49 3.8 Mối liên quan giữa BVAT về phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng với đặc tính của mẫu .... Xác định tỷ lệ BVAT về kết cấu và phi kết
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
-LẠI NGUYỄN LÊ DƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG AN TOÀN TRONG TÌNH HUỐNG KHẨN CẤP
VÀ THẢM HỌA CỦA CÁC BV TỈNH BẾN
TRE NĂM 2020 - 2021
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
-LẠI NGUYỄN LÊ DƯƠNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG AN TOÀN TRONG TÌNH HUỐNG KHẨN CẤP VÀ THẢM HỌA CỦA CÁC BỆNH VIỆN TỈNH BẾN TRE NĂM 2020-2021
Ngành: Quản lý Y tế
Mã số: CK 62 72 76 05
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐẶNG VĂN CHÍNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp Chuyên khoa cấp II chuyên ngành Quản
lý Y tế “Đánh giá khả năng đáp ứng an toàn trong tình huống khẩn cấp và thảm họa của các BV tỉnh Bến tre năm 2020 - 2021” là công trình nghiên cứu của
chính tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021
Tác giả
Lại Nguyễn Lê Dương
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 6
1.1 Đại cương về thiên tai, thảm họa và tình huống khẩn cấp ảnh hưởng đến ngành y tế 6
1.2 Một số khái niệm và thông tin về BVAT 14
1.3 Tình hình nghiên cứu BV an toàn trên thế giới 18
1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến BVAT tại Việt Nam 20
1.5 Giới thiệu về tỉnh Bến Tre 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.3 Đối tượng nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.5 Định nghĩa các biến số 27
2.6 Kiểm soát sai lệch 37
2.7 Phương pháp phân tích thống kê 37
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ DỰ KIẾN 39
3.1 Các đặc tính của mẫu nghiên cứu 39
3.2 BVAT trong tình huống khẩn cấp và thảm họa 41
3.3 Kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc 42
3.4 Phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng 44
3.5 Chức năng liên quan giữa đến chính sách và nhân lực 46
3.6 Chức năng liên quan đến TTB 48
Trang 53.7 Mối liên quan giữa BVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc
với các đặc tính của mẫu 49
3.8 Mối liên quan giữa BVAT về phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng với đặc tính của mẫu 53
3.9 Mối liên quan giữa BVAT về chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực với các đặc tính của mẫu 54
3.10 Mối Liên quan giữa BVAT về chức năng liên quan đến TTB với các đặc tính của mẫu 61
BÀN LUẬN 66
4.1 Các đặc tính của mẫu nghiên cứu 66
4.2 Bệnh viện an toàn trong tình huống khẩn cấp và thảm họa 66
4.3 Kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc 67
4.4 Phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng 70
4.5 Chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực 73
4.6 Chức năng liên quan đến trang thiết bị 75
4.7 Mối liên quan giữa BVAT trong tình huống khẩn cấp và thảm họa với các đặc tính của mẫu 76
4.8 Điểm mạnh và điểm hạn chế của nghiên cứu 82
4.9 Tính mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 83
KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Bộ công cụ đánh giá bệnh viện an toàn trong tình huống khẩn cấp
và thảm họa
Phụ lục 2: Danh sách các bệnh viện
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tình hình cơ sở y tế bị thiệt hại của Indonesia năm 2004 …… ….6Bảng 1.2: Bảng số vụ sơ tán cơ sở y tế tại Mỹ từ 1989-1999 ……….….8Bảng 3 1: Tỷ lệ BVAT trong tình huống khẩn cấp và thảm họa 41 Bảng 3 2: Tỷ lệ BVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc 42 Bảng 3 3: Tỷ lệ BVAT về phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng 44 Bảng 3 4: Tỷ lệ BVAT về chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực 46 Bảng 3 5 Tỷ lệ BVAT về chức năng liên quan đến TTB 48 Bảng 3 6: Mối liên quan giữa BVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc với các đặc tính của mẫu 49 Bảng 3 7: Mối liên quan giữa BVAT về kết cấu với các đặc tính của mẫu 50 Bảng 3 8: Mối liên quan giữa BVAT phi kết cấu về kiến trúc với các đặc tính của mẫu 52 Bảng 3 9: Mối liên quan giữa BVAT về an toàn và an ninh cho con người, TTB với các đặc tính của mẫu 53 Bảng 3 10: Mối liên quan giữa BVAT về khả năng luân chuyển nội bộ và phối kết hợp với các đặc tính của mẫu 54 Bảng 3 11: Mối liên quan giữa BVAT về các chính sách, thủ tục, hướng dẫn quản
lý tình huống khẩn cấp với các đặc tính của mẫu 55 Bảng 3 12: Mối liên quan giữa BVAT về kế hoạch cho tình huống khẩn cấp, thảm họa với các đặc tính của mẫu 56 Bảng 3 13: Mối liên quan giữa BVAT về nguồn nhân lực với các đặc tính của mẫu 58 Bảng 3 14: Mối liên quan giữa BVAT về theo dõi, đánh giá với các đặc tính của mẫu 59 Bảng 3 15: Mối liên quan BVAT về TTB với các đặc tính của mẫu 61 Bảng 3 16: Mối liên quan BVAT về hệ thống bảo đảm an toàn, an ninh với các đặc tính của mẫu 62 Bảng 3 17: Mối liên quan BVAT về hệ thống thông tin, truyền thông, vận chuyển với các đặc tính của mẫu 64
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH HÌNH
Hình 1.1: Hình ảnh ngập trong nước của trạm y tế xã Cam Thủy… …… 11Hình 1.2: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre……… 24
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tuyến bệnh viện trong mẫu nghiên cứu……….33Biểu đồ 3.2: Mô tả quy mô bệnh viện ……… ……….33Biểu đồ 3.3: Khu vực vị trí địa lý của bệnh viện……….34
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây tình hình thảm họa trên thế giới và Việt Nam diễnbiến rất phức tạp, chứa đựng nhiều yếu tố khó lường Biến đổi khí hậu là mộttrong những nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng số lượng và mức độ ảnhhưởng của thảm họa và tình huống khẩn cấp (THKC) Nhiệt độ trái đất tănglên, mực nước biển dâng, hiện tượng khí hậu cực đoan là những vấn đề gây ranhiều thách thức [40] Trung bình cứ một tuần xảy ra một thảm họa lớn, cướp
đi sinh mạng của hàng nghìn người trên thế giới, hủy hoại nhiều cơ sở vậtchất và các công trình kiến trúc có giá trị của nhân loại [25],[31]
Thực tế cho thấy, thảm họa xảy ra hết sức đột ngột không hề báo trướccác thảm họa tự nhiên như là bão, lũ lụt, lũ quét, lở đất, địa chấn và các thảmhọa nhân tạo như là hỏa hoạn, chiến tranh, ô nhiễm môi trường, cháy nổ cóthể xảy ra ở bất cứ nơi nào [1],[54] Thảm họa xảy ra làm cho số lượng cácnạn nhân cần được cứu chữa, vận chuyển luôn vượt quá khả năng đáp ứng củangành y tế Bên cạnh đó, chính các cơ sở y tế trong khu vực thảm họa cũng bịthiệt hại nặng nề cả về con người cũng như cơ sở vật chất An toàn BV trongthảm họa là một thách thức ở các nước phát triển và đang phát triển[26],[27],[37],[32],[43],[49]
Một số thiên tai trên thế giới gây thiệt hại nặng nề cho các cơ sở y tế nhưtrận động đất ở Mỹ năm 1988, đã có 416 cơ sở y tế bị phá hủy, 24 cơ sở bịphá hủy vĩnh viễn [42] Năm 2004, sóng thần Ấn Độ Dương đã phá hủykhoảng 60% bệnh viện (BV) ở tỉnh Aceh của Indonesia [38] Vào năm 2010,trong vùng thảm họa của trận động đất ở Haiti, 30 trên 49 BV đã bị hư hạihoặc bị phá hủy [41] Và sau trận động đất năm 2015 ở Nepal, có bốn huyệntrong số các huyện bị ảnh hưởng xấu nhất bởi trận động đất thì toàn bộ các
Trang 10BV đã bị phá hủy hoàn toàn hoặc bị hư hỏng quá nặng không thể hoạt độngtrở lại [47].
Việt Nam là một trong mười quốc gia có số lượng thảm họa và số người
bị ảnh hưởng bởi thảm họa lớn nhất trên thế giới [5] Từ năm 1980-2010, đã
có 159 thảm họa xảy ra, làm bị thương 73.582.754 người và tử vong 16.099người [44] Một cơn bão số 9 năm 2009 đã làm 30% số cơ sở y tế tại bốn tỉnhmiền Trung và Tây Nguyên ở Việt Nam bị thiệt hại với tổng thiệt hại ước tínhtrên 19.000 tỷ đồng Năm 2017, Việt Nam chịu ảnh hưởng 16 cơn bão và 06
áp thấp nhiệt đới, đạt kỷ lục về số trận bão xuất hiện, đặc biệt còn bị ảnhhưởng cơn bão số 16 có cường độ mạnh nhất trong khoảng 40 năm qua (chỉthị 03) [12],[11]
Tất cả những thảm họa này đã cung cấp bằng chứng về việc các hệ thống
y tế kém an toàn dễ bị phá hủy, không phục hồi trong các trường hợp khẩncấp làm tê liệt hệ thống y tế khi chúng cần thiết nhất BV có vai trò quantrọng trong việc khám chữa bệnh cho nhân dân không chỉ trong điều kiện bìnhthường, mà còn trong điều kiện có thiên tai, thảm họa xảy ra [5],[7],[10],[54].Ngoài ra, WHO đã khởi xướng chiến dịch BV an toàn (BAVT) và xây dựng
bộ câu hỏi đánh giá trong tình huống khẩn cấp, với mục đích nâng cao nhậnthức và hành động nhằm bảo vệ tính mạng của người bệnh và nhân viên y tế(NVYT) [5]
Tỉnh Bến Tre có diện tích 2.394,6 km2 với 1.268.200 người dân và 13
BV thực hiện khoảng 2,5 triệu lượt khám chữa bệnh mỗi năm [24],[22] Nếu
có thiên tai xảy ra mà các BV không đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn sẽ dẫnđến hậu quả rất nặng nề Tình hình thiên tai tại tỉnh Bến Tre cũng rất đa dạng:cơn bão Haiyan năm 2013 đã làm chết 19 người, 671 người bị thương và tốc
Trang 11làm 77 người bị thương, 346 căn nhà ở bị sập, 1.531 căn nhà bị hư hỏng, tốcmái; triều cường đã làm 7.806 căn nhà bị ngập, nhiều hoa màu bị thiệt hại;ngoài ra còn có sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển [29] Bến Tre cũng rất quantâm công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, cụ thể qua các Kếhoạch sau:
Kế hoạch số 76/KH-PCTT ngày 05 tháng 10 năm 2016 của Ban Chỉ huyphòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bến Tre về việc Phòng,chống thiên tai giai đoạn 2018-2020 trên địa bàn tỉnh Bến Tre [29] Kế hoạch
số 1843/KH-UBND ngày 07/4/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kếhoạch phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch
số 845/KH-SYT ngày 01/4/2021 của Sở Y tế về việc triển khai công tácphòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trong ngành y tế năm 2021
BV Nguyễn Đình Chiểu ngày 19 tháng 2 năm 2019 đã xảy ra một vụ hỏahoạn nghiêm trọng do chập điện đã làm hư hỏng toàn bộ hệ thống máy chủđiều khiển hoạt động công nghệ thông tin quản lý BV, may mắn không thiệthại về người [4, 20]
Vì tất cả những thông tin trên, nghiên cứu được thực hiện nhằm cung cấpnhững thông tin và bằng chứng cho các nhà quản lý y tế sử dụng để lập kếhoạch tăng cường năng lực chuẩn bị sẵn sàng đáp ứng với tình huống khẩncấp và thảm họa thiên tai của các BV Việc vận dụng BVAT trong tình huốngkhẩn cấp và thảm họa sẽ góp phần bảo vệ tính mạng nhân viên y tế và ngườibệnh, thông qua bảo đảm bền vững về cấu trúc và phi cấu trúc của BV Đápứng những chỉ số của BVAT, BV có khả năng duy trì các hoạt động thiết yếu
và các dịch vụ y tế trong và ngay sau khi thiên tai xảy ra
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chung
Xác định khả năng đáp ứng an toàn các bệnh viện của tỉnh Bến Tre
trong tình huống khẩn cấp và thảm họa năm 2020 - 2021
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỷ lệ BVAT trong tình huống khẩn cấp và thảm họa
2 Xác định tỷ lệ BVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiếntrúc; tỷ lệ BVAT về kết cấu liên quan đến hệ thống trang thiết bị công trìnhđảm bảo an toàn cho người sử dụng; tỷ lệ BVAT về chức năng liên quan đếnchính sách và nhân lực; tỷ lệ BVAT về chức năng liên quan đến trang thiết bị
3 Xác định mối liên quan giữa BVAT trong tình huống khẩn cấp vàthảm họa với quy mô BV, tuyến BV, vị trí BV và hạng BV
4 Xác định mối liên quan BVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đếnkiến trúc; BVAT về kết cấu liên quan đến hệ thống trang thiết bị công trìnhđảm bảo an toàn cho người sử dụng; BVAT về chức năng liên quan đến chínhsách và nhân lực; BVAT về chức năng liên quan đến trang thiết bị theo quy
mô BV, tuyến BV, vị trí BV, xếp hạng BV
Trang 13hệ thống trang thiết bị công trình đảm bảo
an toàn cho người sử dụng.
Nhóm D
Bệnh viện an toàn về chức năng liên quan đến trang thiết bị.
Nhóm C
Bệnh viện an toàn về chức năng liên quan đến chính sách
và nhân lực.
Quy mô bệnh viện Tuyến bệnh viện
Vị trí bệnh viện Hạng bệnh viện
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Đại cương về thiên tai, thảm họa và tình huống khẩn cấp ảnh hưởng đến ngành y tế
Một số khái niệm về thiên tai, theo Quyết định số 646/QĐ-BYT ngày
13 tháng 02 năm 2021 của Bộ Y tế Ban hành Kế hoạch hành động về chuẩn
bị, ứng phó với thiên tai của ngành y tế giai đoạn 2015-2020
Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại vềngười, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hộikhác Thiên tai bao gồm các hiện tượng thiên nhiên như bão, áp thấp nhiệtđới, lốc, sét, mưa lớn, lũ lụt, sạt lỡ đất hoặc sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòngchảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sươngmuối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác [6]
Tình huống khẩn cấp là tình huống bất thường trong đó có những mối
đe dọa tức thời và nghiêm trọng đến sinh mạng của con người do hậu quả củathiên tai, của mối đe dọa sắp xảy ra, của quá trình tích tụ các yếu tố bất lợi bịlãng quên, của xung đột dân sự, của sự suy thoái môi trường và các điều kiệnkinh tế - xã hội Trường hợp khẩn cấp có thể bao gồm cả tình huống trong đókhả năng đối phó của một nhóm dân cư hay một cộng đồng bị suy giảm rõ rệt[6]
Các sự kiện thiên tai, thảm họa ảnh hưởng đến ngành y tế trên thế giới
Ngày 7 tháng 12 năm 1988, một trận động đất ở Spitak (Mỹ) đã làm25.000 người chết, ảnh hưởng đến 160 BV và phòng khám trong các khu vực
bị ảnh hưởng của động đất Trong đó 16 BV bị phá hủy hoàn toàn, 32 BV bịthiệt hại nặng nề Có 19 cơ sở y tế khác (nhà dưỡng lão, phòng khám) bị phá
Trang 15hủy, 4 cơ sở đã hoạt động lại và 9 cơ sở khác cần được sửa chữa Tổng thiệthại hơn 1,3 tỷ đô la vào thời bấy giờ [42].
Năm 2004, hàng triệu cuộc sống của người dân Indonesia thay đổi độtngột ngay sau 8 giờ sáng chủ nhật ngày 26 tháng 12 khi trận động đất lớn nhấttrong 40 năm qua làm rung chuyển miền Bắc Sumatra Trận động đất đã tạo
ra một cơn sóng thần lớn di chuyển nhanh chóng trên khắp Ấn Độ Dương, tấncông các khu vực bên bờ biển ở nhiều quốc gia với kết quả thảm khốc ởIndonesia, Thái Lan, Sri Lanka, Ấn Độ và Bangladesh, cũng như các nướcchâu Á và Đông Phi khác Hơn 150.000 người chết với nhiều người vẫn cònmất tích, trong khi cơ sở hạ tầng, các hoạt động sản xuất và môi trường tựnhiên bị phá hủy hoặc hư hỏng [38] Ít nhất 42 BV ở Ấn Độ và Sri Lanka đã
bị phá hủy sau thảm họa sóng thần này [37]
Bảng 1.1: Tình hình thiệt hại về y tế của Indonesia năm 2004 (triệu USD)
Tài sản bịphá hủy
Chi phíkhôi phục Nhà nước Tư nhân Trợ cấp
Trang 16Trận động đất vào ngày 12 tháng 1 năm 2010 đã gây ra một tình huốngchưa từng có ở Haiti với những hậu quả to lớn ảnh hưởng đến tất cả các thànhphần của xã hội, nó còn vượt ra ngoài khu vực chấn động làm ảnh hưởng đếncác khu vực xung quanh Hơn 220.000 người chết và hơn 300.000 người khác
bị thương Gần 2 triệu người dân Haiti đã bị mất nhà cửa và phải rời khỏi khuvực bị ảnh hưởng để tìm nơi ẩn náu ở các tỉnh khác Hơn 50 BV và trung tâm
y tế đã sụp đổ hoặc không sử dụng được Tổng thiệt hại của trận động đất hơn
7800 tỷ đô la [41]
Ngày 25 tháng 4 năm 2015, một trận động đất mạnh 7,8 độ richter xảy ra
ở phía tây bắc thủ đô Kathmandu của Nepal Chỉ hơn một tuần sau tác độngcủa nó, số người chết là 7.000 người, hơn 23.000 người khác bị thương vàcòn tăng dần lên Các ước tính của chính phủ là hơn 70.000 ngôi nhà đã bịphá hủy và hơn tám triệu người bị ảnh hưởng Hàng trăm BV và các cơ sở y
tế bị phá hủy một phần hoặc hoàn toàn Vào thời điểm này, những BV cònkhả năng hoạt động được luôn trong tình trạng quá tải [47],[48]
Một nghiên cứu tổng kết tình trạng các đợt sơ tán BV diễn ra từ năm
1977 đến năm 1999, trong số 26 cuộc sơ tán được báo cáo vào năm 1992 thì
có 15 vụ trong cơn bão Andrew; trong số 33 cuộc sơ tán vào năm 1994, 14 vụđược cho là do trận động đất Northridge Những ảnh hưởng tương tự đã diễn
ra sau trận động đất Loma Prieta năm 1989, cơn bão Bonnie và George năm
1998 và cơn bão Floyd năm 1999 Một kết luận đáng lo ngại từ những dữ liệunày đã đưa ra là một BV khi đưa ra quyết định sơ tán thì đồng thời các BVkhác trong khu vực phải đối mặt với một quyết định tương tự như vậy Họphải thực hiện hành động nguy hiểm này khi các dịch vụ y tế đang trong tình
Trang 17trạng quá tải do thiên tai và ảnh hưởng nhiêm trọng đến sức khỏe của các nạnnhân và bệnh nhân cần bị hạn chế di chuyển [49].
Bảng 1.2: Bảng số vụ sơ tán cơ sở y tế tại Mỹ từ 1989-1999
Năm Số vụ sơ tán Thảm họa Số vụ sơ tán có
số này đã được sơ tán trước khi cơn bão đổ bộ, trong đó có bảy vụ để tránhhậu quả của cơn bão Katrina Đối với các BV còn lại phải sơ tán do lũ lụt vàmất điện Động đất gây ra thiệt hại phi cấu trúc, chẳng hạn như mất điện, thiệthại nước từ các đường ống bị vỡ, vòi phun nước và bồn chứa trên mái nhà bị
vỡ, phá hủy vật tư và hệ thống thông gió hư hỏng dẫn đến việc sơ tán ít nhất
26 BV Ngoài ra như vụ cháy rừng năm 2001 gây ra việc sơ tán hai BV ởNew South Wales (Úc) Nhiều báo cáo tin tức nhấn mạnh sự cố sơ tán BVtrong hậu quả của cơn bão nhiệt đới Allison (2001) và cơn bão Katrina (2005)[37]
Trang 18Thời gian gần đây hơn là vào năm 2009, có 5 BV ở Luân Đôn đã phải
sơ tán một phần hoặc toàn bộ bệnh nhân nội trú, người chăm sóc và NVYT
Sơ tán BV Mater Misericordiae ở Dublin do lũ lụt năm 2009 Trận động đấtnăm 2009 ở Sicily bắt buộc phải sơ tán một BV mới được xây dựng do longại rằng nó không thể hoạt động an toàn [37] Các vụ sơ tán đều có ghi nhậnthiệt hại và ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh Vì vậy nếu các BV đảmbảo được sự an toàn trong thiên tai sẽ không cần thiết phải sơ tán ảnh hưởngđến sức khỏe của người bệnh
Các sự kiện thiên tai, thảm họa ảnh hưởng đến ngành y tế tại Việt Nam
Theo thống kê của Ban Chỉ đạo Phòng chống Lụt bão Trung ương,trong 5 năm cuối của thế kỷ 20, bão lụt đã làm chết 12.000 người, nhấn chìm15.000 tàu thuyền, cuốn trôi và đổ gần 8 triệu ngôi nhà Điển hình như thảmhọa do cơn bão Linda, năm 2007 trên vùng biển Kiên Giang - Cà Mau, làmchết 1.029 người Lũ đặc biệt lớn ở Nam Trung Bộ xảy ra vào năm 1999 làmchết 780 người
Cho tới những năm đầu của thế kỷ 21, tính từ năm 2002 đến 2010, tầnsuất và mức độ trầm trọng của thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng, qui
mô thiên tai lan rộng khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam với đủ các loại hình
từ lũ quét, bão, lụt và sạt lở đất Số đợt bão lũ và cường độ ngày càng giatăng Cùng với sự gia tăng của thiên tai, số các trường hợp tử vong và thươngtích do bão lũ gây nên cũng càng ngày càng gia tăng Căn cứ theo kết quả củaBáo cáo điều tra tác động thiên tai, tại 19 tỉnh thành, trong một thập kỷ từ
1996 đến 2006, 6.353 người chết; 2.753 người mất tích (coi như đã chết) và7.647 người bị thương do các nguyên nhân trực tiếp của thiên tai Năm 1996,
1997, 1998, 1999, 2005, 2006 và 2007 là những năm có số các trường hợp tử
Trang 19xảy ra Năm 1997 có số thiệt hại cao nhất là 4.700 người (chủ yếu do cơn bãoLinda) tiếp theo là năm 2006 với 2.678 người (do bão ChanChu vàXangXan) Nếu thống kê đầy đủ tại cộng đồng, số người bị thương đến các cơ
sở y tế còn cao hơn con số thống kê này Năm 2008 là năm có “6 kỷ lục vềmưa, bão và lũ”, làm 550 người chết và mất tích và liên tục xảy ra dịch tiêuchảy cấp, sốt xuất huyết, sởi, thủy đậu Tháng 10/2010, các tỉnh miền Trungcũng đối mặt với trận lũ lụt lịch sử, làm ít nhất 76 người tử vong trong 1 tuần
Đối với các thiên tai thường gặp trên thế giới, mỗi loại thiên tai sẽ đểlại những mức độ nguy cơ khác nhau trong bùng phát các bệnh truyền nhiễm.Trong bối cảnh thiên tai của Việt Nam, số liệu cho thấy một số nguy cơ dịchbệnh truyền nhiễm như cúm, tiêu chảy, sốt xuất huyết v.v… đã xuất hiệntrong và sau thiên tai như bão, lũ lụt
Tác động của thiên tai đối với cơ sở vật chất ngành Y tế
Số liệu về tác động của thiên tai đối với các cơ sở y tế cho thấy, từ năm
1996 đến 2008 đã có 745 cơ sở y tế bị đổ trôi và 8.954 cơ sở bị hư hại dothiên tai Số lượng cơ sở y tế thiệt hại nhiều vào những năm có nhiều thiên taixảy ra như năm 1996, 1999, 2000 và 2007 Nguyên nhân thiệt hại của các cơ
sở y tế chủ yếu là do bão, lốc tố nhiều hơn là do lũ lụt Tổng cộng có 135bệnh viện, bệnh xá bị trôi, sập đổ hoàn toàn do lũ lụt (20%) và 552 bệnh viện,bệnh xá bị sập đổ do bão, lốc tố và áp thấp nhiệt đới (80%) Việc chuẩn bị cơ
sở vật chất cần thiết cho việc đảm bảo các dịch vụ y tế và việc nâng cao nănglực chuyên môn của cán bộ làm công tác này cần đặc biệt chú trọng trong tìnhhuống thiên tai [30]
Báo cáo tình hình thiệt hại tại tỉnh Quảng Bình sau đợt mưa lũ năm
2016, kết quả cho thấy 100% cơ sở y tế bị ảnh hưởng, 80 trạm y tế bị ngậpnước Phần lớn các trạm y tế, trung tâm y tế dự phòng nước tràn, thấm dột, vỡ
Trang 20cửa kính, hệ thống điện nước bị hỏng, thuốc ở các đơn vị bị ướt, các thiết bịmáy siêu âm, máy xét nghiệm bị ẩm và tổng thiệt hại ước tính lên đến 40 tỷđồng Về hoạt động tổ chức khám chữa bệnh, phương tiện cứu hộ (xe cấpcứu, xe vận chuyển) của lưc lượng y tế không có nên không thể chủ động ứngcứu cho người bệnh Ngoài ra, ở những trạm y tế bị ngập, hư hỏng, mất điệndiện rộng, môi trường bị ảnh hưởng nên công tác khám chữa bệnh cho ngườidân rất khó khăn [19].
Trong năm 2019, tại tỉnh Bình Định thiên tai chính ảnh hưởng đếnngành Y tế là cơn bão số 5 và số 6 cuối tháng 10 và tháng 11 Thiệt hại đượcbáo cáo bao gồm 01 bệnh viện, 03 trung tâm y tế và 03 trạm y tế thiệt hại mộtphần (dưới 30%) do vỡ cữa kính, tốc mái, ngã tường rào, sập trần thạch cao,
bể bảng hiệu và nhiều thiệt hại khác, ước tính thiệt hại 930 triệu đồng Bệnhviện đa khoa tỉnh thì hư hỏng máy giặt của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn,thang máy hư, vỡ đường ống dẫn nước; ước tính thiệt hại 420 triệu đồng [21]
Năm 2020, các tỉnh miền Trung liên tiếp xảy ra thiên tai kéo dài với cáccơn bão và áp thấp đổ bộ liên tục vào đất liền, trong đó có cơn bão số 9 (ngày
26, 27 và 28 tháng 10) là một trong hai cơn bão mạnh nhất trong 20 năm qua.Cùng với đó, mưa lớn dị thường ở nhiều nơi làm mực nước sông lên trên
3000 mm và cao nhất là ở A Lưới - Thừa Thiên Huế mực nước lên tới 4526
mm gây hậu quả nặng nề Ngập lụt toàn vùng hạ du và sạt lở đặc biệt nghiêmtrọng toàn tuyến đồi núi ở các khu vực này Có hơn 2000 ngôi nhà bị sập; 239
340 nhà bị hư hại, tốc mái và hơn 473.450 lượt nhà bị ngập nước.Về nôngnghiệp, nhiều het-ta hoa màu bị thiệt hại cùng với hàng triệu gia súc, gia cầm
bị chết và cuốn trôi Về y tế, 459 cơ sở y tế bị ngập, gây hư hỏng và khôngcòn hoặc giảm khả năng thu dung điều trị [8]
Trang 21Trong đó tại Quảng Trị, có khoảng 50% trạm y tế xã bị ngập lụt, trong
đó có 40 trạm y tế bị ngập nặng, nhiều trạm bị lún nền, sập tường rào, hệthống mái che bị thấm dột, hư hỏng nhiều trang thiết bị, vật tư y tế… đã ảnhhưởng không nhỏ đến công tác khám chữa bệnh tại cơ sở Đặc biệt, trạm y tế
xã Hướng Việt, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) bị ngập trong bùn nhão Côngtác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân nơi đâyđang bị ảnh hưởng nặng do một số trang thiết bị, cơ sở vật chất của trạm y tế
bị hư hỏng hoàn toàn [23] Tại tỉnh Quảng Ngãi có 70 cơ sở y tế bị tốc mái,
hư hỏng nhẹ [9]
Hình 1.1: Hình ảnh ngập trong nước của trạm y tế xã Cam Thủy
Tại Quảng Bình nhiều cơ sở y tế cũng đã bị thiệt hại nặng nề Theo báocáo có 42 trạm y tế xã bị tàn phá và nhiều trạm y tế khác bị cô lập, ngập lụttrong nước, đặc biệt là 2 bệnh viện đa khoa ở 2 huyện Quảng Ninh và LệThủy chịu thiệt hại nặng nhất Người dân không thể tiếp cận được do nước lũ,khiến cho người bệnh không được chăm sóc y tế cơ bản và người dân không
Trang 22được phòng bệnh, đây là một công việc rất quan trọng trong thời điểm nguy
cơ dịch bệnh gia tăng [28] Tương tự, toàn ngành Y tế Hà Tĩnh có gần 50 cơ
sở y tế bị ngập, trong đó có 1 bệnh viện, 1 trung tâm y tế Do ngập lụt nênmột số trang thiết bị y tế bị hư hỏng nặng Thống kê toàn ngành có 60 bộ máytính, 60 bộ máy in, 50 bộ bàn ghế, 10 tủ lạnh, 10 tủ sấy, 2 bộ hệ thống phátđiện; 1 hệ thống máy chủ, 1 hệ thống lò đốt rác; 3 hệ thống máy chụp Xquang, 2 máy giặt công nghiệp, 15 máy lọc nước, 4 hệ thống hấp sấy, 3 ô tôcứu thương bị hư hỏng nặng, tổng thiệt hại ước tính gần 25 tỷ đồng [23]
1.2 Một số khái niệm và thông tin về BVAT
Giới thiệu về BVAT
Tổ chức y tế thế giới (WHO) khái niệm BVAT là cơ sở có dịch vụ có thểduy trì khả năng tiếp cận và hoạt động ở công suất tối đa với cùng cơ sở hạtầng, trước, trong và ngay sau khi tác động của trường hợp khẩn cấp và thảmhọa [52] Khi thiên tai thảm họa xảy ra, một BVAT sẽ không sụp đổ; có thểtiếp tục hoạt động và cung cấp các dịch vụ của nó như một cơ sở cộng đồngquan trọng khi cần thiết nhất; và được tổ chức với các kế hoạch dự phòng tạichỗ và đội ngũ NVYT được đào tạo để giữ cho mạng lưới hoạt động [39]
Sự cần thiết của BVAT
BV đóng vai trò quan trọng trong việc khám chữa bệnh cho người dânkhông chỉ trong điều kiện bình thường, mà còn trong điều kiện có thiên tai,thảm họa xảy ra BVAT sẽ đảm bảo việc chuẩn bị sẵn sàng đáp ứng với thảmhọa nên có khả năng giảm mức độ thiệt hại và duy trì hoạt động hiệu quảtrong tình huống thảm họa của BV BV gặp phải các sự cố sau thảm họa sẽảnh hưởng không nhỏ đến dịch vụ y tế, tổn thất chức năng hoạt động của BV
đó, chỉ một tỷ lệ nhỏ các BV có khả năng khắc phục sau thảm họa mà không
Trang 23Cụ thể, 67% trong số khoảng 18.000 BV của Châu Mỹ nằm trong vùng
có thiên tai Theo thống kê của Tổ chức Y tế toàn Châu Mỹ, khoảng 24 triệungười không có dịch vụ y tế trong nhiều tháng và đôi khi trong nhiều năm doảnh hưởng trực tiếp từ kết quả của thiệt hại thảm họa Tại khu vực Châu Mỹ,người ta ước tính rằng một BV không hoạt động sẽ khiến 200.000 ngườikhông được chăm sóc sức khỏe [53],[52] Theo một báo cáo của Ủy ban Kinh
tế Liên Hợp Quốc ở vùng Châu Mỹ Latin và vùng Caribe, cho thấy thiệt hại
về cơ sở hạ tầng y tế do thiên tai lên đến 3,12 tỷ đô la trong thời gian 15 năm[52] Các tổn thất này làm cho nhiều người dân không tiếp cận được với cácdịch vụ y tế hằng ngày
Một lợi ích khác khi thiết lập một BVAT đó là các biện pháp can thiệpngăn chặn sự tổn thất về chức năng sẽ ít tốn kém hơn nhiều so với việc khắcphục hậu quả của cả BV sau thảm họa BV được xây dựng không tính đến cácmối nguy hiểm tự nhiên và thiếu bảo trì khi bị bỏ quên, hệ thống sẽ xấu đitheo thời gian Do đó, điều quan trọng là phải xác định mức độ an toàn của
BV nếu thảm họa xảy ra Đó là một phần của chiến lược giảm rủi ro tronglĩnh vực y tế, đánh giá BVAT, xác định các yếu tố cần ưu tiên các can thiệptrong các BV như loại hình BV, tuyến BV hoặc vị trí của chúng, điều này rấtcần thiết ở trong và sau thảm họa [52]
Mục tiêu của BVAT
WHO đã đưa ra chương trình BVAT nhằm đảm bảo các mục tiêu như:cho phép các BV hoạt động liên tục và cung cấp mức độ chăm sóc sức khỏethích hợp và bền vững trong và sau các trường hợp khẩn cấp và thiên tai; bảo
vệ NVYT, bệnh nhân và gia đình; bảo vệ tính toàn vẹn vật lý của các tòa nhà
BV, thiết bị và các hệ thống BV quan trọng; giúp BVAT và kiên cố với cácrủi ro trong tương lai, bao gồm cả biến đổi khí hậu Chương trình BVAT đảm
Trang 24bảo các cơ sở y tế sẽ không chỉ đứng vững trong trường hợp khẩn cấp và thiêntai mà còn hoạt động hiệu quả và không bị gián đoạn Các trường hợp khẩncấp và thiên tai đòi hỏi phải tăng khả năng điều trị và BV phải sẵn sàng để sửdụng tối ưu các nguồn lực hiện có của nó BV cũng phải đảm bảo rằng nhânviên được đào tạo có sẵn để cung cấp điều trị một cách chất lượng và côngbằng cho những thương vong và số người sống sót trong trường hợp khẩncấp, thiên tai và các cuộc khủng hoảng khác [52].
Chỉ số đánh giá BVAT
Một trong các hoạt động quan trọng để đạt những mục tiêu trên, mục tiêucủa BVAT, chính là thiết lập, phát triển chỉ số để đánh giá BVAT Nghiêncứu tính an toàn BV cụ thể thường bao gồm phân tích sâu về mối nguy hiểm
và những lỗ hổng cấu trúc, phi cấu trúc và tổ chức Thông thường, BV sẽ mấtmột khoảng thời gian nhất định và tốn nhiều chi phí để hoàn thành xây dựngmột BVAT mất vài tháng để hoàn thành và chi phí cho BV
Chính vì vậy, sự phát triển của chỉ số để đánh giá BVAT là một bước rấtquan trọng Tổ chức Y tế toàn Châu Mỹ, nhóm Tư vấn Giảm nhẹ thiên tai vàcác chuyên gia trong nước cùng nhau đưa ra một phương pháp đánh giánhanh chóng và không tốn kém cho các BV Chỉ số dùng đánh giá BVATkhông chỉ ước tính năng lực hoạt động của một BV trong và sau một trườnghợp khẩn cấp, mà còn cung cấp các phạm vi giúp các cơ quan xác định cơ sởnào cần khẩn trương nhất can thiệp Ưu tiên có thể can thiệp được tập trungvào cơ sở y tế được xác định là có nguy cơ thảm họa, hoặc dành cho cơ sở y
tế mà thiết bị có nguy cơ hoặc nơi cần bảo trì [52]
Trang 25Bộ công cụ đánh giá BVAT của WHO
Bộ công cụ này đánh giá ban đầu sự an toàn của BV và khả năng cungcấp các dịch vụ y tế của BV trong tình huống khẩn cấp và thảm họa Bộ công
cụ bao gồm 151 mục, mỗi mục có 3 mức đánh giá theo thứ tự là an toàn thấp,
an toàn trung bình và an toàn cao Bộ công cụ của WHO được chia thành 4phần mục Phần 1, đánh giá các mối nguy ảnh hưởng đến độ an toàn của BV
và nhiệm vụ vai trò của BV trong việc quản lý tình huống khẩn cấp và thiêntai Phần 2, đánh giá an toàn về cấu trúc Phần 3, đánh giá an toàn về phi cấutrúc Phần 4, đánh giá việc quản lý tình huống khẩn cấp và thảm họa của BV
Bộ công cụ đánh giá BVAT của WHO được coi là bộ công cụ đánh giánhanh, tin cậy và chi phí thấp, được áp dụng tại 145 quốc gia [52],[53]
Bộ công cụ đánh giá BVAT của Bộ Y Tế Việt Nam
Bộ Y tế Việt Nam đã ban hành Bộ công cụ đánh giá BVAT trong tìnhhuống khẩn cấp và thảm họa, theo Quyết định số 4695/QĐ-BYT ngày 21tháng 11 năm 2013 Bộ công cụ gồm 307 tiêu chí (TC), được chia làm 04nhóm: nhóm kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc (59 TC); nhóm phikết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sửdụng (130 TC); nhóm chức năng liên quan đến chính sách, nhân lực (64 TC)
và nhóm chức năng liên quan đến TTB (54 TC) Đây là bộ công cụ đánh giáBVAT áp dụng cho các BV công lập và ngoài công lập tự đánh giá khả năngđáp ứng, đảm bảo an toàn và hoạt động liên tục của BV trong tình huống khẩncấp và thảm họa Bộ công cụ này đã được chỉnh sửa từ bộ công cụ đánh giáBVAT trong tình huống khẩn cấp và thảm họa của WHO, đã loại bỏ đi nhiều
TC không phù hợp với hoàn cảnh BV tại Việt Nam [5]
Trang 261.3 Tình hình nghiên cứu BV an toàn trên thế giới
Hàng loạt các nghiên cứu về đánh giá BVAT được thực hiện tại cácnước có khu vực dễ bị tổn thương do thiên tai thảm họa, cho thấy không có
BV nào được xếp vào BVAT mức độ cao, hầu hết các BV đạt mức an toànthấp hoặc an toàn trung bình Nghiên cứu đánh giá 224 BV tại Iran năm 2014,
áp dụng bộ công cụ HSI cho thấy, có 122 BV được phân loại là an toàn thấp
và 102 BV được phân loại là an toàn trung bình Không có BV nào được xếpvào loại an toàn cao Điểm an toàn trung bình dựa trên thang điểm 100: chothành phần chức năng là 27,3 (± 14,2 SD), đối với thành phần phi cấu trúc36,0 (± 13,9 SD) và cho thành phần cấu trúc 36,0 (± 19,0 SD) [33]
Đến năm 2016, một nghiên cứu khác được đánh giá trên 421 BV tại Irancũng cho kết quả tương tự Dữ kiện được thu thập dựa trên sự đánh giá các ủyban thiên tai của BV cho thấy điểm trung bình của tất cả các thành phần antoàn là 43,0 trên 100 (± 11.0) 82/421 BV (19,4%) được phân loại là không antoàn, và 339 BV (80,6%) được xếp vào loại an toàn trung bình Không có BVnào được xếp vào hạng mục an toàn cao Điểm an toàn trung bình là 41,0;47,0 và 42,0 cho năng lực chức năng, an toàn phi cấu trúc và an toàn cấu trúctương ứng Điểm số an toàn trung bình tăng từ năm 2012 đến năm 2015, từ34,0 lên 43,0 [35]
Tương tự kết quả nghiên cứu tại hai BV tại Qazvin (Iran) cho thấy điểm
số BVAT đạt mức cao 71,90 Các chỉ số về thuốc thiết bị, cấp nước và cácnguồn lực cần thiết trong điều kiện khẩn cấp đạt điểm số cao (85%) và các chỉ
số đạt điểm số thấp liên quan đến kế hoạch dự phòng hoạt động y tế (19%).Điểm số an toàn về chức năng, kết cấu và phi cấu trúc được đánh giá tươngứng lần lượt là 60,20% (an toàn trung bình), 67,61% (độ an toàn cao) và76,16% (độ an toàn cao) [36]
Trang 27Các khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai, Chính phủ cũng như nhàchính sách y tế tại các nước này sẽ thường nghĩ tới thiết lập các BVAT Năm
2010, Slovenia và Croatia đã trải qua một lượng mưa lớn bất thường làm thiệthại đến năng lượng, nước, giao thông, giáo dục và các bộ phận y tế Khinhững thiệt hại về người xảy ra, nơi người dân ở những nước này nghĩ tới là
BV an toàn Tuy nhiên, vấn đề lớn xảy ra là những BV này rất cũ kỹ và bịgiới hạn về cấu trúc nên thiếu không gian cũng như nhu cầu cho người dân[50]
Vì vậy, bảo vệ các cơ sở y tế từ thảm họa là điều cấp thiết đối với hainước này bằng cách bao gồm giảm rủi ro trong thiết kế xây dựng cho tất cả cơ
sở y tế mới, và bằng cách giảm lỗ hổng trong y tế hiện có thông qua việc lựachọn và trang bị thêm cho những nơi trọng điểm nhất Thêm vào đó là tăngcường năng lực cho các cộng đồng địa phương để phản ứng nhanh trong việcbảo vệ các cơ sở y tế và để giảm ảnh hưởng của hậu quả trong trường hợpthiên tai Trong khi Serbia khẩn cấp bắt đầu làm việc về kế hoạch hành độngquốc gia về thích ứng với Chiến lược ứng phó trong trường hợp khẩn cấp, thìCroatia đã triển khai thực hiện các khuyến nghị của WHO, như là một nguồntài nguyên hữu ích để đánh giá hoạt động của hệ thống y tế với mục tiêu và hỗtrợ của Bộ Y tế và Phúc lợi xã hội trong việc xác định các điểm mạnh, điểmyếu và khoảng trống trong cuộc khủng hoảng chuẩn bị các hệ thống y tế [45].Theo nghiên cứu năm 2011 về sự chuẩn bị của BV trong việc ứng phócác trường hợp khẩn cấp ở Mỹ (lấy số liệu năm 2008), gần như tất cả các BV
đã có kế hoạch đáp ứng cho chất thải hoá học, thiên tai, dịch bệnh, và sự cốsinh học Một nửa số BV đã điều chỉnh tiêu chuẩn chăm sóc, cho bố trí quạtthông gió cơ khí Mặc dù hơn một nửa số BV đã tổ chức cuộc diễn tập về dịchbệnh, nhưng chỉ có một phần ba có bao gồm phân phối thuốc và vắc-xin với
Trang 28số lượng lớn Hầu hết các BV đã có bản ghi nhớ phối hợp với các BV kháctrong việc vận chuyển người trong một bệnh dịch, nhưng BV lại ít có bản ghinhớ phối hợp cho khoa nhi và khoa bỏng Khoảng một nửa số BV cung ứngnhu cầu của trẻ em và người khuyết tật trong trường hợp khẩn cấp Do đó xâydựng một BVAT trong trường hợp khẩn cấp và thảm họa là điều cấp thiếttrong xã hội hiện đại [51].
Năm 2017, Bộ y tế Cộng Hòa Slovakia và WHO thực hiện đánh giá chỉ
số BVAT để cải thiện an toàn và đảm bảo chức năng hoạt động của các BVtrong và sau các tình huống khẩn cấp Nghiên cứu được thực hiện trên 70 BVđược chọn từ 5 nhóm BV được chọn từ 5 tỉnh khác nhau Kết quả cho thấykhông có BV nào đạt xếp loại BVAT tốt; 44,3% BV được xếp loại BVATmức trung bình và 55,7% xếp lại thấp thấp [54]
1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến BVAT tại Việt Nam
Cơ sở y tế bao gồm cả các BV tỉnh, BV huyện và các trạm y tế xã cónguy cơ bị ảnh hưởng bởi thiên tai chiếm tỷ lệ tương đối cao Đánh giá tính
dễ tổn thương của các cơ sở y tế đối với thiên tai (bão, lụt và sạt lở đất) đãđược tiến hành tại 4 tỉnh gồm: Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và KonTum vào năm 2009 cho thấy có gần 51% cơ sở y tế nằm ở khu vực thấp hoặcgần sông, suối có nguy cơ ngập lụt và 18% ở vị trí có nguy cơ sạt lở đất.Nghiên cứu này cũng thống kê cho thấy, từ năm 2004 – 2008, trung bình mỗi
cơ sở y tế tuyến tỉnh, huyện chịu ảnh hưởng bởi bão, lụt ít nhất một lần.Khoảng 5% cơ sở y tế tuyến tỉnh và huyện từng bị ảnh hưởng 5 lần và gần10% tuyến trạm y tế xã cũng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai này Chủ yếu thiêntai gây ảnh hưởng đến các cơ sở y tế là lũ lụt, chiếm tỷ lệ 50% trong tổng sốlần ảnh hưởng [13]
Trang 29Đánh giá tình hình thiệt hại của các cơ sở y tế sau tất cả các thiên tai xảy
ra tại Việt Nam có thể thúc đẩy chương trình BVAT Tuy nhiên việc đánh giámức độ thiệt hại chỉ dừng lại ở báo cáo số lượng các cơ sở y tế bị thiệt hại,chưa đánh giá mức độ thiệt hại chi tiết cơ sở y tế sau thiên tai [2] Theo hồicứu chỉ tìm thấy một báo cáo đánh giá mức độ thiệt hại sau cơn bão số 9, tênquốc tế là cơn bão Ketsana, năm 2009, tại 04 tỉnh bao gồm Quảng Trị, QuảngNam, Quảng Ngãi và Kon Tum, là bốn tỉnh bị ảnh hưởng nhất do cơn bão.Nghiên cứu cho thấy, 244/838 tổng cơ sở y tế của 4 tỉnh này bị thiệt hại,chiếm gần 30%, trong đó có một Trạm Y tế bị phá hủy hoàn toàn và các cơ sở
y tế khác bị thiệt hại ở mức độ nhẹ và vừa Tuyến trạm y tế xã bị thiệt hại47%, BV tuyến tỉnh và huyện bị thiệt hại 26% tổng giá trị thiệt hại của tất cảcác cơ sở y tế Ước tính tổng thiệt hại của của các cơ sở y tế khoảng 19,536 tỷđồng, trong đó Quảng Ngãi bị thiệt hại cao nhất 10,877 tỷ đồng và thấp nhất
là tỉnh Kon Tum 3,422 tỷ đồng Nhóm nghiên cứu nhận định, các cơ sở y tếcần được thực hiện đánh giá tính dễ tổn thương thường xuyên hơn và tăngcường biện pháp cải thiện nhằm làm giảm tính dễ tổn thương và tăng mức độ
an toàn của cơ sở y tế trong tình huống thiên tai [14]
Một nghiên cứu được tiến hành năm 2011 về đánh giá BVAT trong tìnhhuống thảm họa tại 4 BV ở thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Kết quả chothấy hầu hết các BV đều có tỷ lệ đạt BVAT chưa cao trước thảm họa nhưnhóm chỉ số kết cấu có tỷ lệ đạt trung bình từ 56,3% ; nhóm chỉ số phi kết cấuđạt từ có tỷ lệ đạt trung bình từ 62,3 và nhóm chỉ số chức năng đạt từ 64,3%.Nghiên cứu nhận định, các BV cần được nâng cao tỷ lệ đạt ở nhóm chỉ sốchức năng, đặc biệt ở các BV tuyến huyện Hai BV tuyến huyện trong nghiêncứu có tỷ lệ đạt trong nhóm chức năng thấp hơn so với BV tuyến Trung ương
và tuyến thành phố [15]
Trang 30Nghiên cứu khác tại 02 tỉnh miền Trung và 01 tỉnh miền Nam năm 2011,cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu này thực hiện với số lượng BV lớnhơn, trên 33 BV của 03 tỉnh bao gồm Quảng Ngãi, Phú Yên và Bạc Liêu chothấy, chỉ số an toàn về cấu trúc có khoảng một phần ba số BV của ba tỉnh(12/33) nằm trong khu vực nguy hiểm, được xây dựng trên vùng lũ và bão lụt.Chỉ có 6/33 BV có vật liệu làm trần được xử lý và sơn chống cháy Có rất ít
BV có hệ thống vách ngăn làm bằng chất liệu chịu lửa (8/20 BV) Cửa sổ vàcửa ra vào của BV hầu hết được làm bằng kính mỏng với khung nhôm, do đókhông đủ mạnh để chống lại tốc độ gió cao Tại nghiên cứu này cũng cho kếtquả, tỷ lệ đạt về chỉ số phi cấu trúc thấp Cụ thể, chỉ có 8/18 BV đạt tiêuchuẩn về kích cỡ biển báo thoát hiểm và 7/26 BV có bảng chỉ dẫn thoát hiểm
có đèn sáng Có 12 BV có các quy trình thông tin truyền thông với cộng đồng
và thông tin đại chúng Về khả năng ứng phó của BV với dịch bệnh truyềnnhiễm chỉ có 12 BV có khu vực đánh giá hoặc phân loại tất cả bệnh nhânnhập viện và có kế hoạch huy động bổ sung nhân viên trong quá trình xảy rabệnh truyền nhiễm và chỉ có 3 BV có khu vực cách ly với phòng kiểm soát ápsuất không khí [12]
Nhóm chỉ số chức năng có tỷ lệ BV đạt chuẩn thấp hơn so với hai nhómcòn lại, nhóm chỉ số cấu trúc và phi cấu trúc Năm 2012, một nghiên cứu đã
áp dụng bộ công cụ đánh giá BVAT trong tình huống khẩn cấp và thảm hoạnhằm mô tả khả năng sẵn sàng đáp ứng với tình huống khẩn cấp / thảm họa vàứng phó với biến đổi khí hậu của 02 BV tuyến tỉnh khu vực Tây Nguyên: tỉnhBình Phước và tỉnh Đắk Lắk Kết quả tại BV Bình Phước cho thấy nhóm chỉ
số phi kết cấu liên quan đến hệ thống thiết bị công trình đạt tỷ lệ 88% cao hơnnhóm chỉ số về chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực đạt tỷ lệ 75%.Các lĩnh vực mà BV cần tập trung triển khai như hoạt động đào tạo, diễn tập
Trang 31Tại BV đa khoa Đắk Lắk: nhóm chỉ số phi kết cấu đạt cao nhất đạt 93% trongkhi đó nhóm chỉ số chức năng chỉ đạt 70% [17].
Một nghiên cứu khác vào năm 2015 tiến hành tại 7 BV huyện và thànhphố tỉnh Quảng Bình Kết quả cũng cho thấy 100% BV đều không đảm bảo
an toàn khi có tình huống khẩn cấp và thảm họa xảy ra Nhóm chỉ số chứcnăng liên quan đến các chính sách và nhân lực có tỷ lệ đạt đầy đủ thấp (27%)
so với nhóm chỉ số kết cấu và phi kết cấu liên quan kiến trúc (42%) và nhómchỉ số phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn chongười sử dụng (40%) [3]
Mặc dù có nhận định khả năng chăm sóc sức khoẻ ban đầu của hệ thống
y tế nói chung ở Việt Nam, đặc biệt vùng nông thôn không tương xứng choviệc chuẩn bị và ứng phó với các cơn bão hoặc lũ quét liên quan đến sức khoẻtrong việc ngăn ngừa và điều trị [46], tuy nhiên một số dẫn chứng cho kết quảngược lại, BV ngoại thành có số lượng đạt TC BVAT cao hơn BV nội thành.Dẫn chứng, đánh giá điều kiện cơ sở vật chất các BV tại 6 quận huyện thấyrằng nhóm BV ngoại thành có số lượng TC đạt cao hơn nhóm BV nội thành.Nhóm tiêu chí kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc thì BV ngoạithành đạt 93% đến 100%, trong khi đó BV nội thành có tỷ lệ cao nhất chỉ đạt78%
Về TC phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB an toàn cho người sửdụng, tỷ lệ cao nhất là một BV ngoại thành đạt 99% và tỷ lệ thấp nhất là 45%cũng ở một BV ngoại thành Tỷ lệ trung bình TC chức năng liên quan đếnchính sách và nhân lực, các BV ngoại thành đạt 31% và cao hơn so với các
BV nội thành là 24% Thêm vào đó, tỷ lệ đạt về TC chức năng liên quan đếnTTB ở BV ngoại thành cũng cao hơn BV nội thành với tỷ lệ lần lượt là 33%
và 22% [18]
Trang 32Một nghiên cứu gần đây nhất vào năm 2019 về khả năng đáp ứng antoàn của 36 BV công lập trên địa bàn TP.HCM có các kết quả sau, tỷ lệBVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc là 2,8%; tỷ lệ BVAT
về kết cấu chiếm tỷ lệ là 13,9%; tỷ lệ BVAT phi kết cấu về kiến trúc là 8,3%.Không có BV đạt BVAT về kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trìnhđảm bảo an toàn cho người sử dụng Tỷ lệ đạt BVAT về chức năng liên quanđến chính sách và nhân lực là 5,6%; tỷ lệ BVAT về theo dõi và đánh giá là25% Tỷ lệ BVAT về khả năng luân chuyển nội bộ và tỷ lệ BVAT về nguồnnhân lực có tỷ lệ bằng nhau là 11,1% Tỷ lệ BVAT về chức năng liên quanđến TTB là 13,9%; tỷ lệ BVAT về trang thiết bị và tỷ lệ BVAT về hệ thốnghậu cần, dịch vụ thiết yếu và tỷ lệ BVAT về hệ thống đảm bảo an toàn, anninh đều là 30,6% Ngoài ra, trong nghiên cứu này tác giả không tìm đượcmối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa các TC BVAT với đặc điểm của các
BV [2]
1.5 Giới thiệu về tỉnh Bến Tre
Bến Tre là một tỉnh ven biển, nằm ở phía Đông Nam Đồng bằng sôngCửu Long, giữa hạ lưu các sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông và sông Cổ Chiên;diện tích tự nhiên 236.020 ha với hơn 1,2 triệu người sinh sống Phía Bắc tỉnhBến Tre giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía Tây vàNam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, có ranh giới chung là sông CổChiên, phía Đông giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km; được bao bọc
và chia cắt thành ba dải cù lao gồm: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và cù laoMinh Với vị trí địa lý tự nhiên nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho BếnTre trong phát triển cả kinh tế vườn và kinh tế biển, đồng thời cũng tạo choBến Tre nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai như: Bão, ápthấp nhiệt đới; sạt lở bờ sông, bờ biển; hạn hán, xâm nhập mặn
Trang 33Tỉnh Bến Tre có 09 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 1 thành phốBến Tre là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh và 8huyện, với 157 xã, phường, thị trấn Phần lớn người dân sống ở nông thônchiếm trên 90% Về y tế, toàn tỉnh có tất cả 186 cơ sở y tế, với 4.480 giườngbệnh và 3.400 bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng,… 100% xã, phường, thị trấn có cơ sở
y tế [30]
Hình 1.2: Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre
Trang 341 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: tháng 2/2021 đến tháng 6/2021
Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Tỉnh Bến Tre
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí chọn vào: các BV công lập và BV tư nhân thuộc quản lý của Sở
Y tế tỉnh Bến Tre trên địa bàn tỉnh Bến Tre
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu
Số liệu được thu thập thông qua bộ công cụ đánh giá BVAT trong tìnhhuống khẩn cấp và thảm họa ban hành kèm theo Quyết định số 4695/QĐ –
Trang 35BYT ngày 21 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế bao gồm 307 tiêuchí chia 4 nhóm [5] (phụ lục 1):
Nhóm A: TC kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc (59 TC)
Nhóm B: TC phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảmbảo an toàn cho người sử dụng (130 TC)
Nhóm C: TC chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực (64 TC)
Nhóm D: TC chức năng liên quan đến TTB (54 TC)
Kỹ thuật thu thập số liệu
Lập đội khảo sát đánh giá tới từng BV để đánh giá các tiêu chí trong bộcông cụ thu thập số liệu Đoàn đánh giá gồm các thành viên như sau: tác giảLại Nguyễn Lê Dương; 01 chuyên gia xây dựng - phòng cháy chữa cháy mờitheo yêu cầu; 01 đại diện của BV (nhân viên phòng Kế hoạch tổng hợp) Nhưvậy đoàn khảo sát gồm ít nhất 3 thành viên tham gia do tác giả Lại Nguyễn LêDương làm trưởng đoàn
Tác giả sẽ tiếp cận, gửi thư mời đến ban lãnh đạo các BV và mời các BVtham gia nghiên cứu Sau khi BV đồng ý tham gia nghiên cứu đoàn khảo sát
sẽ đến đánh giá trưc tiếp tại từng BV theo bảng kiểm bộ công cụ đánh giáBVAT của Bộ y tế
2.5 Định nghĩa các biến số
Đặc tính mẫu (biến số nền)
Quy mô BV: là quy mô độ lớn của BV, được tính bằng số lượng
giường bệnh của BV, là biến thứ tự gồm có 3 giá trị:
- Từ 100 giường đến 299 giường
- Từ 300 giường đến 499 giường
- Từ 500 giường trở lên
Trang 36 Tuyến BV: là tuyến cấp bậc hành chính của BV, là biến danh định
Hạng BV: là hạng của BV theo quy định của Bộ Y tế được chia làm 5
cấp độ tại tỉnh Bến Tre, là biến thứ tự gồm có 5 giá trị:
TC kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc (nhóm A)
Nhóm A - TC BVAT về kết cấu và phi kết cấu liên quan đến kiến trúc: là
biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 2nhóm tiêu chí A1 và A2
Phần A1: Các TC về kết cấu của BVAT
1 Vị trí xây dựng công trình và khả năng tiếp cận các BV và cơ sở y tế: làbiến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 8
TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A1-1-mục a-h)
2 Thiết kế: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạtkhi BV đạt đủ 5 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A1-2-mục a-e)
Trang 373 Kết cấu: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạtkhi BV đạt đủ 6 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A1-3-mục a-f).
4 Giấy phép xây dựng và cấp phép: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt vàchưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 2 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A1-4-mục a-b)
Các TC về kết cấu của BVAT (A1): là biến nhị giá gồm có 2 giá trị
đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 4 TC đánh giá trên
Phần A2: Các TC phi kết cấu về kiến trúc
1 An toàn mái: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đóđạt khi BV đạt đủ 5 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-1-mục a-e)
2 An toàn trần: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đóđạt khi BV đạt đủ 5 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-2-mục a-e)
3 An toàn cửa và lối vào: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt.Trong đó đạt khi BV đạt đủ 12 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-3-mụca-l)
4 An toàn cửa sổ và cửa chớp: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 3 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-4-mục a-c)
5 An toàn tường và vách ngăn: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt vàchưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 4 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-5-mục a-d)
6 An toàn của các yếu tố bên ngoài: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt vàchưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 4 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-6-mục a-d)
7 An toàn của vật liệu lát sàn: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 5 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-A-A2-7-mục a-e)
Trang 38 Các TC phi kết cấu về kiến trúc (A2): là biến nhị giá gồm có 2 giá trị
đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 7 TC đánh giá trên
TC BVAT về phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng (Nhóm B):
Nhóm B – TC BVAT về phi kết cấu liên quan đến hệ thống TTB công trình đảm bảo an toàn cho người sử dụng: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị
đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 3 nhóm tiêu chí B1, B2 và B3
Phần B1: Các hệ thống kỹ thuật hạ tầng
1 Hệ thống điện: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong
đó đạt khi BV đạt đủ 18 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B1-1-mục a-r)
2 Hệ thống thông tin liên lạc: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 6 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B1-2-mục a-f)
3 Hệ thống cung cấp nước: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 6 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B1-3-mục a-f)
4 Hệ thống thông khí y tế: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 15 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B1-4-mục a-o)
5 Hệ thống phòng cháy chữa cháy: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt vàchưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 11 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B1-5-mục a-k)
6 Hệ thống thoát hiểm trong tình huống khẩn cấp: là biến nhị giá gồm có
2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 5 TC (nội dung chi tiếtphụ lục 1-B-B1-6-mục a-e)
Trang 397 Hệ thống sưởi, thông khí và điều hòa ở khu vực thiết yếu: là biến nhịgiá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 6 TC (nộidung chi tiết phụ lục 1-B-B1-7-mục a-f).
Các hệ thống kỹ thuật hạ tầng (B1): là biến nhị giá gồm có 2 giá trị
đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 7 TC đánh giá trên
Phần B2: Các thiết bị y tế và phòng thí nghiệm
1 TTB trong phòng phẫu thuật và phòng hồi sức: là biến nhị giá gồm có 2giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đầy đủ 3 TC (nội dung chi tiếtphụ lục 1-B-B2-1-mục a-c)
2 TTB chẩn đoán hình ảnh: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 8 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B2-2-mục a-h)
3 TTB phòng thí nghiệm và các thiết bị hỗ trợ khác: là biến nhị giá gồm
có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 10 TC (nội dung chitiết phụ lục 1-B-B2-3-mục a-j)
4 TTB y tế trong phòng cấp cứu / khoa hồi sức tích cực và các buồngbệnh: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt
đủ 6 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B2-4-mục a-f)
5 TTB y tế ở khoa dược: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt.Trong đó đạt khi BV đạt đủ 4 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B2-5-mục a-d)
6 TTB y tế ở phòng khử trùng: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt vàchưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 4 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B2-6-mục a-d)
7 TTB và các hỗ trợ khác ở khoa y học hạt nhân và phòng điều trị phóng
xạ (áp dụng đối với những BV có khoa / phòng này): là biến nhị giá gồm có 2
Trang 40giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 14 TC (nội dung chi tiếtphụ lục 1-B-B2-7-mục a-n).
Các thiết bị y tế và phòng thí nghiệm (B2): là biến nhị giá gồm có 2
giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đối với BV có đánh giá đủ 7 TC trênthì đạt khi BV đạt đủ 7 TC, đối với BV không đánh giá TC thứ 7 thì đạtkhi BV đạt đủ 6 TC
Phần B3: An toàn và an ninh cho con người, TTB
1 An toàn và an ninh cho nhân viên BV và người bệnh: là biến nhị giágồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 7 TC (nội dungchi tiết phụ lục 1-B-B3-1-mục a-f)
2 An toàn cho đồ đạc, TTB: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưađạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 8 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-B-B3-2-mục a-h)
An toàn và an ninh cho con người, TTB (B3): là biến nhị giá gồm có
2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 2 TC đánh giátrên
TC về chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực (nhóm C)
Nhóm C - TC về chức năng liên quan đến chính sách và nhân lực: là biến
nhị giá gồm có 2 giá trị đạt và chưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 5 nhómTC: C1, C2, C3, C4 và C5
Phần C1: Khả năng luân chuyển nội bộ và khả năng phối kết hợp
1 Khả năng luân chuyển nội bộ: là biến nhị giá gồm có 2 giá trị đạt vàchưa đạt Trong đó đạt khi BV đạt đủ 7 TC (nội dung chi tiết phụ lục 1-C-C1-1-mục a-g)