đổi hoặc cải thiện theo các kịch bản chính sách khác nhau cho ngành thủy sản tại Vương quốc Anh

Tác giả Christos (năm 2008) đi tiên phong trong việc dự đoán và đánh giá năng lực sử dụng ở vùng phía Đông Địa Trung Hải thông qua phương pháp phân tích đường giới hạn (DEA - Data Envelopment Analysis) Kết quả cho thấy các đội tàu lưới vây thường hoạt động dưới mức công suất của tàu, cho thấy sự dư thừa công suất Các đội tàu với chiều dài 24-40 m có hiệu quả kinh tế cao hơn so với phân khúc đội tàu 12-24 m (Bảng 1-1)

Bảng 1.1: Tổng giá trị đánh bắt tại Biển Bắc năm 1999 theo phân đoạn tàu

Trang 19

Multi-Có thể thấy rằng, với phân khúc tàu 24-40 m, giá trị đánh bắt là 37.624.000 Euro, gấp 4,63 lần so với phân khúc 18-24 m

Các biện pháp định lượng giới hạn và dư thừa công suất góp phần cung cấp các thông tin có giá trị trong việc cân bằng giữa khả năng tăng trưởng của trữ lượng tài nguyên với khả năng thu hoạch, khai thác của tàu

Mặt khác, theo Simon Mardle and Sean Pascoe (năm 2003) có các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hoạt động khai thác như:

- Đặc điểm kỹ thuật của tàu: vỏ tàu, công suất, trang thiết bị trên tàu, tuổi tàu;

- Đặc điểm ngư cụ tham gia khai thác;

- Điều kiện tự nhiên: trữ lượng sinh học, thời tiết, mùa vụ…

- Lao động: kinh nghiệm của thuyền trường và thuyền viên;

- Vấn đề về quản lý của Nhà nước: các chương trình, dự án…

Các nhà khoa học ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu tập trung vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành thủy sản nói chung, phân khúc đánh bắt

xa bờ nói riêng Theo đó, một số tiêu chí được đưa ra nhằm đánh giá hiệu quả kinh

tế trong đánh bắt xa bờ như: chiều dài thân tàu, tuổi tàu, chiều dài của lưới, kinh nghiệm của thuyền trưởng, thuyền viên và vị trí đánh bắt

Mô hình kinh tế học về đánh bắt thủy sản phân tích mối quan hệ giữa chi phí

và thu nhập Nếu mỗi một đơn vị nỗ lực khai thác có giá là w thì tổng chi phí (TC) người khai thác phải bỏ ra để khai thác ở mức nỗ lực E sẽ là: TC= w*E Trên đồ thị

TC có dạng đường thẳng với độ dốc bằng w không đổi (Hình 1.1)

Mặt khác, giả sử giá tài nguyên khai thác là P thì doanh thu từ việc khai thác là

TR sẽ bằng lượng thu hoạch nhân với giá tài nguyên (TR=H*P) Như vậy TR cũng

có dạng đường cong giống đường thu hoạch H

Trang 20

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí

Qua đồ thị 1.1 ta thấy lợi nhuận tối đa (πmax= TR – TC ) đạt được tại mức cố gắng thu hoạch Ep, tại đó tiếp tuyến với đường TR song song với đường TC, khoảng cách giữa đường TR và TC là lớn nhất Đó cũng chính là điểm chi phí khai thác biên bằng doanh thu biên MC=MR

Như vậy có thể thấy rằng tại mức sản lượng bền vững tối đa tuy đạt được hiệu quả sinh học nhưng chưa chắc đã đạt hiệu quả kinh tế Thông thường để có lợi nhuận tối đa thường khai thác ở mức nỗ lực nằm bên trái EMSY Tuy nhiên khai thác tài nguyên muốn đạt được lợi nhuận tối đa thì nhất thiết quyền sở hữu tài nguyên phải được xác định Còn khi nó không xác định người ta sẽ khai thác ở mức TR=TC Tức là nỗ lực khai thác đạt tới EOA Nếu khai thác hơn nữa người khai thác

sẽ bị lỗ (P<0) Điểm OA được gọi là điểm khai thác “tài nguyên vô chủ”

1.2.3 Một số chỉ tiêu kinh tế và hiệu quả kinh tế

Trong một số tài liệu quốc tế có liệt kê một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh

tế trong đánh bắt xa bờ, có thể kế đến như:

- Số lượng các loài được đánh bắt;

- Quan hệ giữa số lượng đánh bắt và quy mô tàu thuyền đánh bắt (mã lực của chủng loại tàu thuyền);

Trang 21

- Quan hệ giữa số lượng đánh bắt và giá bán trên thị trường (phụ thuộc vào loại cá đánh bắt xa khơi như cá ngừ, );

- Chi phí của đội tàu;

- Chi phí biến đổi;

- Doanh thu và lợi nhuận

1.3 Kinh nghiệm về đánh bắt xa bờ của Nhật Bản

Nhật Bản là một trong số các quốc gia hàng đầu trong đánh bắt xa bờ với bề dày kinh nghiệm được đúc kết qua nhiều năm đồng thời áp dụng được khoa học kỹ thuật hiện đại trong quá trình đánh bắt

Một số nét chính về ngành đánh bắt thủy sản của Nhật Bản có thể kể đến như:

Về đội ngũ tàu thuyền: trong những năm qua, Nhật Bản đã triển khai các chương trình khác nhau để giảm đội tàu đánh cá của mình, giảm số lượng tàu thuyền và tổng dung tích Tuy nhiên, tổng số công suất động cơ tăng lên Tàu quy

mô nhỏ thống trị thủy sản của Nhật Bản, các đội tàu khai thác trên 10 tấn chỉ chiếm 4% tổng số tàu Phần lớn sản lượng khai thác được thực hiện bởi nghề lưới kéo (21%), lưới vây (khoảng 10%), và các loại lưới khác (khoảng 13%)

Về thị trường thủy sản: gần 90% sản lượng thủy sản của Nhật Bản được sử dụng cho tiêu dùng trong nước Sau một giai đoạn phục hồi đầu những năm 2000, xuất khẩu sản phẩm thủy sản của Nhật Bản đã bị thu hẹp từ năm 2008 do khủng hoảng kinh tế Ngoài ra, trận động đất và sóng thần tháng 3 năm 2011 và tai nạn hạt nhân Fukushima đã góp phần vào việc giảm xuất khẩu và nhập khẩu cao hơn Trong năm 2011, xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản lên tới 424 000 tấn, đạt 174 tỷ yen (giảm 11% so với năm trước) Khối lượng lớn cá thu và cá ngừ vằn đã được xuất khẩu (24% và 11% tổng số tương ứng), nhưng các sản phẩm có giá trị nhất là ngọc trai (11% tổng giá trị xuất khẩu), dưa chuột biển (7%) và sò điệp (6%) Các thị trường quan trọng nhất là Hồng Kông, tiếp theo là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan

và Hàn Quốc Xuất khẩu sang EU rất hạn chế: 4 tỷ yên, tức là khoảng 2,3% tổng giá

Trang 22

trị xuất khẩu Ba sản phẩm hàng đầu xuất khẩu sang EU là ngọc trai (30,7% tổng giá trị), cá cảnh (22,5%) và sò điệp (20,5%)

Về lao động: trong năm 2008, tổng số lao động trong ngành thủy sản là 435

067, chiếm 0,68% tổng số lao động dân số tại Nhật Bản 221 908 người đã tham gia vào các hoạt động đánh bắt cá, chủ yếu là nam giới Trong lĩnh vực phân phối và chế biến sử dụng 213 159 lao động, chủ yếu là lao động nữ Số lượng ngư dân giảm

và xu hướng này có thể vẫn tiếp diễn Ngư dân 65 tuổi trở lên chiếm hơn một phần

ba tổng số lao động, ngư dân mới được tuyển dụng thêm còn hạn chế

Về các chính sách hỗ trợ trong ngành thủy sản: Trận động đất và sóng thần năm 2011 đã tàn phá ngành thủy sản của Nhật Bản Khoảng 28 612 tàu cá và 319 cơ

sở cảng cá đã bị phá hủy, giá trị của các thiệt hại ước đạt 1.263 nghìn tỷ yên Các khu vực bị ảnh hưởng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm cá và hỗ trợ ngành công nghiệp đánh bắt cá ở các vùng khác (khoảng 53% tổng sản lượng thủy sản của Nhật Bản và 38% sản xuất nuôi trồng thủy sản trong năm 2010) Sóng thần gây ra tai nạn tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima Daiichi, dẫn đến xả số lượng lớn chất phóng xạ vào đại dương và khí quyển, và đã gây ra mối quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế về việc nhiễm bẩn phóng xạ của thực phẩm biển trong và ngoài Nhật Bản Để giải quyết những an toàn mối quan tâm, chính phủ Nhật Bản thành lập một "Chính sách cơ bản Thanh tra trên Vật liệu phóng xạ trong sản phẩm thủy sản" và tăng cường các nỗ lực giám sát Nỗ lực tái thiết được phối hợp thông qua một kế hoạch cơ bản trong đó đưa ra một loạt các thủy sản liên quan đến ngân sách bổ sung 1,03 nghìn tỷ yên

Về nghiên cứu khoa học trong ngành thủy sản: Tại trung tâm của nghiên cứu biển ở Nhật Bản - Cơ quan Nghiên cứu Thủy sản (FRA), đã tiến hành một loạt các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong ngành thủy sản Nghiên cứu khoa học trong khoa học biển và thủy hải sản tại Nhật Bản rất phát triển, có nhiều trường đại học đang hoạt động trong lĩnh vực này

Việc quản lý đánh bắt xa bờ của Nhật Bản hiện được xây dựng dựa trên 3 yếu tố: kiểm soát đầu vào, kiểm soát đầu ra và kiểm soát các yếu tố kỹ thuật

Trang 23

Kiểm soát đầu vào bao gồm việc kiểm soát các yếu tố như: số lượng, kích thước các loại tàu; ngư cụ, phương pháp khai thác; tổng sản lượng theo cường lực khai thác Trong đó, việc quản lý tàu cá được Nhật Bản hết sức chú trọng và thực hiện nghiêm ngặt

Đối với việc kiểm soát đầu ra, hay nói cách khác là kiểm soát tổng sản lượng khai thác cho phép thì Nhật Bản chỉ cho phép được khai thác đối với 7 loài mục tiêu, bao gồm các loài được khai thác, tiêu dùng với số lượng lớn và quan trọng với cuộc sống người dân Mọi sự kiểm soát đều có các luật kèm theo khung pháp lý về nghề cá của Nhật Bản Mục đích của việc kiểm soát này nhằm tránh tình trạng khai thác tận diệt, gây mất cân bẳng sinh thái

Kiểm soát về kỹ thuật như kiểm soát kích cỡ mắt lưới, kích cỡ cá, kiểm soát mùa khai thác và các ngư trường khai thác cũng được thực hiện khá chi tiết tại Nhật Bản Các yếu tố kỹ thuật được kiểm soát nhằm bảo vệ các vùng sinh sản, các đàn cá giống, đàn cá con, tạo điều kiện tốt nhất để nguồn lợi thủy sản được bảo tồn và phát triển một cách cân bằng giữa các vùng khai thác trong các mùa khai thác

Có thể thấy nhiều ưu điểm trong quản lý nghề cá xa bờ của Nhật Bản đó chính

là công tác quản lý được thực hiện một cách chặt chẽ dựa trên hệ thống theo dõi, kiểm tra, giám sát; quản lý tàu cá nghiêm ngặt dựa trên pháp luật; phát triển nghề cá

toàn diện dựa trên nguồn lợi nhằm phát triển bền vững

Sản lượng thủy sản của Nhật Bản có thể được chia thành năm loại: vùng biển

xa (ngoài vùng đặc quyền kinh tế - EEZ của Nhật Bản), vùng biển ngoài khơi (hơn

5 km tính từ bờ biển), vùng nước ven biển (trong vòng 5 km từ bờ biển), nuôi trồng

thủy sản ngoài khơi và nuôi trồng thủy sản vùng nội địa

Đánh bắt xa bờ của Nhật Bản đạt mức tối đa 4 triệu tấn trong năm 1970 Khối lượng của sản lượng khai thác sau đó đã suy giảm, đặc biệt sau khi thành lập vùng EEZ 200 hải lý đã gây ra sự rút lui của nhiều nhà khai thác thủy sản xa bờ của Nhật

Trang 24

Bản Xu hướng giảm này vẫn tiếp tục, và sản lượng khai thác xa bờ giảm xuống còn 480.074 tấn trong năm 2010

Hiện nay 9,5% sản lượng thủy sản xa bờ của Nhật Bản đến từ các vùng nước khác ngoài khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương bao gồm vùng EEZ của Nhật Bản, trong đó, khoảng 53.915 tấn tương đương 1,3% tổng sản lượng khai thác hải sản của Nhật Bản được đánh bắt ở Đại Tây Dương vào năm 2009 Nhật Bản có các thỏa thuận song phương với 13 quốc gia, hầu hết trong số họ từ khu vực Thái Bình Dương Đó là các thỏa thuận cho phép các tàu đánh cá Nhật Bản vào đánh bắt tại vùng biển nước ngoài ở Tây Phi, Ấn Độ Dương và phía tây nam Thái Bình Dương, chủ yếu là đối với sản phẩm cá ngừ

Đánh bắt xa bờ của Nhật Bản từ lâu đã đóng góp phần lớn trong sản xuất thủy hải sản Sản lượng đánh bắt xa bờ đã được giảm đáng kể từ cuối những năm 1980 Mức sản lượng cao nhất đạt 6-7 triệu tấn trong năm 1980 chủ yếu là từ đánh bắt cá mòi (khoảng 4,16 triệu tấn trong năm 1988) Sự sụt giảm mạnh mẽ trong trữ lượng nguồn tài nguyên cá mòi đã làm giảm tổng sản lượng đánh bắt xa bờ Từ năm 2002, tổng khối lượng của sản lượng khai thác xa bờ ổn định ở mức khoảng 2,4 triệu tấn Nhật Bản triển khai các chương trình khác nhau để giảm đội tàu đánh cá của mình, giảm số lượng tàu thuyền và tổng dung tích Số lượng đăng ký tàu đánh cá đã liên tục giảm từ 410.350 chiếc năm 1985 xuống 276.074 chiếc trong 2010, năm

2011 chỉ còn 252.665 chiếc Tổng trọng tải toàn phần của Nhật Bản đã giảm xuống còn 1.112.127 tấn trong năm 2009, giảm 23% so với 1.447.960 tấn vào năm 2000 Tuy nhiên, tổng công suất động cơ ngược lại tăng 13% trong giai đoạn này, cũng như giá trị trung bình công suất động cơ (FAO 2012)

Tàu quy mô nhỏ thống trị thủy sản của Nhật Bản, như các đội tàu khai thác trên 10 tấn chiếm chỉ có 4% tổng số tàu Độ tuổi của tàu được chỉ định thuộc đối tượng chịu kiểm soát trung bình là 20 năm, và 47,1% trong số đó là hơn 21 tuổi (Cơ quan Thủy sản 2011) Phần lớn các tàu cá có một vỏ sợi thủy tinh và nhựa gia cố

Trang 25

Hình 1.2: Sự gia tăng số lượng tàu cá

Trong giai đoạn 2005-2010, nghề lưới vét cung cấp một phần quan trọng của sản lượng khai thác (21%), trong tàu thuyền đánh cá nhỏ đặc biệt (11%) và tàu đánh bắt xa bờ với một thuyền (7%), 10% sản lượng khai thác thuộc nghề lưới vây, và 13% từ các loại lưới khác

Trong năm 2012 đã có 2.912 cảng cá được tại Nhật Bản Tính trung bình cứ

12 km dọc theo bờ biển của Nhật Bản có một cảng cá Các tỉnh có số lượng cao nhất là Nagasaki (285 cảng) và Hokkaido (282 cảng) Cảng cá lớn ở các tỉnh này bao gồm Nagasaki (ở phía tây nam Kyushu), Otaru, Kushiro và Abashiri (Hokkaido)

Nhật Bản là quốc gia có nghề khai thác cá ngừ đại dương phát triển rất mạnh

Ủy ban Quản lý nghề cá Trung và Tây Thái Bình Dương (WCPFC) cho biết, số liệu thống kê liên quan đến hoạt động khai thác cá ngừ của Nhật Bản được bắt đầu ghi nhận từ năm 1953 Theo đó, các ngư cụ sử dụng chính gồm có: câu vàng, câu chạy

và lưới vây Việc thu thập số liệu đối với nghề khai thác cá ngừ đại dương của Nhật Bản được thực hiện liên tục, chi tiết đến sản lượng của mỗi loài cá quan trọng như

cá ngừ mắt to, ngừ vây vàng, ngừ sọc dưa, cá kiếm, cá cờ, thu ngàng… và được thống kê, thu thập cho từng đội tàu riêng biệt

Năm 1953, Nhật Bản có 669 tàu câu vàng cá ngừ ven bờ, 1.064 tàu câu vàng cá ngừ xa bờ và đại dương, 622 tàu câu chạy cá ngừ Đến năm 1969 mới xuất hiện 4 tàu lưới vây cá ngừ Số lượng tàu câu vàng cá ngừ ven bờ cũng như

Trang 26

tàu câu vàng cá ngừ xa bờ và viễn dương của Nhật Bản biến động mạnh trong suốt mấy thập kỷ qua Cho đến thời điểm năm 2003, số lượng tàu câu vàng cá ngừ ven bờ chỉ còn khoảng 320 chiếc và hiện tại còn khoảng 230 chiếc Tương

tự với số lượng tàu câu vàng cá ngừ xa bờ và viễn dương, đến năm 2006 còn 683 chiếc và thời điểm năm 2012 chỉ còn 124 chiếc Điều này cho thấy, mặc dù được phát triển sớm, số lượng tàu đánh bắt cá ngừ đại dương của Nhật Bản đã giảm đi đáng kể trong hai thập kỷ qua

Nghề câu chạy cá ngừ cũng có xu hướng liên tục giảm số lượng phương tiện khai thác Đến năm 2000 chỉ còn 160 phương tiện và hiện tại chỉ còn khoảng 90 phương tiện đang hoạt động Nghề câu chạy chủ yếu khai thác cá ngừ sọc dưa và một số cá ngừ đại dương khác Số lượng tàu thuyền nhiều nhất vào những năm cuối của thập niên 70 đến đầu năm 1980, khoảng 650 phương tiện Sau năm 1980, đội tàu này đã giảm dần về số lượng

Nghề lưới vây cá ngừ Nhật Bản phát triển sau so với hai nghề trên, song xu hướng về biến động số lượng phương tiện khai thác thì ngược lại - tăng liên tục Đến năm 2000 có 37 chiếc, 2010 có 70 chiếc và hiện tại Nhật Bản có khoảng 80 tàu làm nghề lưới vây cá ngừ Số phương tiện làm nghề này tăng nhanh vào năm 2004 -

66 chiếc) Trước đó (năm 2003) đội tàu này chỉ có 35 chiếc

Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương của Nhật Bản cao nhất vào những năm

1980 đạt khoảng 530.000 tấn và sau đó chỉ tiêu này giảm, duy trì ở mức ổn định,

dao động khoảng 430.000 tấn trong vài năm lại đây

Bảng 1.2: Sản lượng khai thác cá ngừ theo nghề Năm Câu vàng cá ngừ

ven bờ (tấn)

Câu vàng cá ngừ xa

bờ (tấn)

Câu chạy (tấn)

Lưới vây cá ngừ (tấn)

Trang 27

Nghề lưới vây cá ngừ đang có xu hướng tăng mạnh về sản lượng trong khi các nhóm nghề câu trái lại có xu hướng giảm sản lượng Điều này có thể do sự hạn chế

về ngư trường do việc thực hiện Công ước Quốc tế về Luật biển năm 1982 và sự suy giảm nguồn lợi cá ngừ đại dương, đặc biệt là cá ngừ vây xanh, cá ngừ vây ngực dài và cá ngừ mắt to

Nhóm lưới vây cá ngừ thường có tỷ lệ trội của cá ngừ sọc dưa Katsuwonus pelamis trong sản lượng khai thác, chủ yếu dao động trong khoảng 70-85% tổng sản lượng chuyến biển Tiếp đó là cá ngừ vây vàng khoảng 15%, cá ngừ mắt to chỉ chiếm khoảng 3% tổng sản lượng khai thác

Tương tự như nghề lưới vây, nghề câu chạy cá ngừ có đối tượng khai thác chính là cá ngừ sọc dưa (trên 50% sản lượng), tiếp theo là cá ngừ vây ngực dài (trên 20% sản lượng), cá ngừ vây vàng và ngừ mắt to chiếm tỷ lệ không đáng kể, tỷ lệ sản lượng của mỗi loài chỉ chiếm khoảng 2% tổng sản lượng khai thác của nghề

1.4 Cơ sở pháp lý quốc tế cho phát triển đánh bắt xa bờ của Việt Nam

1.4.1.1 Quá trình xây dựng và thông qua Luật Biển Việt Nam

Việt Nam là quốc gia ven biển với bờ biển dài trên 3.200 km và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ khác nhau; kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước Năm 1994, Việt Nam tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 Từ đó, Nhà nước ta sử dụng các nguyên tắc và quy phạm của văn kiện pháp lý quốc tế này để quản lý và bảo vệ biển, đảo của ta

Các nước ven biển khác, kể cả các nước ven Biển Đông, đều có các Luật về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình Việt Nam cũng cần có Luật về biển của mình, nhưng cho đến nay mới chỉ có các quy phạm dưới Luật Việc ban hành Luật Biển Việt Nam vì thế là nhu cầu tất yếu, khách quan

Để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước ta, phục vụ cho việc sử dụng, quản

lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, làm cho quy phạm pháp luật của ta hài hoà với quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, tạo

Trang 28

điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hoà bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới

Năm 1982 nước ta chính thức ký Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (gọi tắt là Công ước Luật Biển năm 1982) Năm 1994, Quốc hội nước ta thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ước Luật Biển năm 1982 Năm 1998, Quốc hội khoá X đưa việc xây dựng Luật Biển Việt Nam vào Chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội Chính phủ giao Bộ Ngoại giao chủ trì phối hợp với các Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các Bộ, ngành liên quan xây dựng Luật Trong quá trình xây dựng Luật Biển Việt Nam, chúng ta xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng của Việt Nam, căn cứ vào Hiến pháp năm 1992, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, Công ước Luật Biển năm 1982, các quy định của ta; tham khảo Luật về biển của các nước ven Biển Đông cũng như ở các khu vực khác Luật Biển Việt Nam được chuẩn bị kỹ lưỡng trong 14 năm Tháng 12-2011,

kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XIII đã thảo luận và cho ý kiến đối với các nội dung quan trọng của dự thảo Luật Quốc hội cơ bản nhất trí với Dự thảo, nhưng còn một

số điểm cần hoàn thiện thêm nên để đến kỳ họp thứ 3 xem xét thông qua

Thực hiện chỉ đạo đó, trong mấy tháng đầu năm 2012, các cơ quan của Quốc hội đã khẩn trương phối hợp với cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam với số phiếu tán thành cao tỉ lệ 99,8%

1.4.1 2 Nội dung cơ bản của Luật Biển Việt Nam

a) Chương I: Những quy định chung

Phạm vi điều chỉnh của Luật gồm đường cơ sở, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong các vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển, quản lý và bảo vệ biển, đảo

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Nghị quyết năm 1994 của Quốc hội

về việc phê chuẩn Công ước Luật Biển năm 1982 và Luật Biên giới quốc gia năm

Trang 29

2003 đều đề cập đến hai quần đảo này Do đó, Luật Biển Việt Nam không thể không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Luật là sự tiếp nối các quy định đã có, thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam trong vấn đề này

Về nguyên tắc và chính sách quản lý, bảo vệ biển: Luật Biển Việt Nam nêu rõ quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp Hiến chương Liên hợp quốc và các hiệp định, thỏa thuận quốc tế khác mà nước ta tham gia Nhà nước phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của nước ta, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển Mọi cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển Nhà nước khuyến khích và bảo hộ hoạt động của ngư dân trên các vùng biển; đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển

Về đối ngoại: Luật Biển Việt Nam quy định chủ trương của Nhà nước Việt Nam giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước láng giềng bằng các biện pháp hoà bình, phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế Nhà nước ta đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển với các nước, các

tổ chức quốc tế và khu vực, trong đó nêu nhiều lĩnh vực hợp tác cụ thể về biển và đại dương Nếu điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác so với các quy định của Luật thì áp dụng các quy định của các điều ước quốc tế đó

Về cơ chế quản lý biển: Luật Biển Việt Nam quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biển trong phạm vi cả nước; các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về biển

b) Chương II: Vùng biển Việt Nam

Về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải nước ta: Luật Biển Việt Nam quy định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở

Trang 30

thẳng đã được Chính phủ công bố Hiện nay nước ta đã có đường cơ sở từ đảo Cồn

Cỏ đến đảo Thổ Chu vận dụng theo phương pháp đường cơ sở thẳng mà Công ước Luật Biển năm 1982 quy định Một số khu vực khác hiện nay chưa có đường cơ sở như Vịnh Bắc Bộ và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thì Chính phủ sẽ xác định và công bố sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn

Về nội thủy và lãnh hải Việt Nam: Nội thủy nằm giữa bờ biển và đường cơ sở, còn lãnh hải nằm bên ngoài đường cơ sở Lãnh hải rộng 12 hải lý (mỗi hải lý bằng 1852m) Ta có chủ quyền tuyệt đối với nội thuỷ Đối với vùng lãnh hải ta cũng có chủ quyền, nhưng tàu thuyền của các nước có quyền đi qua không gây hại Ta có chủ quyền tuyệt đối đối với vùng trời ở trên lãnh hải, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải Ranh giới bên ngoài của lãnh hải chính là đường biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam

Về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa: Ta có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Vùng đặc quyền kinh tế của nước ta rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Thềm lục địa của nước ta có chiều rộng tối thiểu 200 hải lý và mở rộng đến 350 hải

lý kể từ đường cơ sở theo các điều kiện mà Công ước Luật Biển năm 1982 quy định (năm 2009, nước ta đã gửi 2 Báo cáo về ranh giới thềm lục địa của VN ngoài phạm

vi 200 hải lý ở hai khu vực cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc xem xét)

Luật Biển Việt Nam quy định tàu thuyền của các nước được đi qua không gây hại trong lãnh hải nước ta Tàu quân sự nước ngoài thông báo trước khi thực hiện quyền này Luật cũng quy định quyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không, quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, cũng như quyền lắp đặt dây cáp, ống dẫn ngầm trên thềm lục địa Việt Nam Các quyền này được thực hiện theo đúng các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982

Về quy chế các đảo, quần đảo của Việt Nam: Luật Biển Việt Nam khẳng định Nhà nước ta thực hiện chủ quyền trên các đảo, quần đảo Việt Nam Phù hợp với

Trang 31

Điều 121 của Công ước Luật Biển năm 1982, Luật Biển Việt Nam quy định đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; còn đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

c) Chương III: Hoạt động trong vùng biển Việt Nam

Luật Biển Việt Nam quy định rõ những hành vi mà tàu thuyền nước ngoài không được làm khi đi qua lãnh hải nước ta: đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc; luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào; thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Viẹt Nam; tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam; gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển; đánh bắt hải sản trái phép; nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép v.v…

Chính phủ quy định công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải, khi cần thiết lập vùng cấm tạm thời hoặc vùng hạn chế hoạt động trong

lãnh hải Việt Nam Luật cũng quy định về tìm kiếm, cứu nạn và cứu hộ, về giữ gìn bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển; đồng thời nêu

cụ thể những hành vi bị cấm như cấm đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh Việt Nam; khai thác tài nguyên, lắp đặt sử dụng thiết bị công trình, khoan đào, nghiên cứu khoa học một cách trái phép; tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí chất

nổ, chất độc hại, cấm mua bán người, hoạt động cướp biển, phát sóng trái phép d) Chương IV: Phát triển kinh tế biển

Luật Biển Việt Nam quy định phát triển kinh tế biển: phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; phù hợp với yêu cầu quản lý

Trang 32

tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; gắn với phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo

Luật quy định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển: tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển

và các dịch vụ hàng hải khác; du lịch biển và kinh tế đảo; khai thác, nuôi trồng, chế biển hải sản; phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học - công nghệ

về khai thác và phát triển kinh tế biển; xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển e) Chương V: Tuần tra, kiểm soát trên biển

Luật Biển Việt Nam quy định các lực lượng có thẩm quyền tuần tra, kiểm soát trên biển gồm các lực lượng của quân đội nhân dân, công an nhân dân và các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác

- Luật quy định các lực lượng này hoạt động theo nhiệm vụ được quy định cụ thể trong luật pháp Việt Nam và được trang bị cờ, sắc phục, phù hiệu có dấu hiệu đặc trưng Khi cần thiết, các cơ quan có thẩm quyền sẽ huy động sự tham gia của các lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng bảo vệ của các cơ quan

f) Chương VI: Xử lý vi phạm (4 điều)

Quy định về dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm; biện pháp bảo đảm tố tụng,

xử lý vi phạm, biện pháp đối với đối tượng là người nước ngoài nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, đúng pháp luật giữa các cơ quan có trách nhiệm xử lý vi phạm Luật Biển Việt Nam Đặc biệt khi tạm giữ, tạm giam tàu và thuyền nước ngoài phải thông báo ngay cho Bộ Ngoại giao để phối hợp xử lý

g) Chương VII: Điều khoản thi hành (2 điều): Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013

1.4.1 3 Ý nghĩa của việc thông qua Luật Biển

Việc thông qua Luật Biển Việt Nam là một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan biển, đảo nước ta Lần đầu tiên nước

ta có một văn bản Luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước Luật Biển năm

Trang 33

1982, làm cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo nước ta

Việc Luật Biển Việt Nam khẳng định chủ trương giải quyết các tranh chấp biển, đảo với các nước bằng các biện pháp hòa bình đã chuyển thông điệp quan trọng của ta đến toàn thế giới: Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982, quyết tâm phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới

Việt Nam là một quốc gia ven biển với bờ biển dài hơn 3260km và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ khác nhau Năm 1994 Việt Nam tham gia Công ước Luật Biển năm 1982 Năm 2002 Việt Nam tham gia ký Tuyên bố về ứng xử của các bên

ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc - Tuyên bố DOC 2002 Đây là những

cơ sở pháp lý vững chắc nhằm tạo điều kiện thúc đẩy phát triển đánh bắt xa bờ ở Việt Nam

1.4.2.1 Các vùng biển của Việt Nam theo pháp luật quốc tế

Phù hợp với pháp luật quốc tế, theo luật biển quốc tế hiện đại, phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đều được tính từ đường cơ sở Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của các vùng biển của nước ta được xác định trong Tuyên bố năm 1982 của Chính phủ

Một là, nội thủy của Việt Nam là vùng nước tiếp giáp với bờ biển ở phía trong

đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của nước ta Trong vùng nội thuỷ của

ta, Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ như trên lãnh thổ đất liền

Hai là, lãnh hải của Việt Nam là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam Nhà nước ta thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với

Trang 34

lãnh hải đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982

Nhà nước ta có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc đi qua trong lãnh hải của mình trong các vấn đề như an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, xuất, nhập cảnh, y tế cũng như quy định hành lang để tàu thuyền đi qua

Ba là, vùng tiếp giáp lãnh hải của Việt Nam là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải Nhà nước Việt Nam thực hiện kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải nước ta

Bốn là, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vùng biển nằm ngoài lãnh hải

và có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của nước ta Nhà nước ta có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng đặc quyền kinh tế Nhà nước ta cũng có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Việt Nam tôn trọng quyền tự do hàng hải, tự do hàng không ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của mình

Năm là, thềm lục địa của Việt Nam là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển

bên ngoài lãnh hải của nước ta cho đến mép ngoài của rìa lục địa Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa chưa đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa vượt quá 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2500 m (tức là đường nối liền

Trang 35

các điểm có độ sâu 2500 m) Năm 2009 Nhà nước ta đã trình lên Liên hợp quốc 2 báo cáo quốc gia xác định thềm lục địa ngoài 200 hải lý Báo cáo phía Bắc ta tự khảo sát, xây dựng Báo cáo khu vực phía Nam Biển Đông ta và Ma-lai-xi-a phối hợp xây dựng và cùng trình

Phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982, pháp luật về biển của nước ta khẳng định Nhà nước ta có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa và không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên thềm lục địa nước ta nếu không được sự đồng ý của Chính phủ

1.4.2 2 Các đảo và quần đảo của Việt Nam

Nước ta có hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, trong đó hơn một nửa là ở trong Vịnh Bắc Bộ Hai quần đảo xa bờ là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Năm 1975, Nhà nước ta đã tiếp quản các đảo do quân đội chính quyền Sài gòn đóng giữ ở quần đảo Trường Sa là đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn và An Bang Từ đó đến nay, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam

Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay, huyện Hoàng Sa trực thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hoà Tháng 4/2007, để hoạt động quản lý hành chính hiệu quả hơn, Chính phủ đã quyết định thành lập thị trấn Trường Sa thuộc huyện Trường Sa và hai xã Song Tử Tây và Sinh Tồn

Hiện nay tình hình liên quan đến 2 quần đảo rất phức tạp Một số nước ven Biển Đông cũng nêu yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo, dẫn đến hình thành tranh chấp song phương giữa ta và Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa và tranh chấp đa phương đối với quần đảo Trường Sa Các tranh chấp chủ quyền đối với 2

Trang 36

quần đảo phức tạp, nên quá trình để tìm giải pháp cho các tranh chấp này sẽ lâu dài Trong bối cảnh đó và nhằm tạo điều kiện cho việc duy trì hoà bình và ổn định ở Biển Đông, vào năm 2002 ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông

Nhà nước ta chủ trương và ủng hộ nỗ lực giải quyết các tranh chấp về chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các biện pháp hoà bình theo Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Luật Biển năm 1982 và các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế Những vấn đề liên quan đến 2 nước thì giải quyết song phương, những vấn đề liên quan đến nhiều nước thì giải quyết giữa các bên liên quan Điều này đã được ghi nhận trong Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc trong tháng 10/2011 Tranh chấp đa phương về Trường Sa thì giải quyết đa phương Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cho các tranh chấp các bên phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ các cam kết theo Tuyên bố DOC năm 2002, tăng cường nỗ lực để xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông

Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông ngày càng leo thang, các nước ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng đều mong muốn sớm xây dựng COC như là một công cụ hiệu quả để duy trì hoà bình ổn định, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông

Kết luận chương 1

Ngành công nghiệp khai thác thủy hải sản có vị trí rất quan trọng ở một số quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật, Canada, Nga…đặc biệt là lĩnh vực đánh bắt xa bờ

đã nhận được sự quan tâm và đầu tư rất lớn ở các quốc gia Nằm trong xu thế chung

đó, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tiềm năng khai thác hải sản, với bờ biển dài trên 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) khoảng 1 triệu km2, trữ lượng thủy sản dồi dào, ước tính khoảng 4 triệu tấn

Với những lợi thế đó, hoạt động đánh bắt hải sản đã gắn bó lâu đời với ngư dân Việt Nam nói chung, các tỉnh duyên hải miền Trung nói riêng cũng như ngư dân tại thành phố Đà Nẵng Trong những năm qua, đánh bắt hải sản tại thành phố

Trang 37

Đà Nẵng đã có những bước phát triển tốt thể hiện ở sản lượng và giá trị sản phẩm đánh bắt tăng nhanh, số lượng phương tiện đánh bắt khơi xa ngày càng phát triển; hoạt động đánh bắt hải sản đã góp phần tích cực trong việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, tạo điều kiện để đẩy mạnh xuất khẩu

Việc nghiên cứu cơ sở lý luận của hiệu quả kinh tế trong đánh bắt xa bờ đã góp phần đưa ra cách thức để đánh giá thực trạng đánh bắt xa bờ tại thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất được các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động đánh bắt xa bờ

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH BẮT XA BỜ TẠI

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.1 Đặc điểm của khu vực nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Đà Nẵng gồm vùng đất liền và vùng quần đảo trên biển Đông Vùng đất liền nằm ở 15055' đến 16014' vĩ độ Bắc, 107018' đến 108020' kinh độ Đông, Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, Đông giáp Biển Đông Vùng biển gồm quần đảo Hoàng Sa nằm ở 15045’ đến 17015’ vĩ độ Bắc, 1110 đến 1130 kinh độ Đông, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Nam

Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường

bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn là trung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội

An, Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là Cảng biển Tiên Sa Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững

Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2

, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91 km2

2.1.1.2 Khí hậu

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và

ít biến động Nhiệt độ trung bình năm khoảng 25,9oC, riêng vùng rừng núi Bà Nà ở

độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 20oC

Trang 39

Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình hàng năm trên 250C Rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C, là địa bàn

du lịch nghỉ mát lý tưởng Độ ẩm không khí trung bình là 83,4% Lượng mưa trung bình năm là 2.504,57 mm Số giờ nắng bình quân là 2.156,2 giờ/năm

Khí hậu thành phố là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam mà tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, Mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 01 đến tháng 7, thỉnh thoảng có đợt rét nhưng không đậm và kéo dài

2.1.1.3 Địa hình

Được thiên nhiên ưu đãi, Đà Nẵng vừa có đồng bằng, vừa có núi, có sông, có biển Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, một số đồi thấp xen

kẽ những đồng bằng hẹp Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, trên 70%, chủ yếu

ở độ cao 700 - 1500 m, độ dốc lớn, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch của thành phố Đồng bằng

ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, lại là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự và các khu chức năng của thành phố

Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây Bắc thành phố

b) Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp là 51.854 ha, chiếm 41,3% diện tích lãnh thổ, trong

đó đất rừng tự nhiên là 36.729,44 ha, tập trung chủ yếu ở phía Tây huyện Hoà

Trang 40

Vang, một số ít ở quận Liên Chiểu, quận Sơn Trà, đất rừng trồng là 15.124,42 ha,

có hầu hết ở các quận, huyện trong thành phố nhưng tập trung chủ yếu vẫn là huyện Hoà Vang, quận Liên Chiểu, quận Ngũ Hành Sơn Tỷ lệ che phủ rừng đạt 49,6%, trữ lượng gỗ khoảng 3 triệu m3, phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp, tập trung ở Sơn Trà, Hải Vân và Tây Hoà Vang

Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch, nhất là Sơn Trà, Hải Vân và Bà Nà

c) Tài nguyên khoáng sản

Hiện nay mới chỉ phát hiện một ít tài nguyên khoáng sản là khối đá hoa cương

ở Non Nước, đá ốp lát, đá vôi ở phía Tây huyện Hoà Vang, mỏ cát trắng ở Nam Ô… Đặc biệt vùng thềm lục địa có nhiều triển vọng về dầu khí

e) Tài nguyên biển và ven biển

Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 70 km, có vịnh nước sâu với các cửa ra biển như Liên Chiểu, Tiên Sa, có vùng lãnh hải thềm lục địa với độ sâu 200 m, tạo thành vành đai nước nông rộng lớn thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp biển và giao lưu với nước ngoài

Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và giá trị được nâng lên nhiều lần bởi các bãi tắm và các cảnh quan này không xa nội thành Đà Nẵng, có ý nghĩa lớn cho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng

Khả năng phát triển kinh tế thuỷ, hải sản và nuôi trồng thuỷ sản lớn Vùng biển Đà Nẵng có trữ lượng hải sản lớn, khả năng khai thác hàng năm khoảng 60 -

Ngày đăng: 03/04/2023, 07:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Barry Field (1997), Kinh tế tài nguyên thiên nhiên đại cương, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tài nguyên thiên nhiên đại cương
Tác giả: Barry Field
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 1997
14. Carl-Christian Schmidt (2003), Fisheries and Japan: A case of multiple roles?, International Symposium on Multiple Roles and Functions of Fisheries and Fishing Communities, Aomori, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fisheries and Japan: A case of multiple roles
Tác giả: Carl-Christian Schmidt
Năm: 2003
15. Christos, D.M., Efthymia, V.T. (2008), Economic efficiency analysis and fleet capacity assessment in Mediterranean fisheries, Fisheries Research 93: 85–91 16. Farrell, M.,J. (1957), Measurement of product efficiency, Journal of the RoyalStatistical Society, Series A (General), Vol.120, No.3, 253-290 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic efficiency analysis and fleet capacity assessment in Mediterranean fisheries", Fisheries Research 93: 85–91 16. Farrell, M.,J. (1957), "Measurement of product efficiency
Tác giả: Christos, D.M., Efthymia, V.T. (2008), Economic efficiency analysis and fleet capacity assessment in Mediterranean fisheries, Fisheries Research 93: 85–91 16. Farrell, M.,J
Năm: 1957
17. FRA (2009), The Grand Design of Fisheries and Resources Management in Japan, Final Report of Fisheries Research Agency, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Grand Design of Fisheries and Resources Management in Japan, Final Report of Fisheries Research Agency
Tác giả: FRA
Năm: 2009
18. James. M.A. &amp; Slaski, R. (2006), Appraisal of the opportunity for offshore aquaculture in UK waters, Report of project FC0934, commissioned by Defra and Seafish from FRM Ltd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Appraisal of the opportunity for offshore aquaculture in UK waters
Tác giả: James. M.A. &amp; Slaski, R
Năm: 2006
19. Manfred Kuhn (1990), Từ điển kinh tế, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế
Tác giả: Manfred Kuhn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1990
21. Perman, R. et. al. (2011), Natural resource &amp; environmental economics (tái bản lần thứ tư) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Natural resource & environmental economics
Tác giả: Perman, R. et. al
Năm: 2011
24. WB (2011), Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: WB
Năm: 2011
25. Whitmarsh, D.James, C.Pickering, H.Neiland (2000), The profitability of marine commercial fisheries: a review of economic information needs with particular reference to the UK, Marine Policy 24: 257-263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The profitability of marine commercial fisheries: a review of economic information needs with particular reference to the UK
Tác giả: Whitmarsh, D.James, C.Pickering, H.Neiland
Năm: 2000
2. Chi cục Thủy sản Đà Nẵng (2011), Báo cáo tổng kết về hoạt động Khai thác thủy sản năm 2010 Khác
3. Chi cục Thủy sản Đà Nẵng (2012), Báo cáo tổng kết về hoạt động Khai thác thủy sản năm 2011 Khác
12. Quyết định số 7982/QĐ - UBND, Về việc phê duyệt đề án "Nâng cao hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020&#34 Khác
13. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng, Báo cáo tổng kết ngành nông nghiệp các năm 2007,2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013 Khác
22. Policy Department B: structural and cohesion policies fisheries (2013), Fisheries in Japan Khác
23. Simon Mardle and Sean Pascoe (2003), Multiple Objectives in the Management of EU Fisheries: Multi-objective Modelling (Part I) Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w