Người bệnh sau phẫu thuật đoạnchi là một trong những đối tượng cần chăm sóc một cách đặc biệt để cung cấp chongười bệnh có một sức khỏe toàn diện về thể chất và tinh thần [42].. Vì vậy,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MAI MỸ CHÂU
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH
SAU PHẪU THUẬT ĐOẠN CHI
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MAI MỸ CHÂU
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH SAU
PHẪU THUẬT ĐOẠN CHI
NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
MÃ SỐ: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS TRẦN THIỆN TRUNG
GS TS LORA G CLEYWELL
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp thạc sĩ điều dưỡng “Chất lượng cuộc sốngcủa người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi” là công trình nghiên cứu của chính tôi Các
số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2021
Tác giả luận văn
Mai Mỹ Châu
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ iii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan đoạn chi 4
1.2 Khái niệm chất lượng cuộc sống 13
1.3 Các nghiên cứu trong nước và nước ngoài 18
1.4 Học thuyết 20
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.4 Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu 28
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 32
2.6 Tiến trình thu thập số liệu 37
2.7 Kiểm soát sai lệch và biện pháp khắc phục 37
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 38
2.9 Vấn đề đạo đức 39
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Đặc điểm chung của người bệnh 41
3.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh 47
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 58
4.1 Đặc điểm chung của người bệnh tham gia nghiên cứu 58
4.2 Chất lượng cuộc sống của người bệnh 65
4.3 Mối liên quan các điểm số chất lượng cuộc sống với đặc điểm dân số xã hội 69
Trang 54.4 Điểm mạnh, điểm hạn chế và tính ứng dụng của đề tài nghiên cứu 77
KẾT LUẬN 79 KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1: Biến số thông tin cá nhân 28
Bảng 2 2: Biến số chất lượng cuộc sống dựa trên công cụ SF- 36 30
Bảng 2 3: Cấu trúc bộ câu hỏi SF-36 33
Bảng 2 4: Cho điểm các câu hỏi trong bộ công cụ SF-36 34
Bảng 2 5: Bảng câu hỏi thống kê mô tả 38
Bảng 3 1: Phân bố người bệnh theo nhóm tuổi 41
Bảng 3 2: Phân bố người bệnh theo trình độ học vấn 43
Bảng 3 3: Phân bố người bệnh theo bảo hiểm y tế 44
Bảng 3 4: Phân bố người bệnh theo vị trí đoạn chi 46
Bảng 3 5: Bảng phân loại người bệnh theo loại đoạn chi 46
Bảng 3 6: Phân bố người bệnh theo thời gian đoạn chi 47
Bảng 3 7: Bảng mô tả tự đánh giá sức khỏe của người bệnh 48
Bảng 3 8: Bảng mô tả điểm số 8 lĩnh vực sức khỏe của SF-36 49
Bảng 3 9: Bảng mô tả điểm số SKTC, SKTT và CLCS dựa theo SF-36 50
Bảng 3 10: Bảng mô tả chất lượng cuộc sống của người bệnh 51
Bảng 3 11: Bảng mô tả mối liên quan giữa các thành phần lĩnh vực chất lượng cuộc sống với đặc điểm giới tính của mẫu nghiên cứu 51
Bảng 3 12: Bảng mô tả mối liên quan giữa SKTC, SKTT và CLCS với các đặc điểm chung dân số nghiên cứu 53
Bảng 4 1: Bảng so sánh điểm trung bình các lĩnh vực sức khỏe trong chất lượng cuộc sống SF-36 với các nghiên cứu khác 66
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Danh mục hình
Hình 1 1 Mức độ đoạn chi dưới 7
Hình 1 2 Mức độ đoạn chi trên 9
Danh mục sơ đồ
Sơ đồ 1 1 Sơ đồ mô hình Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống 22
Sơ đồ 1 2: Sơ đồ mô hình Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống đã đượcsửa đổi bởi Ferrans và cộng sự 23
Sơ đồ 1 3: Ứng dụng mô hình sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống 25
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1: Phân bố người bệnh theo giới tính 42
Biểu đồ 3 2: Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp 42
Biểu đồ 3 3: Phân bố người bệnh theo nơi cư trú 43
Biểu đồ 3 4: Phân bố người bệnh theo tình trạng hôn nhân 44
Biểu đồ 3 5: Phân bố người bệnh theo bệnh mạn tính 45
Biểu đồ 3 6: Phân bố người bệnh theo nguyên nhân đoạn chi 45
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Chất lượng cuộc sống (CLCS) là khái niệm phản ánh nhận thức của một cá nhân
về tình trạng cuộc sống hiện tại của bản thân, những nhận thức này gắn liền với mụctiêu, kỳ vọng và những mối quan tâm của họ [44] Người bệnh sau phẫu thuật đoạnchi là một trong những đối tượng cần chăm sóc một cách đặc biệt để cung cấp chongười bệnh có một sức khỏe toàn diện về thể chất và tinh thần [42]
Ở Hoa Kỳ, khoảng 185.000 trường hợp đoạn chi xảy ra mỗi năm và trong năm
2009, chi phí phục vụ cho điều trị liên quan đến đoạn chi tổng cộng hơn 8,3 tỷ đô la
Mỹ [10] Ước tính sẽ có khoảng 3,6 triệu người ở Hoa Kỳ sống với việc khiếm khuyếtchi vào năm 2050 [48],[66] Thống kê tại các nước đang phát triển, tỉ lệ đoạn chi caonhất do chấn thương chiếm 55-95% Bên cạnh đó, các nước phát triển đoạn chi dobệnh mạch máu ngoại biên chiếm 85-90% [45], tỉ lệ cắt cụt ngón chân là 40% hoặcmột phần của bàn chân chiếm 25% do bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) [19]
Theo các số liệu trong nước và nước ngoài, tỉ lệ đoạn chi dưới cao hơn so vớichi trên và phần lớn nguyên nhân gây ra cho người bệnh đoạn chi dưới là do biếnchứng đái tháo đường Mặc dù phẫu thuật đoạn chi nhằm mục đích cứu sống ngườibệnh nhưng cũng tác động tiêu cực đến người bệnh Đoạn chi gây ra những tác độngnghiêm trọng cho các cá nhân và gia đình của họ về các khía cạnh như tâm lý xã hội,thể chất, chức năng và tài chính Đoạn chi ảnh hưởng đến khả năng làm việc của cánhân con người trong công việc, duy trì các mối quan hệ xã hội, tham gia các hoạtđộng giải trí và hoạt động của cộng đồng [41] Do đó, người bệnh sẽ có cảm giác tự
ti với bản thân và xã hội, chất lượng cuộc sống sẽ giảm sút vì họ không thể hành độngnhư bình thường khi có những thay đổi bất thường về hình ảnh cơ thể Wald tranhluận rằng các phương pháp trị liệu cho người bệnh sau đoạn chi là những điều cầnthiết để phục hồi các vấn đề về thể chất và tâm lý phức tạp [57]
Khi người bệnh không thể tự mình di chuyển hoặc tự phục vụ bản thân, họ cóthể nghĩ mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội, điều đó có thể ảnh hưởng đến sức
Trang 11gặp ở những người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi đôi khi rất khó đánh giá Tâm lýngười bệnh thường đi kèm nhiều tâm trạng và cảm giác có thể tức giận, đau đớn, khóclóc,… để thể hiện sự mất mát và đau buồn Do đó, các nhân viên y tế cần phải tạo ramôi trường thân thiện và hỗ trợ giúp người bệnh bày tỏ cảm xúc và đối phó với nỗiđau Ngoài ra, sự hỗ trợ của thành viên trong gia đình cũng đóng vai trò quan trọng
và giúp thúc đẩy cuộc sống của người bệnh thay đổi tích cực hơn [40]
Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều sự quan tâm về vấn đề CLCS của ngườibệnh sau đoạn chi để hướng đến một cuộc sống toàn diện Vì vậy, chúng tôi thực hiện
nghiên cứu “chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi” để
hiểu rõ thêm về những vấn đề liên quan tới thể chất và tinh thần của người bệnh Từ
đó, nhằm củng cố lại những hướng dẫn, chăm sóc của điều dưỡng để mang lại chongười bệnh một chất lượng cuộc sống tích cực và phù hợp hơn
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
❖ Câu hỏi nghiên cứu: Người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi có chất lượng cuộc
sống như thế nào?
❖ Mục tiêu cụ thể:
- Xác định tỉ lệ các loại đoạn chi
- Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi dựatrên thang đo SF-36
- Xác định mối liên quan giữa các thành phần điểm số chất lượng cuộc sống vớicác đặc điểm của người bệnh
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan đoạn chi
1.1.1 Định nghĩa đoạn chi
Đoạn chi là việc cắt bỏ chi do chấn thương, do bệnh nội khoa hoặc phẫu thuật.Phẫu thuật đoạn chi là một biện pháp phẫu thuật, cắt và tạo lại đoạn chi bị tổn thươngkhông còn khả năng bảo tồn nhằm cứu sống người bệnh và tạo mỏm cụt thích hợpcho lắp chi giả sau này[2] Đoạn chi còn được sử dụng để kiểm soát cơn đau hoặc quátrình bệnh ở chi bị ảnh hưởng, chẳng hạn như ung thư hoặc hoại thư Đoạn chi dẫnđến một khuyết tật vĩnh viễn, mang lại một sự thay đổi mạnh mẽ trong cuộc sống vàchức năng của một cá nhân [19] Nhiều tác giả định nghĩa đoạn chi là thủ thuật nhằmmục đích cắt bỏ đi một phần hoặc toàn bộ chi của cơ thể [7],[18] Nếu đường cắt điqua xương gọi là cắt cụt thực thụ, nếu đường cắt đi ngang qua khe khớp gọi là tháokhớp [1]
Mục đích của đoạn chi không chỉ là sự cắt bỏ phần chi bị tổn thương mà còn thểhiện sự phục hồi chức năng của phần chi còn lại Dựa theo tình hình của hàng vạnngười lính trẻ bị đoạn chi do hậu quả chiến tranh gây ra sau đại chiến thế giới thứ II,đoạn chi đã có nhiều tiến bộ về mặt kỹ thuật [47] Những tiến bộ trên nhiều lĩnh vực
đã đưa phẫu thuật đoạn chi thành một chuyên khoa lớn dựa trên các kỹ thuật tạo hình
cơ – xương, các nguyên tắc cơ học trong vận động cơ thể Đoạn chi không còn làphẫu thuật đơn thuần mà đã trở thành một chuyên nghành có nguyên lý điều trị, theodõi và đánh giá riêng biệt Trong đó luôn luôn có sự phối hợp của nhiều lĩnh vực nhưchấn thương chỉnh hình, phục hồi chức năng và tâm lý trị liệu [12],[47] Từ đó, ngànhkhoa học sức khỏe đã sáng tạo ra các loại chi giả và nâng cao việc đo lường được khảnăng tiêu hao sức lực khi sử dụng chi giả của người bệnh
Năm 1963 tại hội nghị chi giả lần thứ VI ở Copenhagen, Weliss (Ba Lan) đã đềnghị sử dụng chi giả sau cắt cụt mà không chờ đến khi lành vết thương [52] Các tiến
bộ trên đã đưa đến kết quả thành công là giảm được số lần phẫu thuật lại để sửa lại
Trang 14Các nguyên nhân đoạn chi bao gồm:
- Tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt hoặc các vết thương hỏa khí Chấn thương
do tai nạn chiếm khoảng 45% trong tổng số các ca đoạn chi [33] Một bộ phận cơ thể
có thể bị cắt hoặc rách trong một tai nạn nghiêm trọng hoặc bỏng nặng đến mức khôngthể cứu được Các chấn thương làm cắt mạch máu khiến một bộ phận cơ thể không
có máu nuôi dưỡng trong thời gian dài cũng có thể gây chết mô cần phải đoạn chi.Một ví dụ là tê cóng, có thể làm hỏng các mạch máu ở ngón tay và ngón chân, cuốicùng phải cắt bỏ chúng Đoạn chi do chấn thương là một tình huống cực kỳ nguyhiểm và thường đe dọa đến tính mạng con người, đặc biệt là do mất quá nhiều máu.Nhưng do những tiến bộ của khoa học y tế trong các thế kỷ trước nên triển vọng cứusống người bệnh đã tăng lên đáng kể
- Biến chứng bệnh mạch máu và đái tháo đường chiếm khoảng 54% tất cả cáctrường hợp đoạn chi Các vấn đề mãn tính về mạch máu có thể dẫn đến chết mô ởngón chân, bàn chân và cẳng chân Trong số những người bệnh phải đoạn chi do cácbiến chứng của những căn bệnh này, gần một nửa người bệnh sẽ tử vong trong vòng
5 năm sau khi thực hiện thủ thuật đoạn chi [33]
- Đoạn chi liên quan đến ung thư là phẫu thuật cắt bỏ một bàn tay, bàn chân,cánh tay hoặc chân để ngăn chặn sự lây lan của một số loại ung thư chỉ chiếm ít hơn2% các trường hợp đoạn chi [20] Các bệnh ung thư như sarcoma có thể ảnh hưởngđến xương và mô mềm ở các chi Nếu ung thư quá lớn hoặc quá nguy hiểm để loại
bỏ, hoặc di căn lan rộng vào dây thần kinh hoặc mạch máu, thì có thể cần phải đoạnchi Các bệnh ung thư tiến triển ảnh hưởng đến phần đùi có thể dẫn đến thủ thuật cắt
bỏ xương hông, loại bỏ toàn bộ xương đùi khỏi xương chậu
- Đoạn chi do nhiễm trùng thông thường là nhiễm trùng huyết có thể ảnh hưởngđến lưu lượng máu và khiến mô chết, đặc biệt là ở ngón chân, ngón tay, bàn tay vàbàn chân Nhiễm trùng huyết nặng có thể gây chết người nếu thuốc kháng sinh khôngthể kiểm soát nhiễm trùng Một nguyên nhân gây nhiễm trùng huyết là vi khuẩn não
Trang 15(MRSA) là một loại vi khuẩn, có thể gây ra một tình trạng nhiễm trùng mô mềm hoại
tử Đối với những trường hợp nhiễm trùng nguy hiểm này chỉ xảy ra ở một bộ phận
cơ thể như chi trên hoặc chi dưới thì việc đoạn chi có thể là cần thiết để cứu sốngngười bệnh [40]
- Dị tật bẩm sinh: đây không phải là một thủ thuật, mà là một thuật ngữ đề cậpđến bàn tay, bàn chân, cánh tay hoặc chân bị thiếu hoặc không được hình thành hoànchỉnh khi sinh ra [59] Những đứa trẻ bị đoạn chi bẩm sinh có thể được phẫu thuậtsau này hoặc được lắp chân tay giả nếu đứa trẻ hoặc cha mẹ và đội ngũ chăm sóc xácđịnh rằng sự can thiệp đó có thể cải thiện chức năng và sức khỏe của đứa trẻ
Đoạn chi có nhiều nguyên nhân, nhưng chiếm đa số về đoạn chi dưới thường làkết quả của hội chứng bàn chân đái tháo đường
1.1.2 Mức đoạn chi
Phương pháp phẫu thuật đoạn chi phụ thuộc vào bộ phận cơ thể bị cơ thể bị ảnhhưởng, lý do đoạn chi và mức độ tổn thương xương và mô Cắt cụt ngón tay có thể làmột thủ thuật nhỏ nhưng phức tạp, gắn kết với da, gân và dây thần kinh để cho phépthực hiện chức năng vận động tốt và sử dụng bàn tay một cách tối ưu Việc cắt bỏmột cánh tay hoặc chân có thể là một cuộc phẫu thuật lớn, đòi hỏi kỹ năng xử lý và
ổn định tất cả các mô khác nhau của bộ phận cơ thể bao gồm da, mạch máu, cơ, dâythần kinh, gân và xương
Việc đoạn chi có thể diễn ra theo từng giai đoạn Quy trình chăm sóc có thể cầnthiết để giải quyết tình trạng phân hủy mô, đau mãn tính, sẹo hoặc các vấn đề sứckhỏe khác Kết quả phục hồi chức năng của người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi phụthuộc phần lớn vào tầm mức đoạn chi Mức đoạn chi dưới thường gặp là cắt cụt trêngối: vị trí cắt cụt tốt nhất vào khoảng 20-25cm Đoạn chi dưới gối thì vị trí tốt nhất làkhoảng cách dưới gối 12-15cm [1] Ở chi trên, nguyên tắc bảo tồn chi càng dài càngtốt để đảm bảo được chức năng toàn vẹn
Trang 16Đoạn chi dưới:
Hình 1 1 Mức độ đoạn chi dưới
“Nguồn Bộ môn Vật lí trị liệu- Phục hồi chức năng (2016)” [1]
❖ Bàn chân
Cắt cụt ngang xương bàn chân giúp cho người bệnh mang giày chỉnh hình Đây
là phương pháp cắt bỏ một phần bàn chân Cắt cụt khối xương cổ chân sẽ khó thựchiện cho việc lắp chi giả vì ở tầm mức này hai nhóm cơ gập mặt lưng và nhóm cơ gậpmặt lòng bàn chân sẽ gây mất cân đối, tạo thành bàn chân ngựa cố định
Khớp mắt cá chân là loại bỏ bàn chân sau khi tách khỏi cẳng chân ở mắt cá chân.Tháo khớp cổ chân nên can thiệp phẫu thuật Symes cắt ngang 2 mắt cá nếu không xử
Trang 17❖ Cắt ở đùi
Mỏm cụt ngắn dưới 20 cm dễ biến dạng gấp, dạng háng do nhóm cơ dạng gấpmạnh hơn nhóm cơ duỗi gây khó khăn cho việc lắp chi giả Chiều dài lý tưởng củamỏm cụt trên gối từ 25-30 cm đo từ mấu chuyển lớn
❖ Tháo khớp háng
Tháo khớp háng là trường hợp khớp hông với toàn bộ phần đùi và phần dướicủa chân bị cắt bỏ Có nghĩa là cắt bỏ toàn bộ chân bằng cách tách nó ra khỏi xươngchậu ở khớp háng Người cắt cụt có thể không thể thực hiện các động tác vùng hông
và cần một sự hỗ trợ đầy đủ chức năng của chi giả[55]
Trang 18Đoạn chi trên
Hình 1 2 Mức độ đoạn chi trên
“Nguồn Bộ môn Vật lí trị liệu- Phục hồi chức năng (2016)” [1]
Mỏm cụt càng dài càng càng tốt để thực hiện được nhiều thao tác cho cơ thể vàviệc lắp chi giả cũng dễ dàng hơn [61] Một số mức đoạn chi trên như:
- Tháo khớp cổ tay: chi bị cắt cụt ở cấp độ của cổ tay mà không ảnh hưởng đếnxương và cơ cẳng tay
- Tháo khớp vai: Cắt cụt ngang vai, với xương bả vai còn được giữ lại Xươngđòn có thể được gỡ bỏ hoặc không
- Cắt cụt dưới khớp khuỷu: Đoạn chi xảy ra ở cẳng tay, từ khuỷu tay đến cổ tay
- Cắt cụt trên khớp khuỷu: Đoạn chi xảy ra ở cánh tay trên từ khuỷu tay đến vai.Trong loại cắt cụt này, người cắt cụt mất tất cả các chức năng và cơ bắp của cẳng tay,
cổ tay và bàn tay
- Cắt đoạn phần tư trước: Cắt cụt ở cấp độ của vai trong đó cả xương bả vai vàxương đòn được loại bỏ
Trang 19- Cắt cụt chữ số - đây là tình trạng cắt cụt một (hoặc nhiều) ngón tay hoặc ngóncái Có thể cắt cụt toàn bộ ngón tay, hoặc phần trên của đầu ngón tay.
1.1.3 Chăm sóc vết thương sau phẫu thuật đoạn chi
Việc phục hồi sau đoạn chi phụ thuộc vào loại thủ thuật và cách gây mê được
sử dụng Cho dù người bệnh có dự định sử dụng chân tay giả hay không, thì quá trìnhchữa trị và kế hoạch phục hồi chức năng có thể mang lại cho người bệnh sau phẫuthuật đoạn chi có cơ hội tốt nhất để tiếp tục các hoạt động sống của mình Phần mỏmcụt sau khi đoạn chi phải được băng bó, sạch sẽ và khô ráo cho đến khi có thể tháochỉ khâu Các nhân viên y tế sẽ kiểm tra xem vết mổ có chỗ nào bị hở hoặc nhiễmtrùng hay không Khi băng bó ban đầu bị bong ra, các nhân viên y tế có thể cung cấpmột dụng cụ nén được gọi là tất co lại để ngăn chặn tình trạng sưng tấy ở mỏm cụtkhi các mạch máu lành lại Quá trình này chuẩn bị lắp một bộ phận chi giả nếu việc
sử dụng một bộ phận chi giả nằm trong kế hoạch của người bệnh
Vết thương sẽ lành hoàn toàn trong khoảng bốn đến tám tuần Nhưng việc điềuchỉnh thể chất và cảm xúc để mất đi một chi có thể là một quá trình lâu dài Phục hồilâu dài sẽ bao gồm: các bài tập để cải thiện sức mạnh và khả năng kiểm soát của cơ;các hoạt động giúp phục hồi khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày và thúc đẩytính độc lập; sử dụng chân tay giả và thiết bị trợ giúp; hỗ trợ tinh thần bao gồm tưvấn, để giúp đỡ đau buồn sau đoạn chi và điều chỉnh hình ảnh cơ thể,
Trong giai đoạn đầu của quá trình hồi phục, những người bệnh bị mất chi dưới
có nguy cơ bị té ngã Điều này đặc biệt có thể xảy ra nếu họ cố gắng rời khỏi giườngvào ban đêm và quên rằng bản thân đã được chỉ định việc đoạn chi Những cú ngãnày có thể nghiêm trọng và có thể gây tổn thương thêm cho vùng phẫu thuật Các kĩthuật viên vật lý trị liệu sẽ bắt đầu bằng các bài tập nhẹ nhàng, kéo giãn và việc luyệntập thường bắt đầu ngay sau khi phẫu thuật Đặc biệt là liệu pháp phục hồi chức năng
và các bài tập được thực hiện khi nhìn vào gương (liệu pháp gương) có thể giúp ngườibệnh thích nghi với giảm đau chi ảo giảm đáng kể và tránh bị té ngã, nếu người bệnh
Trang 201.1.4 Một số biến chứng sau phẫu thuật đoạn chi
Giống như bất kỳ loại phẫu thuật nào, đoạn chi cũng có nguy cơ biến chứng.Phẫu thuật đoạn chi cũng có nguy cơ dẫn đến các vấn đề sức khỏe khác liên quan trựctiếp hoặc gián tiếp do đoạn chi Có một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ biến chứng
do đoạn chi, chẳng hạn như tuổi tác, mức đoạn chi người bệnh đã từng phẫu thuật vàtình hình sức khỏe tổng quát của người bệnh Nguy cơ xảy ra biến chứng nghiêmtrọng trong phẫu thuật đoạn chi theo kế hoạch thấp hơn so với đoạn chi khẩn cấp Cácbiến chứng liên quan đến việc đoạn chi bao gồm:
Biến chứng sớm hệ thống
- Mất máu đòi hỏi người bệnh phải được truyền máu
- Tắc tĩnh mạch sâu, thuyên tắc tĩnh mạch phổi
- Các biến chứng tim mạch như loạn nhịp, suy tim, nhồi máu cơ tim
- Các biến chứng hệ thống khác như suy thận, đột quỵ, viêm phổi, nhiễm trùngmáu
Biến chứng sớm tại chỗ
- Chảy máu, hình thành khối máu tụ máu tụ
- Nhiễm trùng vết thương, hoại tử vết thương
- Vết mổ lâu lành
- Đau sau đoạn chi là một tình trạng chưa được hiểu rõ nhưng phổ biến, gây ratàn tật đáng kể và có thể khó điều trị Đau do đoạn chi xảy ra ở khoảng 60% đến 70%người bệnh, thường phát sinh vài tuần hoặc vài tháng sau khi một chi bị cắt bỏ do tainạn, chấn thương hoặc bệnh tật [41]
- Một số trường hợp đòi hỏi các can thiệp phẫu thuật khác như ghép da, lấy máu
tụ, loại bỏ mô mềm, chỉnh sửa mỏm cụt, chỉnh sửa từ dưới gối lên trên gối Nếu mộtngười bệnh trong vài ngày đầu sau phẫu thuật biểu hiện đau tăng, sưng phù nhiều,giảm cơ lực hoặc cảm giác dọc theo phân bố thần kinh, khó thở và tăng nhịp tim thìnên cần thăm khám bổ sung [1]
Trang 21- Co rút cơ, teo yếu cơ
- Cảm giác đau và đau tại vị trí đoạn chi (có thể xuất hiện sớm hơn sau khi phẫuthuật)
- Đau thần kinh khác như u thần kinh, loạn dưỡng giao cảm phản xạ, … Trongmột số trường hợp, có thể cần phẫu thuật thêm để khắc phục các vấn đề hoặc để giúpgiảm đau Ví dụ, nếu u thần kinh (mô thần kinh dày lên) được cho là gây đau, thì cóthể cần phải cắt bỏ cụm dây thần kinh bị ảnh hưởng [33]
1.1.5 Tình hình đoạn chi tại Việt Nam và trên thế giới
Tại Việt Nam, tỉ lệ đoạn chi được báo cáo trong các nghiên cứu tại các bệnhviện chuyên khoa trong nước rất khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm dân số nghiêncứu Nguyên nhân xảy ra tình trạng đoạn chi chiếm đa số là biến chứng bàn chân đáitháo đường Nguy cơ đoạn chi ở các người bệnh đái tháo đường ở Việt Nam trongmột nghiên cứu của bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai cao gấp 15-16 lần so với ngườibệnh không bị đái tháo đường [5] Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của tác giả Lê TuyếtHoa (2012) [4] trong đề tài “Những thay đổi về dân số loét bàn chân đái tháo đườngtại bệnh viện Nguyễn Tri Phương“ có 27,8% người bệnh bị đoạn chi trong tổng số
168 trường hợp mắc bệnh đái tháo đường Thực tế ở Việt Nam vẫn chưa có báo cáotoàn quốc về tỉ lệ bàn chân đái tháo đường nhưng ít nhất hai phần ba số người bệnhbiến chứng loét bàn chân có khả năng đoạn chi tại các khoa Nội tiết thuộc các bệnhviện tuyến trung ương như bệnh viện Chợ Rẫy [6] Qua đó, chúng ta thấy rằng phẫuthuật đoạn chi là một trong những biến chứng thường gặp và quan trọng trong bệnhĐTĐ, không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống mà còn phản ánh tình trạngbệnh và tử vong ở người bệnh ĐTĐ vì khi có biến chứng bàn chân thường kèm theocác biến chứng khác của ĐTĐ [3] Ngoài ra, còn một số các nguyên nhân khác dẫnđến đoạn chi như các bệnh lý về cơ - xương - khớp chiếm 15%, còn lại là tai nạn giaothông, tai nạn lao động cũng chiếm tỉ lệ cao
Theo ước tính của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới, cứ mỗi 20 giây lại có một
Trang 22dưới trên người bệnh đái tháo đường bắt nguồn từ một vết loét chân [6] Tần suấtchính xác của việc cắt bỏ chi dưới do đái tháo đường dao động trong khoảng 5,6 đến
600 trên 100.000 dân trên thế giới [35] Trong trường hợp này, đoạn chi chủ yếu liênquan đến nam giới trên 60 tuổi [64] Bệnh động mạch chi dưới chiếm 35% tỉ lệ ngườibệnh có tình trạng loét chân và được ghi nhận loét chân là yếu tố nguyên nhân của46% tỉ lệ người bệnh bị đoạn chi [3]
Tỉ lệ ở những người bị đoạn chi đến từ các nguyên nhân khác chiếm tỉ lệ từ 5,8đến 31 trên 100.000 dân[35] Nguyên nhân xảy ra chủ yếu do tai nạn giao thông, tainạn sinh hoạt hoặc chấn thương chiến tranh Đoạn chi thường được xảy ra ở namnhiều hơn nữ Nguyên nhân hiếm nhất gây ra đoạn chi là ung thư ác tính Sự pháttriển của y học và các quá trình chẩn đoán hiệu quả cho phép phát hiện nhanh ungthư và sử dụng cấy ghép, do đó ngăn chặn việc đoạn chi [50] Trong các nguyên nhânđoạn chi dưới tại các nước phát triển chiếm tỉ lệ cao nhất là 85-90% là do bệnh mạchmáu ngoại vi Các nguyên nhân khác gây nên tình trạng đoạn chi là chấn thươngchiếm 16,4%, ung thư và khối u ác tính là 0,9% và dị tật bẩm sinh 0,8% [15]
1.2 Khái niệm chất lượng cuộc sống
1.2.1 Định nghĩa chất lượng cuộc sống
Chất lượng cuộc sống là nhận thức của mỗi cá nhân về vị trí của mình trongcuộc sống, trong bối cảnh hệ thống văn hóa và giá trị mà họ sống và liên quan đếnmục tiêu, ước muốn, tiêu chuẩn và mối quan tâm của người bệnh [50] Yếu tố nhânkhẩu học và sức khỏe đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến chất lượng của cuộcsống, bao gồm nhiều khía cạnh của đời sống con người, chẳng hạn như các khía cạnhthể chất, tinh thần và xã hội CLCS có tầm quan trọng trong lĩnh vực chăm sóc sứckhỏe và được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu can thiệp sức khỏe người bệnh[9]
Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) [59] cũng đưa ra định nghĩa về CLCS liên quanđến sức khỏe con người đó là “sự đo lường các mối quan hệ kết hợp thể chất, tinhthần, sự tự hài lòng và mức độ độc lập của các cá nhân cũng như sự tác động của các
Trang 23CLCS liên quan đến nhận thức cá nhân về sức khỏe con người, sự hài lòng cánhân, chẩn đoán chính xác, điều trị đầy đủ và các giá trị văn hóa [62] Việc nâng caoCLCS của người bệnh bị đoạn chi là việc làm tích cực, hướng cho người bệnh cóđược một sức khỏe toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Quan tâm y tế đối với CLCS
đã được kích thích vì sự gia tăng tuổi thọ, tỉ lệ sống tốt hơn sau những chấn thươnglớn và cung cấp cuộc sống gần như bình thường cho những người sống sót sau chấnthương [50]
Bên cạnh đó, Revicki và cộng sự [53] định nghĩa CLCS là một loạt các trảinghiệm của con người liên quan đến một sinh vật tổng thể Ý kiến dựa trên giá trị của
sự so sánh với các nguyện vọng cá nhân và được xác định bởi các kinh nghiệm, trạngthái và nhận thức chủ quan
Vì thế, định nghĩa CLCS là một khái niệm chủ quan có thể được thay đổi theotừng cá nhân trong từng môi trường sống CLCS bao gồm sức khỏe thể chất (SKTC)thể hiện trong tình trạng chức năng, hoạt động hằng ngày và sức khỏe tinh thần(SKTT) thể hiện ở vai trò hoạt động xã hội
1.2.2 Vai trò của đo lường chất lượng cuộc sống
CLCS có vai trò quan trọng trong việc đo lường các tác động của một vấn đềbệnh tật lên sức khỏe của mỗi cá nhân Đặc biệt, CLCS rất quan trọng ở những ngườibệnh bị đoạn chi Đoạn chi là một sự thay đổi trong cấu trúc cơ thể và nó có ảnhhưởng lớn đến các cuộc sống của nhiều người để tham gia vào các hoạt động hàngngày hoặc xã hội [12]
Mặt khác, việc mất một chi có thể gây ảnh hưởng tâm lý đáng kể Nhiều ngườitừng bị đoạn chi đã trải qua những cảm xúc như đau buồn và mất mát, tương tự nhưtrải qua cái chết của một người thân yêu Do đó, đối mặt với tác động tâm lý của việcđoạn chi thường rất quan trọng, đặc biệt là đối mặt với các nhu cầu thể chất Ngườibệnh bị đoạn chi có thể có tác động tâm lý đáng kể vì ba lý do chính là phải đươngđầu với việc mất cảm giác từ chi bị cắt cụt; phải đương đầu với tình trạng mất chức
Trang 24Những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực thường gặp sau khi người bệnh được chỉđịnh đoạn chi Điều này đặc biệt đúng với những người bệnh phải đoạn chi khẩn cấp
vì họ không có thời gian chuẩn bị tinh thần cho những tác động của phẫu thuật Nhữngcảm xúc và suy nghĩ phổ biến mà người bệnh trải qua sau khi đoạn chi bao gồm:phiền muộn, sự lo ngại, từ chối (từ chối chấp nhận họ cần thay đổi, chẳng hạn như từchối vật lý trị liệu, để thích nghi với cuộc sống sau khi đoạn chi), tự ti, cảm thấy muốn
tự tử, Đối với những người bệnh bị đoạn chi do chấn thương (đặc biệt là các thànhviên của lực lượng vũ trang) cũng có nguy cơ phát triển chứng rối loạn căng thẳngsau chấn thương [35]
Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng đoạn chi gây ra một loạt các thách thức về thểchất và tâm lý xã hội bao gồm thay đổi hình ảnh và lối sống cơ thể, thay đổi quanniệm về bản thân, suy giảm chức năng vật lý, sử dụng chi giả và cảm thấy có cảmgiác đau về thể xác Việc nâng cao CLCS của người bệnh đoạn chi là việc làm tíchcực, hướng người bệnh có được một sức khỏe toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần.Đối với người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi đều mong muốn có cảm giác khỏe mạnh,
có khả năng làm việc không phụ thuộc vào những người xung quanh Mặc dù ở nhữngngười bệnh đoạn chi có thể có chung những khiếm khuyết về hình ảnh cơ thể nhưnggiữa những người bệnh lại có những vấn đề về CLCS hoàn toàn khác nhau Vì vậy,việc đo lường và đánh giá CLCS của từng người bệnh là điều cần thiết Điều này giúpcác nhân viên y tế dễ dàng quan sát người bệnh để có thể có những can thiệp kịp thờiđối với những vấn đề có thể xảy ra với sức khỏe của họ
1.2.3 Công cụ đo lường chất lượng cuộc sống
Đo lường, đánh giá được CLCS của con người đã được các chuyên gia pháttriển ra các công cụ đo lường là các bộ câu hỏi bao gồm nhiều lĩnh vực về sức khỏecon người Các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe hợp thành một bộ đánh giá chất lượngcuộc sống gián tiếp qua từng câu hỏi riêng lẻ trong từng lĩnh vực
Có rất nhiều tác giả sử dụng nhiều bộ công cụ như: Medical Outcomes StudyShort Form SF- 36, SF-12, SF-20, AIMS2- SF, TAPES-R, bộ câu hỏi chất lượng cuộc
Trang 25bệnh Các công cụ có thể được sử dụng để so sánh giữa các phương pháp điều trị chocác nhóm người bệnh khác nhau để đánh giá hiệu quả so sánh Ngoài ra, cũng có thểđược sử dụng với các quần thể khỏe mạnh để tạo ra các dữ liệu chuẩn được sử dụng
để so sánh các nhóm người bệnh khác nhau Phạm vi rộng của các công cụ có thểnắm bắt được ảnh hưởng của bệnh tật đồng thời đối với CLCS, cũng như các tác độngtích cực hoặc tiêu cực bất ngờ của một can thiệp trên người bệnh Tuy nhiên, các công
cụ đo lường này có khả năng ứng dụng rộng rãi Công cụ đo lường có thể ít đáp ứngvới những thay đổi lâm sàng về sức khỏe
bộ câu hỏi SF-36 để áp dụng trong lĩnh vực thực hành lâm sàng, nghiên cứu, đánhgiá các chính sách y tế và thăm dò sức khỏe cộng đồng [59] Đây là bộ công cụ được
sử dụng rộng rãi trên thế giới, được dịch ra nhiều ngôn ngữ Mặt khác, bộ công cụSF-36 có độ nhạy và tin cậy cao (95%), dễ sử dụng và có hiệu quả tốt để đánh giáđược CLCS người bệnh [7] Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu sử dụng bộcông cụ này để đánh giá trên nhiều lĩnh vực [8],[9],[57] Riêng ở Việt Nam cũng đã
Trang 26Thang đo WHOQOL: BREF
Có nhiều công cụ tổng quát có sẵn để đo CLCS Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
đã phát triển một công cụ chất lượng cuộc sống (World Health Organization of-Life-WHOQOL:BREF) nắm bắt nhiều khía cạnh chủ quan của CLCS WHOQOL:BREF là một trong những công cụ nổi tiếng nhất đã được phát triển về chất lượngcuộc sống và có sẵn bằng hơn 40 ngôn ngữ [42], [59] Thang đo này có 26 mục baogồm 4 lĩnh vực: SKTC (7 mục), sức khỏe tâm lý (6 mục), các mối quan hệ xã hội (3mục) và sức khỏe môi trường (8 mục) Lĩnh vực SKTC bao gồm các mục về khả năngvận động, hoạt động hàng ngày, khả năng hoạt động, năng lượng, các cơn đau và giấcngủ Các thước đo lĩnh vực tâm lý bao gồm hình ảnh bản thân, suy nghĩ tiêu cực, thái
Quality-độ tích cực, lòng tự trọng, trí lực, khả năng học tập, khả năng tập trung trí nhớ, tôngiáo và trạng thái tinh thần Lĩnh vực quan hệ xã hội chứa các câu hỏi về mối quan
hệ cá nhân, hỗ trợ xã hội và đời sống tình dục Lĩnh vực sức khỏe môi trường baogồm các vấn đề liên quan đến nguồn tài chính, an toàn, dịch vụ sức khỏe và xã hội,môi trường sống, cơ hội để có được kỹ năng và kiến thức mới, giải trí, môi trườngchung (tiếng ồn, ô nhiễm không khí, ) và giao thông vận tải [55], [64]
Thang đo TAPES-R
Thang đo trải nghiệm bộ phận giả và đoạn chi (The Trinity Amputation andProsthesis Experience Scales-Revised- TAPES-R) bao gồm 4 phương diện về điềuchỉnh tâm lý xã hội (điều chỉnh chung, điều chỉnh xã hội, và điều chỉnh các giới hạngiảm dần); hạn chế hoạt động; sự hài lòng với phục hình (chức năng và thẩm mỹ);khám phá chứng đau chi ảo, đau mỏm cụt và các tình trạng y tế khác không liên quanđến việc đoạn chi, theo đó kết hợp cả khía cạnh thể chất và tâm lý xã hội của việcđiều chỉnh [25],[28] Thang đo TAPES-R nhằm mục đích cho phép kiểm tra các quátrình tâm lý xã hội liên quan đến việc điều chỉnh phù hợp với chân tay giả và các nhucầu cụ thể của việc mang chân giả [26] Từ quan điểm nghiên cứu, TAPES có thể tạođiều kiện thuận lợi cho việc khám phá mối quan hệ giữa các biến số khác nhau và xácđịnh các yếu tố đó, thúc đẩy phục hồi chức năng thành công và điều chỉnh để đeo chi
Trang 27vực của CLCS được WHO xác định làm nổi bật tính hữu ích tiềm năng của TAPEStrong CLCS dành riêng cho người bệnh bị đoạn chi [24] Gallagher & MacLachlan[26] đã kiểm tra tính hợp lệ xây dựng của TAPES so với bảng câu hỏi về chất lượngcuộc sống của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL: BREF) Tác giả đã tìm thấy mốitương quan đáng kể giữa điểm số trên thang đo tâm lý của WHOQOL: BREF vớiđiều chỉnh chung được đo bằng TAPES-R (r = 0,733; p<0,001) Thang đo SKTC củaWHOQOL: BREF có tương quan chặt chẽ với thang đo điều chỉnh thành giới hạn củaTAPES-R (r = 0,624; p <0,0001) Đồng thời, cũng có mối tương quan chặt chẽ giữathang đo sức khỏe thể chất và hạn chế chức năng (r = -0,601; p <0,001), hạn chế hoạtđộng thể thao (r = -0,634; p <0,001) và hạn chế xã hội (r = - 0,618; p <0,001).
1.3 Các nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.3.1 Nghiên cứu trong nước
Hiện tại nghiên cứu trong nước về đoạn chi chưa được thực hiện nhiều Chỉ cómột nghiên cứu của tác giả Võ Tuấn Khoa, Nguyễn Thy Khuê [7] về đề tài ” Nghiêncứu về bảng đánh giá chất lượng cuộc sống Short Form (SF)- 36 và ứng dụng để đánhgiá CLCS cho người bệnh đái tháo đường sau đoạn chi tại Bệnh viện Chợ Rẫy” lànghiên cứu về bộ câu hỏi chất lượng cuộc sống SF-36 để so sánh CLCS người bệnhđái tháo đường có đoạn chi, nhóm đái tháo đường không đoạn chi và nhóm đối chiếu.Trong 3 nhóm này, tác giả đã chứng minh rằng các điểm số các lĩnh vực sức khỏeliên quan đến cảm nhận sức sống, tâm thần tổng quát và đánh giá sức khỏe của nhómngười bệnh đái tháo đường có đoạn chi thấp hơn 2 nhóm còn lại Trong đó, nhữngngười bệnh đoạn chi cao (đoạn ngang cẳng chân hoặc đoạn ngang đùi) có điểm sốCLCS thấp hơn những người bệnh đoạn chi thấp (đoạn ngón hoặc đoạn ngang bànchân)
Ngoài ra, còn có nghiên cứu của tác giả Huỳnh Tấn Đạt [3] trong đề tài” Tỉ lệ
và các yếu tố liên quan đoạn chi dưới ở người bệnh đái tháo đường có loét chân”, kếtquả cho thấy 94 người bệnh đoạn chi chiếm tỉ lệ 46,5% trong tổng số 202 người bệnh
Trang 28số các nghiên cứu ở Việt Nam khảo sát và đánh giá chất lượng cuộc sống của ngườibệnh trong từng loại bệnh Đặc biệt là chuyên ngành điều dưỡng cũng chưa có nhiềunghiên cứu để đánh giá CLCS của người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi.
1.3.2 Nghiên cứu nước ngoài.
Có rất nhiều nghiên cứu về đoạn chi nói lên được CLCS của người bệnh Kếtquả cho thấy hầu hết người bệnh người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi có CLCS thấp
về SKTT và SKTC Các nhà nghiên cứu khẳng định rằng các yếu tố về thể chất lẫntinh thần tác động trên 80- 85% sự thay đổi điểm số của 8 lĩnh vực sức khỏe trong bộcâu hỏi SF- 36 [36], [59] Nghiên cứu “Chất lượng cuộc sống giữa những người bịđoạn chi được điều trị tại bệnh viện Tertiary, Malaysia” của Ohnmar Htwe và cộng
sự [45] đã nghiên cứu 65 người bệnh có kết quả là vấn đề đoạn chi do đái tháo đường
là nguyên nhân phổ biến nhất chiếm 63%, hầu hết trong số người bệnh đoạn chi lànam giới chiếm 81,5% và phần còn lại là nữ Hơn 60% đoạn chi ở dưới đầu gối vàphần còn lại ở trên đầu gối Các người bệnh đoạn chi dưới chiếm số lượng cao nhất89,2% Qua nghiên cứu cũng cho thấy rằng đoạn chi có điểm thành phần thể chất(SKTC) cao hơn đáng kể trong khi điểm số thành phần tinh thần (SKTT) không cóthay đổi đáng kể (r: -0,43, p <0,05) khi sử dụng thang đo SF-36
Về nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi TAPES-R nổi bật lên nghiên cứu của tác giảEzhil Mathil và cộng sự [35] về đề tài “Chất lượng cuộc sống ở người bị đoạn chidưới gối: Nghiên cứu thăm dò sử dụng bảng câu hỏi TAPES-R” trên 30 đối tượng từ25-60 tuổi (46,43 ± 12,49) đã được chọn để nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu làtìm ra các điều chỉnh tâm lý, hạn chế hoạt động, sự hài lòng với bộ phận giả và đaumỏm cụt, các cơn đau ảo giác ở những người đoạn chi bằng cách sử dụng bảng câuhỏi TAPES-R Kết quả chung cho thấy 76,78% người bệnh chủ yếu bị hạn chế hoạtđộng, tiếp theo là ảnh hưởng về tâm lý 67,60% và đặc biệt đa phần người bệnh hàilòng với bộ phận giả 93,87% [14]
Gần đây nhất có một nghiên cứu “mối tương quan giữa tiềm năng tham vọngvới chất lượng cuộc sống của các người bệnh đoạn chi dưới” của tác giả Mahima
Trang 29chi là nam và 7,48% là nữ Nguyên nhân đoạn chi của 480 đối tượng là do chấnthương chiếm 65,49%, nhiễm trùng là 25,16%, tiếp đến là tổn thương mạch máu vàkhối u xuất hiện với tỉ lệ thấp hơn Đồng thời, các vấn đề sau phẫu thuật đoạn chi phổbiến nhất là nhiễm trùng da 48,23%, đau tại vị trí đoạn chiếm 6,86% và kết hợp cảhai vừa có nhiễm trùng da, vừa đau tại vị trí cắt cụt là 6,86% Tác giả cũng cho thấycác cơn đau của người bệnh có liên quan đến giảm chất lượng cuộc sống
1.4 Học thuyết
Mô hình sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống ( Health-Related Quality
of Life: HRQoL) của Ferrans và cộng sự (2005) được phát triển từ mô hình sức khỏeliên quan đến chất lượng cuộc sống của Wilson và Cleary (1995)
Năm 1995 Wilson – Cleary [63] đề xuất một mô hình sức khỏe liên quan đếnchất lượng cuộc sống Mô hình này bao gồm nhiều biến số đặc trưng để đánh giá sứckhỏe liên quan đến CLCS kết hợp với hai khía cạnh của sức khỏe là đặc điểm cá nhân
và đặc điểm môi trường Mô hình bao gồm 5 mức độ đặc trưng của người bệnh: (1)các yếu tố sinh học- sinh lý; (2) tình trạng triệu chứng; (3) trạng thái chức năng; (4)nhận thức chung về sức khỏe và (5) chất lượng cuộc sống chung Mỗi cấu trúc đềuchịu ảnh hưởng của cấu trúc trước đó, ngoại trừ yếu tố sinh học Các đặc trưng của
cá nhân hay đặc trưng của yếu tố môi trường được xem như những biến số tiên đoánkhông đặc hiệu của các cấu trúc triệu chứng bệnh, trạng thái chức năng, nhận thứcsức khỏe tổng quát và CLCS
Yếu tố sinh lý: được nhìn nhận một cách rộng rãi và bao gồm các quá trình ởcấp độ phân tử, tế bào và toàn bộ cơ quan Những thay đổi về chức năng sinh học ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả các thành phần của sức khỏe, bao gồm cáctriệu chứng, tình trạng chức năng, nhận thức về sức khỏe và chất lượng cuộc sốngtổng thể Tối ưu hóa chức năng sinh học là một phần không thể thiếu của chăm sóctoàn diện
Trang 30thể được phân loại là thể chất, tâm lý, hoặc tâm sinh lý Mô hình cũng cho thấy triệuchứng không những bị ảnh hưởng đến yếu tố sinh lý mà còn chịu ảnh hưởng của cácđặc điểm cá nhân và môi trường Mặc dù các biến số của yếu tố sinh lý tác động lêntriệu chứng một cách mơ hồ.
Trạng thái chức năng: đã định nghĩa tình trạng chức năng một cách rộng rãi, làkhả năng thực hiện các nhiệm vụ trong nhiều lĩnh vực như chức năng vật lý, chứcnăng xã hội, chức năng vai trò và chức năng tâm lý Trạng thái chức năng có thể đượcnhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau
Nhận thức chung về sức khỏe tổng quát: chính là một khía cạnh sức khỏe củamột người tự đánh giá Theo mô hình này, sức khỏe tổng quát có mối liên quan trựctiếp từ trạng thái chức năng Wilson và Cleary (1995) [63] đã chỉ ra hai đặc điểm xácđịnh của nhận thức sức khỏe chung: chúng tích hợp tất cả các thành phần có trước đótrong mô hình và về bản chất chúng mang tính chủ quan Thành phần này là sự tổnghợp của tất cả các khía cạnh khác nhau của sức khỏe trong một đánh giá tổng thể
Chất lượng cuộc sống tổng thể: thành phần cuối cùng của mô hình được Wilson
và Cleary (1995)[63] mô tả là yếu tố chủ quan hạnh phúc liên quan đến mức độ hạnhphúc hoặc sự hài lòng của một người nào đó trong cuộc sống nói chung
Trang 31Sơ đồ 1 1 Sơ đồ mô hình Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống
“Nguồn Wilson và Cleary (1995) [63]”
Vào năm 2005, Ferrans và cộng sự [22] đã sửa đổi mô hình này để có sự hữuích trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng Mô hình ban đầu đã được sửa đổi theo
ba cách cơ bản: (a) chỉ ra rằng sinh học- sinh lý bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm của
cả cá nhân và môi trường; (b) xóa các yếu tố phi y tế, vì tất cả các yếu tố phi y tế cóthể được phân loại thành đặc điểm của cá nhân hoặc môi trường, đã được đưa vào môhình; và (c) xóa các nhãn trên các mũi tên có xu hướng hạn chế đặc điểm của các mốiquan hệ
Trang 32Sơ đồ 1 2: Sơ đồ mô hình Sức khỏe liên quan đến chất lượng cuộc sống đã
được sửa đổi bởi Ferrans và cộng sự
“Nguồn Ferrans và cộng sự [22]”
Ferrans và cộng sự đã chỉ ra các tác động của từng cá nhân và các đặc điểm môitrường về hoạt động sinh học mà không có trong mô hình ban đầu Sự tương tác củacác đặc điểm cá nhân và môi trường cũng ảnh hưởng đến chức năng sinh học Cácđặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương sinh học và khả năng phục hồicủa một người Các đặc điểm di truyền cá nhân ảnh hưởng đến chức năng sinh họctrong các bệnh bẩm sinh và di truyền [21] Đồng thời, các yếu tố vật lý và xã hội trongmôi trường ảnh hưởng đến chức năng sinh học Ví dụ, tiếp xúc với mầm bệnh trongmôi trường có thể gây ra các bệnh truyền nhiễm và sống trong một cộng đồng tộiphạm cao có thể dẫn đến chấn thương Do đó, tác giả đã đánh giá và giải thích các
Đặc điểmmôi trường
Yếu tố tâm
sinh lý
Trạng tháichức năng
Nhận thức
về sứckhỏe
Triệuchứng
Đặc điểm
cá nhân
CLCS
Trang 33yếu tố sinh học- sinh lý bị ảnh hưởng bởi các tương tác phức tạp với cả các yếu tố cánhân và các yếu tố môi trường [22].
Ứng dụng mô hình vào nghiên cứu
Đặc điểm cá nhân: được phân loại theo nhân khẩu học, trí tuệ và tâm lý Cácđặc điểm cá nhân trong nghiên cứu này bao gồm tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, tìnhtrạng hôn nhân, trình độ học vấn
Đặc điểm môi trường: là những ảnh hưởng xã hội do mọi người xung quanhnhư người thân trong gia đình hoặc bạn bè mang lại Đặc điểm xã hội bao gồm: dântộc, nơi cư trú, tôn giáo
Tình trạng bệnh tật: tình trạng xuất hiện những vấn đề sức khỏe liên quan đếnchất lượng cuộc sống của người bệnh
Sức khỏe thể chất: Các hoạt động ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất Bốn lĩnhvực sức khỏe cần được đánh giá trong nghiên cứu này: Hoạt động chức năng, giớihạn chức năng, cảm giác đau, đánh giá sức khỏe
Sức khỏe tinh thần: là những vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần Bốn lĩnhvực sức khỏe cần được đánh giá trong nghiên cứu này: cảm nhận cuộc sống, hoạtđộng xã hội, giới hạn tâm lý, tinh thần tổng quát
Chất lượng cuộc sống: sự kết hợp giữa sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần.Đặc điểm cá nhân và đặc điểm môi trường tác động vào các yếu tố như sức khỏethể chất, sức khỏe tinh thần, tình trạng bệnh tật và chất lượng cuộc sống Bên cạnh
đó, yếu tố tình trạng bệnh tật là người bệnh được phẫu thuật đoạn chi với sức khỏetinh thần và sức khỏe thể chất có sự liên quan mật thiết với nhau Tình trạng bệnh tậtchi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần và thể chất của người bệnh Từ
đó tác động một phần lên chất lượng cuộc sống
Trang 34Sơ đồ 1 3: Ứng dụng mô hình sức khỏe liên quan chất lượng cuộc sống
Trang 35CHƯƠNG 2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn vào và tiêu chuẩn loại ra
Tiêu chuẩn chọn vào
- Người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi đến tái khám tại bệnh viện Chợ Rẫy thànhphố Hồ Chí Minh
- Người bệnh từ 18 tuổi trở lên
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại ra
- Người bệnh hạn chế nghe, nói
- Người bệnh không đủ thể lực và tinh thần để hoàn thiện nghiên cứu hoặc phỏngvấn bởi người nghiên cứu
Trang 36σ: độ lệch chuẩn của biến số cần ước lượng
d: sai số biên cần ước lượng trong nghiên cứu với độ tin cậy 97%
Độ lệch chuẩn ước đoán được dựa trên nghiên cứu của Salwa A Mohammed vàcộng sự [54] vào năm 2014 về “ Chất lượng cuộc sống của những người bệnh Ai Cập
có đoạn chi trên và chi dưới: Sự khác biệt về giới tính”: Nghiên cứu sử dụng bảngcâu hỏi SF-36 trên 100 đối tượng với kết quả điều tra có kết quả điểm số điều tra vềsức khỏe thể chất ở giới tính nam là 65,33 ± 13,51
Vậy cỡ mẫu tối thiểu là 78 người bệnh
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn mẫu thuận tiện người bệnh đến tái khám tại khoa khám bệnh của bệnhviện Chợ Rẫy
- Đối tượng nghiên cứu thỏa các tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian lấy số liệu từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 4 năm 2021
Thời gian phân tích số liệu từ tháng 5 năm 2021 đến tháng 9 năm 2021
Trang 372.3.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện tại khoa khám bệnh của bệnh viện Chợ Rẫy
2.4 Liệt kê và định nghĩa các biến số nghiên cứu
2.4.1 Biến số thông tin cá nhân
Bảng 2 1: Biến số thông tin cá nhân
Biến số Định nghĩa Giá trị của biến số Loại biến
Nhóm tuổi
Số tuổi hiện cócủa người thamgia nghiên cứu
Tuổi= 2021- năm sinh hiện tại
5 nhóm:
Công nhân viên chức
Kinh doanh buôn bán
Trang 38Biến số Định nghĩa Giá trị của biến số Loại biến
Nơi cư trú
Nơi ở của ngườitham gia nghiêncứu hiện tại
2 nhóm:
Sống tại thành phố HồChí Minh
3 nhóm:
Độc thân
Sống chung vớivợ/chồng
Li hôn/ li thân/ góa
Danh định
Bảo hiểm y tế
Hiện tại ngườibệnh có mua bảohiểm y tế và cònhạn sử dụng
5 nhóm:
Nhiễm trùng
Đái tháo đường
Tai nạn giao thông, tainạn sinh hoạt
Mạch máu ngoại biên
Khác (ung thư, bỏng )
Danh định
Trang 39Biến số Định nghĩa Giá trị của biến số Loại biến
Vị trí đoạn chi
Vị trí đoạn chi củangười tham gianghiên cứu
2 nhóm:
≤ 6 tháng
2.4.2 Biến số liên quan đến chất lượng cuộc sống bao gồm điểm số của 8 lĩnh
vực sức khỏe dựa trên công cụ SF-36
Bảng 2 2: Biến số chất lượng cuộc sống dựa trên công cụ SF- 36 [7]
Chất lượng
cuộc sống
Chất lượng cuộc sống bao gồmsức khỏe thể chất (SKTC) và sứckhỏe tinh thần (SKTT)
CLCS= (điểm sốSKTT+ điểm sốSKTC)/2
Định lượngliên tục
Sức khỏe thể
chất
Sức khỏe liên quan đến hoạt độngchức năng (HĐCN):đo lường cáchoạt động thể chất bao gồm cáchoạt động trung bình đến mạnh
0-100
Định lượngliên tục
Giới hạn hoạt động do khiếmkhuyết chức năng (GHCN): đánhgiá các giới hạn hoạt động liênquan đến sức khỏe như lượngcông việc, thời gian hay loại hìnhlàm việc
0-100
Định lượngliên tục
Trang 40Biến số Định nghĩa Giá trị biến số Loại biến
Sức khỏe thể
chất
Sức khỏe liên quan đến cảm nhậnđau đớn (CNĐĐ): đo lường tầnsuất xảy ra sự đau đớn cho ngườibệnh đồng thời với các sự ảnhhưởng lên các hoạt động sinh hoạthằng ngày
0-100
Định lượngliên tục
Tự đánh giá sức khỏe tổng quát(ĐGSK): phản ánh sức khỏe bảnthân toàn diện hơn
0-100
Định lượngliên tục
Sức khỏe tinh
thần
Sức khỏe liên quan đến cảm nhậncuộc sống (CNCS): đo lường khảnăng cảm nhận cuộc sống củangười bệnh nhằm phát hiện sựkhác biệt về sức khỏe cảm nhậnchủ quan trên đối tượng có sự tácđộng của bênh tật hoặc các biệnpháp can thiệp điều trị
0-100
Định lượngliên tục
Sức khỏe liên quan hoạt động xãhội (HĐXH): đánh giá các tácđộng liên quan đến sức khỏe đốivới các hoạt động xã hội (vớingười thân và cộng đồng)
0-100
Định lượngliên tục