DANH MỤC THUẬT NGỮ VIỆT – ANHĐánh giá sức khỏe của thai không có cơn gò tử cung Non Stress Test Đông máu rải rác trong lòng mạch Disseminated Intravascular Coagulation syndrome Đơn vị ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM VĂN NHỎ
ĐẶC ĐIỂM VÀ KẾT CỤC Ở THAI PHỤ KHMER
TẠI TRÀ VINH CÓ TĂNG HUYẾT ÁP THAI KỲ
CHUYÊN NGÀNH: SẢN PHỤ KHOA
MÃ SỐ: CK 62 72 13 03
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS VÕ MINH TUẤN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TP Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2021
Tác giả luận văn
Phạm Văn Nhỏ
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH v
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIỆT – ANH vii
DANH MỤC BẢNG ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
DANH MỤC HÌNH ẢNH xi
DANH MỤC SƠ ĐỒ xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp trong thai kỳ 4
1.2 Tác hại của tăng huyết áp trong thai kỳ 11
1.3 Đặc điểm tăng huyết áp trong thai kỳ 14
1.4 Đặc điểm tăng huyết áp trong thai kỳ và các hình thái qua các nghiên cứu trong và ngoài nước 16
1.5 Địa điểm nghiên cứu 24
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Thiết kế nghiên cứu 28
2.2 Đối tượng nghiên cứu 28
2.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 28
2.4 Cỡ mẫu 28
2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.6 Phương pháp chọn mẫu 29
2.7 Các bước thu thập số liệu 29
2.8 Biến số nghiên cứu 32
2.9 Phân tích số liệu 39
Trang 52.11 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Đặc điểm tăng huyết áp trong thai kỳ ở sản phụ dân tộc KHMER đến sinh tại bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh năm 2018 - 2020 42
3.2 Mối liên quan giữa kết cục tốt/ xấu thai kỳ 51
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 56
4.1 Bàn luận về phương pháp nghiên cứu 56
4.2 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 57
4.3 Đặc điểm về tiền căn sản khoa 59
4.4 Đặc điểm lâm sàng 61
4.5 Đặc điểm cận lâm sàng 66
4.6 Đặc điểm kết cục thai kỳ 69
4.7 Một số mối liên quan đến kết cục thai kỳ 75
4.8 Tính ứng dụng của đề tài 79
4.9 Hạn chế của nghiên cứu 80
4.10 Ý nghĩa của đề tài 81
KẾT LUẬN 83
KIẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Phiếu thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án.
Phụ lục 2: Kết quả phân tích chi tiết đơn biến.
Phụ lục 3: Phác đồ điều trị rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ của Bệnh viện Sản-Nhi Trà Vinh.
Phụ lục 4: Một số hình ảnh trong nghiên cứu.
Phụ lục 5: Trích lục bảng báo cáo số liệu sản khoa (từ 01/01/2018 – 31/12/2020) Phụ lục 6: Danh sách trích lục bệnh án.
Phụ lục 7: Quyết định về việc công nhận tên đề tài và người hướng dẫn học viên chuyên khoa cấp II.
Trang 6Phụ lục 8: Giấy chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học đại học Y Dƣợc thành phố Hồ Chí Minh.
Phụ lục 9: Quyết định thành lập Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp chuyên khoa cấp II của học viên.
Phụ lục 10: Bản nhận xét của phản biện 1, phản biện 2.
Phụ lục 11: Kết luận của hội đồng chấm luận văn.
Phụ lục 12: Giấy xác nhận đã hoàn thành sửa chữa luận văn.
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
BC-BVSN Báo cáo bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
ACOG American College of Obstetrics and Gynecology
ALT Alanin Amino Transferse
APGAR Appearance Pulse Grimace Activity Respiration
aRR absolute Risk Reduction
AST Aspartate Amino Transferase
AT1-AA Angiotensin II Type 1- Receptor Agonistic Autoantibody BMI Body Mass Index
CI Confidence Interval
CPAP Continuous Positive Airway Pressure
CTG Cardio Toco Graphy
DIC Disseminated Intravascular Coagulation syndrome
ICD-10 International Classification of Diseases -10
IUGR Intrauterine Growth Restriction
LDH Lactate Dehydrogenase
NICU Neonatal Intensive Care Unit
NO Nitơ monoxide hay còn gọi là nitric oxide
NST Non Stress Test
OGTT Oral Glucose Tolerance Test
Trang 9PAPP-A Pregnancy Associated Plasma Protein - A PCOS Poly Cystic Ovary Syndrom
PIGF Placental Growth Factor
PLT Platelet Count
RBC Red Blood Cell
RCT Randomized controlled trial
sFlt-1 soluble Fms-like tyrosine kinase -1
SPSS Statistical Package for the Social Sciences TNF-α Tumor Necrosis Factor - alpha
TGF-β Transforming Growth Factor - beta
VEGF Vascular Endothelial Growth Factor WBC White Blood Cell
WHO World Health Organization
Trang 10DANH MỤC THUẬT NGỮ VIỆT – ANH
Đánh giá sức khỏe của thai không có
cơn gò tử cung
Non Stress Test
Đông máu rải rác trong lòng mạch Disseminated Intravascular
Coagulation syndrome Đơn vị chăm sóc đặc biệc cho trẻ sơ sinh Neonatal Intensive Care Unit
Giảm nguy cơ tuyệt đối absolute Risk Reduction
Hiệp hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ American College of Obstetrics and
Gynecology Hội chứng buồng trứng đa nang Poly Cystic Ovary Syndrom
Kháng nguyên bạch cầu trên người Human Leukocyte Antigen G
Kiểm tra khả năng dung nạp glucose Oral Glucose Tolerance Test
soluble Fms-like tyrosine kinase -1
Một loại men tìm thấy ở gan và tim Aspartate Amino Transferase
Một loại men tế bào trong cơ thể Lactate Dehydrogenase
Trang 11Một protein huyết tương liên quan đến
thai nghén - A
Pregnancy Associated Plasma Protein - A
Nhịp tim thai và cơn co tử cung Cardio Toco Graphy
Phần mềm thống kê Statistical Package for the Social Sciences
Phân loại bệnh tật quốc tế International Classification of Diseases –
10 Tán huyết – Men gan tăng - Tiểu cầu
giảm
Hemolysis, Elevated Liver enzyme, Low Platelet count
Thai chậm tăng trưởng trong tử cung Intrauterine Growth Restriction
Thở áp lực dương liên tục qua mũi Continuous Positive Airway Pressure
Tổ chức Y tế Thế giới World Health Organization
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên Randomized Clinical Trials
Yếu tố phát triển nhau thai Placental Growth Factor
Yếu tố hoại tử khối u alpha Tumor Necrosis Factor- alpha
Yếu tố tăng trưởng beta Transforming Growth Factor-beta
Yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu Vascular Endothelial Growth Factor
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại tiền sản giật không có dấu hiệu nặng – Tiền sản giật có
dấu hiệu nặng 5
Bảng 1.2 Hoạt động khám và điều trị 2017 – 2019 26
Bảng 1.3 Báo cáo tổng kết về HSBA 2017 - 2019 27
Bảng 3.1: Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu 42
Bảng 3.2: Tiền căn gia đình và bản thân 43
Bảng 3.3: Phân loại tăng huyết áp trong thai kỳ 44
Bảng 3.4: Đặc điểm lâm sàng của mẹ 45
Bảng 3.5: Đặc điểm cận lâm sàng tại thời điểm nhập viện sinh 46
Bảng 3.6: Phân bố diễn tiến kết cục của con 48
Bảng 3.7: Diễn tiến kết cục của con 49
Bảng 3.8: Mô hình hồi quy đa biến của kết cục thai kỳ của mẹ 52
Bảng 3.9: Mô hình hồi quy đa biến kết cục con 53
Bảng 3.10: Mô hình hồi quy đa biến kết cục chung 54
Bảng 4.1: So sánh nhóm tuổi với các nghiên cứu 57
Bảng 4.2: So sánh tỉ lệ tăng huyết áp trong thai kỳ đến nhập viện sinh 62
Bảng 4.3: So sánh tỉ lệ tăng huyết áp trong thai kỳ với mẫu nghiên cứu 62
Bảng 4.4: So sánh tỉ lệ trẻ sinh non tháng 64
Bảng 4.5: So sánh tỉ lệ tăng cân theo khuyến cáo 65
Bảng 4.6: So sánh tỉ lệ sinh mổ so với các nghiên cứu khác 69
Bảng 4.7: So sánh các biến chứng giữa các nghiên cứu 69
Bảng 4.8: So sánh tỉ lệ kết cục xấu của mẹ với các nghiên cứu 72
Bảng 4.9: So sánh tỉ lệ kết cục xấu của con giữa các nghiên cứu 74
Bảng 4.10: So sánh tỉ lệ kết cục xấu của mẹ và con giữa các nghiên cứu 75
Trang 13DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố kết cục thai kỳ tốt/ xấu 51
Trang 14DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Trà Vinh 25 Hình 1.2: Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh 27
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Rối loạn chức năng nội mô mạch máu 7
Sơ đồ 1.2: Quy trình thực hiện nghiên cứu 31
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ là một biến chứng nội khoa thường gặp nhất ở phụ nữ khi mang thai, trong đó chiếm tỉ lệ khoảng 10% thai kỳ Là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong cho mẹ và thai trên toàn thế giới [33].
Các rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ dựa theo phân loại của Hiệp Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ năm 2020 đã được phân thành bốn nhóm gồm hội chứng tiền sản giật - sản giật, tăng huyết áp mạn tính, tiền sản giật ghép trên nền tăng huyết áp mạn tính và tăng huyết áp trong thai kỳ thường khởi phát sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ
và không có đạm niệu [38], [48].
Tiền sản giật được phân loại nặng khi đi kèm với tăng huyết áp nghiêm trọng hoặc có bằng chứng tổn thương các cơ quan đích như tổn thương thận, não, tim [40] Những hậu quả xấu để lại cho thai phụ chiếm khoảng 5,9% trong tổng số ca mắc, trong đó gây ra những biến chứng nặng như: Tán huyết, men gan tăng và tiểu cầu giảm chiếm từ 2 – 25%, phù phổi cấp chiếm từ 0,6 – 5%, tổn thương thận cấp chiếm 0,3 – 5%, nhau bong non chiếm 0,3 – 4% và gây tử vong mẹ chiếm từ 0 – 1,7% Bên cạnh đó để lại hậu quả xấu cho thai nhi như: Thai chậm tăng trưởng trong tử cung chiếm 50% trong tất cả các trường hợp mẹ bị tiền sản giật nặng, suy thai, thai chết lưu chiếm 41% các trường hợp mẹ bị tán huyết, men gan tăng và tiểu cầu giảm ở tuổi thai dưới 30 tuần và trẻ sinh ra non tháng, nhẹ cân chiếm khoảng 24% Tất cả những hậu quả của bệnh cảnh tăng huyết áp trong thai kỳ gây ra cho
mẹ và con bằng phương pháp điều trị triệt để duy nhất là chấm dứt thai kỳ [52].
Các nghiên cứu trên thế giới, ở các dân tộc khác nhau, có tỉ lệ rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ cũng khác nhau như nghiên cứu tại Trung Quốc (2,2%), Hàn Quốc (<7%) người Mỹ gốc Ấn Độ (8,9%), người da đen gốc Tây Ban Nha (9,8%), người Mỹ bản địa (5,6%) [50] Tại Việt Nam tỉ lệ rối loạn tăng huyết trong thai kỳ theo thống kê của Bộ Y Tế Việt Nam năm 2015 dao động từ: 2 - 8% [7] Một số nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Từ Dũ (18,2%) thai phụ có kết cục thai kỳ xấu [24] Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Trung năm 2014 tại Bệnh viện Đại Học Y Dược
Trang 16thành phố Hồ Chí Minh, xác định tỉ lệ thai phụ xuất hiện hội chứng tiền sản giật và các yếu tố liên quan đến hội chứng tiền sản giật ở các thai phụ là 4,4% [23].
Trà Vinh là một tỉnh có đông đồng bào dân tộc KHMER sinh sống chiếm 31,6% dân số của tỉnh, dân số Trà Vinh là 1.009.168 người, chiếm 5,84% đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra dân số năm 2019), trong đó 17,2% dân số sống
ở khu vực đô thị và 82,8% dân số sống ở khu vực nông thôn [12] Với đặc điểm cộng đồng dân tộc KHMER sinh sống, còn nhiều tập tục ảnh hưởng đến sức khỏe như việc ăn mặn, hút thuốc lá, uống rượu ngâm thuốc trong quá trình mang thai và sau sinh Kết quả nghiên cứu của Phan Thanh Bình (2017), xác định tỉ lệ tăng huyết
áp ở người dân tộc KHMER từ 25 – 64 tuổi chiếm 33,5%, tỉ lệ bệnh phát hiện tăng huyết áp mới là 12,5% [27].
Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh là một bệnh viện loại II tuyến điều trị chuyên khoa Sản - Nhi cao nhất của tỉnh với 260 giường bệnh kế hoạch và 394 giường bệnh thực kê, 07 khoa lâm sàng, 04 khoa cận lâm sàng, có đủ điều kiện trang thiết bị y tế Hàng năm bệnh viện tiếp nhận khám thai và điều trị hơn: 10.000 thai phụ trong năm
2019, trong đó có 174 thai phụ dân tộc KHMER có tăng huyết áp trong thai kỳ (Quyết định số 233/BC-BVSN) [2] Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá đặc điểm rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ ở thai phụ KHMER tại tỉnh
Trà Vinh với lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Đặc điểm và kết cục ở thai phụ KHMER tại Trà Vinh có tăng huyết áp thai kỳ” Với câu hỏi nghiên cứu: “Đặc
điểm và kết cục ở thai phụ KHMER tại Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh có tăng huyết
áp như thế nào?” Từ đó chúng tôi hiểu rõ hơn về đặc điểm lâm sàng và cận lâm
sàng, quá trình chăm sóc thai nghén, kết cục của mẹ và con để đưa ra các giải pháp, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, chăm sóc, hướng dẫn và quản lý thai nghén cho thai phụ KHMER có tăng huyết áp trong thai kỳ trên địa bàn tỉnh.
Trang 17MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả đặc điểm thai sản trên thai phụ KHMER có tăng huyết áp trong thai
kỳ đến sinh tại Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh từ năm 2018 - 2020.
2 Phân tích kết cục thai sản trên thai phụ KHMER có tăng huyết áp trong thai
kỳ đến sinh tại Bệnh viện Sản - Nhi Trà Vinh từ năm 2018 - 2020.
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp trong thai kỳ
Theo phân loại của Hiệp Hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ năm 2020 và Bộ Y tế Việt Nam năm 2021 [10], [34].
Theo ACOG năm 2020 THA trong thai kỳ được phân thành 4 nhóm [34]:
1 Tăng huyết áp thai kỳ (trước đây gọi là THA thoáng qua).
2 Hội chứng tiền sản giật - sản giật.
3 Tăng huyết áp mạn tính (do bất cứ nguyên nhân nào).
4 Tiền sản giật ghép trên THA mạn tính.
Theo quyết định số 1911/QĐ – BYT ngày 19/04/2021 của Bộ y tế về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn sàng lọc và điều trị dự phòng tiền sản giật” phân loại thành 4 nhóm [10]:
Nhóm 1: Tăng huyết áp đơn thuần trong thai kỳ
Nhóm 2: Tiền sản giật
Nhóm 3: Tăng huyết áp mạn tính
Nhóm 4: Tiền sản giật trên người THA mạn tính.
1.1.1 Tăng huyết áp trong thai kỳ
Tăng huyết áp trong thai kỳ là tình trạng huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg, đo 2 lần cách ít nhất 4 giờ, xuất hiện sau 20 tuần thai kỳ ở trường hợp có HA trước đó bình thường Protein niệu (-) và không có các triệu chứng nặng liên quan đến TSG HA của sản phụ trở về bình thường sau sinh [10], [6], [37], [67].
1.1.2 Tiền sản giật
* Chẩn đoán:
Huyết áp (HA) ≥ 140/90 mmHg, đo 2 lần cách ít nhất 4 giờ, xuất hiện sau 20 tuần của thai kỳ ở trường hợp có HA trước đó bình thường Đạm niệu ≥ 0,3g/L (nước tiểu 24 giờ) hay 1 +
= 0,3g/L hoặc protein/creatinine ≥ 0.3 (mg/dl), (lấy 2 mẫu nước tiểu bất kỳ cách nhau 6 giờ) hay 1 +
thử bằng que [7], [38], [72].
Trang 19Tiền sản giật nặng: Thêm một trong các dấu hiệu sau:
(1) HAMin ≥100 mmHg HAMax ≥160 mmHg.
(2) Proteine niệu ≥ 300mg/24 giờ, hoặc protein/creatinine ≥ 0.3 (mg/dl), hoặc
≥ 2 +
thử bằng que.
(3) Thiểu niệu (nước tiểu < 100ml/ 4giờ).
(4) Nhức đầu, mờ mắt, đau thượng vị/ đau hạ sườn phải.
(5) Phù phổi cấp, suy tim cấp.
(6) Thai chậm tăng trưởng trong tử cung
(7) Xét nghiệm: Creatinin/máu tăng >1.2mg/dl, tiểu cầu giảm <100.000 mm3, tiêu huyết vi thể tăng (LDH), men gan tăng.
Bảng 1.1: Phân loại TSG không có dấu hiệu nặng – TSG có dấu hiệu nặng:
8 Creatinin huyết Bình thường Tăng cao (>1.2 mg/dl)
9 Tiểu cầu Không giảm Giảm (<100.000 mm 3
)
10 Men gan Không tăng, nhẹ Tăng cao (AST>70 U/L
11 Lactate Dehydrogenase Bình thường ≥ 600 U/L
12 Thai chậm tăng trưởng Không Thấy rõ
Trang 20Sản giật: Là xuất hiện những cơn co cứng - co giật khu trú hoặc toàn thân có
hoặc không kèm theo hôn mê xảy ra trên những bệnh nhân có triệu chứng của TSG sau khi đã loại trừ cơn co giật do các nguyên nhân khác như động kinh, nhồi máu não, xuất huyết não hoặc do sử dụng thuốc SG được xem là một biến chứng biểu hiện tình trạng nặng của TSG, có thể xảy ra trong thai kỳ hoặc thời kỳ hậu sản.
Tiền sản giật trên người THA mạn tính: THA mạn tính xuất hiện protein
niệu (>300 mg/24 giờ) sau 20 tuần của thai kỳ THA mạn kèm protein niệu trước 20 tuần thai kỳ và xuất hiện các dấu hiệu sau: THA đột ngột hoặc cần phải điều chỉnh thuốc hạ HA ở những trường hợp THA mạn tính đang được kiểm soát HA tốt; Tiểu cầu giảm dưới 100.000 x 10 9
/L; Tăng bất thường các men gan; Đau vùng hạ sườn phải và đau đầu mà dùng thuốc giảm đau thông thường không thuyên giảm; Phù phổi; Giảm chức năng thận (creatinin huyết thanh tăng > 1,1 mg/dl) [10], [34].
1.1.2 Cơ chế rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ
1.1.2.1 Cơ chế
Quan sát thấy THA trong thai kỳ có nhiều khả năng xuất hiện ở các phụ nữ thường gặp:
Tiếp xúc lần đầu với gai nhau.
Tiếp xúc quá nhiều với gai nhau: Đa thai, thai trứng.
Kích hoạt các yếu tố nội mô hay viêm: Đái tháo đường, béo phì, bệnh thận, tim mạch, di truyền.
Vai trò của gen:
Xâm nhập không hoàn toàn của nguyên bào nuôi vào động mạch xoắn dẫn đến tái cấu trúc động mạch xoắn không trọn vẹn.
Trong giai đoạn sớm của sự phát triển bánh nhau, các nguyên bào nuôi ngoài gai nhau xâm nhập vào hệ thống động mạch xoắn tử cung ở màng rụng và cơ tử cung Các nguyên bào nuôi này thay thế cho lớp nội mô mạch máu của động mạch xoắn, làm cho các động mạch xoắn đang có khẩu kính nhỏ, đề kháng thành mạch cao chuyển dạng thành khẩu kính lớn, đề kháng thành mạch giảm giúp cho sự tưới
Trang 21máu bánh nhau được đầy đủ, phù hợp để dinh dưỡng thai Điều này tạo ra cho bánh nhau trở thành một hệ thống có trở kháng thấp, trong một thai kỳ bình thường.
Sự xâm nhập bất thường của nguyên bào nuôi vào động mạch xoắn.
Bình thường: Phải có sự xâm nhập của tế bào nuôi gây ra 2 hiện tượng giả tạo mạch và tái cấu trúc mạch máu của động mạch xoắn trong lớp màng rụng và lớp cơ
tử cung (đợt 1 trước 12 tuần hết lớp màng rụng, đợt 2 từ 12 tuần – 16 tuần đến dưới
20 tuần xâm nhập mao mạch trong lớp cơ tử cung) Làm tăng khẩu kính và giảm trở kháng của thành mạch giúp máu đến nhau đầy đủ để nuôi dưỡng thai.
Tiền sản giật: Sự xâm nhập động mạch xoắn không hoàn toàn, chỉ xảy ra ở lớp màng rụng không đến được đoạn trong lớp cơ Khẩu kính tăng ít, trở kháng mạch máu vẫn cao, tưới máu không đầy đủ [14], [19], [47].
Immunological Factors: Sự kém dung nạp về miễn dịch giữa mẹ, nhau, thai.
Giảm ngăn chặn kháng thể đến vị trí kháng nguyên nhau.
Tăng tải lượng kháng nguyên của bố như thai trứng, trisomy 13.
Mang thai con rạ nhưng khác người phối ngẫu dẫn đến tăng nguy cơ TSG Trisomy 13 chiếm khoảng 30 - 40% các ca TSG.
Kích hoạt hệ thống tế bào nội mô mạch máu (STAGE 2).
Sơ đồ 1.1: Rối loạn chức năng nội mô mạch máu
Nguồn: Huỳnh Nguyễn Khánh Trang (2014) [19]
Trang 22Những thay đổi phản ứng viêm được cho là sự tiếp nối với giai đoạn 1 Thiếu máu cục bộ hoặc các nguyên nhân kích thích khác, yếu tố từ nhau thai được giải
phóng và bắt đầu một loạt các phản ứng Các yếu tố kháng tạo mạch, yếu tố chuyển hóa và các chất trung gian gây viêm được cho là gây ra tổn thương hệ thống tế bào
nội mô (kích hoạt hoặc rối loạn chức năng tế bào nội mô).
Cytokins (TNF-α, interleukins) góp phần vào tình trạng stress oxy hóa hệ
thống (liên quan đến TSG) tạo ra phản ứng oxy hóa và những gốc tự do dẫn đến hình thành peroxides lipid tự lan truyền có độc tính cao Những gốc tự do gây tổn thương hệ thống tế bào nội mô mạch máu, biến đổi việc sản xuất NO của các tế bào này và can thiệp vào sự cân bằng prostaglandin.
Hậu quả stress oxy hóa khác gồm: Sản sinh ra những đại thực bào hình bong bóng chứa mỡ trong xơ vữa bánh nhau, hoạt hóa đông máu vi mạch hệ thống biểu hiện bằng giảm tiểu cầu, tăng tính thấm thành mạch biểu hiện bởi phù và protein niệu.
Tiền sản giật dường như là một rối loạn đa nhân tố, đa gen Kiểu hình TSG phụ thuộc vào kiểu gen mâu thuẫn với môi trường.
Các thai phụ bị TSG nguy cơ đối với con gái chiếm khoảng 20 - 40% và nguy cơ cho chị em của phụ nữ TSG khoảng 11- 37% và cho cặp song sinh là 22 - 47%.
Tiền sản giật ở các dân tộc cho thấy người Mỹ gốc Phi chiếm tỉ lệ cao hơn người Mỹ gốc Latin.
Thường gen của người bị TSG nằm trên nhiễm sắc thể số 18 của thai [14], [19], [47].
1.1.3 Sinh bệnh học của rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ
1.1.3.1.Tổn thương hệ thống tế bào nội mô:
Nội mô còn nguyên vẹn có đặc tính chống đông máu Ngoài ra, các hệ thống
tế bào nội mô, bằng cách giải phóng oxit nitric, làm giảm phản ứng của cơ trơn mạch máu với chất chủ vận Các tế bào nội mô bị tổn thương hoặc kích hoạt có thể
Trang 23làm giảm sản xuất oxit nitric và có thể tiết ra các chất thúc đẩy đông máu và nhạy cảm hơn với thuốc vận mạch.
Protein liên kết nội mô bị phá vỡ, vùng dưới nội mô của các mạch máu tăng trở kháng có sự thay đổi siêu cấu trúc.
Các tĩnh mạch lớn cũng xảy ra tương tự.
Lưu lượng dòng máu giảm do co mạch và thoát dịch vào mô kẽ làm thiếu máu cục bộ các mô xung quanh dẫn đến hoại tử, xuất huyết gây rối loạn chức năng các cơ quan.
1.1.3.3 Tăng khả năng phản ứng mạch máu với Norepinephrine và angiotensin II
Tăng nhạy cảm với angiotensin II trước khi THA.
Prostaglandins là yếu tố chính trong TSG.
+ Giảm tổng hợp prostacyclin nội mô (PGI2), hiện tượng này xuất hiện thông qua trung gian phospholipase A2.
+ Tiểu cầu tăng tiết thromboxane A2.
+ Prostacylin/ thromboxane A2 giảm dẫn đến tăng độ nhạy với angiotensin II cuối cùng là gây co mạch (những thay đổi xuất hiện rõ nhất từ tuần 22).
Nitơ monoxide hay còn gọi là nitric oxide là một chất giãn mạch, được tế bào nội mô tổng hợp từ L-arginine.
+ Ức chế tổng hợp NO làm THA động mạch trung bình, giảm nhịp tim.
+ Trên người, NO là tác nhân duy nhất duy trì trạng thái giãn mạch áp lực từ thấp đến bình thường đặc trưng của tưới máu nhau thai.
Trang 24+ Những tác động của sản xuất NO trong TSG là không rõ ràng, liên quan giảm biểu hiện tổng hợp NO nội mô Do đó hoạt động NO thấp.
Endothelin: Tác nhân gây co mạch mạnh, được sản xuất từ tế bào nội mô
mạch máu Tăng ở phụ nữ mang thai, đặc biệt là phụ nữ có TSG (sự kích thích tế bào nội mô mạch máu) Sử dụng magnesium sulphate có tác dụng làm giảm chất Endothelin.
Các Protein tạo mạch và kháng tạo mạch:
Sự hình thành mạch máu nhau thai xuất hiện vào ngày 21 sau thụ tinh.
Mất cân bằng tạo mạch do một số lượng lớn các chất kháng tạo mạch được kích thích do tình trạng thiếu oxy tại giao diện tử cung nhau.
Hai protein kháng tạo mạch được tạo ra:
Mất cân bằng giữa yếu tố tân tạo và kháng tạo mạch giữ vai trò then chốt trong
cơ chế TSG có sự xâm nhập của nguyên bào nuôi vào hệ thống động mạch xoắn làm cho bánh nhau bị thiếu máu cục bộ Để đáp ứng với tình trạng thiếu oxy ở bánh nhau cho nên bánh nhau sản sinh ra nhiều yếu tố đi vào dòng máu mẹ gây ra tình trạng rối loạn chức năng của tế bào nội mô và biểu hiện lâm sàng của bệnh trong đó được quan tâm nhiều nhất là yếu tố kháng tạo mạch:
o soluble Fms like tyrosine kinase-1 (sFlt-1): Là một protein kháng tạo
mạch máu trong huyết thanh, là một thụ thể của PlGF (placental growth factor) và
VEGF (vascular endothelial growth factor) Nồng độ sFlt-1 cao, làm giảm PlGF và
VEGF tự do là một yếu tố tăng trưởng tự do mạch máu, là một protein tiền sinh mạch máu có liên quan trong việc điều hoà sự phát triển mạch máu của bánh nhau
và rối loạn chức năng nội mô mạch máu của mẹ.
o soluble Endoglin (sEng): gắn vào các TGF-β làm giảm liên kết (TGF-β +
Endoglin), giảm sản xuất NO.
Nồng độ sEng tăng trước nhiều tháng trước khi TSG xuất hiện.
Metformin làm giảm sự tiết các chất kháng tạo mạch từ các mô trên người Tổng quan hệ thống nồng độ sFlt-1 tăng cao và PlGF thấp gây TSG xuất hiện lúc 25 tuần.
Trang 25Nghiên cứu của Haggerty và cộng sự năm 2012: nồng độ sFlt-1 và sEng tăng gấp đôi nguy cơ TSG tăng 39 -74% [60].
1.2 Tác hại của tăng huyết áp trong thai kỳ
1.2.1 Biến chứng xấu cho mẹ
Tử vong mẹ: RLTHATK là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử
vong mẹ và chu sinh trên toàn thế giới Người ta ước tính rằng TSG gây biến chứng cho 2-8% các trường hợp mang thai trên toàn cầu [81] Ở Mỹ Latinh và Caribê, rối loạn THA là nguyên nhân gây ra gần 26% số ca tử vong ở thai phụ, trong khi ở Châu Phi và Châu Á, chúng gây ra 9% số ca tử vong Mặc dù tử vong mẹ ở các nước thu nhập cao thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển, 16% tử vong mẹ
có thể do rối loạn THA Tại Hoa Kỳ, tỉ lệ TSG tăng 25% từ năm 1987 đến năm
2004 Hơn nữa, so với những phụ nữ sinh con năm 1980, những phụ nữ sinh con năm 2003 có nguy cơ bị TSG nặng gấp 6,7 lần Biến chứng này rất tốn kém, một nghiên cứu đã báo cáo rằng vào năm 2012 tại Hoa Kỳ, chi phí ước tính của TSG trong vòng 12 tháng đầu sau sinh là 2,18 tỉ đô la (1,03 tỉ đô la cho phụ nữ và 1,15 tỉ
đô la cho trẻ sơ sinh), chi phí này do sinh non gây ra một cách không cân xứng [33], [82].
Sản giật là một biến chứng thường gặp và là một yếu tố tiên lượng quan trọng
của TSG Sản giật có thể ngăn ngừa được nếu như quan tâm nhiều đến công tác chăm sóc trước sinh, tỉ lệ mắc sản giật đang có xu hướng giảm tại các quốc gia có
hệ thống y tế và công tác trước sinh tốt cụ thể là trung bình 0,05% Theo ước tính tỉ
lệ sản giật ở Hoa Kỳ vào năm 1998 là 0,03%, xấp xỉ 0,05% tại Anh Quốc, 0,04% tại Dublin, 0,06% tại Hà Lan [46] Tại Việt Nam nguy cơ xảy ra sản giật ở bệnh nhân TSG nặng là 40,9% [54].
gan và số lượng tiểu cầu giảm Hội chứng thường khởi phát trong 3 tháng cuối hoặc ngay sau khi sinh Các triệu chứng bao gồm mệt mỏi, phù, đau đầu, buồn nôn, đau bụng hạ sườn phải, giảm thị lực, chảy máu mũi và co giật Biến chứng bao gồm đông máu nội mạch rải rác (DIC), nhau bong non và suy thận cấp.
Trang 26Điều trị cần chấm dứt thai kỳ càng sớm càng tốt Đặc biệt là mang thai trên 34 tuần Có thể dùng thuốc để hạ huyết áp và truyền máu nếu cần Corticosteroid có thể được sử dụng tăng tốc độ phát triển trưởng thành phổi của thai nhi, nếu tuổi thai dưới 34 tuần Hội chứng HELLP xảy ra ở khoảng 0,7% phụ nữ mang thai và ảnh hưởng đến khoảng 15% phụ nữ sản giật hoặc TSG nặng Tình trạng của trẻ thường liên quan đến tỉ lệ sinh non của trẻ ở bất kỳ tuổi thai nào Hội chứng HELLP được đặt tên lần đầu tiên vào năm 1982 [55], [61].
Nhau bong non: Nhau bong non là một biến chứng sản khoa nghiêm trọng
xảy ra với tỉ lệ 1 - 2 ca trong 100 trường hợp mang thai Hơn 50% các trường hợp mang thai phức tạp do nhau bong non, nhau bong non có liên quan đến nhiều kết cục bất lợi của mẹ và con [49] Tỉ lệ nhau bong non ở nhóm thai phụ TSG mang thai lần 2 và thai lần đầu lần lượt là 1,7% và 0,2%, p=0,004 [70].
Tổn thương thận cấp: Tổn thương thận cấp (acute kidney injury - AKI) là
hội chứng với nhiều mức độ trầm trọng thay đổi, diễn tiến qua nhiều giai đoạn, đặc trưng bằng giảm cấp tính độ lọc cầu thận (tăng BUN, creatinine huyết thanh trong vài giờ đến vài ngày) kèm hoặc không kèm giảm thể tích nước tiểu Tổn thương thận cấp cũng là một biến chứng hay gặp ở thai phụ TSG nặng Tiêu chuẩn chẩn đoán tổn thương thận cấp trên thai phụ TSG nặng khi nồng độ creatinine huyết tương >150 μmol/L và không có bệnh lý thận trước đó hoặc nồng độ creatinine huyết tương >200 μmol/L và kèm bệnh thận nền Theo Von Dadelszen tỉ lệ thai phụ TSG nặng có tổn thương thận cấp là 3,83% [88].
Truyền máu: Thiếu máu trong thai kỳ cũng là kết cục thường gặp của TSG
nặng, được định nghĩa khi nồng độ hemoglobin <11g/dL trong tam cá nguyệt thứ nhất và thứ ba và dưới 10,5 g/dL trong tam cá nguyệt thứ hai Thiếu máu là một biểu hiện muộn của thiếu sắt khi truyền máu không điều trị được nguyên nhân gây thiếu máu Tỉ lệ thai phụ TSG có thiếu máu lên đến 40,6% [79] Quyết định truyền máu phải dựa trên biểu hiện lâm sàng và kết quả xét nghiệm huyết học Truyền máu hầu như luôn luôn được chỉ ra khi Hb <7 g/dL để giảm tỉ lệ bệnh suất và tử suất của
Trang 27thai phụ Theo Von Dadelszen tỉ lệ thai phụ TSG nặng truyền chế phẩm máu là 32,6% [88].
1.2.2 Biến chứng xấu cho con
Thai chậm tăng trưởng trong tử cung: Thai chậm tăng trưởng trong tử cung
chiếm khoảng 50% trong trường hợp tiền sản giật nặng Thai chậm tăng trưởng
trong tử cung có các số đo của thai (đường kính lưỡng đỉnh, chiều dài xương đùi, chu vi vòng đầu, chu vi vòng bụng), nằm dưới đường bách phân vị thứ 5 so với biểu
đồ tổng hợp bình thường theo tuổi thai [54].
Suy thai: Là một hội chứng bệnh lý xảy ra trong quá trình thai nghén hoặc
trong lúc chuyển dạ mà hậu quả cuối cùng là thiếu oxy trong máu và trong tổ chức của thai, gây nên các rối loạn về chuyển hóa, làm tăng quá trình tích tụ CO2 trong
cơ thể con Suy thai xảy ra trong thai kỳ thường không đột ngột gọi là suy thai mạn tính hay suy thai trường diễn, thường là hậu quả của bệnh lý về phía mẹ như: TSG, bệnh tim hoặc bệnh lý của thai (thai bất thường, thai bị nhiễm khuẩn), hoặc do bất thường về phía phần phụ của thai Trái lại suy thai xảy ra trong quá trình chuyển dạ thường là suy thai cấp, các trường hợp suy thai mãn có thể nhanh chóng trở thành suy thai cấp tính trong chuyển dạ Suy thai là nguyên nhân của tử vong sơ sinh và
nó còn là nguyên nhân quan trọng làm tăng tỉ lệ mắc bệnh ở trẻ sơ sinh, gây chậm phát triển về tinh thần và vận động của trẻ sau này [39].
Thai chết lưu trong tử cung: Đây là một biến chứng nặng nề nhất của TSG
gây ra cho thai, do TSG gây ra những rối loạn về tuần hoàn tử cung - nhau kéo dài
và trầm trọng dẫn đến là gây ngừng trệ sự trao đổi chất dinh dưỡng và oxy cho thai, gây suy thai trong tử cung thậm chí có thể làm thai chết Nghiên cứu của Sibai (1996), cho thấy ở những thai phụ có hội chứng HELLP, tỉ lệ thai chết trong tử cung
là 19,3% và tỉ lệ này tăng lên đến 41,2% ở tuổi thai dưới 30 tuần [78] Ở Việt Nam,
tỉ lệ thai chết lưu ở các thai phụ TSG là 5,3% [22].
Trẻ sơ sinh non tháng: Trên Thế Giới, tỉ lệ đẻ non ở các thai phụ bị TSG là
42%, chủ yếu là tuổi thai dưới 30 tuần và trong số này có tới 80% các trường hợp chấm dứt thai nghén bằng mổ lấy thai [78] Tại Việt Nam, tỉ lệ sơ sinh nhẹ cân dưới
Trang 282500gram chiếm vào khoảng 52% và sơ sinh non tháng chiếm khoảng 24% các trường hợp thai phụ TSG [22], [24].
Trẻ sơ sinh nhẹ cân: TSG là yếu tố nguy cơ chủ yếu liên quan đến cân nặng
khi sinh của trẻ sơ sinh thấp, đặc biệt có kết hợp gia tăng nguy cơ giảm tiểu cầu ở trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân và nhiễm trùng sơ sinh Theo báo cáo nghiên cứu của Michel Odent tháng 5 năm 2015 một nghiên cứu ở 97.270 trẻ sinh trên 35 bệnh viện Alberta, Canada nhận thấy rằng có mối liên quan mật thiết giữa TSG và trẻ sơ sinh nhẹ cân [73].
Tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh: THA và TSG ở mẹ có liên quan với nguy cơ
THA và biến cố tim mạch ở con Nếu mẹ bị THA và TSG thì trẻ sinh ra có nguy cơ
bị THA và bị bệnh lý tim mạch gia tăng Theo nghiên cứu của các tác giả Reveret
M, Boivin A, Guigonis V và cộng sự năm 2015 trên quy mô lớn ở Montreal, Canada từ năm 2008 đến 2011 với các sản phụ từ 29 - 35 tuần, kết quả cho thấy huyết áp ở trẻ sơ sinh của các thai phụ bị TSG tăng lên trong ba ngày đầu tiên so với nhóm mẹ bình thường (p<0,001) Trẻ sơ sinh của thai chậm tăng trưởng trong tử cung có sự gia THA tâm thu và huyết áp tâm trương một cách rõ rệt và nguy cơ lâu dài về bệnh lý tim mạch cho nhóm trẻ này.
1.3 Đặc điểm tăng huyết áp trong thai kỳ
Tăng huyết áp trong thai kỳ là một trong những rối loạn phổ biến nhất ở người mang thai [32] Mặc dù tương đối lành tính nhưng trong khoảng một nửa số trường hợp THATK, rối loạn này tiến triển thành TSG, một tình trạng nguy hiểm có thể gây tử vong cho các thai phụ trong tương lai Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã cho rằng THATK và TSG là tương đối duy nhất đối với con người, mặc dù đã có một số bằng chứng gần đây cho thấy các loài linh trưởng khác cũng có thể bị các tình trạng tương tự, mặc dù do các cơ chế cơ bản khác nhau [32], [76].
Nguồn gốc của THA trong thai kỳ có thể nằm ở sự phát triển của nhau thai, máu của mẹ - màng đệm Nhau thai có huyết tương tối ưu hóa lượng oxy và chất dinh dưỡng có thể được hấp thụ vào nguồn cung cấp máu của thai nhi, đồng thời đảm bảo sự khuếch tán nhanh chóng các chất thải ra khỏi bào thai Nhau thai
Trang 29sinh huyết này khác với nhau thai biểu mô của động vật linh trưởng thấp hơn ở chỗ
nó cho phép các mô của bào thai tương tác trực tiếp với máu của mẹ Nhau thai do
đó thúc đẩy sự khuếch tán nhanh hơn đến từ nguồn cung cấp máu của thai nhi.
Tế bào của bào thai cấy vào thành tử cung được gọi là nguyên bào nuôi Nhau thai huyết tương rửa sạch nguyên bào nuôi của thai nhi trong máu mẹ bằng cách tạo thành hố (lacunae) hay hồ của máu mẹ bao quanh mô thai Các mạch máu được lấp đầy bởi các động mạch xoắn ốc, có nghĩa là huyết áp của mẹ là động lực thúc đẩy việc đưa máu mới, chứa cả oxy và thức ăn cho thai nhi đến hệ thống Người ta cho rằng con người cần sự khuếch tán gia tăng do nhau thai máu mẹ - màng đệm cung cấp để phát triển bộ não lớn so với kích thước cơ thể giúp chúng ta phân biệt với các loài linh trưởng khác [35].
Một trong những nguyên nhân tiềm ẩn của THATK và TSG là khi nguyên bào nuôi không xâm lấn đủ sâu vào niêm mạc tử cung Khi nguyên bào nuôi của thai nhi, không mở rộng hoàn toàn vào thành tử cung, các động mạch xoắn ốc, không chuyển đổi hoàn toàn thành các kênh có sức đề kháng thấp Người ta nhận thấy rằng, sự chuyển đổi không hoàn toàn này của các động mạch xoắn ốc, làm tăng sức cản đối với lưu lượng máu đến tử cung, khi mang thai và hiện tượng này có liên quan đến THATK Một nguyên nhân có thể gây ra sự đứt gãy hoàn toàn này của động mạch xoắn ốc, dẫn đến THATK là phản ứng miễn dịch nhầm lẫn của mô mẹ, phản ứng với mô bào thai ngoại lai Do đó, rõ ràng là biến chứng THATK, có nguồn gốc từ việc thai nhi làm tổ sớm trong thành tử cung, một kỹ thuật cấy chỉ dành riêng cho con người.
- Nhau thai xâm lấn nhiều được tìm thấy ở con người, được cho là có liên quan đến mức độ lưu hành cao của hormone hCG Nó đã được chứng minh rằng nồng độ của các hormone này càng cao, sự xâm nhập của nguyên bào nuôi vào thành tử cung càng sâu Các trường hợp THATK và TSG đã được chứng minh là xảy ra khi sự xâm lấn của thành tử cung không đủ sâu, do nồng độ hCG ở người mẹ thấp hơn [44].
Trang 30Bất chấp những nguy cơ này đối với THATK, nhau thai huyết thanh vẫn được
ưa chuộng vì những ưu điểm của nó trong cách hỗ trợ truyền từ mẹ sang thai nhi sau này trong thai kỳ Tư thế hai chân cho phép con người đứng thẳng cũng dẫn đến giảm cung lượng tim và có ý kiến cho rằng đây là điều cần thiết cho cấu trúc nhau thai xâm lấn sớm ở người Huyết áp của người mẹ tăng lên có thể do cố gắng bù đắp, cho cung lượng tim thấp hơn để đảm bảo não đang phát triển của thai nhi nhận
đủ oxy và chất dinh dưỡng [44].
Tăng huyết áp thai kỳ trong giai đoạn đầu của thai kỳ (3 tháng đầu) đã được chứng minh là có thể cải thiện sức khỏe của trẻ cả trong năm đầu đời và cả cuộc đời sau này của trẻ [62] Tuy nhiên, khi bệnh phát triển muộn hơn trong thai kỳ (tam cá nguyệt tiếp theo) hoặc chuyển thành TSG, bắt đầu có những ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe của thai nhi, bao gồm cả việc sinh con nhẹ cân Người ta đã đề xuất rằng các gen của thai nhi được thiết kế để làm THA của người mẹ có lợi đến mức chúng vượt trội hơn những tác động tiêu cực tiềm ẩn có thể đến từ chứng TSG [62] Người
ta cũng cho rằng THATK và TSG vẫn là những đặc điểm tích cực do năng lực văn hóa của con người và xu hướng nữ hộ sinh hoặc người giúp việc hỗ trợ sinh con [76].
1.4 Đặc điểm tăng huyết áp trong thai kỳ và các hình thái qua các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.4.1 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Trung năm 2014 xác định tỉ lệ thai phụ xuất hiện hội chứng TSG và các yếu tố liên quan đến hội chứng TSG ở các thai phụ Đối tượng nghiên cứu: Tất cả các thai phụ có nguy cơ cao TSG đến khám tại Khoa Phụ sản Bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh từ 9/2012 đến 8/2013 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu cắt ngang, với
cỡ mẫu là thai phụ được chọn vào khi đang mang thai từ 24-28 tuần của thai kỳ, không bị TSG theo tiêu chuẩn ACOG (không bị vừa THA, vừa tiểu đạm xuất hiện sau tuần lễ thứ 20 của thai kỳ), có nguy cơ cao và đồng ý tham gia nghiên cứu Nghiên cứu loại trừ các thai phụ có vấn đề về tâm thần và những thai phụ không
Trang 31hợp tác hoặc tự nguyện bỏ ngang nghiên cứu Nghiên cứu tuyển chọn được 473 thai phụ đạt tiêu chuẩn Trong đó, nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi, hồ sơ bệnh án, hồ
sơ quản lý thai kỳ, kết quả khám và xét nghiệm của thai phụ để khai thác thông tin.
Số liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm Stata 12 Khảo sát các triệu chứng có liên quan đến TSG, nghiên cứu cho thấy tỉ lệ thai phụ có tình trạng suy chức năng gan là cao nhất, (126 thai phụ, tỉ lệ 26,6%), kế đến là triệu chứng giảm chức năng thận (80 trường hợp mắc, tỉ lệ 16,9%), THA (35 trường hợp, tỉ lệ 7,4%), giảm tiểu cầu (4 trường hợp, tỉ lệ 0,9%) và protein niệu (2 trường hợp, tỉ lệ 0,4%) Không có trường hợp nào phù phổi cấp hoặc có các triệu chứng não hoặc thị giác.
Tỉ lệ THA mới mắc trong thai kỳ (bao gồm cả TSG và không TSG) là 7,4% (3% THATK (không có TSG) và 4,4% TSG) Trong các yếu tố được xem là nguy cơ, nghiên cứu chỉ tìm thấy hai yếu tố thực sự có ý nghĩa thống kê làm tăng nguy cơ TSG ở các đối tượng này, đó là yếu tố béo phì (BMI ≥30 kg/m 2 ) (p=0,011) và yếu
tố tiền sử gia đình có hội chứng TSG (p=0,013) [23].
Huỳnh Minh Hồng và Châu Ngọc Hoa thực hiện năm 2015 thực hiện nghiên cứu cắt ngang mô tả trên thai phụ đến khám thai tại phòng khám sản, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ tháng 01/2015 - 06/2015 Có 149 thai phụ tham gia nghiên cứu trong thời gian 6 tháng tiến hành đề tài Tỉ lệ THATK là 8,72% (13 trường hợp); trong đó THA mạn 2,01% (3 trường hợp), THA do thai 6,71% (10 tường hợp) Đặc điểm dân số THATK: Tuổi thai phụ trung bình 31,53 ± 5,5 tuổi, tuổi thấp nhất 22 tuổi, cao nhất 42 tuổi; Nghề nghiệp: Đa số thai phụ là công nhân 41,22%, kế đến nội trợ và tự do 22,97%, kinh doanh 22%, nhân viên văn phòng 17,57%; Trình độ học vấn: cấp 2 là 46,1%, cấp 1 là 38,5%, cấp 3 là 15,4%, cao đẳng, đại học 0%; Chỉ số khối cơ thể trước mang thai: Thừa cân, béo phì 61,55%, bình thường 30,76%, thiếu cân 7,69%; Số lần mang thai: lần đầu 30,77%, lần thứ 2: 38,46%, lần thứ 3: 23,08% lần thứ tư :7,69%; Tiền căn gia đình THA: có tiền căn gia đình THA 23,08%, không có tiền căn gia đình THA 76,92%; Thiếu máu mức độ trung bình 15,36%, thiếu máu nhẹ 7,69%, không thiếu máu 76,95% Tiền sử đái tháo đường: 100% không có tiền căn đái tháo đường type 2; Uống rượu: 100% thai phụ có THA không có uống rượu Mối liên quan một số
Trang 32yếu tố với THATK: Không có mối liên quan giữa tuổi, nghề nghiệp, nhóm máu, số lần mang thai, số lần sinh của thai phụ với THATK Chỉ số khối cơ thể trước mang thai, tiền căn gia đình THA, trình độ học vấn thấp thể hiện ý thức, lối sống, hành vi, hiểu biết về bệnh tật thấp có mối liên quan với THATK Tỉ lệ THATK tại bênh viện Nhân Dân Gia Định là 8,72% [18].
Nghiên cứu tác giả Lê Lam Hương năm 2016 khảo sát một số yếu tố nguy cơ ở bệnh TSG, bệnh chứng trên 89 thai phụ mang thai được chẩn đoán TSG trong thời gian
từ 04/ 2013- 02/ 2014 Kết quả ghi nhận tuổi trung bình nhóm bệnh 31,1 ± 6,3; lớn nhất
là 44 tuổi và nhỏ nhất là 18 tuổi Tuổi <20 hoặc ≥ 40 ở nhóm bệnh TSG chiếm tỉ lệ 10,1% với OR = 2,4; (95% CI: 0,9- 6,5) Tiền sử có TSG chiếm 15,7% ở nhóm bệnh
và 3,9% ở nhóm chứng với OR = 4,6; (95% CI: 1,7- 11,8) Thai phụ có tiền sử cao huyết áp ở nhóm bệnh chiếm 6,7% và 1,1% ở nhóm chứng OR = 6,4; (95 % CI: 1,2- 32,5) Mang thai con so, đa thai, IBM ≥ 30 kg/m 2
ở nhóm bệnh chiếm tỉ lệ lần lượt là 55,1%; 4,5% và 34,8% với OR = 2,8 (95 % CI: 1,6-4,8); OR = 4,1(95 % CI: 0,7- 23,3);
OR = 3,0 (95 % CI: 1,7-5,5) Ở nhóm TSG sinh non tháng chiếm 12,4%, mổ đẻ chiếm 48,3%; cân nặng trẻ <2500 gram chiếm 15,7% Tiền sử có bị TSG, THA, mang thai con so, đa thai, tuổi mang thai < 20 tuổi hoặc ≥ 40 tuổi có nguy cơ bị TSG cao hơn bình thường [20].
Một nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, Trương Thị Hồng và Phạm Thị Ny thực hiện năm 2017: Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ của trẻ sơ sinh đẻ non Nghiên cứu mô tả cắt ngang Cỡ mẫu thuận tiện gồm 89 trẻ sơ sinh có tuổi thai dưới 37 tuần sinh ra và được theo dõi tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2016 đến tháng 3/2017 Tỉ lệ nam/ nữ 1,28/1, 70,8% trẻ từ 34-
<37 tuần 44,9% có cơn ngưng thở, 61,8% trẻ có vàng da tăng bilirubin gián tiếp, 92,1% trẻ đi tiểu và 74,2% trẻ đi cầu phân su trong 24 giờ đầu sau sinh Nhiễm trùng sơ sinh và vàng da tăng bilirubin gián tiếp là hai bệnh lý thường gặp nhất 37% trẻ đẻ non không rõ nguyên nhân Một số yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía mẹ là ối vỡ non 44,9%,
mẹ sốt trước, trong hoặc sau sinh 3 ngày 23,6%, mẹ trên 35 tuổi 15,7%, mẹ bị TSG 12,4% Yếu tố nguy cơ đẻ non từ phía thai là đa thai 20,2% và suy thai 5,6% [25].
Trang 33Nghiên cứu của Hồ Cao Cường năm 2019 xác định tỉ lệ và các yếu tố liên quan
đến các RLTHATK của phụ nữ có thai từ HTSS tại bệnh viện Mỹ Đức Nghiên cứu cắt
ngang thực hiện tại Bệnh viện Mỹ Đức, TP Hồ Chí Minh từ tháng 08/2017 đến tháng 04/2018 Thai phụ có thai sau HTSS đến sinh hoặc chấm dứt thai kỳ vì bệnh lý từ 12
tuần trở lên tại Bệnh viện Mỹ Đức được nhận vào nghiên cứu Kết cục chính là tỉ lệ RL
THATK Kết quả: Có 610 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu Tỉ lệ RLTHATK là 7,5% Song thai là yếu tố nguy cơ liên quan đến các RLTHATK (OR = 2,04, KTC 95%: 1,05 – 4,04) T lệ RLTHATK ở phụ nữ có thai từ HTSS tại Bệnh viện Mỹ Đức
là 7,5% Song thai là yếu tố liên quan với RLTHATK [16].
Năm 2017 nghiên cứu của tác giả Nguyễn Viết Tiến kết quả xử trí TSG tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2015 Nghiên cứu chọn 402 trường hợp đủ tiêu chuẩn chọn mẫu, để đảm bảo độ tin cậy Phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu Kết quả nghiên cứu xác định TSG có 3,5% gây chuyển dạ, 6,2% chuyển dạ tự nhiên
và 90,3% mổ lấy thai chủ động, chủ yếu do những biến chứng của TSG Trong số bệnh nhân chuyển dạ tự nhiên có 72% đẻ thường Nhóm có chỉ định gây chuyển dạ
là 3,5% Có 91,7% là mổ lấy thai chủ động khi tuổi thai từ 29-32 tuần và 93,8% ở tuổi thai 33-37 tuần TSG tới 90,3% mổ lấy thai chủ động, chủ yếu do những biến chứng của TSG Biến chứng xảy ra với mẹ nhiều nhất là chảy máu, chiếm 9,0%, hội chứng HELLP 6,7%, biến chứng suy thận có 3,7%, nhau bong non 2,7% [26].
Nghiên cứu năm 2019 của Nguyễn Thanh Hưng, nghiên cứu mô tả dọc hồi cứu, được tiến hành trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2018 đến ngày 30/06/2019 trên 318 trường hợp TSG nặng được chẩn đoán ở tuổi thai từ 28 đến 32 tuần Số liệu nghiên cứu chỉ ra: Tỉ lệ mẹ có kết cục thai kỳ xấu là 18,2% (KTC 95%: 14,0-22,4), nhiều nhất là hội chứng HELLP (6,9%) và tổn thương thận (4,4%) Tỉ lệ con có kết cục thai kỳ xấu là 59,4% (KTC 95%: 54,0-64,8), nhiều nhất
là thai nhẹ cân so với tuổi thai (38,4%) và IUGR (36,5%) Tỉ lệ kết cục thai kỳ xấu chung của mẹ hoặc con là 65,1% (KTC 95%: 59,9-70,3) Các yếu tố liên quan kết cục thai kỳ xấu ở mẹ bao gồm năm biến số: Tuổi thai nhập viện (OR=3,3), tình trạng đau thượng vị (OR=8,6), nồng độ AST nhập viện (OR=111,4), số lượng tiểu
Trang 34cầu nhập viện (OR=42,3) và nồng độ creatinin nhập viện (OR=94,7) Các yếu tố liên quan kết cục thai kỳ xấu ở con bao gồm ba biến số: Tuổi thai nhập viện (OR=4,0), thời gian kéo dài thai kỳ (2,1%) và giảm trở kháng động mạch não giữa (OR=10,8) Các yếu tố liên quan kết cục thai kỳ xấu chung của mẹ hoặc con gồm bốn biến số: Tuổi thai nhập viện (OR=0,6), thời gian kéo dài thai kỳ (OR=0,8), nồng độ AST nhập viện (OR=1,2) và giảm trở kháng động mạch não giữa (OR=10,4) [24].
1.4.2 Một số nghiên cứu trên Thế giới
Tăng huyết áp thai kỳ còn được gọi là RLTHATK của mẹ, là một nhóm các rối loạn huyết áp cao bao gồm TSG, sản giật, THATK và THA mạn tính Rối loạn THA của mẹ xảy ra ở khoảng 20,7 triệu phụ nữ vào năm 2013 [65] Khoảng 10% thai kỳ trên toàn cầu rất phức tạp do các bệnh THA Tại Hoa Kỳ, bệnh THA trong thai kỳ ảnh hưởng đến khoảng 8% đến 13% thai kỳ Thường thấy tăng ở các nước đang phát triển Họ đã thấy 29.000 ca tử vong trong năm 2013 giảm so với 37.000
ca tử vong vào năm 1990 Chúng là một trong ba nguyên nhân chính gây tử vong
mẹ trong thai kỳ (16%) cùng với băng huyết sau sinh (13%) và nhiễm trùng hậu sản (2%) [54].
Một nghiên cứu của Moussa HN và cộng sự năm 2017 về THA trong thai kỳ
đã đưa ra một định nghĩa mới về TSG ghép thêm các biến chứng làm tiêu chí mới
để xác định bệnh nặng Họ cũng khuyến nghị những người có TSG ghép nên kết thúc thai kỳ ≥ 37 tuần, trong khi những người có biến chứng kết thúc thai kỳ ≤ 34 tuần Mục tiêu của chúng tôi là điều tra tính hợp lệ của định nghĩa mới này bằng cách so sánh kết quả mang thai bất lợi trong sản giật với không có biến chứng Kết quả nghiên cứu tổng cộng có 216 phụ nữ (28%) trong số 774 người bị THA mạn tính phát triển TSG ghép 87 (11%) có TSG ghép biến chứng và 129 (17%) không
có biến chứng Đặc điểm cơ bản bao gồm tuổi mẹ, HA cơ bản và chỉ định dùng aspirin liều thấp là tương tự nhau giữa các nhóm Sử dụng phân tích đơn biến, kết
quả bất lợi tổng hợp cao hơn ở nhóm TSG ghép biến chứng (p=0,04), cũng như chỉ định sinh non (p=0,02), mổ lấy thai (p=0,02) và tỉ lệ nhẹ cân sơ sinh (p=0,02) Sau
Trang 35khi điều chỉnh, kết quả bất lợi tổng hợp không khác biệt đáng kể giữa các nhóm Tuy nhiên, tỉ lệ nhẹ cân sơ sinh cao hơn giữa TSG ghép biến chứng
(OR=3.12, p=0,02) Tỉ lệ TSG ghép biến chứng trong nghiên cứu này là 11% của tất
cả phụ nữ mắc THA mạn tính Đáng ngạc nhiên, mang thai kết quả không khác biệt đáng kể ở những người có và không có biến chứng [71].
Một nghiên cứu tại Trung Quốc do Tao Xiong và cộng sự thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá mối liên quan giữa các rối loạn THA trong thai kỳ và tỉ lệ thai chết lưu Phương pháp chúng tôi đã thu thập tất cả dữ liệu từ hệ thống giám sát thai phụ
ở Trung Quốc từ năm 2012 đến 2016 Liên kết giữa rối loạn THA trong thai kỳ và thai chết lưu, được phân tầng theo số lượng thai nhi và tuổi thai, được đánh giá bằng phương pháp hồi quy Poisson phân tích với một ước lượng phương sai tương quan mạnh Những phát hiện trong giai đoạn này có 6.970.032 ca sinh, bao gồm:
66.494 thai chết lưu, đã được báo cáo cho hệ thống giám sát Thai chết lưu tỉ lệ ở phụ nữ bị rối loạn THA trong thai kỳ là 21,9 trên 1000 ca sinh Nguy cơ cao hơn ở những người nhận được ít thăm khám thai hoặc những người có trình độ học vấn thấp Đối với thai kỳ, tỉ lệ rủi ro được điều chỉnh (aRR) đối với thai chết lưu ở phụ
nữ bị rối loạn THA trong thai kỳ so với phụ nữ bình thường là 3,1 (KTC 95%: 33,4) Các aRR đối với các phân nhóm rối loạn THA là: 6,66 (KTC 95%: 5,6 - 7,9) đối với TSG ghép: 4,15 (KTC 95%: 3,8 -4,5) cho TSG hoặc sản giật: 2,32 (KTC 95%: 1,9 - 2,9) cho THA mạn tính và 1,21 (KTC 95%: 1,1-1,4) cho THATK Đối với nhiều phụ nữ mang thai, sự liên quan giữa thai chết lưu và rối loạn THA trong thai kỳ là không đáng kể, ngoại trừ TSG ghép (aRR: 1.95; 95%CI: 1.28 -2.97) Kết luận để giảm thiểu tỉ lệ thai chết lưu, cần chú ý nhiều hơn đến THA mạn tính và TSG ghép trong thai kỳ đơn thai và TSG ghép trong đa thai Chăm sóc tiền sản chất lượng tốt hơn và hướng dẫn cải tiến là cần thiết ở Trung Quốc [85].
2,9-Nghiên cứu của Akbar MIA và các cộng sự năm 2019 đánh giá Kết quả của
mẹ và chu sinh liên quan đến mức độ nghiêm trọng của THA mạn tính trong thai
kỳ Nghiên cứu này được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa Dr Soetomo, một trung tâm đại học ở Đông - Java, Indonesia trong giai đoạn 2013-2017 Trong 5 năm có
Trang 36352 bệnh nhân được chẩn đoán mắc THA Giai đoạn 2 của THA có liên quan đến kết cục của mẹ tồi tệ hơn như tử vong mẹ (5,6% so với 0,8%; p=0,016), giá trị phòng thí nghiệm của protein tiết niệu 3+ (67% so với 21,5%, p=0,001) và 4+(12,3% so với 0,4%, p=0,001), LDH> 600 IU/L (11,3% so với 5,3%, p=0,04), ALT> 70 IU/L (11,3% so với 4,1%, p=0,01), AST> 70 IU/L (12,3% so với 5,3%, p=0,02), BUN> 25 mg/dL (27,4% so với 8,1%, p=0,001), Creatinin> 1,1 mg/dL (29,2% so với 6,5%, p=0,001) và Albumin <3 g/dL (65,1% so với 10,2%, p=0,001), cần nhập ICU (76,4% so với 36,6%, p=0,001), thở máy (48,1% so với 21,1%, p=0,001) và xảy ra biến chứng (72,6% so với 57,7%, p=0,006) THA mạn tính độ 2 trong thai kỳ có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong mẹ (OR: 7.22; 95% CI: 1.43- 36.36; p=0,016) THA mạn tính độ 2 cũng liên quan đến kết quả chu sinh xấu hơn
về cân nặng khi sinh thấp hơn (1635 ± 863,27 so với 2063,74 ± 935,43, p=0,001), điểm APGAR thấp hơn (p=0,001) và số biến chứng trong tử cung như: Thai chậm tăng trưởng trong tử cung, thai chết lưu và nhau bong non (27,4% so với 11,8%, p=0,001) THA mạn tính độ 2 trong thai kỳ có liên quan đến kết quả xấu hơn của
mẹ và chu sinh so với THA độ 1 Can thiệp để ngăn ngừa tiến triển bệnh đến giai đoạn 2 trước khi mang thai có thể cải thiện kết quả của mẹ và chu sinh trong thai
kỳ [36].
Năm 2015, Gilbert và cộng sự khảo sát kết cục thai kỳ ở thai phụ bị TSG người Trung Quốc và người Burundi dựa trên một nghiên cứu hồi cứu Từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012 tổng cộng 46 thai phụ bị TSG người Burundi và
từ năm 2011 đến năm 2013 tổng cộng 137 thai phụ bị TSG người Trung Quốc tham gia nghiên cứu, kết quả như biến chứng như sản giật, hội chứng HELLP và tử vong thai phụ nhóm phụ nữ Burundi (30,4 – 10,9 – 4,3 %) cao hơn đáng kể so với người Trung Quốc (0,7 – 2,2 – 0,0%) (p<0,05) Ngược lại, nhau bong non và băng huyết sau sanh chiếm tỉ lệ cao hơn ở phụ nữ Trung Quốc, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê [59].
Năm 2016, Shikha Rani và cộng sự cố gắng tìm hiểu mối liên quan giữa Doppler động mạch rốn/ động mạch não giữa thai nhi và khả năng xuất hiện các kết
Trang 37cục thai kỳ xấu ở con trên những trường hợp được chẩn đoán TSG Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu được thực hiện từ tháng 01/2012 đến tháng 09/2014 trên 223 thai phụ đơn thai, có tuổi thai từ 30-36 tuần Kết quả cho thấy Doppler động mạch rốn
và Doppler động mạch não giữa thai nhi là một chỉ điểm để phát hiện các kết cục xấu ở con với độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán dương khá cao (độ đặc hiệu dao động
từ 0,91 đến 0,98, giá trị tiên đoán dương giao động từ 0,69 đến 0,85) [75].
Cũng trong năm 2016, Marozio và cộng sự tiến hành đánh giá tính thực tiễn và hiệu quả của điều trị dưỡng thai ở các thai kỳ có TSG nặng khởi phát sớm trong bối cảnh thực tế lâm sàng Các đánh giá dựa trên các kết cục thai nhi sau khi thực hiện các lựa chọn điều trị khác nhau Nghiên cứu thu nhận được 64 thai phụ thuộc nhóm chấm dứt thai kỳ sau khi ổn định tình trạng mẹ và 130 thai phụ được dưỡng thai Các thông tin thu thập được đã gợi ý rằng dưỡng thai ở các thai kỳ TSG nặng khởi phát sớm là một lựa chọn khả dĩ trên thực tế lâm sàng và nó càng hiệu quả ở các thai kỳ có TSG nặng khởi phát càng sớm Ở nhóm dưỡng thai, tuổi thai khởi phát TSG nặng trung bình (31 tuần) là cao hơn nhóm chứng (p<0,001), thời gian dưỡng thai trung bình là 7 ngày (dao động từ 4-19 ngày) Các yếu tố tiên lượng khả năng dưỡng thai quan trọng nhất là huyết áp được kiểm soát tốt (20% số ca phải chấm dứt thai kỳ nếu không kiểm soát tốt), không có hội chứng HELLP (chiếm 13%), không có các dấu hiệu cảnh báo (đau đầu nặng, đau thượng vị, tăng phản xạ, rối loạn thị giác) Từ nghiên cứu trên, khuyến cáo rằng huyết áp và hội chứng HELLP cần phải kiểm soát tốt nếu muốn dưỡng thai ở các thai kỳ này [69].
Năm 2017, Wang và cộng sự khảo sát hiệu quả và tính an toàn của chấm dứt thai kỳ so với dưỡng thai ở thai phụ mắc TSG và đánh giá các kết cục thai nhi trước
và sau 34 tuần thai Đây là một phân tích gộp bao gồm 07 thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng với cỡ mẫu là 1501 bệnh nhân Kết quả thu được cho thấy dưỡng thai
ở thai kỳ 32 tuần có TSG nặng giúp giảm tỉ lệ các kết cục xấu ở con như giảm suy
hô hấp do trẻ non tháng (RR=0,67; KTC 95%: 0,5-0,91), xuất huyết não thất và thiếu máu đại não (RR=0,52; KTC 95%: 0,3-0,87) Các yếu tố khuyến không thể
Trang 38dưỡng thai được bao gồm sản giật, nhau bong non, suy thận, suy chức năng gan, hội chứng HELLP, đông máu nội mạch lan tỏa, phù phổi [89].
1.5 Địa điểm nghiên cứu
1.5.1 Đặc điểm tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long Phía Đông giáp với Biển Đông với chiều dài 65 km bờ biển Phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Long Phía Nam giáp với tỉnh Sóc Trăng, ranh giới là sông Hậu Phía Bắc giáp với tỉnh Bến Tre, ranh giới là sông Cổ Chiên.
Tỉnh Trà Vinh với diện tích: 2.358,2 km 2
, dân số khoảng 1.009.168 người (năm 2019), mật độ dân số của tỉnh là 443 người/ km2 Tỉnh Trà Vinh được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cung Hầu và Định An.
Đơn vị hành chính: Có 01 thành phố, 01 thị xã và 07 huyện trực thuộc tỉnh Trà Vinh [12].
Lao động trong độ tuổi trên 70%, trong đó có 34% đã qua đào tạo sẽ là nguồn cung cấp lao động tốt cho các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất là các ngành có nhu cầu
sử dụng nhiều lao động [12].
1.5.2 Đặc điểm người dân tộc KHMER tỉnh Trà Vinh
Tỉnh Trà Vinh với tổng dân số là 1.009.168 người, chiếm tỉ lệ là 5,84% dân số
ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra dân số năm 2019) trong đó 17,2% dân số sống ở khu vực đô thị và 82,8% ở nông thôn Trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có 03 dân tộc chính: Kinh, KHMER, Hoa, trong đó dân tộc KHMER chiếm khoảng 31,6% dân số và 25,2% số người KHMER của cả nước [12], [13].
Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người KHMER có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đặc trưng tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là
hệ thống chùa rất đặc thù [12].
Người Khmer có truyền thống thâm canh lúa nước từ lâu đời Phum sóc là đơn
vị cư trú cơ bản của người KHMER Văn hóa ẩm thực của người KHMER hết sức phong phú và đa dạng Từ các món ăn trong sinh hoạt thường ngày, đến các món ăn trong các dịp lễ Tết, giỗ chạp của người KHMER đều thể hiện được sự ứng xử của
Trang 39con người đối với môi trường thiên nhiên Họ lựa chọn các thức ăn có nguồn gốc từ
tự nhiên, chế biến và sáng tạo ra nhiều món ăn khác nhau Cho đến nay đồng bào KHMER đã có được một danh sách dài về các món ăn đặc trưng Các món tiêu biểu như: mắm bò hóc, canh Xiêm lo, bún nước lèo, cốm dẹp, bánh thốt nốt, nước thốt nốt, vân vân Trong đó, thói quen ăn mặn ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, đặc biệt là các bệnh lý liên quan đến tăng huyết áp [29].
Thức uống của người KHMER Trà Vinh phổ biến là nước mưa chứa vào lu khạp, tích lại trong mùa mưa, dùng để uống cả năm, hoặc nước trà dùng cho người già và để tiếp khách trong các lễ lộc, tiệc tùng, đãi khách, người KHMER thường dùng rượu trắng được nấu từ gạo, nếp hoặc rượu lên men từ lá cây của người dân tộc, hoặc rượu đem ngâm với thuốc gia truyền (rượu thuốc) Việc sử dụng rượu thuốc cho phụ nữ mang thai uống theo quan niệm của dân tộc KHMER sẽ dễ sinh con khỏe hơn, tuy nhiên việc uống các loại có chất kích thích tăng yếu tố nguy cơ tăng huyết áp trong thai kỳ hoặc thai chậm tăng trưởng trong tử cung [29].
Hình 1.1: Bản đồ tỉnh Trà Vinh 1.5.3 Đặc điểm bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh
Bệnh viện Sản - Nhi được thành lập theo Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh số 682/QĐ – UBND, ngày 22 tháng 04 năm 2010, về việc thành lập Bệnh
Trang 40viện Sản - Nhi thuộc Sở Y tế tỉnh Trà Vinh Khối Nhi hoạt động từ tháng 12 năm 2014; Khối Sản đi vào hoạt động ngày 25 tháng 8 năm 2015.
Bệnh viện được xây dựng với tổng diện tích 42.000m2 Tọa lạc ấp Bến Có xã Nguyệt Hóa huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh.
Bệnh viện Sản – Nhi Trà Vinh là Bệnh viện loại II tuyến tỉnh, với chức năng nhiệm vụ: Khám chữa bệnh, phòng bệnh, đào tạo cán bộ, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và quản lý kinh tế.
Cơ cấu tổ chức của bệnh viện gồm:
- Lãnh đạo Bệnh viện: Giám đốc và 03 Phó giám đốc.
- 04 phòng chức năng: Phòng Tổ chức – Hành chính; Phòng Kế hoạch tổng hợp – Công nghệ thông tin; Phòng Tài chính kế toán; Phòng Điều dưỡng.
- 07 khoa lâm sàng: Khoa Khám bệnh cấp cứu; Khoa Sản; Khoa Ngoại sản – Phụ khoa – Hiếm muộn; Khoa Ngoại nhi; Khoa Nội nhi; Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc; Khoa Phẫu thuật gây mê – Hồi sức.
- 04 khoa cận lâm sàng: Khoa Dược – Vật tư y tế; Khoa Xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh; Khoa dinh dưỡng; Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.
Bệnh viện có 260 giường bệnh kế hoạch và 394 giường bệnh thực kê.