A LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý nói riêng có vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với các.
Trang 1A LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý nói riêng có vai trò rất quan trọng, đặc biệt đối với các tổ chức, cá nhân trong thời kỳ kinh tế thị trường Nhờ thế mạnh về điều kiện tự nhiên và truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu đời mà nước ta có tiềm năng rất lớn về các đặc sản vùng miền, những sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đặc trưng mà không nơi nào có được Khi những đặc sản vùng miền này trở thành những hàng hóa được lưu thông trên thị trường thì có thể mang lại lợi ích kinh tế - xã hội rất lớn Để có thể khai thác tối đa giá trị thì cần phải có
sự tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó pháp luật về bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý là một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt Theo đó để được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý thì sản phẩm cần phải đáp ứng được những điều kiện nhất định Các điều kiện đó bao gồm những nội dung gì? Việc áp dụng những quy định
đó được thực hiện như thế nào? Với chủ đề “Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa
lý theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
và một số kiến nghị”, bài viết sẽ trả lời những câu hỏi trên một cách thỏa đáng.
B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG
1 Khái niệm và đặc điểm của chỉ dẫn địa lý
1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý
1.1.1 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo pháp luật quốc tế
Chỉ dẫn địa lý là một khái niệm xuất phát từ thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc”.Thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc” xuất hiện từ xa xưa, được hình thành từ việc gắncác dấu hiệu trên sản phẩm để phân biệt sản phẩm hàng hoá trong quá trình lưu
Trang 2thông trên thị trường Những dấu hiệu này xác định được người tạo ra sản phẩm,cũng có thể xác định nơi tạo ra sản phẩm.
Công ước Paris năm 1883về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và Thỏa ướcMadrid năm 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa không đề cập đến địnhnghĩa chỉ dẫn địa lý nhưng đã nói tới hai thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc” và “tên gọixuất xứ hàng hóa” Đến Hiệp định TRIPs năm 1994 về những vấn đề liên quan đếnthương mại của quyền sở hữu trí tuệ, thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” chính thức đượcthừa nhận dựa trên cơ sở hai thuật ngữ nói trên Theo quy định tại Khoản 1 Điều 22
Hiệp định TRIPs: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh
thổ của một thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý” Từ định trên
nghĩa có thể nhận thấy ba yếu tố quan trọng liên quan đến chỉ dẫn địa lý: chỉ dẫnđịa lý là những chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý; hàng hóa sử dụng chỉ dẫn địa lý phảibắt nguồn từ lãnh thổ hoặc từ khu vực, địa phương thuộc lãnh thổ đó; hàng hóa cóchất lượng, danh tiếng hoặc đặc tính nhờ xuất xứ địa lý mang lại Từ Hiệp địnhTRIPs, bảo hộ chỉ dẫn địa lý đã thừa nhận trên phạm vi quốc tế
1.1.2 Khái niệm chỉ dẫn địa lý theo pháp luật Việt Nam
Việt Nam mặc dù là thành viên của Công ước Paris 1883 từ năm 1949 nhưngcho đến năm 1995, những quy định đầu tiên về tên gọi xuất xứ hàng hóa mới đượcchính thức đưa vào Bộ luật dân sự 1995 theo tinh thần của Công ước Paris Theoquy định tại Điều 786 Bộ luật dân sự 1995: “Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý
của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó”.
Cho đến năm 2000, thuật ngữ “chỉ dẫn địa lý” mới được quy định lần đầutiên tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 10 Nghị định 54/2000/NĐ-CP về bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và
Trang 3bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp.Theo đó, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hoáđáp ứng đủ các điều kiện điều kiện:
Một là, thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh,
dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia;
Hai là, thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch liên
quan tới việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn rằng hàng hoá nói trên có nguồn gốctại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín,danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có được chủ yếu là donguồn gốc địa lý tạo nên
Bên cạnh đó, nếu chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hoá thì việc bảo hộđược thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tên gọi xuất xứ hàng hoá
Từ quy định trên, chỉ dẫn địa lý có thể là tên gọi xuất xứ hàng hóa, cũng cóthể không phải là tên gọi xuất xứ hàng hóa dẫn đến khó phân biệt đâu là tên gọixuất xứ hàng hóa, đâu là chỉ dẫn địa lý Cho đến Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã
bỏ thuật ngữ tên gọi xuất xứ hàng hoá và thống nhất chỉ sử dụng thuật ngữ chỉ dẫnđịa lý Theo quy định tại Khoản 22 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009): “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn
gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể”
Như vậy, khái niệm chỉ dẫn địa lý theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam ngắngọn hơn rất nhiều so với khái niệm chỉ dẫn địa lý theo Nghị định 54/2000/NĐ-CP
và cũng tương thích với Hiệp định TRIPs Điều này thể hiện ở chỗ cả hai khái niệmđều đề cập tới sản phẩm, mối liên hệ giữa nguồn gốc địa lý của sản phẩm và cácđặc tính của sản phẩm có được từ nguồn gốc địa lý đó
1.2 Đặc điểm của chỉ dẫn địa lý
Thứ nhất, chỉ dẫn địa lý có dấu hiệu (từ ngữ, hình ảnh…) để chỉ ra được sản
phẩm đó mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ bắt nguồn từ lãnh thổ của quốc gia nàohay thuộc khu vực địa phương nào của lãnh thổ quốc gia đó Do đó, chỉ dẫn địa lý
Trang 4là sản phẩm đặc thù có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiệnđịa lý của địa phương, khu vực hoặc quốc gia tương ứng
Thứ hai, chỉ dẫn địa lý có tính phân biệt Khả năng phân biệt chỉ dẫn địa lý
được thể hiện qua các đặc tính của sản phẩm mang dấu hiệu Chất lượng, đặc tínhcủa sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêuđịnh tính, định lượng, hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, sinh học, và các chỉ tiêu
đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia theophương pháp kiểm tra phù hợp
Thứ ba, nhà nước là chủ sở hữu đối với chỉ dẫn địa lý Việt Nam Bởi lẽ chỉ
dẫn địa lý không phải là sáng tạo của một cá nhân Danh tiếng, uy tín của chỉ dẫnđịa lý được quyết định bởi chất lượng của sản phẩm gắn chỉ dẫn địa lý, là kết tinhcủa đặc thù địa lý tự nhiên kết hợp với kinh nghiệm, bí quyết của những người dânsản xuất tại địa phương qua nhiều thế hệ Chỉ dẫn địa lý có vai trò quan trọng đốivới việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, khu vực, thậm chí là quốc gia
Do đó các cá nhân, tổ chức sản xuất sản phẩm tại địa phương có quyền sử dụng chỉdẫn địa lý nếu sản phẩm của họ đáp ứng các điều kiện về tính chất, chất lượng đặcthù1 Để đảm bảo uy tín, chất lượng của chỉ dẫn địa lý, Nhà nước trao quyền sửdụng, quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức,
cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa phương
2 Khái niệm, đặc điểm và phương thức bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý ở phạm
vi quốc gia
2.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý trước hết được hiểu là quyền ngăn chặn người khôngđược phép sử dụng các chỉ dẫn địa lý hoặc cho các sản phẩm không xuất xứ từvùng địa lý được chỉ tên hoặc sản phẩm không đáp ứng các tiêu chuẩn đã quy định.Khía cạnh thứ hai của bảo hộ chỉ dẫn địa lý là bảo hộ chống lại việc biến các chỉ
1 Hoàng Nhân Khôi, “Bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”.
Trang 5dẫn địa lý thành các tên gọi thông thường của sản phẩm bởi trong trường hợp nàycác chỉ dẫn địa lý sẽ mất tính phân biệt và không còn được bảo hộ2.
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý cũng mang nhữngđặc điểm chung của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản trí tuệ khác và
có những đặc điểm riêng của nó Chính vì thế khi xem xét đặc điểm bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý thì cần phải xem xét trên cả những đặcđiểm bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản trí tuệ khác và chỉ ra nhữngđiểm khác biệt, cụ thể:
Thứ nhất, nhà nước là chủ thể bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và
quyền sở hữu công nghiệp với chỉ dẫn địa lý nói riêng Nhà nước trao quyền sửdụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉdẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường Nhà nướctrực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dân địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi củatất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa phương Tổ chứcđược trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý có quyền cho phép người khác sử dụng chỉdẫn địa lý đó theo quy định của pháp luật Các tổ chức, cá nhân được trao quyền sửdụng hoặc tổ chức được trao quyền quản lý có quyền ngăn cấm người khác sử dụngchỉ dẫn địa lý đó theo quy định pháp luật hiện hành3
Thứ hai, chỉ dẫn địa lý không bị giới hạn thời hạn bảo hộ nếu đối tượng bảo
hộ là chỉ dẫn địa lý vẫn đáp ứng được các điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý dopháp luật quy định Các điều kiện này sẽ được phân tích, làm rõ ở phần tiếp theo
2 Đặng Thị Thanh Ngân (2019), “Bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý “Trà
My” cho sản phẩm quế của tỉnh Quảng Nam”, Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Huế - Trường
Đại học Luật.
3 Luật gia Bùi Thị Phượng - Phòng Sở hữu trí tuệ của Công ty Luật TNHH Everest, “Chỉ dẫn địa lý: Một
số lưu ý quan trọng khi đăng ký bảo hộ”,
http://luatviet.net.vn/chi-dan-dia-ly-mot-so-luu-y-quan-trong-khi-dang-ky-bao-ho/n20170524045758950.html.
Trang 62.2 Các phương thức bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý ở phạm vi quốc gia
Ở phạm vi quốc gia có nhiều phương thức bảo hộ các chỉ dẫn địa lý, nhưng
có thể chia thành ba nhóm chính:
Thứ nhất, bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng hệ thống pháp luật riêng Cũng như các
quốc gia khác, Việt Nam cũng có hệ thống pháp luật riêng để bảo hộ chỉ dẫn địa lýmột cách hiệu quả Trong Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 (sửa đổi, bổ sungnăm 2009), chỉ dẫn địa lý được quy định chung tại Phần thứ nhất, và được quy định
cụ thể tại Mục 6 Chương VI, Chương VIII, Chương IX của Phần thứ ba
Thứ hai, bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng pháp luật về nhãn hiệu tập thể và nhãn
hiệu chứng nhận Phương thức này là sự lựa chọn của nhiều quốc gia theo hệ thốngpháp luật Common Law như Mỹ, Anh, Đan Mạch, Thụy Điển Điều này là do họkhông có nhiều chỉ dẫn địa lý nên không thấy được lợi ích từ việc bảo hộ chỉ dẫnđịa lý hoặc các quốc gia đã có một hệ thống bảo hộ nhãn hiệu từ lâu đời Họ chorằng chỉ dẫn địa lý có chức năng giống nhãn hiệu để phân biệt nguồn gốc sảnphẩm, do đó hoàn toàn có thể bảo hộ theo hệ thống nhãn hiệu4 Ở Việt Nam, nhãnhiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ ViệtNam năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và được cụ thể hóa tại Thông tư số01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP và Nghịđịnh số 103/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Thứ ba, bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng pháp luật về hoạt động kinh doanh trong
đó có pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh Luật sở hữu trí tuệ ViệtNam năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định rõ các hành vi được xem làcạnh tranh không lành mạnh, trong đó có hành vi sử dụng chỉ dẫn địa lý gây nhầmlẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc các đặc điểm khác của
4 “Pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý”,
https://123doc.org//document/3008963-phap-luat-ve-bao-ho-chi-dan-dia-ly.html.
Trang 7hàng hóa, dịch vụ, về điều kiện cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại Điểm a, b Khoản 1Điều 130 Điều 202 quy định các biện pháp dân sự để xử lý các hành vi này, mụcđích là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại dohành vi cạnh tranh không lành mạnh.
3 Ý nghĩa của việc bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
Bảo hộ chỉ dẫn địa lý là một vấn đề vô cùng cấp thiết và quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nó mang lại nhiều ý nghĩa to lớn vàthiết thực Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, về mặt pháp lý, bảo hộ chỉ dẫn địa lý giúp các nhà sản xuất chống
lại các hành vi xâm phạm nhằm bảo vệ danh tiếng, uy tín cho sản phẩm, nâng caogiá trị cũng như vị thế cạnh tranh trên thị trường Bởi lẽ trên thị trường hiện nay córất nhiều sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị giả mạo Những sản phẩm đó có thểkhông có nguồn gốc từ khu vực địa lý có chỉ dẫn địa lý, cũng có thể những sảnphẩm đó có nguồn gốc từ khu vực địa lý đó nhưng không đảm bảo về chất lượng
Do đó, khi chỉ dẫn địa lý được bảo hộ một cách nghiêm ngặt, chặt chẽ thì sẽ bảo vệđược quyền, lợi ích hợp pháp của người sản xuất
Thứ hai, bảo hộ chỉ dẫn địa lý không chỉ đảm bảo quyền và lợi ích cho
người sản xuất mà còn đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng Điều này thể hiện ởchỗ chỉ dẫn địa lý giúp cho người tiêu dùng có thể nhận biết và mua được nhữngsản phẩm có chất lượng tốt mà không phải lo ngại về vấn đề vệ sinh an toàn thựcphẩm và hạn chế việc tiêu dùng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng
Thứ ba, những sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý thì thường được biết
đến như những thương hiệu nổi tiếng và giá trị kinh tế mà nó mang lại bao giờcũng cao hơn những sản phẩm cùng loại thông thường Chẳng hạn như sản phẩmchè Tân Cương (Thái Nguyên) đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý được bán với giá caogấp hai lần so với những sản phẩm chè ở các huyện khác trong địa bàn tỉnh TháiNguyên và thậm chí cao gấp bốn đến năm lần so với sản phẩm chè ở các tỉnh thành
Trang 8khác nhưng lượng khách hàng tìm đến với nó vẫn không ngừng tăng lên Do đó cóthể thấy bảo hộ chỉ dẫn địa lý dẫn tới việc lợi nhuận thu được sẽ cao hơn rất nhiều.
Thứ tư, bảo hộ chỉ dẫn địa lý giúp gia tăng lợi thế, sức cạnh tranh và giảm
thiểu rủi ro cho các loại hàng hóa xuất khẩu Bởi lẽ sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý
sẽ được nhận biết dễ dàng trên thị trường do những đặc điểm riêng biệt Ngày nay,chất lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, nâng cao nên xu thế tiêu dùng cácsản phẩm mang chỉ dẫn địa lý cũng ngày càng tăng cao
Thứ năm, bảo hộ chỉ dẫn địa lý là động lực góp phần phát triển kinh tế nông
thôn Có thể dễ dàng nhận thấy các chỉ dẫn địa lý đã đăng ký bảo hộ ở Việt Nam đa
số là các mặt hàng nông sản Việc bảo hộ những sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý nàythúc đẩy các nhà sản xuất duy trì, phát triển sản phẩm, mở rộng quy mô sản xuất,thu hút nguồn lao động… từ đó tạo việc làm cho người lao động tại địa phương,nâng cao thu nhập… Bên cạnh đó, địa phương có chỉ dẫn địa lý được bảo hộ còn cóthể phát triển ngành du lịch để đem lại nguồn lợi kinh tế cho nhân dân địa phương.Các tour du lịch kèm theo tham quan làng nghề sản xuất không chỉ thúc đẩy pháttriển thương hiệu các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý mà còn góp phần phát triểnngành du lịch
II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
Theo quy định tại Điều 79 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sungnăm 2009) về điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ:
“Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý.
2 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định”.
Trang 9Ngoài các điều kiện trên, để được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý, sản phẩm phải không thuộc các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý quy định tại Điều 80 Luật này.
1 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý
Thứ nhất, tồn tại khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý Đây là khía
cạnh trước hết và quan trọng của điều kiện này Theo quy định tại Điều 83 Luật sở
hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Khu vực địa lý mang chỉ dẫn
địa lý có ranh giới được xác định chính xác bằng từ ngữ và bản đồ” Khu vực địa
lý có thể là một đơn vị hành chính quốc gia, khu vực địa lý thuộc một hay nhiềuđơn vị hành chính hoặc toàn bộ lãnh thổ quốc gia Trong trường hợp khu vực địa lýkhông thuộc toàn bộ đơn vị hoặc các đơn vị hành chính, bản đồ khu vực địa lý đó
sẽ được lập theo khu vực sản xuất thực tế sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tương ứng,được cơ quan quản lý khu vực đó xác nhận5
Thứ hai, từ yếu tố tồn tại khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý, ta xét
đến yếu tố sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực đó Đây làđiều kiện rất quan trọng khi xem xét khả năng bảo hộ chỉ dẫn địa lý Yếu tố quantrọng là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải liên quan đến một khu vực địa lý đặcbiệt mà nếu sản phẩm được sản xuất tại khu vực địa lý khác thì sẽ không đảm bảođược chất lượng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý ban đầu Một sản phẩm đượccoi là có nguồn gốc từ khu vực địa lí được hiểu là sản phẩm phải được sản xuất, giacông, chế biến từ vùng địa lí đó Nền tảng cho việc bảo hộ chỉ dẫn địa lí là chấtlượng và uy tín của sản phẩm Thông thường, việc tạo ra sản phẩm phải trải qua rất
nhiều bước, công đoạn Từ đây ta đặt ra hai vấn đề: Một là, có cần toàn bộ quy
trình sản xuất, chế biến cho đến khi tạo ra thành phẩm để đưa ra thị trường phảiđược tiến hành tại khu vực địa lí đó không hay chỉ một số công đoạn nhất định?
5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội
– 2017, tr.145
Trang 10Hai là, nếu không cần toàn bộ quy trình sản xuất, chế biến đến khi tạo ra sản phẩm
thì những công đoạn nào bắt buộc phải được thực hiện tại khu vực địa lí đó?
Bài viết sẽ làm rõ vấn đề trên thông qua một số ví dụ sau Đối với sản phẩmmang chỉ dẫn địa lý tạo ra từ ngành nghề truyền thống mà không phải lương thực,thực phẩm thì sản phẩm chỉ mang chỉ dẫn địa lý khi mà tất cả các công đoạn tạo rasản phẩm được thực hiện ở nơi sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý Chẳng hạn như sảnphẩm cói Nga Sơn Chất lượng, đặc tính riêng biệt của sản phẩm cói Nga Sơnkhông những được tạo nên bởi nguyên liệu ở địa phương mà còn được tạo nên bởi
kỹ thuật, quy trình chế tạo của người dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Do vậy
dù có mang nguyên liệu cói từ huyện Nga Sơn đi nơi khác hay mang cây cói từ nơikhác về huyện Nga Sơn để sản xuất thì chất lượng sản phẩm sẽ không đạt được nhưkhi sản xuất tại huyện Nga Sơn, do chính những người dân lành nghề huyện NgaSơn làm ra
Một ví dụ khác về trường hợp nước mắm Phú Quốc – sản phẩm đã được bảo
hộ tên gọi xuất xứ đầu tiên ở Việt Nam Đây là sản phẩm mà nguyên liệu dùng đểchế biến, sản xuất rất đặc biệt mà không thể được thay thế bằng nguyên liệu khaithác từ các vùng khác Theo bản thuyết minh đặc thù chất lượng của nước mắmPhú Quốc, các công đoạn từ đánh bắt cá cơm, sản xuất cho đến đóng chai đều donhững ngư dân lành nghề của Phú Quốc tiến hành tại khu vực hòn đỏa này Tuynhiên, khi những ngư dân của Phú Quốc đi đánh bắt xa bờ ngoài khu vực đảo, đểbảo đảm chất lượng cá sau khi đánh bắt, họ phải tiến hành ủ chượp ngay trên tàuthuyền Như vậy, công đoạn ủ, ướp cá có thể thực hiện ở bất cứ đâu chứ không chỉtại vùng biển đảo Phú Quốc Công đoạn đóng gói dường như không phải là côngđoạn có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của các sản phẩm khác nhưng vớitrường hợp nước mắm Phú Quốc, các cơ quan có thẩm quyền đều thống nhất quanđiểm chỉ có nước mắm Phú Quốc được đóng chai trên đảo mới được mang chỉ dẫnnày Lí do là nếu nước mắm được vận chuyển rồi đóng chai ở nơi khác có thể ảnh
Trang 11hưởng đến chất lượng của sản phẩm này6 Từ những phân tích trên có thể thấy dùmột số công đoạn được thực hiện ở nơi khác nhưng những công đoạn tạo nên đặctính riêng biệt của sản phẩm được thực hiện ở nơi sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý thìsản phẩm vẫn được xem là có nguồn gốc từ nơi đó.
Từ hai ví dụ về cói Nga Sơn và nước mắm Phú Quốc có thể thấy có nhữngsản phẩm mà nguyên liệu dùng để chế biến, sản xuất rất đặc biệt nên không thểthay thế bằng nguyên liệu khai thác từ các vùng khác Trong khi đó, có những sảnphẩm mà nguyên liệu có thể khai thác từ những địa phương khác nhau nhưngphương pháp chế biến mới là yếu tố quyết định tạo nên tính chất đặc biệt của sảnphẩm Quá trình sản xuất sản phẩm bao gồm nhiều bước, công đoạn nhưng khôngphải mọi công đoạn để tạo ra sản phẩm đều ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín củasản phẩm Có những công đoạn có thể thực hiện ở nơi khác ngoài khu vực địa lí đó
mà hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến chất lượng, đặc tính của sản phẩm Nhưngcũng có những công đoạn đặc biệt phải được tiến hành tại khu vực địa lí đã xácđịnh Chính vì thế mà có thể đưa ra kết luận rằng: Sản phẩm được coi là có nguồngốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng khi toàn bộcác công đoạn hay một số công đoạn chính trong quy trình sản xuất có ảnh hưởngquan trọng và mang tính quyết định tạo nên và duy trì tính chất, chất lượng, danhtiếng của sản phẩm được thực hiện tại khu vực địa lý mà nó chỉ dẫn7
2 Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định
Thứ nhất, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí phải có danh tiếng, chất lượng hoặc
Trang 12Theo quy định tại Khoản 1 Điều 81 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) quy định: “Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác
định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi của người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm” Theo đó,
danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xuất phát và gắn liền với nhiềuyếu tố, cụ thể như sau:
Một là, danh tiếng của sản phẩm có thể gắn với các yếu tố lịch sử Để chứng
minh sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có danh tiếng nhất định, người nộp đơn đăng kíbảo hộ có thể đưa ra những dẫn chứng về nguồn gốc của sản phẩm trong lịch sửnhư bằng chứng về sự xuất hiện và phổ biến của sản phẩm từ giai đoạn nào; quátrình phát triển của nghề làm sản phẩm ở khu vực địa lí đó cho đến nay
Hai là, danh tiếng xuất phát từ đặc tính khác biệt của sản phẩm, nghĩa là khả
năng tự phân biệt của bản thân sản phẩm với sản phẩm khác Những sản phẩm códanh tiếng thường là những sản phẩm có chất lượng, đặc tính riêng biệt so với cácsản phẩm khác cùng loại bởi qua thời gian lâu dài, sản phẩm đã được người tiêudùng nhận biết và thừa nhận có sự khác biệt so với các sản phẩm khác
Ba là, danh tiếng của sản phẩm được xác định thông qua sự hiểu biết đến sản
phẩm một cách rộng rãi trong giới tiêu dùng liên quan, trong việc phân biệt sảnphẩm với các sản phẩm khác cùng loại, có khả năng kiểm chứng được Việc xácđịnh mức độ nhận biết của người tiêu dùng đối với sản phẩm có thể dựa trên cáccuộc điều tra, khảo sát thị trường ở những phạm vi khác nhau
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009): “Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác
định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lí, hóa học, vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng các phương tiện kĩ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp” Chất
lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí được xác định thông qua các chỉtiêu về vật lý như khối lượng, hình dáng…; các chỉ tiêu hóa học như thành phần, tỷ
Trang 13lệ các chất…; các chỉ tiêu sinh học như các loại men được sử dụng, các sạng vikhuẩn…; hay các chỉ tiêu cảm quan như mùi vị, màu sắc… cùng với các chỉ dẫnquy trình sản xuất để xác định phẩm chất riêng biệt của sản phẩm Những chỉ tiêu
về chất lượng phải được xác định bằng các thông số có thể đo được, so sánh đượcphù hợp với các điều kiện kĩ thuật hiện có
Thứ hai, có mối liên hệ giữa các điều kiện địa lí của khu vực mà sản phẩm
mang chỉ dẫn với danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính của sản phẩm Đây là mốiliên hệ phụ thuộc giữa chất lượng đặc thù, danh tiếng của hàng hóa với môi trườngđịa lý được chỉ rõ trong chỉ dẫn địa lý đó Hàng hóa, sản phẩm đó phải có ít nhấtmột tính chất đặc thù về chất lượng hoặc có danh tiếng liên quan đến điều kiện địa
lý tự nhiên, con người ở địa phương đó Điều kiện này đòi hỏi người nộp đơn đăng
kí chỉ dẫn địa lí phải chứng minh các yếu tố đặc thù của khu vực địa lí đã ảnhhưởng, tác động như thế nào đến chất lượng, đặc tính hoặc danh tiếng của sảnphẩm Đây là yêu cầu vô cùng quan trọng để chỉ dẫn địa lí được bảo hộ Trên thịtrường, những sản phẩm có chất lượng cao và có uy tín rất da dạng Nhưng nét đặcthù của những sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí là chất lượng và uy tín của những sảnphẩm này có được là do các yếu tố địa lí độc đáo của nơi tạo ra sản phẩm mang lại
Để chứng minh mối quan hệ này, trước hết, cần phải chỉ ra một cách cụ thể,chi tiết các yếu tố địa lý đặc thù có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Theo quyđịnh tại Khoản 1 Điều 82 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm
2009): “Các điều kiện địa lí liên quan đến chỉ dẫn địa lí là những yếu tố tự nhiên,
yếu tố về con người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí đó”
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 82 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009): “Yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thuỷ văn, địa chất,
địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác” Theo đó, các yếu tố tự nhiên
ở đây bao gồm các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, cường độ ánh sáng mặttrời, áp suất không khí ; các điều kiện về thuỷ văn như nguồn nước, sông ngòi ;