1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ bortezomib, cyclophosphamide và dexamethasone (vcd) trên bệnh nhân đa u tủy có suy giảm chức năng thận tại bệnh viện chợ rẫy

111 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả điều trị của phác đồ bortezomib, cyclophosphamide và dexamethasone (vcd) trên bệnh nhân đa u tủy có suy giảm chức năng thận tại bệnh viện chợ rẫy
Tác giả Lê Bảo Ngọc
Người hướng dẫn TS. Suzanne Monivong Cheanh Beaupha
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Huyết Học – Truyền Máu
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (18)
    • 1.1. BỆNH ĐA U TỦY (18)
      • 1.1.1. Lịch sử (18)
      • 1.1.2. Định nghĩa (19)
      • 1.1.3. Dịch tễ (20)
      • 1.1.4. Sinh bệnh học (20)
      • 1.1.5. Triệu chứng (22)
      • 1.1.6. Chẩn đoán (25)
      • 1.1.7. Điều trị (27)
      • 1.1.8. Đánh giá đáp ứng sau điều trị (29)
    • 1.2. TỔN THƯƠNG THẬN TRONG BỆNH ĐA U TỦY (30)
      • 1.2.1. Tổng quan (30)
      • 1.2.2. Bệnh sinh (31)
      • 1.2.3. Chẩn đoán (35)
      • 1.2.4. Điều trị (35)
      • 1.2.5. Đánh giá đáp ứng thận với điều trị (36)
    • 1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC (37)
      • 1.3.1. Trong nước (37)
      • 1.3.2. Ngoài nước (37)
    • 2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU (39)
      • 2.1.1. Dân số mục tiêu (39)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh (39)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (39)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (39)
      • 2.2.2. Sơ đồ nghiên cứu (40)
      • 2.2.3. Cỡ mẫu (40)
    • 2.3. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU (41)
      • 2.3.1. Nguồn số liệu (41)
      • 2.3.2. Xử lý số liệu (41)
      • 2.3.3. Định nghĩa các biến số nghiên cứu (42)
    • 2.4. VẤN ĐỀ Y ĐỨC (52)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (53)
    • 3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN (55)
      • 3.1.1. Giới tính (55)
      • 3.1.2. Tuổi (55)
      • 3.1.3. Bệnh đồng mắc (56)
    • 3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN (57)
    • 3.3. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN (57)
      • 3.3.1. Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ (57)
      • 3.3.2. Công thức máu (58)
      • 3.3.3. Sinh hoá (59)
      • 3.3.4. Độ lọc cầu thận ước đoán (60)
      • 3.3.5. Tổn thương xương (61)
      • 3.3.6. Loại M-protein (62)
      • 3.3.7. Đặc điểm di truyền học (62)
      • 3.3.8. Giai đoạn bệnh (0)
    • 3.4. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ (64)
      • 3.4.1. Đánh giá đáp ứng sau 4 chu kỳ (64)
      • 3.4.2. Đánh giá đáp ứng sau 8 chu kỳ (65)
    • 3.5. THỜI GIAN SỐNG CÒN (67)
      • 3.5.1. Thời gian sống còn toàn bộ (67)
      • 3.5.2. Thời gian sống không tiến triển bệnh (68)
    • 3.6. TÁC DỤNG PHỤ (68)
    • 3.7. SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM THEO CÁC PHÂN NHÓM BỆNH NHÂN (69)
      • 3.7.1. So sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ (69)
      • 3.7.2. So sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng thận (72)
  • sau 4 chu kỳ (0)
    • 3.7.3. So sánh tỷ lệ đáp ứng thận theo đáp ứng điều trị (74)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (76)
    • 4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN (76)
      • 4.1.1. Giới tính (76)
      • 4.1.2. Tuổi (76)
    • 4.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN (77)
    • 4.3. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN (78)
      • 4.3.1. Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ (78)
      • 4.3.2. Công thức máu (78)
      • 4.3.3. Sinh hoá (79)
      • 4.3.4. Tổn thương xương (82)
      • 4.3.5. Loại M-protein (82)
      • 4.3.6. Đặc điểm di truyền học (83)
    • 4.4. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ (84)
      • 4.4.1. Đánh giá đáp ứng điều trị (84)
      • 4.4.2. Đánh giá đáp ứng thận (86)
    • 4.5. THỜI GIAN SỐNG CÒN (88)
    • 4.6. TÁC DỤNG PHỤ (89)
    • 4.7. SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM THEO CÁC PHÂN NHÓM BỆNH NHÂN (90)
  • KẾT LUẬN (92)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (95)
  • PHỤ LỤC (101)

Nội dung

Bệnh đa u tủy biểu hiện đặc trưng trên lâm sàngbởi nhiều ổ hủy xương dẫn đến gãy xương bệnh lý và rối loạn chức năng nhiều cơquan, bao gồm: suy thận, thiếu máu, tăng canxi máu, các triệu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN

Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân theo giới tính

Nhận xét: Trong 43 bệnh nhân, có 33 bệnh nhân nam chiếm 76,7% và 10 bệnh nhân nữ chiếm 23,3% Tỷ lệ nam/nữ = 3,3/1.

Biểu đồ 3.2 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

Nhận xét: Tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi có phân phối chuẩn với phép kiểm Shapiro-Wilk Tuổi trung bình là 53,8 ± 9,3 tuổi Tuổi nhỏ nhất là 32 tuổi, tuổi lớn nhất là 70 tuổi Phần lớn bệnh nhân có độ tuổi trung niên (40-59 tuổi) với tỷ lệ

58,1%, nhóm bệnh nhân lớn tuổi ( 60 tuổi) chiếm tỷ lệ 30,2%, nhóm bệnh nhân trẻ (< 40 tuổi) chiếm tỷ lệ thấp nhất với 11,6%.

Biểu đồ 3.3 Phân bố bệnh nhân theo bệnh đồng mắc

Phần lớn bệnh nhân (65,1%) có tiền căn bệnh lý đi kèm, trong đó bệnh lý phổ biến nhất là tăng huyết áp, chiếm 51,2% với 22 trường hợp Đái tháo đường cũng là bệnh đồng mắc thường gặp, chiếm 9,3% với 4 trường hợp, góp phần quan trọng vào đánh giá tổng quát về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.

Không bệnh lý Tăng huyết áp Đái tháo đường Khác

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN

Biểu đồ 3.4 Triệu chứng lâm sàng lúc chẩn đoán

Dựa trên chẩn đoán bệnh, các triệu chứng lâm sàng phổ biến nhất gồm da niêm nhạt chiếm tỷ lệ 93%, đau xương 69,8% và sụt cân 58,1% Ngoài ra, các triệu chứng khác như sốt (14%), phù (11,6%), gan to (9,3%) và lách to (7%) chiếm tỷ lệ thấp hơn.

ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN

3.3.1 Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ

Bảng 3.1 Đặc điểm về tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ

Biến số Trung vị Phân vị thứ

Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ

Nhận xét: Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ không có phân phối chuẩn với phép kiểm

Shapiro-Wilk Giá trị trung vị là 30% KTPV là 18% – 55%.

Lách to Gan to Phù Sốt Sụt cân Đau xương

Triệu chứng lâm sàng lúc chẩn đoán (N = 43)

Bảng 3.2 Đặc điểm về công thức máu

Biến số Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất

Công thức máu cho thấy dấu hiệu thiếu máu với hàm lượng Hemoglobin trung bình là 77,3 ± 17,9 g/L Số lượng bạch cầu và tiểu cầu đều nằm trong giới hạn bình thường, phản ánh tốt tình trạng sức khỏe huyết học của bệnh nhân.

Biểu đồ 3.5 Phân bố bệnh nhân theo mức độ thiếu máu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân đều mắc thiếu máu theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), với mức độ thiếu máu được phân theo Hb để đánh giá độ nặng Phần lớn bệnh nhân gặp phải thiếu máu mức độ nặng (Hb < 80 g/L), chiếm tỷ lệ 62,8%, trong khi đó, thiếu máu mức độ trung bình (Hb từ 80-109 g/L) chiếm 34,9% Chỉ có một tỷ lệ nhỏ (2,3%) bệnh nhân có mức độ thiếu máu nhẹ (Hb ≥ 110 g/L), cho thấy tình trạng thiếu máu nghiêm trọng phổ biến trong nhóm nghiên cứu.

Bảng 3.3 Đặc điểm về sinh hoá

Biến số Trung vị Phân vị thứ 25 Phân vị thứ 75

Chỉ số chức năng thận ở mức cao với trung vị của BUN là 41,0 mg/dL và creatinin là 3,79 mg/dL, cho thấy suy thận rõ rệt Các chỉ số đánh giá gánh nặng khối u như LDH và β2 microglobulin cũng có trung vị tăng cao, phản ánh mức độ bệnh nặng Trong khi đó, canxi toàn phần nằm trong giới hạn bình thường, còn albumin có trung vị giảm, cho thấy tình trạng dinh dưỡng hoặc bệnh lý liên quan Tổng thể, các chỉ số này có độ dao động lớn, mức độ biến động cao, phản ánh sự đa dạng về trạng thái lâm sàng của bệnh nhân.

Biểu đồ 3.6 Phân bố bệnh nhân theo nồng độ canxi máu

Nồng độ canxi máu (mmol/L)

Nhận xét: Có 34,9% bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tăng nồng độ canxi máu  2,75 mmol/L.

3.3.4 Độ lọc cầu thận ước đoán

Bảng 3.4 Đặc điểm về độ lọc cầu thận

Biến số Trung vị Phân vị thứ

Phân vị thứ 75 eGFR (CKD-EPI)

Nhận xét: Độ lọc cầu thận ƣớc đoán không có phân phối chuẩn với phép kiểm

Shapiro-Wilk Giá trị trung vị là 15,1 mL/phút/1,73m 2 KTPV là 10,7 – 33,4 mL/phút/1,73m 2

Biểu đồ 3.7 Phân bố bệnh nhân theo độ lọc cầu thận

Nhận xét: Gần phân nửa số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có suy thận nặng lúc chẩn đoán với eGFR < 15 mL/phút/1,73m 2 chiếm 46,5%, trong đó có

Trong tổng số bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo, chiếm tỷ lệ 18,6% Trong hai nhóm còn lại, bệnh nhân có độ lọc cầu thận từ 15-29 mL/phút/1,73m² chiếm 27,9%, trong khi nhóm có độ lọc cầu thận từ 30-59 mL/phút/1,73m² chiếm 25,6%, cho thấy sự phân bổ khá đồng đều giữa các mức độ suy thận.

< 15 [PERCENTAGE] Độ lọc cầu thận ƣớc đoán (mL/phút/1,73m2)

Biểu đồ 3.8 Biểu hiện tổn thương xương

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có tổn thương xương trên hình ảnh học với tỷ lệ là 93%, gấp hơn 13 lần so với nhóm không có tổn thương xương chỉ chiếm 7%.

Biểu đồ 3.9 Phân bố bệnh nhân theo tổn thương xương

Nhận xét: Trong các tổn thương xương được ghi nhận, xương cột sống là vị trí thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 79,1% Tổn thương ít gặp nhất là xương tứ chi, gặp ở

Xương sọ Cột sống Xương sườn Khung chậu

Khoảng một phần ba các bệnh nhân (N=43) gặp phải tổn thương xương Trong đó, các tổn thương ở xương sườn, khung chậu và xương sọ chiếm tỷ lệ gần bằng nhau, lần lượt là 44,2%, 44,2% và 41,9% Những tổn thương này đều đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ nghiêm trọng của chấn thương toàn diện Hiểu rõ tỷ lệ các loại tổn thương xương giúp cải thiện chẩn đoán và điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

Biểu đồ 3.10 Phân bố bệnh nhân theo loại M-protein

Immunoglobulin IgG là loại phổ biến nhất, chiếm tới 48,8% trong các loại miễn dịch được ghi nhận Không có trường hợp nào tiết ra IgM trong phân tích này, trong khi đó, IgA chiếm tỷ lệ 14% Về loại chuỗi nhẹ, chuỗi Kappa chiếm hơn hai lần so với Lambda, với tỷ lệ lần lượt là 65,1% và 30,2%, thể hiện sự ưu thế của chuỗi Kappa trong các phản ứng miễn dịch.

3.3.7 Đặc điểm di truyền học

Bảng 3.5 Bất thường di truyền tế bào

STT Bất thường di truyền tế bào Số lượng Tỷ lệ %

Nhận xét: Trong 43 bệnh nhân nghiên cứu, có 35 bệnh nhân đƣợc thực hiện xét nghiệm FISH khảo sát 8 probe thường gặp trong đa u tuỷ Bất thường del(13)(q14;q34) và t(4;14)(p16;q32) có tần suất cao nhất chiếm tỷ lệ lần lƣợt là 28,6% và 11,4% Không ghi nhận bệnh nhân nào có chuyển đoạn t(14;16)(q32;q23) và t(14;20)(q32;q12) Các bất thường còn lại gồm t(6;14)(p21;q32), t(11;14)(q13;q32), del(17p13.1) và 1q21.3/1p32.3 chiếm tỷ lệ dưới 10%.

3.3.7.2 Phân nhóm nguy cơ theo di tuyền tế bào

Biểu đồ 3.11 Phân nhóm nguy cơ theo di truyền tế bào

Trong phân tích của nghiên cứu, có 35 bệnh nhân được xét nghiệm FISH, trong đó đa số thuộc nhóm nguy cơ chuẩn chiếm tỷ lệ 85,7%, gấp 6 lần so với nhóm nguy cơ cao chỉ chiếm 14,3% Điều này cho thấy rằng bệnh nhân nhóm nguy cơ chuẩn chiếm phần lớn và cần được chú trọng trong quá trình chẩn đoán và điều trị Phân tích này giúp làm rõ tỷ lệ phân bố giữa các nhóm nguy cơ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và dự phòng bệnh.

Phân nhóm nguy cơ theo di truyền tế bào

Bảng 3.6 Phân nhóm giai đoạn bệnh

Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân nhập viện trong giai đoạn trễ của bệnh, giai đoạn

II-III, chiếm 97,7% ở cả hai phân loại giai đoạn bệnh theo ISS và R-ISS.

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

3.4.1 Đánh giá đáp ứng sau 4 chu kỳ

Biểu đồ 3.12 Đánh giá đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ

Trong nghiên cứu, có 40 trên 43 bệnh nhân hoàn thành đầy đủ 4 chu kỳ hóa trị theo phác đồ VCD Đánh giá đáp ứng sau 4 chu kỳ cho thấy đa số bệnh nhân đạt được phản ứng tích cực, cho thấy hiệu quả khả quan của phương pháp điều trị này.

PD 7.5% ĐÁP ỨNG SAU 4 CHU KỲ (n = 40) ứng từ lui bệnh một phần trở lên (PR+VGPR) chiếm 77,5%, trong đó đạt lui bệnh một phần rất tốt (VGPR) là 27,5%.

Bảng 3.7 Đánh giá đáp ứng thận sau 4 chu kỳ

Trong tổng số bệnh nhân, có 23 người (chiếm 57,5%) đáp ứng hoàn toàn về chức năng thận (CRrenal), thể hiện sự cải thiện rõ rệt về chức năng thận sau điều trị Ngoài ra, 4 bệnh nhân (chiếm 10,0%) chỉ đáp ứng một phần về chức năng thận (PRrenal), còn 7 người (chiếm 17,5%) chỉ đáp ứng tối thiểu, cho thấy mức độ cải thiện chức năng thận còn hạn chế Những kết quả này phản ánh mức độ đáp ứng khác nhau của bệnh nhân đối với phương pháp điều trị nhằm cải thiện chức năng thận.

Nhận xét: Đánh giá 40 bệnh nhân sau 4 chu kỳ hoá trị phác đồ VCD, tỷ lệ đáp ứng thận nói chung đạt 85%, trong đó 57,5% đáp ứng hoàn toàn (CRrenal), 10% đáp ứng một phần (PRrenal) và 17,5% đáp ứng tối thiểu (MRrenal).

3.4.2 Đánh giá đáp ứng sau 8 chu kỳ

Biểu đồ 3.13 Đánh giá đáp ứng điều trị sau 8 chu kỳ

PD 4.3% ĐÁP ỨNG SAU 8 CHU KỲ (n = 23)

Nhận xét: Theo dõi 23 bệnh nhân đƣợc điều trị tiếp với phác đồ VCD và hoàn tất

Sau 8 chu kỳ điều trị, 95,7% bệnh nhân đạt đáp ứng lui bệnh một phần hoặc hơn (PR+VGPR), trong đó có 43,5% bệnh nhân đạt đáp ứng rất tốt Chỉ có 4,3% bệnh nhân tiến triển bệnh sau quá trình điều trị này, và không có bệnh nhân nào ghi nhận đáp ứng tối thiểu hoặc bệnh ổn định.

Bảng 3.8 Đánh giá đáp ứng thận sau 8 chu kỳ

Mức độ đáp ứng Số lƣợng Tỷ lệ % Đáp ứng hoàn toàn về chức năng thận (CRrenal) 12 52,2 Đáp ứng một phần về chức năng thận (PRrenal) 4 17,4 Đáp ứng tối thiểu về chức năng thận (MRrenal) 3 13,0

Dưới đây là đoạn văn đã được viết lại, chứa các câu chính phản ánh nội dung chính của bài viết và tối ưu cho SEO:Sau 8 chu kỳ hóa trị theo phác đồ VCD, đánh giá 23 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ đáp ứng thận đạt approximately 82,6%, trong đó có 52,2% bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn (CRrenal), 17,4% đạt đáp ứng một phần (PRrenal), và 13% đạt đáp ứng tối thiểu (MRrenal) Các kết quả này cho thấy phác đồ VCD mang lại hiệu quả cao trong điều trị các bệnh về thận, góp phần nâng cao tỷ lệ thành công trong điều trị.

THỜI GIAN SỐNG CÒN

3.5.1 Thời gian sống còn toàn bộ

Biểu đồ 3.14 Đường biểu diễn sống còn toàn bộ 3 năm

Nhận xét: Thời gian theo dõi trung vị là 14 (10 – 22) tháng Xác suất sống còn toàn bộ thời gian 3 năm là 72,3% với KTC 95% là 52,1% – 85,0%.

3.5.2 Thời gian sống không tiến triển bệnh

Biểu đồ 3.15 Đường biểu diễn sống không tiến triển bệnh 36 tháng

Nhận xét: Thời gian theo dõi trung vị là 13 (10 – 20) tháng Xác suất sống không tiến triển bệnh thời gian 3 năm là 65,3% với KTC 95% là 45,5% – 79,1%.

TÁC DỤNG PHỤ

Biểu đồ 3.16 Tỷ lệ tác dụng phụ

Trong quá trình điều trị, hơn 58% bệnh nhân ghi nhận các tác dụng phụ, trong đó các tác dụng phụ phổ biến nhất gồm bệnh thần kinh ngoại biên (37,2%), giảm tiểu cầu (20,9%) và giảm bạch cầu hạt (11,6%), gây ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Ngoài ra, các tác dụng phụ ít gặp hơn nhưng cần lưu ý bao gồm buồn nôn (9,3%), tiêu chảy (9,3%), tăng ĐH (7,0%), nôn (4,7%) và táo bón (4,7%), đòi hỏi quản lý và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị.

Bảng 3.9 Mức độ tác dụng phụ

TDP Có TDP Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4 Độ 5

Tăng ĐH 3 (7,0) 2 (4,7) 0 1 (2,3) 0 0 Đơn vị là n(%)

Các tác dụng phụ thường gặp ở mức độ nhẹ đến trung bình là những tác dụng phụ phổ biến Trong đó, các tác dụng phụ nặng hơn mức độ 3-4 được ghi nhận bao gồm giảm bạch cầu hạt, bệnh thần kinh ngoại biên, tiêu chảy và tăng đường huyết Không có tác dụng phụ nào được ghi nhận ở mức độ 5, cho thấy mức độ an toàn cao của phương pháp hoặc điều trị này.

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM THEO CÁC PHÂN NHÓM BỆNH NHÂN

3.7.1 So sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ

Bảng 3.10 So sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ

< PR (n = 9) Giá trị p Đặc điểm chung

Creatinin (mg/dL) 3,75 (2,04 - 5,36) 5,20 (2,68 - 6,08) 0,582 eGFR (mL/phút/1,73m 2 ) 16 (11,3 - 34,6) 11,3 (9,2 - 23,8) 0,293

Tỷ lệ tương bào tuỷ (%) 30 (18 - 55) 20 (11,5 - 31,5) 0,116

Phân nhóm nguy cơ theo di truyền tế bào (n = 33)

*: Phép kiểm chính xác Fisher.

- Các đặc điểm nhân trắc học và đặc điểm triệu chứng lâm sàng không có sự khác biệt giữa 2 phân nhóm đáp ứng điều trị.

Trong đặc điểm chức năng của thận, nhóm bệnh nhân đạt đáp ứng lui bệnh từ một phần trở lên (≥ PR) có nồng độ BUN và creatinin thấp hơn, cùng với độ lọc cầu thận ước đoán (eGFR) cao hơn so với nhóm đạt đáp ứng thấp hơn một phần (< PR) Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê khi p > 0,05.

Nồng độ LDH và 2 microglobulin trong máu ở nhóm bệnh nhân đạt phản ứng lâm sàng phần hoặc toàn bộ ( PR) thấp hơn so với nhóm có phản ứng lâm sàng dưới mức PR (< PR) Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê, cho thấy các chỉ số này không rõ ràng liên quan đến mức độ đáp ứng điều trị.

- Không có sự khác biệt về loại M-protein, giai đoạn R-ISS và phân nhóm nguy cơ theo di truyền tế bào ở 2 phân nhóm đáp ứng điều trị.

3.7.2 So sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng thận sau 4 chu kỳ

Bảng 3.11 So sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng thận sau 4 chu kỳ

Giá trị p Đặc điểm chung

Creatinin (mg/dL) 3,30 (1,72 - 5,15) 5,61 (3,69 - 8,72) 0,016 eGFR (mL/phút/1,73m 2 ) 17,5 (12,6 - 40,6) 11,2 (6,1 - 17,2) 0,021

Tỷ lệ tương bào tuỷ (%) 30 (18,8 - 53,8) 20 (11,8 - 40,8) 0,080

Phân nhóm nguy cơ theo di truyền tế bào (n = 33)

*: Phép kiểm chính xác Fisher.

Các đặc điểm nhân trắc học và triệu chứng lâm sàng không khác biệt rõ rệt giữa hai nhóm đáp ứng thận, ngoại trừ nhóm đáp ứng thận một phần trở lên ( PRrenal) có tuổi cao hơn và mắc nhiều đau xương hơn so với nhóm đáp ứng thận dưới một phần (< PRrenal), với giá trị p < 0,05.

Có sự khác biệt rõ rệt về nồng độ creatinin và độ lọc cầu thận ước đoán (eGFR) giữa hai nhóm bệnh nhân đáp ứng thận Nhóm đạt đáp ứng thận từ một phần trở lên (≥ PRrenal) có nồng độ creatinin thấp hơn và eGFR cao hơn so với nhóm đạt đáp ứng thận dưới một phần (< PRrenal) sau 4 chu kỳ hóa trị Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, cho thấy các chỉ số chức năng thận cải thiện rõ rệt hơn ở nhóm đáp ứng thận tốt hơn.

chu kỳ

So sánh tỷ lệ đáp ứng thận theo đáp ứng điều trị

3.7.3.1 Đánh giá sau 4 chu kỳ

Biểu đồ 3.17 So sánh tỷ lệ đáp ứng thận theo đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ

Sau 4 chu kỳ hóa trị, phân tích đáp ứng thận theo hai nhóm đáp ứng lui bệnh gồm đáp ứng một phần hoặc hơn (≥ PR) và thấp hơn đáp ứng một phần (< PR), cho thấy bệnh nhân đáp ứng điều trị thì chức năng thận cũng cải thiện rõ rệt, với ý nghĩa thống kê (p = 0,002) theo phép kiểm chính xác Fisher Trong nhóm đáp ứng từ một phần hoặc hơn (≥ PR) với 31 bệnh nhân, có tới 80,7% bệnh nhân thể hiện đáp ứng thận từ một phần hoặc hơn (≥ PR renal), ngược lại, nhóm đáp ứng thấp hơn đáp ứng một phần (< PR) có tỷ lệ này thấp hơn đáng kể.

PR), tỷ lệ cải thiện chức năng thận kém hơn, với đáp ứng thận một phần hoặc hơn ( PRrenal) chỉ đạt 22,2%.

3.7.3.2 Đánh giá sau 8 chu kỳ

Biểu đồ 3.18 So sánh tỷ lệ đáp ứng thận theo đáp ứng điều trị sau 8 chu kỳ

Nhận xét: Khi đánh giá sau 8 chu kỳ hoá trị, nhóm đáp ứng lui bệnh một phần hoặc hơn ( PR) có 22 bệnh nhân, trong đó đa số bệnh nhân đạt đáp ứng thận một phần hoặc hơn ( PRrenal) chiếm tỷ lệ 72,7% Đối với nhóm đáp ứng lui bệnh thấp hơn đáp ứng một phần (< PR) chỉ có 1 bệnh nhân, cụ thể bệnh nhân này đánh giá bệnh tiến triển và không đạt đáp ứng thận.

BÀN LUẬN

ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA BỆNH NHÂN

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số lƣợng nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ 3,3/1 ( Biểu đồ 3.1 ) Điều này có sự khác biệt so với nghiên cứu trước đây của tác giả Suzanne MCB tại bệnh viện Chợ Rẫy trên nhóm bệnh nhân đa u tuỷ nói chung với tỷ lệ nam nữ bằng nhau [5] Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác tại Việt Nam cũng cho thấy nam nhiều hơn nữ, với tỷ lệ nam là 66,7% trong nghiên cứu của tác giả Bạch Quốc Khánh tại Viện Huyết học và Truyền máu Trung ƣơng [1] và 57,3% trong nghiên cứu của tác giả Hồ Ngọc Thiên Trí tại bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh [6] Nghiên cứu của tác giả Costa năm 2012 trên nhóm bệnh nhân suy giảm chức năng thận cho thấy tỷ lệ nam là 57% [12] Tương tự, nghiên cứu của Courant tại Pháp năm 2021 ghi nhận 58% bệnh nhân là nam trong nhóm có suy giảm chức năng thận [13] Nhƣ vậy, nhìn chung nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới.

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 53,8 tuổi (thấp nhất là 32 tuổi và cao nhất là 70 tuổi), trong đó gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 40-59 tuổi với tỷ lệ58,1% ( Biểu đồ 3.2 ) Điều này phù hợp với nghiên cứu của tác giả Suzanne MCB tại bệnh viện Chợ Rẫy với tuổi mắc bệnh trung bình là 59 tuổi và độ tuổi thường gặp nhất là 50-70 tuổi chiếm 66% [5] Tại bệnh viện Truyền máu Huyết học thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của tác giả Hồ Ngọc Thiên Trí cho thấy tuổi trung bình là 58 tuổi với 53,5% bệnh nhân ở nhóm tuổi 51-60 tuổi [6] Nghiên cứu của một số tác giả khác trên thế giới cho thấy tuổi trung bình từ 60 đến 76 tuổi ( Bảng

4.1 ) Qua các nghiên cứu cho thấy bệnh đa u tuỷ xảy ra chủ yếu ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi.

Bảng 4.1 Tuổi trung bình trong các nghiên cứu

Tác giả Năm Quốc gia Cỡ mẫu

Hồ Ngọc Thiên Trí [6] 2019 Việt Nam 28 58

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN

Da niêm nhạt là triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất lúc chẩn đoán trong nghiên cứu của chúng tôi, chiếm tỷ lệ 93% ( Biểu đồ 3.4 ) Tỷ lệ tương đồng với nghiên cứu của tác giả Costa [12] và nghiên cứu của tác giả Suzanne MCB [4] với kết quả lần lƣợt là 93% và 98,72% bệnh nhân có thiếu máu lúc nhập viện Điều này có thể giải thích do tình trạng suy thận làm giảm sản xuất erythropoietin góp phần làm thiếu máu nhiều hơn trên bệnh nhân đa u tuỷ. Đau xương là triệu chứng thường gặp thứ hai với 30 bệnh nhân chiếm tỷ lệ69,8% ( Biểu đồ 3.4 ) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Costa với64% [12] và nghiên cứu của tác giả Suzanne MCB với 62,82 [4] Kế đến là triệu chứng sụt cân chiếm tỷ lệ 58,1% Ngoài ra các triệu chứng khác ít gặp hơn gồm:sốt, u tương bào, phù, gan to, lách to ( Biểu đồ 3.4 ).

Nhƣ vậy, bệnh đa u tuỷ có biểu hiện lâm sàng đa dạng ở nhiều cơ quan, có thể gây khó khăn trong chẩn đoán ban đầu do các biểu hiện lâm sàng này không đặc hiệu và thường chồng lấp với nhiều bệnh lý nội khoa khác, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi có nhiều bệnh nền Do đó đa phần bệnh nhân đƣợc chẩn đoán sau khi đã khám ở các chuyên khoa khác như nội thận, cơ xương khớp, ngoại thần kinh, cho đến khi bệnh biểu hiện đầy đủ thì đã ở giai đoạn trễ, gây khó khăn hơn cho việc điều trị.

ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG LÚC CHẨN ĐOÁN

4.3.1 Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ tương bào trên tủy đồ tại thời điểm chẩn đoán trung vị là 30% (18-55%), thấp hơn so với kết quả của tác giả Hồ Ngọc Thiên Trí là 40% (12-88%) [6], cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ tương bào trong các nghiên cứu lâm sàng về bệnh lý tủy xương.

Tỷ lệ tương bào trên tuỷ đồ trên 10% là tiêu chuẩn chính để chẩn đoán đa u tuỷ, trong khi chỉ 3-5% bệnh nhân có tỷ lệ này dưới mức này, thường yêu cầu lặp lại xét nghiệm hoặc sinh thiết dưới hướng dẫn của hình ảnh y học như CT hoặc MRI để xác định chính xác chẩn đoán.

Trong đánh giá đặc điểm công thức máu của bệnh nhân, nghiên cứu ghi nhận 100% bệnh nhân có thiếu máu, với giá trị Hb trung bình là 77,3 g/L, thấp nhất là 36 g/L và cao nhất là 127 g/L; phần lớn bệnh nhân thiếu máu mức độ nặng (Hb < 80 g/L), chiếm tỷ lệ 62,8% Nhiều nghiên cứu, như của Suzanne MCB tại Bệnh viện Chợ Rẫy, cho thấy 87% bệnh nhân có thiếu máu khi chẩn đoán, trong đó nồng độ Hb trung bình khoảng 95,6 g/L và 89 g/L ở các tác giả khác Thiếu máu là biến chứng quan trọng trong đa u tuỷ, liên quan đến nhiều cơ chế sinh lý bệnh như ức chế tế bào gốc tạo máu, thiếu hụt erythropoietin do suy thận, thiếu dinh dưỡng, mất máu do chảy máu rỉ rả hoặc tán huyết miễn dịch Điều trị thiếu máu trong đa u tuỷ bao gồm truyền hồng cầu và sử dụng thuốc kích thích tạo máu erythropoietin, giúp cải thiện nhanh nồng độ hemoglobin, giảm nhu cầu truyền máu và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Số lƣợng bạch cầu tổng, bạch cầu đa nhân trung tính và tiểu cầu trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi nằm trong giới hạn bình thường, với giá trị lần lượt là 8,7 G/L, 5,2 G/L và 228 G/L Điều này phù hợp với đặc điểm chung trong bệnh đa u tuỷ chủ yếu ảnh hưởng đến hồng cầu, ít có sự thay đổi về bạch cầu và tiểu cầu.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ albumin huyết thanh trung vị đạt 3,3 g/dL (2,3 - 3,8), phù hợp với kết quả của tác giả Hồ Ngọc Thiên Trí, có trung vị là 3,5 g/dL (2,1 - 4,6), thể hiện mức giảm nhẹ đến trung bình của albumin huyết thanh trong bệnh nhân Nghiên cứu của Suzanne MCB ghi nhận có tới 50% bệnh nhân giảm albumin huyết thanh, cho thấy vai trò quan trọng của chỉ số này trong việc đánh giá giai đoạn của bệnh đa u tủy theo Hệ thống phân loại giai đoạn quốc tế (ISS) Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của ISS, bệnh nhân chỉ được xếp giai đoạn I nếu có nồng độ albumin huyết thanh trên ngưỡng quy định.

Nghiên cứu cho thấy đa phần bệnh nhân ở giai đoạn II-III, với mức albumin huyết thanh ≤ 3,5 g/dL Theo Chen YH và cộng sự, mức albumin từ 2,9 g/dL trở xuống được xem là dấu hiệu của bệnh tiến triển rõ ràng, và tất cả bệnh nhân giai đoạn III đều có mức albumin huyết thanh ≤ 3,7 g/dL Kim JE nhận thấy nhóm bệnh nhân có albumin huyết thanh < 3,5 g/dL thường có tuổi lớn hơn, mức hemoglobin thấp hơn và tình trạng hoạt động yếu hơn, đồng thời nồng độ β2 microglobulin huyết thanh, protein-M huyết thanh và tương bào trong tủy xương cũng cao hơn rõ rệt so với nhóm có albumin huyết thanh cao hơn.

[28] Nhƣ vậy, giảm albumin máu liên quan đến mức độ tiến triển của bệnh và do đó có tầm quan trọng trong chẩn đoán và tiên lƣợng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 34,9% bệnh nhân có tăng nồng độ canxi máu  2,75 mmol/L, cao hơn so với tỷ lệ 18% và 38% trong các nghiên cứu của Suzanne MCB và Costa Tăng canxi máu là một đặc điểm phổ biến của bệnh đa u tủy có triệu chứng, chủ yếu do phá hủy xương lan rộng, mặc dù cơ chế sinh bệnh có thể phức tạp hơn và không phải tất cả bệnh nhân đều phát triển tăng canxi máu Trong hệ thống phân đoạn Durie-Salmon, mức độ tăng canxi máu được dùng để xác định giai đoạn tiến triển của đa u tủy Nghiên cứu của Kastritis cho thấy 21% bệnh nhân mới chẩn đoán có tăng canxi máu liên quan đến biểu hiện của bệnh tiến triển, và hiếm khi (1%) là biểu hiện duy nhất của bệnh Chẩn đoán tăng canxi máu cần dựa trên nồng độ canxi ion hóa, do nồng độ canxi toàn phần có thể bị giả tạo do liên kết với albumin trong máu Triệu chứng lâm sàng phụ thuộc vào mức độ tăng canxi, từ không triệu chứng (≤ 3 mmol/L) đến các triệu chứng như khô miệng, chán ăn, nôn ói, đau bụng, tiểu nhiều, trầm cảm hoặc lú lẫn (3-4 mmol/L), và có thể dẫn đến hôn mê, đe dọa tính mạng (≥ 4 mmol/L) Điều trị tăng canxi máu bao gồm truyền dịch, biphosphonates (zoledronic acid được khuyến cáo), denosumab, steroid và/hoặc calcitonin.

LDH (lactate dehydrogenase) là enzym có mặt rộng rãi trong các tế bào của cơ thể và được giải phóng vào máu khi xảy ra tổn thương mô hoặc cơ quan Chỉ số LDH trung vị ở bệnh nhân đa u tủy mới chẩn đoán có mức tăng cao, khoảng 248 U/L (182 - 396 U/L), phản ánh gánh nặng khối u Khoảng 10% bệnh nhân mắc đa u tủy có triệu chứng và có chỉ số LDH tăng cao, liên quan đến các đặc điểm tiến triển của bệnh như giai đoạn III theo hệ thống phân loại ISS và suy thận Nghiên cứu của Dimopolus (2010) cho thấy, LDH tăng cao là yếu tố dự báo độc lập, liên quan đến nguy cơ tử vong tăng gấp 5,4 lần Do đó, LDH là chỉ số quan trọng trong đánh giá giai đoạn bệnh theo Hệ thống phân loại giai đoạn quốc tế sửa đổi (R-ISS).

2 microglobulin huyết thanh là một protein có trọng lượng phân tử thấp, nằm trên bề mặt tất cả các tế bào có nhân, đặc biệt là tế bào lympho, với nồng độ cao Tăng nồng độ 2 microglobulin trong huyết thanh thường gặp ở các bệnh lý dòng lympho như lymphoma, bệnh bạch cầu dòng lympho và đa u tủy Trong đa u tủy, mức độ 2 microglobulin huyết thanh liên quan đến tiên lượng xấu, với các nghiên cứu cho thấy nồng độ cao là yếu tố dự báo quan trọng về khả năng sống còn của bệnh nhân, độc lập với các yếu tố nguy cơ khác Nồng độ 2 microglobulin huyết thanh ≥ 5500 μg/L thường được sử dụng để phân loại bệnh đa u tủy giai đoạn III theo hệ thống R-ISS Trong nghiên cứu của chúng tôi, mức trung vị 2 microglobulin huyết thanh đạt 13800 μg/L, cao hơn so với các nghiên cứu của tác giả Bạch Quốc Khánh và Hồ Ngọc.

Thiên Trí trên nhóm bệnh nhân đa u tuỷ nói chung với kết quả lần lƣợt là 4870 

Nồng độ 2 microglobulin huyết thanh thường cao ở những bệnh nhân suy giảm chức năng thận, với trung vị khoảng 7500 (4800 - 24100) g/L, do chủ yếu được bài tiết qua thận Trong nghiên cứu của Costa, nhóm bệnh nhân có chức năng thận giảm đã ghi nhận mức 2 microglobulin cao hơn đáng kể, lên tới 9010 g/L, so với mức trung bình từ 3300 đến 6900 g/L, phản ánh rõ mối liên hệ giữa chức năng thận và nồng độ 2 microglobulin huyết thanh.

Ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận, nồng độ β2 microglobulin cao có thể không phản ánh chính xác gánh nặng khối u thực sự Vì vậy, việc đánh giá lại giai đoạn ung thư sau điều trị tấn công và khi chức năng thận được cải thiện là rất cần thiết để đảm bảo chẩn đoán chính xác và phương pháp điều trị phù hợp.

Tổn thương xương là biến chứng nặng của bệnh đa u tủy, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và tăng chi phí điều trị Gần 90% bệnh nhân mắc đa u tủy phát triển các tổn thương xương do huỷ xương, gây ra đau xương, gãy xương bệnh lý, xẹp đốt sống, tăng canxi máu và chèn ép tủy sống Tỷ lệ tổn thương xương trong hình ảnh học đạt tới 93% theo nghiên cứu của chúng tôi, cao hơn so với 64% trong nghiên cứu của Costa và cộng sự Tổn thương xương là hậu quả của sự tăng hoạt hoá huỷ cốt bào và ức chế tạo cốt bào, làm thay đổi quá trình tái tạo xương Theo khuyến cáo của Hiệp hội nghiên cứu đa u tủy quốc tế (IMWG), điều trị ưu tiên là axit zoledronic, phù hợp cho bệnh nhân mới chẩn đoán có hoặc không có bệnh xương liên quan, trong khi denosumab cũng là lựa chọn, đặc biệt cho bệnh nhân suy thận Denosumab có thể kéo dài thời gian sống không tiến triển và phù hợp cho bệnh nhân đủ điều kiện ghép tế bào gốc tự thân Xạ trị được khuyên dùng cho đau không kiểm soát, triệu chứng chèn ép tủy sống hoặc gãy xương bệnh lý Phẫu thuật nên được sử dụng để phòng ngừa và phục hồi gãy xương dài, ổn định cột sống và giảm chèn ép tủy sống.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, Immunoglobulin IgG chiếm tỷ lệ cao nhất là 48,8%, tiếp theo là IgA với 14%, phản ánh tầm quan trọng của các loại miễn dịch này trong quá trình nghiên cứu Đối với loại chuỗi nhẹ, Kappa chiếm tỷ lệ vượt trội gấp đôi so với Lambda (65,1% so với 30,2%), thể hiện xu hướng phổ biến của chuỗi Kappa trong mẫu nghiên cứu Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây, như của tác giả Suzanne MCB, với tỷ lệ IgG là 59% và IgA là 12%, cũng như của Courant và cộng sự, nơi tỷ lệ của IgG, IgA, Kappa và Lambda lần lượt là 48,6%, 16,5%, phản ánh xu hướng chung về phân bổ Immunoglobulin trong các nghiên cứu lâm sàng.

53,3% và 38,0% [13] Như vậy, IgG là loại Immunoglobulin thường gặp nhất và Kappa là loại chuỗi nhẹ thường gặp nhất.

4.3.6 Đặc điểm di truyền học

Trong nghiên cứu này, có 35/43 bệnh nhân được thực hiện xét nghiệm FISH để khảo sát 8 probe phổ biến trong đa u tuỷ nhằm đánh giá bất thường về di truyền học tế bào, trong đó các bất thường del(13)(q14;q34) và t(4;14)(p16;q32) có tần suất cao nhất lần lượt là 28,6% và 11,4% Các bất thường này giúp phân nhóm nguy cơ cho bệnh nhân dựa theo tiêu chuẩn của Hiệp hội nghiên cứu Đa u tủy quốc tế (IMWG) năm 2014, ghi nhận phần lớn bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ chuẩn và 14,3% thuộc nhóm nguy cơ cao Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của Costa và Reeder, khi tỷ lệ bệnh nhân nhóm nguy cơ cao lần lượt là 14% và 31%, cho thấy tính đồng nhất trong phân loại nguy cơ tại các nghiên cứu khác nhau.

Xét nghiệm di truyền học là yếu tố quan trọng trong đánh giá nguy cơ, tiên lƣợng bệnh và định hướng điều trị Các bất thường nguy cơ cao gồm del(17p13.1), t(4;14)(p16;q32), t(14;16)(q32;q23) đã đƣợc chứng minh là yếu tố tiên lƣợng xấu, với thời gian sống còn (OS) trung bình là 5 năm, do đó cần tiến hành ghép tế bào gốc sớm (nếu đủ điều kiện) và cần hoá trị củng cố/duy trì bằng các phác đồ có bortezomib [44] Bất thường di truyền tế bào cùng với giai đoạn ISS và LDH được kết hợp để đánh giá giai đoạn bệnh theo tiêu chuẩn R-ISS Theo đó, xác suất sống còn (OS) 3 năm đối với R-ISS I, II và III lần lƣợt là 88%, 75% và 56% [52] Thông tin di truyền học cũng góp phần giúp bác sĩ lâm sàng lựa chọn phương án điều trị, đặc biệt trên đối tượng bệnh nhân có bất thường nguy cơ cao Bortezomib đã được chứng minh phần nào khắc phục đƣợc tác động bất lợi của t(4;14) và có thể là del(17p) trên CR, PFS và OS, tuy nhiên không có tác dụng ở t(4; 14) kết hợp với del(17p) ở bệnh nhân phù hợp ghép tế bào gốc [55].

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

4.4.1 Đánh giá đáp ứng điều trị Để đánh giá đáp ứng điều trị, chúng tôi dựa theo tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng điều trị của Hiệp hội nghiên cứu Đa u tủy quốc tế (IMWG) năm 2016 ( Bảng 1.1 ). Để đánh giá đáp ứng nghiêm ngặt (sCR) yêu cầu cần có xét nghiệm hóa mô miễn dịch hoặc miễn dịch huỳnh quang trên sinh thiết tuỷ xương và để đánh giá đáp ứng hoàn toàn (CR) cần có xét nghiệm điện di miễn dịch cố định trong máu và nước tiểu Tuy nhiên, các kỹ thuật này chƣa đƣợc thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy Do đó, chúng tôi chỉ đánh giá đáp ứng ở 5 mức: đáp ứng một phần rất tốt (VGPR), đáp ứng một phần (PR), đáp ứng tối thiểu (MR), bệnh ổn định (SD) và bệnh tiến triển (PD).

Bảng 4.2 So sánh đáp ứng điều trị sau 4 chu kỳ với các tác giả khác

Nghiên cứu Nhóm ORR  VGPR

Hồ Ngọc Thiên Trí [6] Chung (n = 28) 82% 53,5%

Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 40/43 bệnh nhân hoàn tất 4 chu kỳ hóa trị theo phác đồ VCD, với tỷ lệ đáp ứng chung đạt 77,5%, trong đó đáp ứng rất tốt (VGPR) chiếm 27,5% Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu khác, với tỷ lệ đáp ứng chung (ORR) từ 72-100% và đáp ứng rất tốt trở lên (≥ VGPR) từ 37-59% Tiếp tục đánh giá 23 bệnh nhân đã hoàn tất 8 chu kỳ điều trị cho thấy 95,7% bệnh nhân đạt đáp ứng chung, trong đó 43,5% đạt đáp ứng lui bệnh rất tốt, chứng tỏ hiệu quả cao của phác đồ Bortezomib, Cyclophosphamide và Dexamethasone (VCD) trong điều trị đa u tủy, đặc biệt là nhóm bệnh nhân có suy giảm chức năng thận.

Bortezomib là chất ức chế proteasome dipeptide dựa trên boronate, nhắm vào hoạt động của phức hợp enzyme proteasome nội bào, đặc biệt là hoạt động giống chymotrypsin Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của bortezomib trong điều trị đa u tuỷ, mang lại hiệu quả cao và được FDA phê duyệt nhanh chóng vào năm 2003 Tác nhân alkyl hoá này đặc biệt hiệu quả trong điều trị đa u tuỷ Không giống như melphalan, cyclophosphamide không gây tổn thương tích lũy tế bào gốc, giúp duy trì khả năng thu thập tế bào gốc Phác đồ VCD kết hợp cyclophosphamide và bortezomib trở thành lựa chọn hàng đầu trong điều trị bệnh nhân đa u tuỷ mới chẩn đoán, cũng như trong điều trị duy trì và tái phát cho các bệnh nhân phù hợp.

4.4.2 Đánh giá đáp ứng thận

Tổn thương thận là biến chứng phổ biến của bệnh đa u tuỷ, ảnh hưởng đến 20-50% bệnh nhân khi chẩn đoán Khoảng 10% các bệnh nhân cần tiến hành chạy thận nhân tạo, điều này ảnh hưởng tiêu cực đến dự đoán lâu dài của bệnh nhân Ngoài ra, một nửa số bệnh nhân đa u tuỷ gặp ít nhất một đợt tổn thương thận cấp trong quá trình điều trị, phần lớn phản ánh tình trạng gánh nặng khối u cao.

Các triệu chứng phổ biến của đa u tủy là suy thận và đạm niệu, trong đó tổn thương thận chủ yếu do tác dụng độc hại của chuỗi nhẹ đơn dòng trên màng đáy của cầu thận và/hoặc ống thận Tổn thương thận trong đa u tủy có nhiều dạng, nổi bật nhất là bệnh thận trụ (cast nephropathy), thường dẫn đến tổn thương thận cấp tính Các yếu tố như tăng calci máu, mất nước, tăng độ đặc của máu, giảm tuần hoàn thận, tăng acid uric máu, cùng với thuốc gây độc cho thận như kháng sinh aminoglycoside, thuốc chống viêm không steroid và chất cản quang, đều có thể làm trầm trọng hoặc tăng thêm tổn thương thận hiện có Việc sử dụng các thuốc điều trị mới như thuốc ức chế proteasome (PI) và thuốc điều hòa miễn dịch (IMiD), cùng với các biện pháp chăm sóc hỗ trợ, đã giúp kéo dài đáng kể thời gian sống của bệnh nhân đa u tủy.

Suy thận nặng liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đáng kể, trở thành một yếu tố nguy cơ tử vong sớm ở bệnh nhân Tổn thương thận trong đa u tủy là cấp cứu nội khoa cần điều trị tích cực để đảm bảo chăm sóc tối ưu, bao gồm bù nước, điều chỉnh các yếu tố liên quan, và thực hiện liệu pháp hoá trị hiệu quả Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của chất ức chế proteasome - bortezomib trong điều trị bệnh nhân đa u tủy suy giảm chức năng thận, giúp ổn định NF-kappaB và điều chỉnh apoptosis trong tế bào ống thận Bortezomib không qua lọc thận, cho phép điều trị nhanh chóng mà không cần điều chỉnh liều lượng Thêm vào đó, việc bổ sung thuốc thứ ba như chất điều hòa miễn dịch, tác nhân alkyl hóa hoặc anthracycline cùng với bortezomib và corticosteroid đã nâng cao tỷ lệ đáp ứng, độ sâu và tốc độ của điều trị đa u tủy.

Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào bệnh nhân suy giảm chức năng thận, có creatinin máu > 2 mg/dL hoặc eGFR < 60 mL/phút Kết quả cho thấy giá trị trung vị của creatinin là 3,79 mg/dL và eGFR là 15,1 mL/phút/1,73m², trong đó gần một nửa số bệnh nhân (46,5%) chẩn đoán suy thận nặng (giai đoạn 5) với eGFR < 15 mL/phút/1,73m², và 8 bệnh nhân (18,6%) cần chạy thận nhân tạo Sau 4 chu kỳ hoá trị phác đồ VCD, tỷ lệ đáp ứng thận tổng thể đạt 85%, trong đó 57,5% đáp ứng hoàn toàn (CRrenal), phản ánh hiệu quả điều trị tương đồng với các nghiên cứu khác có tỷ lệ đáp ứng từ 65-71% và đáp ứng hoàn toàn về chức năng thận từ 35-68%.

Bảng 4.3 So sánh đáp ứng thận sau 4 chu kỳ với các tác giả khác

Nghiên cứu Cỡ mẫu Đáp ứng thận CRrenal PRrenal MRrenal

Các nghiên cứu cho thấy phác đồ Bortezomib, Cyclophosphamide và Dexamethasone (VCD) mang lại hiệu quả đáng kể trong điều trị bệnh đa u tuỷ, giúp nâng cao tỷ lệ đáp ứng điều trị và cải thiện chức năng thận của bệnh nhân một cách rõ rệt.

Nghiên cứu của tác giả Bachmann cho thấy tỷ lệ đáp ứng thận hoàn toàn (CRrenal) đạt 68% với phác đồ VCD, cao hơn so với 63% của phác đồ RAD và 52% của VRd, chứng tỏ hiệu quả tối ưu của VCD đặc biệt trong nhóm bệnh nhân suy giảm chức năng thận Việc lựa chọn thuốc thứ ba để kết hợp trong phác đồ điều trị, như bortexomib, đóng vai trò quyết định ảnh hưởng đến kết quả điều trị và tiên lượng bệnh nhân Mặc dù hiệu quả của lenalidomide trên nhóm bệnh nhân đa u tủy đã được chứng minh, nhưng việc sử dụng thuốc này còn hạn chế do độc tính trên thận, đặc biệt là ở bệnh nhân suy thận Sau khi kiểm soát bệnh, cần xem xét lại việc duy trì phác đồ VCD, nhất là khi theo dõi 23 bệnh nhân sau 8 chu kỳ điều trị, có 82,6% đáp ứng thận nói chung và 52,2% đáp ứng hoàn toàn về chức năng thận, nhưng không cao hơn sau 4 chu kỳ Theo khuyến cáo của NCCN tháng 5/2020, phác đồ VCD vẫn được chọn làm ưu tiên cho bệnh nhân đa u tủy có suy giảm chức năng thận, nhưng cần xem xét chuyển đổi sang phương pháp điều trị khác khi chức năng thận của bệnh nhân được cải thiện.

THỜI GIAN SỐNG CÒN

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận xác suất sống còn toàn bộ (OS) thời gian 3 năm là 72,3%, mức tương đồng với các nghiên cứu của tác giả khác trên thế giới Cụ thể, nghiên cứu của Sidana năm 2021 cho thấy xác suất OS 2 năm và 5 năm lần lượt là 87% và 60% Nghiên cứu của Rampotas năm 2020 ghi nhận thời gian sống còn trung bình khoảng 46,9 tháng, trong khi nghiên cứu của Reeder và cộng sự năm 2014 cho thấy xác suất OS 5 năm là 70% Đối với thời gian sống không tiến triển bệnh (PFS), chúng tôi ghi nhận xác suất PFS 3 năm là 65,3%, cao hơn so với kết quả của Sidana (60% và 32% cho PFS 2 và 5 năm) và của Reeder là 42% sau 5 năm Các nghiên cứu của Einsele và cộng sự cũng đều góp phần làm rõ tình hình sống còn và không tiến triển bệnh theo thời gian.

2017 ghi nhận thời gian sống không tiến triển bệnh (PFS) trung bình là 35,3 tháng

TÁC DỤNG PHỤ

Trong quá trình điều trị, hơn 58% bệnh nhân ghi nhận tác dụng phụ, trong đó các tác dụng phụ phổ biến nhất gồm bệnh thần kinh ngoại biên (37,2%), giảm tiểu cầu (20,9%) và giảm bạch cầu hạt (11,6%) theo thứ tự Nghiên cứu khác cũng xác nhận bệnh thần kinh ngoại biên là tác dụng phụ gặp nhiều nhất, với tỷ lệ từ 36-54%, chứng tỏ mức độ ảnh hưởng đáng kể của tác dụng phụ này trong quá trình điều trị.

Bảng 4.4 So sánh tác dụng phụ với các tác giả khác

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM THEO CÁC PHÂN NHÓM BỆNH NHÂN

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân đạt đáp ứng ≥ PR sau 4 chu kỳ điều trị có nồng độ BUN và creatinin thấp hơn cùng với eGFR cao hơn so với nhóm đạt đáp ứng < PR, cho thấy mức độ suy thận ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng điều trị ở bệnh nhân đa u tủy, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) có thể do mẫu nhỏ Nghiên cứu đề xuất cần mở rộng cỡ mẫu để xác định rõ mối liên hệ này Đồng thời, nồng độ LDH và β2 microglobulin trong máu thấp hơn ở nhóm đáp ứng ≥ PR cũng cho thấy vai trò của các chỉ số này trong đánh giá giai đoạn bệnh và dự đoán tiên lượng, khi mức độ cao của chúng phản ánh tải lượng u lớn, bệnh tiến triển và phản ứng điều trị kém hơn, mặc dù chưa đạt ý nghĩa thống kê.

Khi so sánh đặc điểm bệnh nhân lúc chẩn đoán theo phân nhóm đáp ứng thận sau

Sau 4 chu kỳ điều trị, nhóm bệnh nhân đạt đáp ứng thận một phần trở lên ( PRrenal) có nồng độ creatinin thấp hơn và eGFR cao hơn so với nhóm đạt đáp ứng thận dưới một phần (< PRrenal), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Điều này cho thấy mức độ suy thận ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng điều trị cũng như sự cải thiện chức năng thận sau điều trị.

Sau 4 chu kỳ điều trị, phân tích đáp ứng thận theo hai nhóm đáp ứng lui bệnh gồm đáp ứng một phần hoặc hơn (≥PR) và thấp hơn đáp ứng một phần (

Ngày đăng: 03/04/2023, 07:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Quốc Khánh, (2014), “Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tuỷ xương và u lymphô ác tính không Hodgkin”, Huyết học và Truyền máu, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tuỷ xương và u lymphô ác tính không Hodgkin
Tác giả: Bạch Quốc Khánh
Nhà XB: Huyết học và Truyền máu, Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2014
2. Huỳnh Văn Mẫn, (2015), "Bệnh đa u tuỷ xương", Bài giảng Huyết học lâm sàng và điều trị, Nhà xuất bản Y học, tr. 221-228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Huyết học lâm sàng và điều trị
Tác giả: Huỳnh Văn Mẫn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2015
3. Huỳnh Văn Mẫn , Suzanne MCB Thanh Thanh (2016), "Bệnh đa u tuỷ xương", Bệnh lý huyết học lâm sàng và điều trị, Nhà xuất bản Y học, tr. 231-246 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh lý huyết học lâm sàng và điều trị
Tác giả: Huỳnh Văn Mẫn, Suzanne MCB Thanh Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2016
5. Suzanne Monivong Cheanh Beaupha, (2016), “Đánh giá đáp ứng điều trị và chức năng thận của phác đồ có bortezomib trong bệnh đa u tuỷ xương”, Nội thận - Tiết niệu, Đại học Y dƣợc thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá đáp ứng điều trị và chức năng thận của phác đồ có bortezomib trong bệnh đa u tuỷ xương
Tác giả: Suzanne Monivong Cheanh Beaupha
Nhà XB: Nội thận - Tiết niệu, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2016
8. Avilés A, Zepeda G, Guzmán R, Talavera A, et al, (1992), "Prognostic importance of beta-2-microglobulin in multiple myeloma", Rev Invest Clin, 44 (2), pp. 215-220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prognostic importance of beta-2-microglobulin in multiple myeloma
Tác giả: Avilés A, Zepeda G, Guzmán R, Talavera A, et al
Năm: 1992
19. Eda H, Santo L, David Roodman G, Raje N, (2016), "Bone Disease in Multiple Myeloma", Cancer Treat Res, 169 pp. 251-270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bone Disease in Multiple Myeloma
Tác giả: Eda H, Santo L, David Roodman G, Raje N
Nhà XB: Cancer Treat Res
Năm: 2016
26. Hutchison C A, Batuman V, Behrens J, Bridoux F, et al, (2011), "The pathogenesis and diagnosis of acute kidney injury in multiple myeloma", Nat Rev Nephrol, 8 (1), pp. 43-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The pathogenesis and diagnosis of acute kidney injury in multiple myeloma
Tác giả: Hutchison C A, Batuman V, Behrens J, Bridoux F
Nhà XB: Nat Rev Nephrol
Năm: 2011
37. Ludwig H, Pohl G, Osterborg A, (2004), "Anemia in multiple myeloma", Clin Adv Hematol Oncol, 2 (4), pp. 233-241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anemia in multiple myeloma
Tác giả: Ludwig H, Pohl G, Osterborg A
Nhà XB: Clin Adv Hematol Oncol
Năm: 2004
39. Lynch H T, Sanger W G, Pirruccello S, Quinn-Laquer B, et al, (2001), "Familial multiple myeloma: a family study and review of the literature", J Natl Cancer Inst, 93 (19), pp. 1479-1483 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Familial multiple myeloma: a family study and review of the literature
Tác giả: Lynch H T, Sanger W G, Pirruccello S, Quinn-Laquer B, et al
Năm: 2001
42. O’Donnell E, Cottini F, Raje N, Anderson K, (2016), “Myeloma”, Williams Hematology. 9th ed. McGraw-Hill Education, pp. 1733-1772 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Williams Hematology
Tác giả: O’Donnell E, Cottini F, Raje N, Anderson K
Nhà XB: McGraw-Hill Education
Năm: 2016
54. Siegel R L, Miller K D, Jemal A, (2020), "Cancer statistics, 2020", CA: A Cancer Journal for Clinicians, 70 (1), pp. 7-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cancer statistics, 2020
Tác giả: Siegel R L, Miller K D, Jemal A
Nhà XB: CA: A Cancer Journal for Clinicians
Năm: 2020
4. Suzanne Monivong Cheanh Beaupha, (2011), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh đa u tuỷ tại khoa Huyết học bệnh viện Chợ Rẫy", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 15 (4), tr. 267-273 Khác
6. Hồ Ngọc Thiên Trí, (2019), "Kết quả điều trị và độc tính phác đồ Bortezomib phối hợp Cyclophosphamide và Dexamethasone trong điều trị tấn công trên bệnh nhân đa u tuỷ mới chẩn đoán tại bệnh viện Truyền Máu Huyết Học", Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 23 (6), tr. 119-126.TIẾNG ANH Khác
7. Areethamsirikul N, Masih-Khan E, Chu C M, Jimenez-Zepeda V, et al, (2015), "CyBorD induction therapy in clinical practice", Bone Marrow Transplantation, 50 (3), pp. 375-379 Khác
9. Bachmann F, Schreder M, Engelhardt M, Langer C, et al, (2021), "Kinetics of Renal Function during Induction in Newly Diagnosed Multiple Myeloma:Results of Two Prospective Studies by the German Myeloma Study Group DSMM", Cancers (Basel), 13 (6), pp. 1322-1334 Khác
10. Blade J, Kyle R A, (1998), "Multiple myeloma in young patients: clinical presentation and treatment approach", Leuk Lymphoma, 30 (5-6), pp. 493- 501 Khác
11. Chen Y H, Magalhaes M C, (1990), "Hypoalbuminemia in patients with multiple myeloma", Arch Intern Med, 150 (3), pp. 605-610 Khác
12. Costa L J, Abbas J, Ortiz-Cruz K L, Kang Y, et al, (2012), "Outcomes of patients with multiple myeloma and renal impairment treated with bortezomib, cyclophosphamide, and dexamethasone without plasma exchange", Eur J Haematol, 89 (5), pp. 432-434 Khác
13. Courant M, Orazio S, Monnereau A, Preterre J, et al, (2021), "Incidence, prognostic impact and clinical outcomes of renal impairment in patients with multiple myeloma: a population-based registry", Nephrol Dial Transplant, 36 (3), pp. 482-490 Khác
14. Cowan A J, Allen C, Barac A, Basaleem H, et al, (2018), "Global Burden of Multiple Myeloma: A Systematic Analysis for the Global Burden of Disease Study 2016", JAMA Oncol, 4 (9), pp. 1221-1227 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w