Do đó vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp không chỉ cần thiết cho công táccổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà trong sự phát triển của kinh tế thịtrường, đặc bịêt là khi có thị trường c
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ cuối những năm 80, làn sóng hợp nhất doanh nghiệp, mua bándoanh nghiệp, chia tách cơ cấu lại doanh nghiệp phát triển rất mạnh trên thếgiới Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường cũng là một hàng hoá, nócũng có giá trị sử dụng, giá trị và giá cả Kinh tế thị trường càng phát triển, sựcạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng sâu sắc, đòi hỏi sự cơ cấu lại theohướng hợp nhất, mua bán…diễn ra thường xuyên đòi hỏi phải xác định giá trịcủa doanh nghiệp làm cơ sở cho những hoạt động đó
Tuy nhiên do đặc tính doanh nghiệp là một hàng hoá đặc biệt bao gồmnhiều bộ phận cấu thành, cả những bộ phận hữu hình như tài sản vật tư, nhàxưởng, cả những bộ phận vô hình như danh tiếng, mối quan hệ các khâu trongdoanh nghiệp, cũng như giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài, nănglực của lãnh đạo và nhân viên và tính đơn chiếc của doanh nghiệp nên việcxác định giá trị doanh nghiệp là một việc phức tạp
Việt Nam sau hơn 10 năm đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tếnhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường có điều tiết của nhà nước,thì sự chia tách, sáp nhập, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp nhằmtăng sức mạnh trên thị trường diễn ra khá phổ biến Trong khu vực kinh tếquốc doanh, chủ trương của nhà nước là: đổi mới quản lý doanh nghiệp nhànước nhằm nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp theo hướng chỉ giữ 100%vốn nhà nước đối với những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành kinh
tế quan trọng đem lại số thu lớn cho ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối lớncho nhà nước còn lại tiến hành chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sởhữu hoặc giải thể Tất cả những sự kiện đó làm cho vấn đề xác định giá trịdoanh nghiệp càng trở nên cấp thiết Tuy nhiên, việc xác định giá trị doanhnghiệp ở nước ta hiện nay vẫn mang tính áp đặt vì chủ yếu việc xác định giátrị doanh nghiệp hiện nay gắn với cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nênnếu không phải là nhà nước được lợi thì cũng là người lao động được hưởng
Trang 2Do đó vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp không chỉ cần thiết cho công tác
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước mà trong sự phát triển của kinh tế thịtrường, đặc bịêt là khi có thị trường chứng khoán, xác định giá trị doanhnghiệp sẽ là công việc thường xuyên diễn ra ở các doanh nghiệp, nên việcnghiên cứu vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp là hết sức cần thiết và có ýnghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với tiến trình đổi mới quản lý doanhnghiệp ở nước ta hiện nay cũng như trong tương lai
Để làm sáng tỏ vấn đề trên tôi xin lấy Công ty Thương mại và Sản xuấtvật tư thiết bị Giao Thông Vận Tải làm đối tượng nghiên cứu Qua thời giantìm hiểu thực tế tại Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị GTVT cùngvới sự hướng dẫn chỉ bảo của thầy giáo hướng dẫn trực - Trường Cao ĐẳngQuản Trị Kinh Doanh, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài này làm chuyên đề tốtnghiệp Mặc dù rất cố gắng song quỹ thời gian có hạn nên chuyên đề nàykhông tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong được sự chỉ dẫn của thầy cô giáo vànhững người quan tâm đến đề tài này
Nội dung cơ bản của đề tài này gồm 4 phần chính sau:
Phần 1: Những vấn đề lý luận chung về xác định giá trị doanh nghiệp.Phần 2: Khái quát thực trạng hoạt đông sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp nhà nước ở Việt Nam và sự cần thiết cổ phần hoá
Phần 3: Xác định giá trị Công ty Thương mại và Sản xuất vật tư thiết bịGiao Thông Vận Tải bằng phương pháp giá trị tài sản thuần để phục vụ côngtác cổ phần hoá
Phần 4: Phương hướng và biện pháp nhằm hoàn thiện việc xác định giátrị doanh nghiệp
Trang 3PHẦN I.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
DOANH NGHIỆP
I DOANH NGHIỆP VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP.
1 Doanh nghiệp và các giá trị đặc trưng của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuấtcung ứng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trên thị trường với mục đích sinh lời.Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp rất phong phú và đadạng nhưng nhìn chung các doanh nghiệp có những nét đặc trưng chủ yếu là :
- Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất ra sản phẩm hàng hoá dịch vụcho xã hội
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp là quátrình kết hợp và biến đổi các yếu tố đầu vào tạo thành các yếu tố đầu ra là sảnphẩm đem lại giá trị mới Chính sự tạo ra giá trị mới này đưa đến sự tăngtrưởng kinh tế, phồn thịnh xã hội và củng cố địa vị của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp là một đơn vị phân phối
Trong quá trình hoạt động, khi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra, doanhnghiệp có một khoản thu nhập và trên cơ sở đó thực hiện việc phân phối chocác tác nhân trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình như trả lương chongười lao động, thanh toán cho người cung ứng, trả lãi vay, nộp thuế, chia cổtức…Như vậy, doanh nghiệp là khâu đầu của việc phân phối lần đầu và cácchính sách phân phối của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều đốitượng
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống
Trang 4Qúa trình hoạt động của doanh nghiệp là quá trình vận động khôngngừng để thực hiện các mục tiêu của nó Nhiều nhà kinh tế cho rằng:”Doanhnghiệp là 1 tổ chức sống giống như con người” Điều đó đòi hỏi khi nhìn nhậnđánh giá một doanh nghiệp phải đặt nó trong trạng thái vận động.
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp đều hoạt động nhằmnhiều mục tiêu khác nhau Các mục tiêu chung nhất của doanh nghiệp là:
+ Mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh mà doanhnghiệp thu được Đó là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ ra để tạo
ra số thu nhập đó Lợi nhuận là phần giá trị tăng thêm mà nhà đầu tư thuđược Vì thế lợi nhuận trở thành mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, là sựmong đợi của chủ sở hữu nó
+ Mục tiêu cung ứng
Sản xuất hành hoá không phải nhằm thoả mãn tiêu dùng cho chínhngười sản xuất mà là để cung ứng cho khách hàng Đó cũng là một mục tiêucủa doanh nghiệp, nó thể hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với xã hội và nhờthực hiện mục tiêu này mà doanh nghiệp mới thực hiện được mục tiêu lợinhuận
+ Mục tiêu phát triển
Sự mong đợi của người đầu tư không chỉ dừng lại ở chỗ lợi nhuận mà
là lợi nhuận phải càng nhiều hơn Do vậy doanh nghiệp phải hướng tới sựphát triển xem xét đánh giá một doanh nghiệp không phải chỉ ở quá khứ hiệntại mà phải xem xét cả ở triển vọng tương lai
Qua các đặc trưng của doanh nghiệp cho thấy: doanh nghiệp như một
cơ thể sống bao gồm nhiều bộ phận cấu thành vận động không ngừng nhằmđặt lợi nhuận ngày càng nhiêù cho nhà đầu tư
Trang 52 Giá trị doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp
2.1 Khái niệm giá trị doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp là một loại hành hóa đặc biệt:
Đối với người đầu tư mua doanh nghiệp thì giá trị sử dụng của hànhhoá này là ở chỗ nó có khả năng cung ứng một lượng hàng hoá cho xã hội vàthông qua đó người thu được khoản lợi nhuận nhất định Do vậy khả năng thulợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai là mối quan tâm hàng đầu củangười mua và cũng là căn cứ chủ yếu để người mua lượng định giá trị củadoanh nghiệp
- Doanh nghiệp là một hàng hoá đơn chiếc:
Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên mỗi doanhnghiệp có đặc điểm riêng về cơ sở vật chất kỹ thuật, về điều kiện và vị thếkinh doanh Do vậy, mỗi doanh nghiệp đưa ra xác định giá trị là một hàng hoáđơn chiếc, cá biệt, không giống nhau giữa các doanh nghiệp Do đó, đòi hỏitrong việc xác định giá trị doanh nghiệp cần xem xét thận trọng và lựa chọnphương pháp phù hợp
- Kết quả định giá doanh nghiệp không phải là giá cả của doanhnghiệp Cũng giống như các loại hàng hoá khác, giá trị thị trường của doanhnghiệp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giátrị, quy luật cung cầu,…nên kết quả xác định giá trị doanh nghiệp chỉ là mộtcăn cứ cơ sở để xem xét thương lượng mà thôi
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng, kết quả hoạt động của doanhnghiệp trong tương lai sẽ quyết định giá trị doanh nghiệp Kết quả hoạt độngcủa doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố thuộc
về môi trường kinh doanh và các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp Vì vậy
Trang 6để xác định giá trị doanh nghiệp trước hết chúng ta cần phải hiểu được cácnhân tố chủ yếu quan trọng và ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Có nhiều nhân tố tác động, ảnh hưởng và làm thay đổi kết quả sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp từ đó ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.Các nhân tố đó có thể là các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh và cũng cóthể là các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp
Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh tác động đến giá trị doanhnghiệp là các nhân tố không thuộc phạm vi kiểm soát của chính doanh nghiệp
và chịu tác động bởi diễn biến kinh tế xã hội của quốc gia và những quy định,quy luật, luật lệ của nhà nước Thuộc dạng những nhân tố này là tốc độ tăngtrưởng kinh tế, tình trạng lạm phát, lãi suất tín dụng, đặc biệt là lãi suất ngânhàng, hoạt động của thị trường chứng khoán…Tất cả các nhân tố đó đều tácđộng đến tỷ suất hoàn vốn, thu nhập dự kiến, mức độ rủi ro và do đó có ảnhhưởng đến giá trị doanh nghiệp Ngoài ra, những mục tiêu và những ưu đãicủa nhà nước trong quá trình tái cấu trúc lại nền kinh tế cũng tác động đáng
kể đến giá trị doanh nghiệp
Các nhân tố thuộc môi trường kinh doanh xét về một mặt nào đó cũngtác động ảnh hưởng khá lớn đến giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, các nhân tốảnh hưởng lớn và quyết định đến giá trị doanh nghiệp lại không phải là cácnhân tố thuộc môi trường kinh doanh mà là các nhân tố thuộc nội tại doanhnghiệp Nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp là các nhân tố chủ quan thuộc về
sự kiểm soát của chính bản thân doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp phụthuộc rất lớn vào những nhân tố này Nói cách khác, những nhân tố thuộc nộitại doanh nghiệp là những nhân tố quan trọng tạo thành giá trị doanh nghiệp
2.2.1.Các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh.
2.2.1.1.Môi trường kinh doanh tổng quát.
Trang 7- Môi trường kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế mức độ ổn định củađồng tiền, của tỷ giá ngoại tệ, của tỷ xuất đầu tư các chỉ số trên thị trườngchứng khoán… đều có tác động trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp Ngược lại
sự suy thoái kinh tế lạm phát phi mã là biểu hiện môi trường tồn tại doanhnghiệp đang bị lung lay, mọi sự đánh giá về doanh nghiệp trong lúc này kể cảđánh giá về giá trị doanh nghiệp đều bị đảo lộn hoàn toàn
- Môi trường chính trị: sự phát triển kinh tế chỉ có thể ổn định trongmột môi trường ổn định về chính trị, các yếu tố của môi trường chính trị có sựgắn bó chặt chẽ tác động trực tiếp đến sản xuất kinh doanh bao gồm:
+ Tính đầy đủ, đồng bộ, rõ ràng và chi tiết của hệ thống luật pháp.+ Quan điểm tư tưởng của nhà nước đối với sản xuất kinh doanh thôngqua các hệ thống, các văn bản pháp quy
+ Quan điểm bảo vệ sản xuất, bảo vệ các nhà đầu tư, bảo vệ người tiêudùng
+ Quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài
+ Quan điểm phân biệt đối xử thể hiện qua luật thuế, luật cạnh tranh,luật sở hữu trí tuệ
+ Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật củacác công dân các tổ chức sản xuất
+ Xu hướng quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế củachính phủ với các quốc gia khác; quan điểm cá nhân của người đứng đầuchính phủ cũng tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh
- Môi trường văn hoá xã hội
Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong một môi trường văn hoá nhất định: Lốisống, văn hoá, tác phong, quan niệm về chân thiện mỹ, quan niệm về nhâncách; về văn minh xã hội thể hiện trong tập quán sinh hoạt và tiên dùng…
Trang 8Môi trường xã hội thể hiện ở môi trường số lượng cơ cấu dân cư, giớitính độ tuổi, mật độ dân số, thu nhập bình quân đầu người.
- Môi trường kỹ thuật công nghệ
Các sản phẩm sản xuất ra hàng ngày, ngày càng đa dạng và phong phúđáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sống vật chất đời sống tinh thần conngười, hàm lượng tri thức có khuynh hướng gia tăng trong giá bán sản phẩm.Trên giác độ doanh nghiệp đó không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức đốivới sự tồn tại của doanh nghiệp, sự thiếu nhạy bén trong việc chiếm lĩnhnhững thành tựu khoa học mới nhất có thể là nguyên nhân đưa doanh nghiệptới chỗ phá sản
2.2.1.2.Môi trường kinh doanh đặc thù.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng: thị trường là yếu tố quyếtđịnh đến đầu ra đối với sản phẩm của doanh nghiệp, thị trường đối với mộtdoanh nghiệp thể hiện bằng yếu tố khách hàng, khách hàng của doanh nghiệp
có thể là tổ chức cá nhân, có thể là khách hàng hiện tại hoạc trong tương lai,thông thường khách hàng sẽ chi phối hoạt động của doanh nghiệp nhưng cũng
có trường hợp khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanhnghiệp Do vậy muốn đánh giá đúng doanh nghiệp cần phải xác định tính chấtmức độ bền vững và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các nhà cung cấp trong quan hệ giữacác nhà cung cấp doanh nghiệp đóng vai trò như một thượng đế Tuy nhiên,
có thể do tính khan hiếm của nguyên vật liệu do số lượng nhà cung cấp không
đủ lớn làm cho các nguồn cung cấp của doanh nghiệp không ổn định Khiđánh giá doanh nghiệp ta phải xét đến sự phong phú của các nguồn cung cấp,
số lượng chủng loại các loại nguyên liệu có thể thay thế được cho nhau, khảnăng đáp ứng lâu dài cho doanh nghiệp rồi mới kể đến tính kịp thời, chấtlượng, giá cả của sản phẩm cung cấp
Trang 9- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các hãng cạnh tranh: ngày nay được
sự ủng hộ từ phía nhà nước, trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế mức độ cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế ngày càngtrở lên quyết liệt, điều này vừa là cơ hội song là thách thức đối với doanhnghiệp.Do vậy đánh giá năng lực cạnh tranh chúng ta phải xem xét trên cácmặt về giá cả,chất lượng về dịch vụ bảo hành sữa chữa.Ngoài ra cần xem xétđược số lượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh,năng lực thực sự và thếmạnh của họ là gì chỉ ra các yếu tố mầm mống có thể làm xuất hiện các đốithủ mới.Có như vậy mới kết luận đúng vị thế và khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước
Trong cơ chế thị trường doanh nghiệp nói chung được quyền chủ độnghoàn toàn trong SXKD,tuy nhiên sự hoạt động của doanh nghiệp luôn đượcđặt với sự kiểm tra của cơ quan nhà nước.Các tổ chức này giám sát doanhnghiệp đảm bảo làm sao không vượt quá những quy ước xã hội.Tức là thựchiện đảm bảo đúng chính sách.Những doanh nghiệp có tiềm lực tài chínhvững chắc,kinh doanh bằng thực lực.Vì vậy khi thực hiện doanh nghiệpchúng ta cần phải xem xét yếu tố này
2.2.2.Các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp.
2.2.2.1.Hiện trạng về tài sản trong doanh nghiệp.
Tài sản trong một doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưuđộng.Tuỳ thuộc vào loại hình sản xuất hay kinh doanh mà cơ cấu tài sản trongcác doanh nghiệp khác nhau sẽ khác nhau
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, trình độ của trang thiết bị và côngnghệ sản xuất là một nhân tố quan trọng quyết định chất lượng, số lượng sảnphẩm sản xuất ra Chính vì vậy, đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản
Trang 10xuất,khối lượng,trình độ trang thiết bị máy móc, thiết bị và dây chuyền côngnghệ là một trong yếu tố quan trọng quyết định kết quả SXKD.
Đối với các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịchvụ,quá trình SXKD luôn gắn liền với quá trình lưu thông phân phối hàng hoá,dịch vụ thì TSCĐ chủ yếu là văn phòng cửa hàng phương tiện vận tải so vớicác doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, tỷ trọng TSCĐ trongtổng số tài sản của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại,dịch vụ không lớn hơn nhưng có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quảsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Thông thường, các công ty kinh doanh
có trụ sở,văn phòng khang trang bề thế luôn tạo được cảm giác yên tâm, tintưởng cho khách hàng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoả thuận và điđến các hợp đồng kinh tế
Như vậy, hiện trạng TSCĐ (bao gồm cả khối lượng và trình độ côngnghệ) có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp từ đó ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp TSCĐ càng lớn,càng hiệnđại càng làm tăng giá trị của doanh nghiệp Ngược lại TSCĐ càng lạc hậu,không đồng bộ càng làm giảm giá trị doanh nghiệp
Mặt khác trong một số trường hợp, người mua không quan tâm ngaylập tức tới kết quả SXKD và khả năng phát triên của doanh nghiệp mà họ lạiquan tâm hàng đầu vào hiện trạng của tài sản vì rủi ro có thể xảy ra liên quantới việc phải thay thế TSCĐ mới hoặc phải tốn thêm chi phí để trang thiết bịthêm đảm bảo cho sự đồng bộ cho dây chuyền sản xuất Vì vậy, giá trị và tìnhtrạng hiện thời của TSCĐ luôn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới giá trịdoanh nghiệp
2.2.2.2.Trình độ quản lý.
Một yếu tố khác cũng khá quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt độngcủa doanh nghiệp là bộ máy quản lý Một doanh nghiệp với đội ngũ cán bộquản lý giỏi, được sự hỗ trợ tích cực của bộ máy điều hành năng động chắc
Trang 11chắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao và ngược lại Ở các nước phát triển, khinhà đầu tư dự định tài trợ hoặc đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó họ rấtquan tâm đến vấn đề này Khi đã tin tưởng vào đội ngũ quản lý giỏi đặt dưới
sự điều hành của một giám đốc năng động, có trình độ, họ sẵn sàng đầu tư và
có thể chấp nhận trả giá cao
Một bộ máy quản lý tốt, đồng bộ sẽ tạo điều kiện sử dụng tốt nhất, cóhiệu quả nhất tài sản tiền vốn của doanh nghiệp, từ đó sẽ gia tăng thu nhập từkết quả của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Không những vậy, trình
độ quản lý tốt của lãnh đạo doanh nghiệp, còn tạo điều kiện ổn định và khôngngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện nghiêm chỉnh và đúng thờihạn thoả thuận, các hợp đồng kinh tế với khách hàng Đây chính là một trongnhững nhân tố quan trọng góp phần nâng cao uy tín doanh nghiệp và mở rộngthị trường kinh doanh tiêu thụ sản phẩm hàng hoá Chính vì vậy, có thể khẳngđịnh một điều chắc chắn rằng: Giá trị doanh nghiệp chịu tác động rất lớn bởitrình độ quản lý của bản thân doanh nghiệp
2.2.2.3 Vị trí ngành nghề kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường vị trí ngành nghề kinh doanh có ảnhhưởng quan trọng đến giá trị doanh nghiệp Một ngành nghề kinh doanh có tỷsuất lợi nhuận cao, ổn định và đang có xu hướng phát triển, mở rộng thì cácdoanh nghiệp thuộc ngành nghề kinh doanh đó sẽ được quan tâm hơn và nhưvậy, các doanh nghiệp đó sẽ có giá trị lớn hơn Ngược lại, các doanh nghiệp ởnhững ngành nghề kinh doanh đang có xu hướng co lại, tỷ suất lợi nhuận thấp
và rủi ro cao thì giá trị cũng bị giảm đi
2.2.2.4 Vị trí địa lý.
Một doanh nghiệp có vị trí thuận tiện, gần các trung tâm kinh doanhbuôn bán, gần mặt đường lớn, thuận tiện trong vận chuyển thì kinh doanh córất nhiều thuận lợi trong việc quan hệ, giao dịch với khách hàng trong việcnhanh nhạy với nhu cầu thị hiếu của khách hàng để điều chỉnh kế hoạch
Trang 12SXKD của mình…Ngoài ra, một vị trí địa lý tốt sẽ tạo điều kiện cho doanhnghiệp giảm được chi phí vận chuyển nguyên vật liệu cũng như chi phí vậnchuyển thành phẩm đi tiêu thụ, từ đó doanh nghiệp giảm giá vốn hàng hoá,tăng tỷ suất lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Vị trí địa lý tốt sẽ là lợi thế của doanh nghiệp và chắc chắn sẽ được nhàđầu tư đánh giá cao, từ đó làm tằng giá trị của doanh nghiệp
2.2.2.5 Theo trình độ tay nghề của người lao động.
Trong các doanh nghiệp, trình độ tay nghề của người lao động càng caocàng tạo điều kiện cho việc sản xuất ra các sản phẩm đạt chất lượng cao Hơnthế nữa, trình độ lành nghề của người lao động sẽ rạo ra năng suất lao dộngcao, sản phẩm sản xuất ra nhiều với giá thành thấp do sử dụng tiết kiệmnguyên nhiên vật liệu và giảm chi phí quản lý trên một đơn vị sản phẩm Vìvậy, người ta luôn cho rằng: Trình độ tay nghề của người lao động đang ảnhhưởng tới thành phẩm SXKD và từ đó ảnh hưởng tới giá trị doanh nghiệp
Một đội ngũ những người lao động lành nghề, làm việc với năng suất,chất lượng và hiệu quả kinh tế cao không phải doanh nghiệp nào cũng có.Điều này sẽ giúp cho các nhà đầu tư giảm được chi phí đào tạo, bồi dưỡngnâng cao tay nghề của người lao động, nếu được sở hữu, quản lý doanhnghiệp Ngược lại nếu doanh nghiệp không có đội ngũ lao động lành nghề thìnăng suất chất lượng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó sẽ thấp và
do đó, giá trị của doanh nghiệp sẽ bị giảm xuống Mặt khác, vì người mua sẽphải bỏ thêm chi phí để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công nhân nên tất yếutrong sự trù tính của họ sẽ trừ khoản chi phí đó vào trong giá trị doanh nghiệp
2.2.2.6 Các báo cáo chứng từ tài chính của doanh nghiệp.
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm nhiều loại báo cáo nhằm phảnánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian
Trang 13nhất định nhưng quan trọng nhất vẫn là bảng cân đối kế toán, báo cáo lưuchuyển tiền tệ và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánhviệc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanhnghiệp Nói cách khác, báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các luồng tiền tệlưu chuyển qua doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhât định Dựa vào báocáo lưu chuyển tiền tệ, người ta có thể đánh giá được khả năng tạo ra tiền, sựbiến động tài sản thuần hoá của doanh nghiệp khả năng thanh toán của doanhnghiệp và dự đoán các luồng tiền trong các thời kỳ tiếp theo, đó là một cơ sởquan trọng để đánh giá giá trị doanh nghiệp
- Bảng cân đối kế toán: là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổngquát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanhnghiệp tại một thời điểm nhất định Các số liệu trên bảng cân đối kế toán giúpcho ta biết được cơ cấu tài sản của doanh nghiệp nguồn vốn và cơ cấu nguồnvốn hình thành các tài sản đó Nghiên cứu bảng cân đối kế toán có thể rút ranhững nhận xét, đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp Vìvậy, trong một vụ mua bán doanh nghiệp, người bán cần có một bảng cân đối
kế toán “vững mạnh” Bảng cân đối kế toán càng vững mạnh thì giá trị doanhnghiệp càng cao Tuy nhiên, khi nghiên cứu xem xét bảng cân đối kế toán,cũng cần lưu ý là: giá trị trên bảng cân đối kế toán là giá trị lịch sử và chưaphản ánh đầy đủ giá trị của các tài sản vô hình tiềm ẩn của doanh nghiệp
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tài chính tổng hợpphản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trongmột kỳ kế toán bao gồm kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và kết quả cáchoạt động khác Đồng thời báo cáo cũng nêu tình hình thực hiện nghĩa vụ đốivới nhà nước về thuế và các khoản nộp khác Khi mua một doanh nghiệpngười mua quan tâm đến lợi nhuận sẽ thu được trong tương lai nhưng lợinhuận trong quá khứ của doanh nghiệp cũng là một căn cứ quan trọng, nên
Trang 14việc xem xét lợi nhuận thực hiện của doanh nghiệp thể hiện trên báo cáo kếtquả hoạt động kinh doanh là việc cần thiết và quan trọng ảnh hưởng đến việcđịnh giá mua doanh nghiệp.
Tóm lại, nghiên cứu các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến giá trị doanhnghiệp giúp ta thấy được các nhân tố làm gia tăng gía trị và các nhân tố làmgiảm giá trị doanh nghiệp, trong đó có những nhân tố có thể định lượng được,nhưng có những nhân tố không định lượng được đòi hỏi người làm công tácxác định giá ngoài những hiểu biết chuyên môn còn phải có giác quan nghềnghiệp nhạy cảm và sức thuyết phục người đầu tư
Đối với bên bán, sau khi nắm được các nhân tố tác động, ảnh hưởngđến giá trị doanh nghiệp, họ sẽ tìm thấy những điểm yếu của doanh nghiệpmình mà cố gắng cải thiện những yếu điểm đó trước khi đưa ra bán Họ sẽ tìmmọi cách để nêu bật các điểm mạnh của doanh nghiệp nhằm tăng thêm giá trịdoanh nghiệp Người bán phải phân tích cho được những điểm mạnh điểmyếu của doanh nghiệp mình dưới lăng kính của người mua
Đối với người mua, hiiêủ được các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến giátrị doanh nghiệp sẽ giúp người mua nắm được thực chất giá trị doanh nghiệp
mà mình đang quan tâm Và điều quan trọng hơn là qua phân tích của bảnthân và phân tích cung cấp số liệu của bên bán, người mua sẽ hiểu được thựctrạng tình hình tài chính, tình hình hoạt động của doanh nghiệp một cách cóhiệu quả nhất khi trở thành chủ sỡ hữu chính thức của doanh nghiệp đó
2.3 Xác định giá trị doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp là một quá trình xác định giá tiền tệ chomột doanh nghiệp mà giá trị này có thể được người mua hoặc nhà đầu tư chấpnhận Xác định giá trị doanh nghiệp trong khi doanh nghiệp này đang là mộtthực thể hoạt động và đang được các nhà đầu tư quan tâm
Trang 15Xác định giá trị doanh nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quátrình đổi mới doanh nghiệp, cấu trúc lại nền kinh tế và cũn thường được ápdụng khi các doanh nghiệp, tổ chức sắp xếp, cơ cấu lại dây chuyền sản xuấthoặc các bộ phận SXKD.
Một số vấn đề cần quán triệt khi xác định giá trị doanh nghiệp:
- Giá của một doanh nghiệp được xác định tại một thời điểm cụ thể.Đối với một doanh nghiệp, giá trị của nó chỉ được xác định khi có mộtnhu cầu giao dịch nào đó như mua bán, chia tách, sáp nhập, liên doanh,liênkết…Nói một cách khác, giá trị doanh nghiệp được xác định nhằm đáp ứngđược mục đích nhất định
Do đặc trưng của doanh nghiệp là một cơ thể sống nên vật tư tái sảncủa nó luôn vận động không ngừng Bởi vậy, giá trị doanh nghiệp dù xác địnhtheo phương pháp nào cũng phải dựa vào các thông tin, số liệu, tài liệu cóđược tại một thời điểm và đặc biệt là phải phân tích xem xét trong bối cảnhthị trường tại thời điểm đó Khi các điều kiện về số liệu, tình hình thị trườngthay đổi thì giá trị doanh nghiệp cũng thay đổi theo Giá trị doanh nghiệp khi
đã xác định luôn luôn gắn với một thời điểm cụ thể nhất định và khi điều kiệnthị trường thời gian thay đổi thì giá trị đã xác định trước đó có thể không còn
sử dụng được và ta phải tiến hành xác định lại
- Giá của một doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả tương lai đã được
dự tính tại doanh nghiệp đó
Như trên đã nói, khi người mua trả cho người bán giá trị doanh nghiệp
là để thu được các khoản thu nhập từ kết quả hoạt động của doanh nghiệptrong tương lai Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào hai yếu tố : Các khoản thunhập trong tương lai và tỷ suất lợi nhuận mong muốn của các nhà đầu tư
Yếu tố thứ nhất là các khoản thu nhập trong tương lai được xác địnhdựa vào việc dự đoán kết quả hoạt động SXKD trong tương lai Kết quả hoạt
Trang 16động SXKD trong tương lai của doanh nghiệp được dự tính càng cao thì giátrị doanh nghiệp càng cao và ngược lại.
Yếu tố thứ hai là tỷ suất lợi nhuận vốn mong đợi của nhà đầu tư Đây làchi phí cơ hội sử dụng vốn mà người đầu tư trù tính trên cơ sở xem xét tỷ suấtlợi nhuận vốn tối thiểu cần đạt được với mức độ rủi ro gặp phải
- Giá trị của một tài sản được xác định trên cơ sở những lợi nhuậntương lai của nó
Theo nguyên tắc kế toán, giá hạch toán là gốc ( hay còn gọi là giá lịch
sử ), mọi hàng hoá tài sản của doanh nghiệp đều được hạch toán, phản ánhtrên sổ sách theo giá mua vào Giá thị trường không tính đến yếu tố lạm phát
Do đó, trong trường hợp có lạm phát, giá hạch toán sẽ không phản ánh đúnggiá trị thực chất của tài sản, hàng hoá mà doanh nghiệp đang quản lý, sửdụng
Khác với nguyên tắc kế toán, định giá doanh nghiệp là quá trình xácđịnh giá trị của một doanh nghiệp đang là một thực thể hoạt động, mọi tài sảnđều được coi là đang tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp tham ra vào quá trình tạo ra lơị nhuận của doanh nghiệp Vìvậy, giá trị của một tài sản được xác định trên cơ sở những lợi nhuận tương laicủa nó Một tài sản sẽ có giá trị cao khi nó có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuậntrong tương lai và ngược lại
- Giá trị tài sản ròng ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp
Trong một doanh nghiệp, mọi tài sản đều được quản lý và sử dụngnhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp Tuy nhiên, khôngphải mọi tài sản doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng đều là tài sản của doanhnghiệp Tài sản của doanh nghiệp (hay nói chính xác là giá trị tài sản ròng củadoanh nghiệp) chính là giá trị tài sản doanh nghiệp đang sử dụng sau khi đãtrừ các khoản công nợ phải trả
Trang 17Như vậy, khi đánh giá trị một doanh nghiệp, chúng ta không chỉ nhìnvào khối lượng tài sản doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng mà phải xem xétđến nguồn vốn hình thành nên những tài sản đó Chỉ sau khi loại bỏ hoàn toàncác khoản công nợ phải trả giá trị tài sản còn lại (giá trị tài sản ròng) mớiquyết định giá trị doanh nghiệp.
- Quan hệ cung cầu (số lượng người mua quan tâm đến doanh nghiệp)ảnh hưởng đến giá trị thị trường của doanh nghiệp
Giá trị thị trường của một tài sản là giá bán của tài sản đó Mức giá đó
là mức giá phổ biến trong những điều kiện thị trường xác định Thực tế, cácthông tin về tài sản và giá trị tài sản thường không có sẵn và do đó, giá trị củamột tài sản là mức giá mà phần lớn những người mua sẽ trả
Trong thực tế, nhà đầu tư khác nhau thường sử dụng các phương phápkhác nhau để đánh giá trị doanh nghiệp Đặc biệt, mỗi nhà đầu tư lại có mộtcách nghiên cứu, đánh gía, phân tích thị trường riêng và do đó, nhiều nhà đầu
tư cũng sử dụng một phương pháp xác định giá trị của một doanh nghiệpnhưng vẫn có thể cho ra các kết quả khác nhau Sự cách biệt của giá trị màcác nhà đầu tư đưa ra thường là do các thông tin mà các nhà đầu tư nắm bắtđược không giống nhau và nhận thức về rủi ro của các nhà đầu tư cũng khácnhau
Đối với doanh nghiệp, giá trị cuối cùng của nó phụ thuộc vào nhu cầuthị trường, do đó một doanh nghiệp khi có nhiều người mua quan tâm tới giátrị trên thị trường của doanh nghiệp đó sẽ cao hơn nhiều so với giá trị tài sảnthực
II PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG
CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG.
Hiện nay trên thế giới đang sử dụng rất nhiều phương pháp để đánh giádoanh nghiệp : phương pháp vốn hoá lợi nhuận, phương pháp lưu lượng tiền
Trang 18tệ chiết khấu, phương pháp xác định giá trị theo tài sản, phương pháp so sánhcông ty, phương pháp chi phí, phương pháp thâm nhập thị trường…Tuynhiên, có thể gộp lại thành hai phương pháp chính để xác định giá trị dựa vàogiá trị tài sản ròng và phương pháp hiện tại hoá nguồn tài chính tương lai.
Trong phạm vi chuyên đề này, chúng ta sẽ tập trung trình bày haiphương pháp xác định giá trị doanh nghiệp chủ yếu đó
1 Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản thuần.
1.1 Cơ sở lý luận.
Theo phương pháp này quan niệm doanh nghiệp cũng giống như mộthàng hoá thông thường, giá trị của một doanh nghiệp được tính bằng tổng giátrị thị trường của số tài sản mà doanh nghiệp đang sử dụng vào sản xuất kinhdoanh
1.2 Phương pháp xác định.
Mặc dù giá trị doanh nghiệp được coi là tổng giá trị các tài sản cấuthành doanh nghiệp nhưng để thực hiện một giao dịch mua bán doanh nghiệpngười ta phải xác định tài sản thuần
Công thức xác định: V = A- Db
Trong đó: V: Giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp
A: Tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp
Db: Tổng số nợ phải trả của doanh nghiệp
Theo công thức này người ta có hai cách tính
Cách 1: Dựa vào số liệu trên bảng cân đối kế toán
- Ưu điểm
Trang 19Đây là cách tính đơn giản dễ dàng nếu như việc ghi chép phản ánh cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh được đầy đủ, doanh nghiệp chấp hành tốt quyđịnh về chế độ kế toán hiện hành.
Cách này giúp cho người đánh giá chỉ ra mức độ độc lập về mặt tàichính Khả năng tự chủ trong điều hành sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, nó là căn cứ thích hợp để các nhà đầu tư đánh giá khả năng an toàncủa đồng vốn bỏ ra, đánh giá vị thế tín dụng của doanh nghiệp
Mặc dù có nhiều cách đánh giá trị doanh nghiệp, xong theo cách này nóminh chứng cho các nhà đầu tư và bên liên quan thấy được rằng đầu tư vàodoanh nghiệp luôn luôn được đảm bảo bằng giá trị của các tài sản hiện cótrong doanh nghiệp chứ không phải bằng cái có thể như các phương phápkhác Tuy nhiên giá trị doanh nghiệp xác định bằng phương pháp này chỉ là
số liệu cần thiết để tham khảo quá trình vận dụng các phương pháp khác
- Nhược điểm:
Toàn bộ giá trị tài sản phản ánh trên bảng cân đối kế toán được tập hợp
từ các bảng kê, các sổ tổng hợp mặc dù rất trung thực và khách quan nhưngchỉ mang tính lịch sử không còn phù hợp ở thời điểm định giá doanh nghiệpngay cả khi nền kinh tế không co lạm phát
Giá trị còn lại của tài sản cố định phản ánh trên sổ kế toán cao hay thấpphụ thuộc vào phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp sử dụng, phụ thuộcvào thời điểm mà doanh nghiệp xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọcủa tài sản cố định Vì vậy, giá trị còn lại của tài sản cố định trên sổ kế toánthường không phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm xác định giá trịdoanh nghiệp
Giá trị hàng hoá vật tư, công cụ lao động tồn kho hoặc đang dùng trongsản xuất, một mặt sử dụng vào cách sử dụng giá hạch toán, mặt khác còn phụthuộc vào lựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí khác nhau cho lượng hàng
Trang 20dự trữ Do vậy, số lượng kế toán phản ánh giá trị tài sản đó cũng được coi làkhông đáng tin cậy ở thời điểm đánh giá doanh nghiệp.
Cách 2: Xác định giá trị tài sản thuần theo giá thị trường
Để xác định theo phương pháp này trước hết người ta loại ra khỏi danhmục đánh giá những tài sản không cần thiết và không đáp ứng yêu cầu xuấtkinh doanh, sau đó đánh giá số tài sản còn lại trên nguyên tắc sử dụng giá trịthị trường để tính cho từng tài sản hoặc từng loại tài sản cụ thể
Đối với tài sản cố định và tài sản lưu động là hiện vật đánh giá theo giáthị trường, nếu trên thị trường hiện đang có bán, trong thực tế thường khôngtồn tại Tài sản cố định cũ đã qua sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau khi đóngười ta sử dụng theo công cụ hay khả năng phục vụ của tài sản để áp dụng tỷ
lệ khấu trừ trên giá trị tài sản cố định mới đối với những tài sản cố định khôngcòn tồn tại trên thị trường, người ta áp dụng một hệ số quy đổi so với nhữngtài sản tương tự có tính năng tương đương nhưng khác loại
Các tài sản bằng tiền được xác định bằng cách kiểm kê đối chiếu số dưtrên tài khoản Nếu là ngoại tệ được quy đổi bằng đồng ngoại tệ theo tỷ giá tạithời điểm đánh giá, vàng bạc kim khí đá quý cũng được đánh giá như vậy
Các khoản phải thu do khả năng đòi nợ các khoản này ở nhiều mức độkhác nhau Do vậy, bao giờ người ta cũng bắt đầu từ việc đối chiếu công nợ,xác minh tính pháp lý, đánh giá độ tin cậy của từng khoản thu nhằm loại ranhững khoản mà doanh nghiệp không có khả năng đòi nợ
Đối với các khoản đầu tư ra bên ngoài doanh nghiệp về nguyên tắc phảiđánh giá một cách toàn diện giá trị doanh nghiệp hiện đang sử dụng cáckhoản đầu tư đó Tuy nhiên, nếu khoản đầu tư này không lớn người ta tínhtrực tiếp vào giá thị trường của chúng dưới hình thức chứng khoán hoặc căn
cứ vào số liệu của các bên đối tác liên doanh để xác định theo cách thứ nhất
đã được đề cập ở trên
Trang 21Đối với các tài sản cho thuê và quyền thuê bất động sản tính theophương pháp chiết khấu dòng tiền thu nhập tương lai Với các tài sản vô hìnhtheo phương pháp này người ta chỉ thừa nhận giá trị của các tài sản vô hình đãđược xác định trên sổ kế toán và thường không tính đến lợi thế thương mạicủa doanh nghiệp Sau cùng giá trị tài sản thuần được tính bằng cách lấy tổnggiá trị của các tài sản đã được xác định trừ đi các khoản nợ đã phản ánh ở bênnguồn vốn của bảng cân đối kế toán và trừ đi khoản tiền thuê tính trên giá trịtăng thêm của số tài sản được đánh giá lại tại thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp.
1.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp.
- Nhược điểm
+ Phương pháp giá trị tài sản thuần quan niệm doanh nghiệp như mộttập hợp rời rạc các loại tài sản với nhau Việc bán doanh nghiệp cũng giốngnhư việc bán các loại tài sản riêng rẽ Phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp được sử dụng cũng giồng như kỹ thuật định giá tài sản thông thường,giá trị doanh nghiệp chỉ đơn giản được tính bằng tổng giá trị thị trường của sốtài sản trong doanh nghiệp tại một thời điểm, điều đó có nghĩa là đánh giádoanh nghiệp trong một trạng thái tĩnh, doanh nghiệp đã không được coi nhưmột thực thể, một tổ chức đang tồn tại và phát triển Do vậy sẽ không có tầmnhìn chiến lược về doanh nghiệp, đây là một hạn chế bởi người mua doanhnghiệp nhằm mục đích sở hữu các khoản thu nhập trong tương lai chứ khôngphải để bán lại ngay các tài sản hiện thời
+ Phương pháp này không cung cấp và xây dựng được những cơ sở vàthông tin cần thiết để các bên có liên quan đánh giá về triển vọng sinh lời củadoanh nghiệp, đó là những lý do người ta khó giải thích được cùng giá trị tàisản thuần như nhau mà doanh nghiệp mà doanh nghiệp này lại có giá bán caohơn doanh nghiệp kia (ngay cả khi không có tác động của yếu tố cạnh tranh)
Trang 22+ Phương pháp này đã bỏ qua phần lớn các yếu tố phi vật chất nhưnglại có giá trị thật sự và nhiều khi lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong doanh nghiệpnhư: trình độ quản lý, trình độ tay nghề công nhân, uy tín thị phần của doanhnghiệp Có những doanh nghiệp có tài sản không đáng kể xong triển vọngsinh lời lại rất cao.
Trong nhiều trường hợp xác định giá trị tài sản ròng quá phức tạp nhưxác định giá trị của một tập đoàn có nhiều chi nhánh, có nhiều chứng khoánđầu tư ở nhiều doanh nghiệp khác nhau, mỗi chi nhánh lại có một số lượngcác tài sản lớn đặc biệt đã qua sử dụng (hoặc không còn bán trên thị trường)trong trường hợp đó đòi hỏi phải tổng kiểm kê đánh giá lại một cách chi tiếtmọi tài sản của các chi nhánh dẫn đến chi phí tốn kém, thời gian kéo dài, kếtquả phụ thuộc nhiều vào các thông số kỹ thuật của tài sản, như vậy sai số cókhả năng ở mức cao
- Ưu điểm
+ Phương pháp đã chỉ ra giá trị của những tài sản cụ thể cấu thành giátrị doanh nghiệp, giá trị của các tài sản là căn cứ cụ thể có tính pháp lý rõ ràngnhất về khoản thu nhập mà người mua chắc chắn sẽ nhận được khi sở hữudoanh nghiệp, nó khẳng định số tiền mà người mua bỏ ra luôn luôn được đảmbảo bằng một lượng tài sản có thực
+ Việc định giá trị thị trường của số tài sản có thể bán tại thời điểmđánh giá đã chỉ ra một khoản thu nhập tối thiểu mà người sở hữu sẽ nhậnđược Đó cũng là mức giá thấp nhất là cơ sở đầu tiên mà các bên có liên quanđưa ra trong quá trình đàm phán về giá bán của doanh nghiệp
+ Đối với những doanh nghiệp nhỏ mà số tài sản không nhiều việc địnhgiá tài sản không đòi hỏi nhiều kỹ thuật phức tạp Giá trị yếu tố vô hình khôngđáng kể, các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh không rõ ràng thiếu căn
cứ xác định các khoản thu nhập trong tương lai Đây là phương pháp thíchhợp nhất
Trang 232 Phương pháp hiện tại hoá các nguồn tài chính tương lai.
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động đều bị chi phối bởi các quyluật kinh tế cơ bản trong đó có quy luật lợi nhuận Theo quy luật này, lợinhuận và đặc biệt là lợi nhuận cao luôn là mục đích hàng đầu của mọi ngườikinh doanh và là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp
Chính vì vậy khi xem xét đánh giá giá trị doanh nghiệp, các nhà đầu tưluôn quan tâm tới khả năng tạo ra lợi nhuận thông qua kết quả hoạt động dựtính của doanh nghiệp trong tương lai
Tuy nhiên, kết quả hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp khôngphải là giá trị doanh nghiệp mà chỉ là cơ sở để xác định giá trị doanh nghiệp.Phương pháp tính toán xác định giá trị doanh nghiệp có thể sử dụng lơi nhuận
dự tính trong tương lai của doanh nghiệp được gọi là phương pháp đinh giádoanh nghiệp dựa vào lợi nhuận trong tương lai
Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng giá trị doanh nghiệpkhông phải đơn thuần là tổng số số học giá trị các tài sản hiện có mà giá trịdoanh nghiệp là tổng hợp các giá trị kinh tế được đo bằng khả năng sinh lờicủa doanh nghiệp trong tương lai và đó chính là cơ sở để đánh giá doanhnghiệp theo phương pháp này
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng sinh lời của doanh nghiệp đều
có thể tính bằng tiền và thể hiện bằng rất nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đócác nhà đầu tư quan tâm nhất là chỉ tiêu lợi nhuận và chỉ tiêu thông lượng tiềnmặt Chính vì vậy, khi đánh giá doanh nghiệp người ta thường sử dụng chỉtiêu lợi nhuận hoặc chỉ tiêu thông lượng tiền mặt
2.1 Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần.
2.1.1 Cơ sở lý luận.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào qua quá trình sản xuất kinh doanh,doanh thu sau khi trừ đi chi phí (bù đắp khoản chi phí) thực hiện nghĩa vụ nộp
Trang 24thuế cho nhà nước (thuế thu nhập) Phần còn lại là lợi nhuận thuần (lợi nhuậnròng) thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp giá trị của doanh nghiệp được đobằng độ lớn của khoản lợi nhuận thuần mà doanh nghiệp có thể mang lại chochủ sở hữu trong suốt thời gian tồn tại doanh nghiệp.
2.1.2 Phương pháp xác định.
Để đảm bảo sự nhất quán trong việc đánh giá các khoản lợi nhuậnthuần phát sinh ở các thời điểm khác nhau trong tương lai, người ta thực hiệnquy đổi chúng về thời điểm hiện tại theo một lãi suất nhất định còn gọi là tỉsuất hiện tại hoá Vì vậy giá trị doanh nghiệp được tính bằng công thức nhưsau :
n i i
i
V
+ + + +
+ +
=
1
Pr
1
Pr ) 1 (
Pr
2 2 1
0
Với V0 là giá trị của doanh nghiệp
Prt (t = 1 ;n ) là lợi nhuận thuần năm thứ t
Để đơn giản hoá người ta coi Pr1, Pr 2… lợi nhuận hàng năm bằng nhau.Giả định doanh nghiệp tồn tại mãi mãi lúc đó công thức được viết lại như sau:
n i i
i
V
+ + + +
+ +
=
1
Pr
1
Pr ) 1 (
Pr
2 2 1
0
( )i t i
n t
Pr 1
1 Pr
+ Σ
=
=
Trong đó:
Pr: là khoản lợi nhuận thuần có thể đạt đượchàng năm trong tương lai,
để xác định được Pr người ta thường căn cứ vào số liệu lợi nhuận thuần màdoanh nghiệp đã đạt được trong quá khứ sau đó tính số trung bình kết quả vềlợi nhuận thuần có thể lấy trong 3 năm, 5 năm, 10 năm
i : là tỉ suất hiện tại hoá được khuyến nghị là phải chọn một mức lãixuất nào đó vừa phản ánh được yếu tố thời giá của tiền tệ, vừa phản ánh được
Trang 25chi phí cơ hội của đồng vốn phản ánh được mức đọ rủi ro mà người mua phảigánh chịu khi đầu tư vốn vào doanh nghiệp Trong thực tế i thường được chọn
là lãi suất trái phiếu kho bạc, lãi suất cho vay dài hạn Tuỳ từng loại doanhnghiệp, song theo kinh nghiệm i thường giao động từ 20 – 30%
V0: là giá trị doanh nghiệp
* Chú ý : Khi sử dụng phương pháp
- Khoản trích khấu hao về tài sản cố định thường phải tính lại thì cácdoanh nghiệp thường trích khấu hao trên giá trị tài sản chưa được đánh giá lạitại thời điểm xác định Thời hạn trích khấu hao, phương pháp trích khấu haocũng có thể khác nhau hoặc giữa các đơn vị thuộc doanh nghiệp, do đó cầnphải xác định lại Để phản ánh rõ giá trị hao mòn của tài sản cố định từ đó xácđịnh đúng lợi nhuận thuần
- Phải xác định lại một số khoản chi phí nếu thấy cần thiết như tiềnlương, tiền thưởng
- Việc phân bổ các chi phí cho hàng tồn kho cũng cần phải xác định lạicho thống nhất
- Những khoản thu nhập phải được loại trừ
Sau khi điều chỉnh lợi nhuận quá khứ ta có thể áp dụng phương phápbình quân số học hoặc bình quân gia quyền chi phí để tính lợi nhuận trongtương lai
2.1.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp.
- Ưu điểm
+Phương pháp hiện tại hoá lợi nhuận thuần dựa trên quan niệm chorằng giá trị doanh nghiệp được xác định bởi giá trị hiện tại của khoản lợinhuận sau thuế thu nhập Phương pháp này được ứng dụng cho những doanhnghiệp không có nhiều tài sản để khấu hao, khả năng tích luỹ vốn từ lợi nhuận
Trang 26để lại và từ khấu hao để lại là không đáng kể, những doanh nghiệp mà người
ta không có cơ hội đầu tư bổ sung cho tương lai, khoản lợi nhuận sau thuế chỉdùng để chi trả cho nhà đầu tư
+ Việc dự báo tham số Pr trong tương lai khá đơn giản
Với những doanh nghiệp khó tìm thấy cơ hội đầu tư sẽ giúp các chuyêngia đánh giá với độ chính xác cao, chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp bằngcách dựa vào thời gian khấu hao của tài sản cố định thay cho giả thuyết cho
∞
→
n
- Nhược điểm của phương pháp
+ Thiếu những điều kiện đã nêu ở trên thì phương pháp này không phùhợp với cả nhà đầu tư thiểu số và đa số, thu nhập của nhà đầu tư thiểu số là ởlợi tức cổ phần chứ không phải là toàn bộ lợi nhuận Lợi nhuận tính theophương pháp này là lợi nhuận kế toán đã được điều chỉnh tức là nó không chỉ
ra chính xác thời điểm phát sinh khoản thu nhập Vì vậy nó không phù hợpvới quan điểm nhìn nhận về dòng tiền của nhà đầu tư đa số
+ Việc điều chỉnh số liệu quá khứ để rút ra tính quy luật của lợi nhuậntrong tương lai cũng không phù hợp với chiến lược về doanh nghiệp Khidoanh nghiệp mới thành lập chưa có số liệu về quá khứ chưa bước sang giaiđoạn ổn định để có kết quả ổn định
+ Trong quá trình tính toán cho số năm tồn tại doanh nghiệp là khôngphù hợp với thực tế
Trang 272.2 Phương pháp hiện tại hoá dòng tiền thuần.
2.2.1 Cơ sở phương pháp luận.
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư luôn quan tâm đến khảnăng thanh toán, khả năng thu hồi các khoản vốn bỏ ra đầu tư ban đầu.Phương pháp hiện tại hoá dòng tiền thực chất là phương pháp tính toán hiệuquả vốn đầu tư vì việc xem xét để mua doanh nghiệp chính là xem xét khảnăng đầu tư vào một doanh nghiệp đã có sẵn
CFt t n
Tỷ lệ tài sản không được đưa vào hoạt động kinh doanh
Hệ thống pháp luật, chính sách và quy định liên quan tới hoạt độngsản xuất kinh doanh chưa đầy đủ, không ổn định, thường xuyên thay đổi
Trang 28Cơ chế quản lý không đồng nhất với kinh tế thế giới, hệ thống kế toánkhông đồng nhất với các tiêu chuẩn quốc tế chung.
Có nhiều biến động về thị trường và khách hàng
Thay đổi trong cung ứng nguyên liệu
Trong các phương pháp xác định giá trị phương pháp hiện tại hoá dòngtiền được ưa chuộng nhất nhưng phức tạp nhất đòi hỏi người làm công tác xácđịnh giá phải tốn nhiều công sức nhất Khi xác định giá trị doanh nghiệp theophương pháp này người làm công tác phải thực hiện các bước cơ bản sau:
Bước1 : Dự tính dòng tiền mặt luân chuyển trong các năm của thời kỳ
dự tính Trong bước này, người làm công tác xác định giá phaỉ đưa ra mộtloạt các giả thiết dựa trên việc nghiên cứu thu thập thông tin từ các nguồnkhác nhau: từ các chuyên gia trong ngàng công nghiệp, các nhà quản lý doanhnghiệp, các tài liệu nghiên cứu hoạc qua các cuộc làm việc với bộ chủ quản,các cơ quan chuyên môn liên quan, các báo cáo tư vấn, các tạp chí chuyênngành…qua các thư viện cũng như qua các báo cáo đánh giá trước đây
Tóm lại, để dự tính dòng tiền mặt trong tương lai cho một doanhnghiệp, các nhà xác định giá thường phải tiến hành các công việc sau:
Dự tính thu nhập và chi phí tương lai để dự tính lợi nhuận trước thuế,lãi vay và lợi nhuận sau thuế
Dự tính chi phí khấu hao trong tương lai
Dự tính chi phí vốn lưu động
Dự tính vốn đầu tư cần có trong tương lai
Bước2 : Dự tính tỷ lệ chiết khấu Trong quá trình xác định giá trị doanhnghiệp, người làm công tác xác định giá cố gắng tính toán giá trị hiện tại củatừng dòng được dự tính thông qua chiết khấu từng dòng tiền Tỷ lệ chiết khấu
Trang 29sử dụng khi chiết khấu dòng tiền trong tương lai thực chất phải tính giá trị cuảdòng tiền theo thời điểm.
Bước3: Là giai đoạn ước tính giá trị cuối cùng của công việc kinhdoanh khi hết giai đoạn dự tính Trong một giao dịch mua bán doanh nghiệp,các nhà đầu tư luôn xem xét và đánh giá doanh nghiệp như một chủ thể hoạtđộng liên tục Vì vậy, khi kết thúc giai đoạn dự tính, doanh nghiệp vẫn tiếptục hoạt động và các dòng tiền mặt vẫn tiếp tục lưu chuyển Có nhiều phươngpháp để dự tính giá trị cuối cùng của doanh nghiệp Tuy nhiên để đơn giảicách tính giá trị cuối cùng người ta giả định là dòng tiền mặt của doanhnghiệp ở cuối kỳ dự tính tiếp tục luân chuyển mãi mãi, hầu như không có biếnđộng Đây là phương pháp phổ biến nhất để tính giá trị cuối cùng của doanhnghiệp
Theo phương pháp này, giá trị cuối cùng của doanh nghiệp được tínhtoán theo công thức:
Gc =
k Tn
Trong đó
Gc : giá trị cuối cùng của doanh nghiệp
Tn: Dòng tiền mặt của năm thứ n
n: Số năm dự tính dòng tiền mặt
k: Tỷ lệ chiết khấu
Bước4: Xác định giá trị doanh nghiệp thông qua việc chiết khấu dòngtiền Đó là việc tính toán giá trị hiện tại thông qua dòng tiền luân chuyển dựtính trong tương lai
2.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp.
- Ưu điểm:
Trang 30+ Một là, ước đoán được những thay đổi của doanh nghiệp trong môitrường kinh doanh vận động và phản ánh tiềm năng hoạt động và sinh lợi củadoanh nghiệp
+ Hai là, công tác xác định giá trị doanh nghiệp chủ yếu tập chung vàocác nội dung mà nhà đầu tư quan tâm- đó là tiềm năng thanh toán thu hồi vốncủa doanh nghiệp
+ Ba là, thông qua phương pháp này người ta có thể đưa vào sổ sách kếtoán các ước về thay đổi trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
+ Thứ ba, phương pháp này được đánh giá là phương pháp phức tạp khi
sử dụng để xác định giá trị doanh nghiệp Vì vậy để đánh giá được kết quảhoạt động của doanh nghiệp trong tương lai, những người làm công tán xácđịnh giá phải có trình độ nghiệp vụ kinh doanh và quản lý doanh nghiệp cao
có thể đưa ra nhiều giả thiết thích hợp, liên quan tới hoạt động của doanhnghiệp trong tương lai
Mặc dù vậy đối các nhà đầu tư trong và nước ngoài, giá trị doanhnghiệp được xác định bằng phương pháp này được đánh giá là chuẩn mực đểxác định giá trị thị trường tiềm năng của doanh nghiệp mà họ quan tâm
2.3 Phương pháp định lượng Good will ( lợi thế thương mại )
2.3.1 Cơ sở lý luận.
Xuất phát điểm của phương pháp này là xem xét doanh nghiệp như mộttập thể các yếu tố kinh tế hợp thành bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô
Trang 31hình của doanh nghiệp Tài sản vô hình hay còn gọi là lợi thế kinh doanh củadoanh nghiệp được tạo nên bởi uy tín doanh nghiệp, vị trí địa lý thuận tiện, bíquyết công nghệ, và trình độ quản lý tay nghề người lao động của doanhnghiệp …
V: Giá trị doanh nghiệp
Ar: giá trị dòng của tài sản hữu hình
GW: Giá trị tài sản vô hình hay lợi thế kinh doanh
GW = ( )t
n
At r Bt
+
− Σ
.
1
Bt: Lợi nhuận năm thứ t
At: giá trị tài sản đưa vào kinh doanh
r: Tỷ xuất lợi nhuận bình thường của tài sản đưa vào kinh doanh
rxAt: Là lợi nhuận bình thường của tài sản năm thứ t
Bt-r.At: Là siêu lợi nhuận năm thứ t
Việc lựa chọn các tham số Bt,r.At được tổng hợp theo ba quan điểmsau:
- Theo hiệp hội chuyên gia kế toán châu âu (UEC)
r: Tỷ xuất được tính trên chi phí sử dụng vốn trung bình
Bt: Lợi nhuận sau thuế trước lãi vay
Trang 32At: Tổng giá trị tài sản không phân biệt tài sản được tài trợ từ cácnguồn nào.
- Theo quan điểm Angloxaxons:
r được tính theo chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu Bt
Bt: Lợi nhuận thuần
At: Giá trị tài sản thuần được đánh giá lại
- Theo quan điểm ( CFNE ) vốn thường xuyên cần thiết cho kinhdoanh
r:Tính trên chi phí sử dụng vốn trung bình tính riêng cho các nguồn tàitrợ dài và trung hạn
Bt: Lợi nhuận sau thuế trước lãi vay chung và dài hạn
At: Vốn thường xuyên được tài trợ trong các nguồn ổn định dài hạn vàtrung hạn
* Phương pháp UEC lựa chọn tham số trên cơ sở cho rằng tài sản củadoanh nghiệp được tài trợ bằng các khoản nợ Do vậy, bổn phận của ngườimua phải tạo ra tỷ suất lợi nhuận tối thiểu tức là phải trả được lãi vay và mứclợi tối thiểu của các nhà đầu tư từ đó tỷ xuất lợi nhuận bình thường cần đượclựa chọn Tỷ suất lợi nhuận bình thường phải tính trên chi phí sử dụng vốncủa doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn trung bình và mức sinh lời tối thiểu màcác nhà đầu tư đòi hỏi ở doanh nghiệp, khoản lợi nhuận vượt trội so với mứcsinh lời tối thiểu mới được coi là siêu lợi nhuận
* Phương pháp Angloxaxons: Khi lựa chọn các tham số có tính đến cácyếu tố rủi ro vì ít có doanh nghiệp được tài trợ bằng 100% vốn chủ sở hữu.Khi có cơ cấu nợ tăng tức là rủi ro tăng Vì vậy tỷ suất sinh lời tối thiểu trênvốn chủ sở hữu cũng phải tăng để bù đắp những rủi ro có thể gặp, nghĩa là khichủ sở hữu đầu tư một lượng vốn tương ứng với giá trị tài sản thuần được
Trang 33đánh giá lại thì tỷ suất sinh lời cũng phải được tính trên vốn chủ sở hữu đượcđánh giá lại khoản lợi nhuận thuần mà doanh nghiệp đạt được phải trên mứcsinh lời đòi hỏi của chủ sở hữu mới được coi là siêu lợi nhuận.
* Phương pháp CFNE: Coi doanh nghiệp như một dự án đầu tư nhằmthu được siêu lợi nhuận, các hoạt động đầu tư vào tài sản cố định và tài sảnlưu động một cách thường xuyên phải được đảm bảo bằng nguồn tài trợ nhấtđịnh Lợi nhuận của doanh nghiệp đạt được vào những đầu tư dài hạn vềnhững tài sản thường xuyên do vậy tỷ suất sinh lời tối thiểu phải đù bù đắpchi phí sử dụng vốn dài hạn và trung hạn nếu doanh nghiệp tạo ra khoản lợinhuận cao hơn mới được coi là siêu lợi nhuận
2.3.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp
- Ưu điểm
+ Cho đến nay phương pháp định lượng GW là phương pháp xác địnhgiá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp Đây là phương pháp xác định giá trịdoanh nghiệp có cơ sở lý luận vững chắc nhất, nó đã chứng minh được rằnggiá trị một doanh nghiệp được cấu thành từ hai yếu tố hữu hình và vô hình.Công thức tính GW một mặt là sự minh chứng cho tiềm lực hay giá trị về mặt
tổ chức của doanh nghiệp, là ở các khoản thu nhập trong tương lai Mặt khác
nó cũng là cơ sở để người ta lượng hoá yếu tố này
+ Phương pháp GW tạo nên lợi thế lớn cho các chuyên gia định giáthông qua bù trừ các sai sót có thể xảy ra khi đánh giá lại tài sản thuần củadoanh nghiệp vì nếu giá trị tài sản được đánh giá cao lên thì giá trị GW sẽgiảm đi một lượng ngược lại nếu đánh giá giá trị tài sản thấp đi thì sẽ bù trừmột lượng GW
At↑→ r At↑→ GW↓
+ Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp này có tính đến cả lợi íchcủa người mua và người bán, người mua doanh nghiệp nhằm thu được lợi
Trang 34nhuận cao hơn mức sinh lời bình thường của một tài sản chứ không nhằmmua lấy tài sản hiện hành Phương pháp này chỉ ra quan niệm mức sinh lời tốithiểu của một đồng vốn đưa vào đầu tư đây là cơ sở quan trọng của mọi quyếtđịnh đầu tư.
+ Nếu như những cơ sở thông tin dữ liệu đạt được độ tin cậy cần thiết
để tính các tham số thì phương pháp này luôn luôn mang lại sự tin tưởngvững chắc hơn các phương pháp khác
- Hạn chế của phương pháp
+ Siêu lợi nhuận chỉ ra khả năng sinh lời có thực của nhiều doanhnghiệp Tuy nhiên trong cơ chế thị trường dưới sự tác động của quy luật cạnhtranh, quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân thì khó có doanh nghiệp nào duytrì được lợi thế đó một cách lâu dài Do vậy, việc ước lượng thời gian địnhlượng GW là 3-5 hoặc 7-10 năm là rất khó khăn
+ Phương pháp này phản ánh sự kết hợp giữa hai phương pháp giá trịtài sản thuần và hiện tại hoá lợi nhuận Do vậy nó đòi hỏi phải đánh giá được
cả tài sản hiện tại và thu nhập trong tương lai, chính vì thế nó có hạn chế củaciố hai phương pháp đó
+ Theo phương pháp GW giá trị GW có biên độ giao động rất lớn trướcnhững thay đổi nhỏ của tham số: Do vậy khi áp dụng phương pháp này nếuthiếu sự cân nhắc kĩ lưỡng dẫn đến những kết luận sai lớn về giá trị vô hìnhcủa doanh nghiệp
+ Cũng như nhiều phương pháp khác ngoại trừ phương pháp hiện tạihoá đồng tiền thuần là không cung cấp những cơ sở dữ liệu cần thiết để cácnhà đầu tư đánh giá triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai, thiếu cơ sở
dữ liệu này các chuyên gia đánh giá phải lựa chọn các tham số mang nhiềutính chủ quan
Trang 35Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán Năm 1992 cảnước có trên 2/3 tổng số doanh nghiệp nhà nước có số lượng lao động dưới
100 người, chỉ có 4% doanh nghiệp có số lượng lao động trên 100 người Sốlượng lao động trong khu vực doanh nghiệp nhà nước chiếm tỉ trọng khá nhỏtrong tổng số lao động xã hội khoảng 5-6%
Trình độ kĩ thuật, công nghệ lạc hậu, trừ một số rất ít (18%) số doanhnghiệp nhà nước được đầu tư mới đây, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước
đã được sử dụng khá lâu, có trình độ kĩ thuật, công nghệ thấp kém so với cácnước từ 3 đến 4 thế hệ Có doanh nghiệp còn trang bị các thiết bị kĩ thuật từnăm 1939 và trước đó được xây dựng bằng kĩ thuật của nhiều nước khác nhaunên tính đồng bộ của doanh nghiệp thấp Khi chuyển sang nền kinh tế thịtrường, các doanh nghiệp khó có khả năng cạnh tranh cả trong nước và trênthế giới
Việc phân bố còn bất hợp lý về ngành, vùng Khi chuyển sang nền kinh
tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước không còn được bao cấp mọi mặt
Trang 36như trước nữa, đã thế lại bị các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết liệt,nên nhiều doanh nghiệp không thể trụ nổi buộc phải phá sản, giải thể Đặcbiệt trong những năm gần đây chúng ta đã tiến hành cải cách doanh nghiệpnhà nước Do đó mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã giảm từ 12.084 tínhđến ngày 1/4/1994 xuống còn 6.264 doanh nghiệp nhà nước, nhờ sự đổi mới
về tổ chức quản lý, về kĩ thuụat và công nghệ của các doanh nghiệp còn lại,tổng sản phẩm giá trị tuyệt đối của kinh tế nhà nước, cũng như tỷ trọng tổngsản phẩm quốc dân (GDP) không những không giảm mà còn tăng lên đángkể
Bảng sau đây cho chúng ta thấy rõ điều đó :
Tốc độ tăng trưởng
kinh tế bình quân
hàng năm (%)
1971 - 1980 0,4
1971 - 1985 6,4
1986 - 1990 3
1991 - 1997 7,8 - 8,5
Tỷ trọng kinh tế
quốc doanh GDP
(%)
1990 34,1
1991 36,0
1992 39,6
1993 42,9
1997 43,6
Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế nước ta trong những năm qua đã tăngnhanh, đặc biệt các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò chủ yếu trongnhiều ngành kinh tế, nhất là những ngành quan trọng đòi hỏi đầu tư lớn, kĩthuật cao và các ngành sản xuất cung ứng các hàng hoá và các dịch vụ côngcộng Đồng thời doanh nghiệp nhà nước vẫn là thành phần kinh tế đóng gópchủ yếu cho ngân sách nhà nước Có thể nhận thấy rằng: hầu hết các doanhnghiệp nhà nước của ta hình thành từ thời quản lý tập trung quan liêu bao cấp,khi chuyển sang cơ chế mới lại thiếu kiểm soát chặt chẽ việc thành lập nênphát triển tràn lan (nhất là cấp tỉnh thành phố, quận huyện, cơ quan, trườnghọc) Một bộ phận quan trọng doanh nghiệp nhà nước không đủ điều kiện tốithiểu để hoạt động, thiếu vốn tối thiểu, trang thiết bị quá đơn sơ, trách nhiệmtài ssản không được phân định rõ ràng Mặt khác trong điều kiện kinh tế tư
Trang 37nhân còn quá non yếu về mọi mặt chỉ mới hoạt động chủ yếu trong lĩnh vựcdịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp nên doanh nghiệp nhà nướcchưa thể tập trung toàn lực cho yêu cầu phát triển ở những ngành, lĩnh vựcthen chốt.
Những đặc điểm trên luôn chi phối phương hướng, bước đi, và biệnpháp trong quá trình đổi mới ở nước ta Sau 10 năm đổi nới, các doanh nghiệpnhà nước đã và đang chuyển hướng khá căn bản, đã sắp xếp lại một bướcquan trọng, giảm được gần một nửa số doanh nghiệp chủ yếu là doanhnghiệp địa phương nhỏ bé, hoạt động không hiệu quả Số lớn doanh nghiệpcòn lại được tổ chức và từng bước phát huy quyền tự chủ trong kinh doanhlàm ăn năng động và hiệu quả Nhưng nhìn chung các doanh nghiệp nhà nướcvẫn rất còn khó khăn, hướng kinh doanh còn thấp, nhiều doanh nghiệp vẫnlàm ăn thua lỗ triền miên, hoạt động cầm chừng Sự đóng góp của doanhnghiệp nhà nước cho ngân sách nhà nước chưa tương xứng với phần đầu tưcủa nhà nước cho nó, cũng nhưvới tiềm lực của doanh nghiệp nhà nước tìnhtrạng mất, thất thoát lớn về vốn đang diễn ra hết sức nghiêm trọng, việc quản
lý đối với các doanh nghiệp còn quá yếu kém, đặc biệt là tình trạng buônglỏng quản lý tài chính làm nhà nước mất vai trò thực sự là người chủ sở hữu,tình trạng phân hoá, chênh lệch trong thu nhập ngày càng tăng ( có nhiềudoanh nghiệp thu nhập bình quân trên 1 triệu đồng/1 người/1 tháng, trong khi
có doanh nghiệp lương công nhân không đảm bảo nhu cầu tối thiểu )
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC HIỆN NAY.
Sự ảnh hưởng nặng nề của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độtrong điều kiện cạnh tranh kéo dài sự tư duy không đúng trong một mô hình
xã hội trước đây Tư duy đó đã chi phối đường lối xây dựng nền Kinh tế xãhội chủ nghĩa với cơ cấu chỉ có hai thành phần ( quốc doanh và tập thể ) Tưtưởng muốn xoá bỏ nền kinh tế tư nhân và nền kinh tế cá thể, đồng nhất với
Trang 38mục tiêu phương hướng xây dựng Chủ nghĩa xã hội Trước đây người tathường xem nhẹ các quy luật kinh tế khách quan của thị trường, coi thị trường
là vốn có của chủ nghĩa tư bản Từ đó dẫn đến hậu quả là việc hạch toán kinh
tế ở các doanh nghiệp mang tính hình thức, các doanh nghiệp thực chất chỉ làngười sản xuất, gia công cho nhà nước chứ không phải một cơ sở kinh doanh.Như vậy rõ ràng doanh nghiệp nhà nước trong điều kiện đó rất xa lạ với môhình doanh nghiệp theo cơ chế trên thị trường có sự quản lý của nhà nưóc
Sự yếu kém của nền kinh tế chủ yếu là lực lượng sản xuất, nói chungcác nguồn lực để phát triển sản xuất và kinh tế của ta tuy phong phú song chủyếu mới ở dạng tiềm năng Để biến chúng thành hiện thực và có hiệu quả, cầnphải có lực lượng vốn lớn, kĩ thuật công nghệ đồng bộ, hiện đại, đội ngũ côngnhân, cán bộ kĩ thuật, cán bộ quản lý có năng lực đồng thời phải có trình độ tổchức và quản lý thích hợp của nhà nước cũng như của doanh nghiệp
Sự yếu kém của lực lượng sản xuất của nước ta hiện nay biểu hiện rõnhất là sự thấp kém lạc hậu của kết cấu hạ tầng của toàn bộ nền kinh tế cũngnhư mỗi doanh nghiệp Trình độ kết cấu hạ tầng và dịch vụ của nước ta chỉ ởdưới mức trung bình so với các nước đang phát triển Ví dụ hệ thống giaothông liên lạc – cầu nối gắn liền nền kinh tế nước ta với thị trường thế giớiđến nay vẫn vô cùng thấp kém và lạc hậu, cả nước mới có 32.595 km đườngsắt nhưng chủ yếu đường khổ rộng 1m : quốc lộ có 11 vạn km thì 7% đườngtốt, 47% km đường xấu và rất xấu, cảng biển và sân bay thiếu cả về số lượng
và chất lượng Những cơ sở hiện nay vẫn chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế
Nền kinh tế của ta còn bộc lộ những yếu kém chưa có tích luỹ nội bộ,chưa có khả năng chi trả số nợ đến hạn và quá hạn Khả năng vay vốn nướcngoài cũng không phải là thuận lợi Bởi lẽ ta còn nợ nhiều không có khả năngchi trả trong thời gian nhất định Mặt khác hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp còn quá thấp, lãi suất tiền vay còn cao Trong khi khả năng cạnh tranh
Trang 39của sản phẩm và kinh nghiệm kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam trên thịtrường thế giới còn quá yếu kém.
Trình độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế nói chung, đối với doanhnghiệp nói riêng nhìn chung còn nhiều thiếu sót, hệ thống pháp luật, chínhsách quản lý chưa hoàn chỉnh, phần lớn các văn bản pháp quy, dưới luật cónhiều quy định mâu thuẫn với nhau, hệ thống toà án kinh tế chưa tổ chức kịpthời nhằm đảm bảo nghiêm chỉnh pháp luật kinh tế Trong hoạt động quản lýnhà nước, tệ cửa quyền quan liêu, thủ tục hành chính quá phiền hà đối vớidoanh nghiệp và công dân còn khá phổ biến
Trong quá trình chuyển cơ chế quản lý, nhiều văn bản quản lý cũ đã lỗithời, song chưa được huỷ bỏ, những văn bản mới có nhiều sơ hở, nhưngkhông kịp thời sửa đổi nên đã bị lợi dụng phục vụ lợi ích trước mắt, cục bộcủa cơ sở, ngành gây nhiều tiêu cực, vô hiệu hoá những quy định mới đúngđắn của nhà nước
Một số công tác đặc biệt quan trọng về quản lý đối với doanh nghiệpnhư quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra, giám sát thi hành phápluật chưa chuyển biến kịp thời trong môi trường kinh doanh mới có lúc buônglỏng, nếu nhà nước không nắm được thực trạng tài chính, hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp Ngược lại có lúc, có nơi lại có nhiều thanh tra kiểm soáthoạt động của doanh nghiệp một cách tuỳ tiện
Trong quá trình chuyển sang cơ chế thị trường, Đảng và nhà nướcchậm và không cương quyết trong việc cải cách chế độ sở hữu trong cácdoanh nghiệp nhà nước Về mặt pháp ly, tài sản, tiền vốn trong các doanhnghiệp nhà nước thuộc sở hữu toàn dân, nhưng trên thực té tính chất toàn dâncủa sở hữu bị bào mòn một cách nghiêm trọng Do các hình thức cụ thể của
sở hữu toàn dân về mặt kinh tế không được xác định nên hầu hết những ngườilao động trong các doanh nghiệp nhà nước thờ ơ và xa cách với sở hữu toàndân Đó là nguyên nhân của sự tham nhũng, thiếu trách nhiệm, thiếu kỷ cương
Trang 40và kỷ luật của người lao động, của sự giảm sút về năng suất, chất lượng, hiệuquả, thiếu minh bạch trong phân phối thu nhập ở các doanh nghiệp nhà nước.
Đã có thời gian dài Việt Nam có sai lầm là trao cho người lao động và Đại hộicông nhân viên chức những thẩm quyền của người chủ sở hữu
Tóm lại, các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta do yếu tố lịch sử để lại
đã và đang đóng góp vai trò to lớn gần như tuyệt đối trong lĩnh vực của nềnkinh tế quốc dân, nhưng lại hoạt động kém hiệu quả và phát sinh nhiều tiêucực Quá trình chuyển đất nước sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phầnvận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước tất yếu phải đổimới căn bản doanh nghiệp nhà nước Đây là mâu thuẫn lớn, song bắt buộcphải kiên quyết đổi mới, phải có giải pháp và bước đi phù hợp với trình độthực tế cơ sở
III SỰ CẦN THIẾT PHẢI TIẾN HÀNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC.
1 Mục tiêu cổ phần hoá
Từ tình hình trên, có thể thấy khu vực kinh tế nhà nước không phải làđiểm sáng như chúng ta mong đợi, đặc biệt nó vẫn chưa thực sự thể hiện tốtvai trò chủ đạo của mình Do đó vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có một loạtnhững giải pháp tiến hành đồng bộ Trong đó, CPH DNNN là một trongnhững biện pháp được Đảng và Nhà nước đặt lên vị trí then chốt, hàng đầu.Mặt khác, CPH sẽ đem lại những lợi ích sau:
∗ Thứ nhất : thực hiện CPH là để giải quyết mâu thuẫn giữa quan hệsản xuất và vật liệu sản xuất CPH góp phần thực hiện chủ trương đa dạng hoácác hình thức sở hữu Trước đây chúng ta xây dựng một cách cứng nhắc chế
độ công hữu, thể hiện ở một số lượng quá lớn các doanh nghiệp nhà nước màkhông nhậ thấy quan hệ sản xuất này không phù hợp với lực lượng sản xuấtcòn nhiều yếu kém, lạc hậu Vì vậy, CPH sẽ giải quyết được mâu thuẫn này,giúp lực lượng sản xuất phát triển